KHAI THÁC TÀI NGUYÊN DU LỊCH TÔN GIÁO PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG
(Bài đăng Tạp chí Phát triển kinh tế - xã hội Đà Nẵng, ISSN 1859-3437.
Số 123, tr.7-11)
Lê Đức Thọ1
1. Mở đầu
Phát triển du lịch dựa trên tài nguyên du lịch tôn giáo ở Việt Nam
nói chung và ở Đà Nẵng nói riêng đã và đang trở thành xu hướng ngày
càng phổ biến. Những năm qua, du lịch Đà Nẵng tăng trưởng mạnh
mẽ, trong đó du lịch tâm linh có đóng góp to lớn và bền vững vào sự
tăng trưởng đó. Không chỉ sở hữu những danh lam thắng cảnh và bờ
biển đẹp nhất hành tinh, Đà Nẵng còn là địa phương có nhiều tài
nguyên du lịch tôn giáo thu hút nhiều du khách với những quần thể
Chùa chiền, Nhà thờ khá nổi tiếng. So với các địa phương trong cả
nước, Đà Nẵng mặc dù không có nhiều di sản văn hóa tôn ciao nhưng
chính quyền thành phố Đà Nẵng đã và đang làm tốt và phát huy vai
trò của loại hình tài nguyên này phục vụ phát triển du lịch. Đà Nẵng
đã và đang phát triển nhiều hoạt động du lịch tâm linh mang ý nghĩa
thiết thực, đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch trong và ngoài
nước. Tuy nhiên, việc khai thác tài nguyên du lịch tôn giáo vẫn còn
tồn tại nhiều vấn đề cần khắc phục. Chình vì vậy, nghiên cứu tổng
quan tài nguyên du lịch tôn giáo để đề xuất một số giải pháp nhằm
1 ThS. Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
1
nâng cao hiệu quả việc khai thác tài nguyên du lịch tôn giáo vào phát
triển du lịch ở Đà Nẵng hiện nay là việc làm cần thiết.
2. Vai trò của tài nguyên du lịch tôn giáo trong phát triển du
lịch
Tôn giáo luôn là một vấn đề nhạy cảm, nhưng không vì thế mà
chúng ta tránh né hay không bàn đến khía cạnh khai thác các giá trị
của tôn giáo trong phát triển du lịch. Chúng ta có thể xem tôn giáo
như là một nguồn lực (một dạng tài nguyên) để phát triển du lịch,
không chỉ là một nguồn lực thông thường mà là “một nguồn lực trí
tuệ” như một chuyên gia về tôn giáo học đã phát biểu [3]. Tôn giáo
không chỉ là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể mà
còn làm cho văn hoá các dân tộc được bảo tồn. Thông qua sinh hoạt
vật chất và tinh thần của con người mà tín ngưỡng, tôn giáo đã tô
đượm cho văn hoá dân tộc nhiều sắc màu.
Từ trước đến nay người ta vẫn thấy được thế mạnh của các điểm
tôn giáo, tín ngưỡng trong kinh doanh du lịch. Các điểm này luôn tiêu
biểu cho giá trị văn hóa của một quốc gia, dân tộc nên có sức hấp dẫn
tự nhiên đối với du khách từ nơi khác đến. Còn đối với người dân
trong vùng, đó là nơi họ thường xuyên lui tới cho những ước vọng về
đời sống tinh thần. Khi cuộc sống của con người ngày càng đề cao các
giá trị tinh thần thì việc đi thăm viếng các công trình tôn giáo, tín
ngưỡng để thưởng ngoạn cảnh quan thanh bình, xa rời thế tục, tham
gia vào các hoạt động tại đây như nghe giảng kinh pháp, tọa thiền, ăn
chay, làm từ thiện… đang trở thành một xu hướng của cuộc sống hiện
đại. Hoạt động du lịch tâm linh ra đời với ý nghĩa giúp du khách
hướng tới thiện tâm.
2
Tôn giáo là nguồn lực dồi dào dành cho du lịch. Việt Nam không
chỉ có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào mà còn đang sở hữu
nguồn tài nguyên văn hóa nói chung, tôn giáo, tín ngưỡng nói riêng
hết sức phong phú, đa dạng. Đây là một thế mạnh mà không phải quốc
gia nào trên thế giới cũng có được. Theo thống kê sơ bộ, hiện nay ở
Việt Nam có khoảng 30.000 cơ sở thờ tự của các tôn giáo. Trong số
này, chiếm một tỷ lệ không nhỏ là các cơ sở thờ tự đã được công nhận
di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia, di tích cấp quốc gia đặc biệt. Bên cạnh
các di sản tôn giáo, tín ngưỡng vật thể như vừa nêu, ở Việt Nam còn
có các di sản tôn giáo, tín ngưỡng phi vật thể như các lễ hội tôn giáo,
tín ngưỡng. Với số lượng cơ sở thờ tự tôn giáo, tín ngưỡng và các lễ
hội tôn giáo lớn như vậy, thì đây là nguồn tài nguyên phong phú, dồi
dào cho phát triển du lịch. Nguồn tài nguyên này phân bố đều trên
khắp cả nước, gắn với các khu vực, vùng miền, gắn với các tộc người,
gắn với các loại hình văn hóa, phong tục, tập quán… do vậy có sức
hấp dẫn rất lớn đối với khách du lịch. Đây là nguồn tài nguyên đặc
biệt, không bị cạn kiệt như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác.
Nếu như biết khai thác, phát huy gắn với giữ gìn, bảo tồn thì nguồn tài
nguyên này còn tiếp tục được củng cố, làm giàu hơn, phong phú hơn,
do đó có thể khai thác một cách lâu dài, bền vững.
Du lịch tâm linh thực chất là loại hình du lịch văn hóa, lấy yếu tố
văn hóa tâm linh làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh của
con người trong đời sống tinh thần. Mô hình du lịch này hiện đang rất
phát triển tại nhiều nước theo Phật giáo trên thế giới như Nepal, Ấn
Độ và các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào,
Myanmar… Du lịch tâm linh đang được triển khai và thực hiện nhiều
3
nơi ở Việt Nam. Du lịch tâm linh là một hình thức biểu hiện đặc sắc
của loại hình du lịch văn hóa. Du lịch tâm linh khai thác những yếu tố
văn hóa tâm linh trong quá trình diễn ra các hoạt động du lịch, dựa
vào những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể gắn với lịch sử hình
thành nhận thức của con người về thế giới, những giá trị về đức tin,
tôn giáo, tín ngưỡng và những giá trị tinh thần đặc biệt khác. Theo đó,
du lịch tâm linh mang lại những cảm xúc và trải nghiệm thiêng liêng
về tinh thần của con người trong khi đi du lịch. Hay nói một cách khác
giá trị văn hóa tâm linh đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút du
khách và đóng góp một cách tích cực vào sự phát triển kinh tế du lịch
ở nước ta.
3. Tổng quan về tài nguyên du lịch tôn giáo ở Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng nằm bên dòng sông Hàn; phía Đông vươn
ra biển Đông với những bãi biển dài tăm tắp và bán đảo Sơn Trà còn
rất hoang sơ; phía Bắc và phía Tây được bao bọc bởi đèo núi cao. Đèo
Hải Vân cheo leo hiểm trở là ranh giới tự nhiên giữa thành phố và
tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngoài sự ưu đãi của thiên nhiên cho Đà Nẵng,
thành phố còn được bao bọc bởi 3 di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội
An, Mỹ Sơn. Xa hơn một chút nữa là di sản thiên nhiên thế giới Vườn
Quốc gia Bạch Mã, Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Vì thế Đà
Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di
sản miền Trung.
Nằm trên con đường di sản Huế - Đà Nẵng - Hội An, miền Trung
nói chung và Đà Nẵng nói riêng được khá nhiều du khách chọn là
điểm đến, bởi ngoài các điểm thăm quan du lịch biển, du lịch sinh
thái, Đà Nẵng còn hội tụ nhiều công trình tôn giáo có ý nghĩa tâm
4
linh. Đà Nẵng thành phố có nhiều chùa chiền, nhà thờ lớn, các giáo xứ
lớn, như: Chùa Linh Ứng Bà Nà, Chùa Linh Ứng trên bán đảo Sơn
Trà, chùa Non Nước ở dãy ngũ hành Sơn…. Hoặc các nhà thờ lớn như
Nhà Thờ con gà, Nhà thờ tin lành, Giáo xứ… những điểm đến này rất
thu hút khách du lịch đến tham quan, và thực hiện nhiều hoạt động
mang ý nghĩa về tâm linh. Đây ngoài là nét văn hóa tôn giáo tín
ngưỡng còn là nơi tham quan, du lịch thỏa mãn nhu cầu tôn giáo, tín
ngưỡng của nhiều khách du lịch đến Đà Nẵng.
Khi đến thăm chùa Linh Ứng ở bán đảo Sơn Trà, nhiều khách du
lịch đều cảm thấy rất thích thú. Ngôi chùa khang trang, rộng rãi, nằm
tách biệt trên núi lại nhìn ra biển rất thoáng đãng. Khi đi vãn cảnh
chùa, khách du lịch cảm nhận được sự yên bình, thư thái, không còn
cái xô bồ, ồn ào của cuộc sống thường ngày. Một trong những điểm
tham quan du lịch tâm linh thu hút du khách đến Đà Nẵng là di tích
danh thắng Ngũ Hành Sơn. Đến với Ngũ Hành Sơn là về nơi cửa Phật,
sống trong không gian huyền ảo của tiếng chuông chùa, chốn thanh
tịnh nơi chùa chiền, hang động. Nơi đây, có một hệ thống hang động
thạch nhũ mát lạnh, thật huyền bí, kỳ diệu. Nếu như trước đây, danh
thắng Ngũ Hành Sơn chỉ đón khách trong mùa lễ hội thì vài năm trở
lại đây, khách thập phương tìm đến quanh năm. Để thu hút du khách,
danh thắng này đã được đầu tư, xây dựng nhiều sản phẩm du lịch gắn
với khu dịch vụ đầy đủ tiện nghi. Hiện nay, trung bình mỗi ngày danh
thắng Ngũ Hành Sơn đón 1.500 đến 2.000 khách [1].
Ngoài ra, Đà Nẵng còn có lễ Hội Quan Thế Âm được tổ chức vào
19/2 Âm lịch hàng năm, đây là một trong những lễ hội tôn giáo lớn
nhất của cộng đồng Phật giáo tại Đà Nẵng. Lễ Hội Quan Thế Âm
5
được tổ chức dưới chân núi Ngũ Hành Sơn, thu hút hàng vạn phật tử
và du khách trong cả nước về hành hương, thăm viếng. Hiện tại, thành
phố Đà Nẵng đưa vào khai thác một số tuyến du lịch với điểm đến là
các di sản văn hóa có sức hút đối với du khách như: Đà Nẵng - Ngũ
Hành Sơn - Hội An; Đà Nẵng - Ngũ Hành Sơn - Bán đảo Sơn Trà;
Hành trình Di sản miền Trung: Đà Nẵng - Huế - Hội An - Quảng Bình.
Bên cạnh đó, việc khai thác các giá trị của tài nguyên du lịch tôn
giáo vào phục vụ phát triển du lịch ở thành phố Đà Nẵng còn nhiều
tồn tại, hạn chế. Hoạt động khai thác du lịch ở nhiều di tích tôn giáo
tín ngưỡng vẫn còn tình trạng quá tải hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ
khách tham quan, du lịch. Từ đó dẫn đến việc gia tăng lượng rác thải,
nước thải và chất thải không kiểm soát và làm nhiễm bẩn các nguồn
nước, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của di tích.
Mặc dù các đơn vị lữ hành có các chương trình du lịch tâm linh
phục vụ du khách với những chương trình tour đa dạng trong và ngoài
nước, nhưng theo đánh giá của một số chuyên gia du lịch thì các đơn
vị lữ hành mới chỉ khai thác các điểm đến tâm linh chứ chưa đạt tới
sản phẩm du lịch tâm linh. Bởi du lịch tâm linh thực sự giúp du khách
đạt được sự thư giãn, thoải mái, thỏa mãn tín ngưỡng chứ không chỉ
thuần túy là tham quan và lễ Phật. Nhiều đoàn khách khi đi du lịch
tâm linh muốn được ở lại các điểm tâm linh đó để tìm hiểu, học đạo
hoặc dưỡng tâm, thiền hay làm công quả nhưng rất ít điểm có thể làm
được điều này. Để có sức hút với khách du lịch tâm linh, nên có thêm
các lớp học thiền, dưỡng tâm vào những ngày cuối tuần bởi đây là
môn học được rất nhiều người quan tâm, kể cả các bạn trẻ.
Ngoài ra, do nhu cầu phát triển kinh tế và nâng cao đời sống của
6
người dân trong khu vực gia tăng khiến việc xây dựng các cơ sở hạ
tầng như mở đường, san lấp mặt bằng lấn biển, xây dựng bến bãi cầu
cảng, xây dựng các công trình phục vụ dân sinh… tại khu vực lân cận
di tích, hoặc thậm chí trong phạm vi bảo vệ của các di tích đã và đang
diễn ra với mức độ ngày càng lớn, gây ảnh hưởng đến môi trường di
tích ở các cấp độ khác nhau. Đội ngũ lao động tại các điểm du lịch
cũng còn hạn chế cả về số lượng và chất lượng.
4. Một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du
lịch tôn giáo phục vụ phát triển du lịch ở Đà Nẵng hiện nay
Một là, nâng cao hiệu quả quản lý của chính quyền thành phố tại
các điểm du lịch tôn giáo
Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo tồn
các di tích văn hóa Phật giáo, Công Giáo… nhất là tại các cơ sở gắn
với các điểm tham quan, du lịch. Đảm bảo việc bảo tồn tốt các điểm
du lịch tôn giáo tại địa phương, du lịch đem lại lợi ích kinh tế nhưng
nó cũng đem lại những tác động có hại đến các điểm du lịch tôn giáo
như làm biến đổi môi trường tại chỗ của các điểm du lịch tôn giáo, các
điểm tham quan xuống cấp. Phát huy giá trị của các điểm du lịch tôn
giáo bằng cách nâng cao nhận thức của người dân tại chỗ về các điểm
du lịch tôn giáo trong vùng. Song song đó là nâng cao nhận thức của
du khách hành hương, tham quan về các điểm du lịch tôn giáo mà họ
đến tham quan. Mọi người đều thấy rằng các địa điểm du lịch tôn giáo
mà họ đến tham quan là có ý nghĩa, có giá trị trong chuyến đi của họ.
Người dân tại chỗ thì nhận thức được rằng những điểm du lịch tôn
giáo trong vùng của họ là những tài sản quý giá có thể sinh lợi mà họ
cần gìn giữ để khai thác hiệu quả lâu dài. Đồng thời, thiết lập và đảm
7
bảo tính hiệu quả của sự phối hợp quản lý giữa chính quyền địa
phương, các cơ quan chức năng của ngành du lịch và các đơn vị khai
thác các điểm du lịch tôn giáo. Xử lý các cơ sở kinh doanh không theo
đúng quy định của pháp luật và tăng giá trong mùa du lịch. Có các
biện pháp tuyên truyền, phổ biến cho người dân không khai thác bừa
bãi nguồn tài nguyên. Chú trọng bảo vệ tài nguyên và môi trường du
lịch giữ gìn an ninh trật tự tại nơi diễn ra hoạt động du lịch tâm linh.
Hai là, phát triển nguồn nhân lực du lịch tại các điểm du lịch tôn
giáo
Chúng ta có tài nguyên du lịch tôn giáo đa dạng và phong phú,
nhưng chúng ta không có lực lượng lao động lành nghề thì chúng ta
không thể khai thác tốt được các giá trị của tôn giáo trong hoạt động
du lịch được. Nếu chúng ta có những lực lượng lao động được đào tạo
về du lịch tôn giáo tốt, khả dĩ cung cấp cho du khách những sản phẩm
mang tính giá trị tôn giáo cao thì sẽ có nhiều khách tham gia vào các
chương trình du lịch tôn giáo hơn. Thông qua các khóa đào tạo kỹ
năng và kiến thức cho lực lượng lao động phục vụ các chương trình du
lịch tôn giáo để khi khách tham gia vào các tour du lịch tôn giáo, du
lịch hành hương đến các điểm du lịch tôn giáo trên để đảm bảo du
khách được cung cấp những sản phẩm du lịch tôn giáo tốt nhất, thỏa
mãn nhu cầu của họ. Việc chuyên môn hóa lực lượng lao động để khai
thác du lịch tôn giáo chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều lao động
phục vụ khách trực tiếp trong các chương trình du lịch tôn giáo, tại
các điểm du lịch tôn giáo còn chưa nắm rõ được những giá trị tại các
điểm du lịch tôn giáo mà họ cung cấp cho du khách, khiến cho du
khách không nhận ra hết những giá trị độc đáo tại các điểm du lịch tôn
8
giáo mà họ đến.
Ba là, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch
tâm linh
Chú trọng vào việc khai thác các hoạt động du lịch tâm linh
mang tính cộng đồng trong các loại hình tín ngưỡng như mời du khách
tham gia các khóa tu, nghe thuyết giảng Phật giáo; tham gia các hoạt
động từ thiện xã hội trong Phật giáo; thực hành các nghi thức, lễ nghi,
khám phá ẩm thực chay của Phật giáo… từ đó giúp du khách có
những trải nghiệm mới, nhất là trong việc khám phá nội tâm tinh thần
của bản thân mỗi du khách. Nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu
xem xét những tín ngưỡng bản địa của các tộc người là một nhu cầu
có thực của khách du lịch. Khách du lịch đến những vùng đất lạ, họ có
nhu cầu tìm hiểu phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng, những
quan niệm sống của các tộc người địa phương dù những giá trị đó có
giá trị phổ quát toàn cầu hay chỉ là những giá trị trong nội bộ của tôn
giáo, tín ngưỡng.
Bốn là, mở rộng hợp tác liên kết vùng và tìm kiếm mở rộng thị
trường
Tiếp tục đẩy mạnh việc hợp tác với các địa phương lân cận như
Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Bình… trong việc khai thác các
tiềm năng về du lịch tâm linh Phật giáo hiện nay. Nên có sự liên kết,
phối hợp chặt chẽ giữa các cơ sở Phật giáo có giá trị về mặt du lịch, từ
đó hình thành các tour du lịch Phật giáo nội thành liên hoàn, hấp dẫn.
Bất kỳ tôn giáo nào cũng tác dụng giáo dục những thành viên trong
cộng đồng sống hài hòa, đoàn kết, có ích và làm lợi cho cộng đồng, và
9
ngoài ra, nó còn hướng con người tới những giá trị tốt đẹp như chân,
thiện, mỹ, làm thăng hoa đời sống cá nhân và cộng đồng.
Năm là, đầu tư và thu hút nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng đề
phục vụ phát triển du lịch
Tập trung đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước theo hướng
đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm; Ưu tiên đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng tại các trọng điểm phát triển du lịch, các khu du lịch tổng hợp,
khu du lịch chuyên đề, các điểm du lịch tiềm năng ở các vùng sâu
vùng xa. Thực hiện xã hội hoá phát triển du lịch, khuyến khích các
thành phần kinh tế tham gia đầu tư hoạt động du lịch dưới các hình
thức khác nhau.
3. Kết luận
Thành phố Đà Nẵng không có nhiều di sản văn hóa như các địa
phương khác, nhưng Đà Nẵng đã phát huy nét độc đáo của các di sản
văn hóa lịch sử làm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, níu chân du khách.
Di sản văn hóa ở Đà Nẵng đang trở thành tài nguyên du lịch hấp dẫn
tạo nền tảng cho phát triển du lịch bền vững. Phát triển du lịch tôn
giáo hiện là một trong những hướng đi nhằm hướng tới phát triển du
lịch bền vững tại thành phố Đà Nẵng, đa dạng hóa và nâng cao chất
lượng sản phẩm du lịch. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình
nghiên cứu khoa học chuyên sâu nào về du lịch tôn giáo ở Đà Nẵng.
Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá tài nguyên du lịch tôn giáo có ý
nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển du lịch của thành phố Đà
Nẵng.
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Phương Cúc (2019), Di sản văn hoá ở Đà Nẵng: Tài nguyên
du lịch hấp dẫn, .
[2]. Nguyễn Đăng Duy (2001), Văn hóa tâm linh, Nxb. Văn hóa
thông tin, Hà Nội.
[3]. Nguyễn Thị Thảo (2017), Sự ảnh hưởng của tôn giáo, tín
ngưỡng đến du lịch Việt Nam, .
[4]. Lê Đức Thọ (2019), Nghiên cứu tài nguyên du lịch nhân văn
phục vụ phát triển du lịch ở Đà Nẵng hiện nay”, Tạp chí Phát triển
kinh tế - xã hội Đà Nẵng, Số 110.
11