Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

Bài thu hoạch trung cấp LLCT phát triển dịch vụ du lịch ở thành phố đà nẵng hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (424.7 KB, 15 trang )

TRƯỜNG ĐÀO TẠO CÁN BỘ LÊ HỒNG PHONG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
*****

BÀI THU HOẠCH
NGHIÊN CỨU THỰC TẾ

Phát triển dịch vụ du lịch ở Thành phố
Đà Nẵng hiện nay

Người thực hiện: NGUYỄN QUANG LÊ
Đơn vị công tác:Trung tâm chính trị huyện Thường Tín– Hà Nội

Tháng 4 năm 2019

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Lý luận mà không có thực tiễn là lý
luận suông, thực tiễn mà không có lý luận là thực tiễn mù quáng ”. Rõ ràng,
đối với học viên trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, chuyến đi thực tế là
hoạt động không thể thiếu được để có thể nâng cao kiến thức, kinh nghiệm
bản thân để từ đó rút ra những bài học quý giá, giúp học viên có khả năng vận
dụng lý thuyết vào thực tiễn để đánh giá, phân tích vấn đề trên quan điểm cụ
thể, khách quan, toàn diện, góp phần nâng cao chất lượng học tập của học
viên cũng như vận dụng vào đơn vị công tác sau khi tốt nghiệp khóa học.
Sau một thời gian được thầy cô truyền đạt kiến thức, lý luận, lớp Trung
cấp lý luận chính trị K12A-20 chúng tôi có thời gian đi thực tế 04 ngày tại
thành phố Huế và thành phố Đà Nẵng. Trong chuyến đi nghiên cứu thực tế lần


này, chúng tôi đã được nghe báo cáo, tìm hiểu, trao đổi về tình hình phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội và du lịch với trung tâm chính trị của thành phố Đà
Nẵng. Trong các nội dung nghiên cứu thực tế mà lớp được trải nghiệm, tôi
thấy việc phát triển kinh tế - xã hội với ngành du lịch là mũi nhọn mang lại
thành công về tăng trưởng kinh tế, đưa Đà Nẵng trở thành điểm đến hấp dẫn
của du khách, là một thành phố đáng sống. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn
nhiều vấn đề nảy sinh và có thể tác động xấu đến phát triển du lịch của thành
phố sau này. Với những gì được biết qua tìm hiểu báo cáo cũng như qua thực
tế, tôi đã chọn tìm hiểu và nghiên cứu về nội dung: “Phát triển dịch vụ du
lịch ở thành phố Đà Nẵng hiện nay”.
2. Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập, tổng hợp số liệu, tài liệu: Thu thập số liệu có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu trong các báo cáo chính trị về tình hình phát triển kinh tế,
xã hội, du lịch của thành phố Đà Nẵng.

2


- Nghiên cứu thực tế: Nhằm bổ sung những gì còn thiếu sót, chưa cập
nhật. Đồng thời kiểm tra mức độ chính xác của số liệu đã thu thập đươc qua
các báo cáo về tình hình phát triển của thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đánh giá, tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch thành phố và đề xuất
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch của thành phố Đà
Nẵng
4. Phạm vi nghiên cứu
Phân tích, đánh giá về tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch của thành
phố Đà Nẵng hiện nay.
PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận

Trong nghị quyết 33 của Bộ Chính trị về Xây dựng và phát triển thành
phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đã xác định:
Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước,
là trung tâm kinh tế- xã hội lớn của miền Trung.Trên cơ sở mục tiêu chung đó,
thành phố Đà Nẵng đã thực hiện chủ trương phát triển du lịch bền vững.
Phát triển du lịch là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tài
nguyên tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu đa dạng của khách du lịch, quan tâm
đến các lợi ích kinh tế dài hạn và đảm bảo sự phát triển du lịch trong tương lai
và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương.
2. Cơ sở thực tiễn
Với hành trình 5 ngày, chúng tôi đi qua nhiều di tích lịch sử, ở mỗi địa
danh chúng tôi đều có những cảm nhận riêng khác nhau, nhưng dường như ở
bất kỳ nơi nào, ở nơi đâu chúng tôi cũng thấy tự hào, tự cường về một thời
oanh liệt của lịch sử dân tộc Việt Nam.
Thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố trực thuộc trung ương vào
ngày 01/01/1997 và đến năm 2003 thành phố chính thức trở thành đô thị loại I
cấp quốc gia. Đà Nẵng có vị trí địa lý thuộc vùng trung Trung bộ, phía Bắc
3


giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây và Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông
giáp biển Đông. Tổng diện tích tự nhiên của thành phố Đà Nẵng hiện nay là
1.285,43km2; Tổng dân số thành phố Đà Nẵng theo thống kê năm 2019 là
1.215.000 người, mật độ dân số khoảng 828 người/km 2. Về đơn vị hành
chính ,Thành phố Đà Nẵng gồm có 6 quận: Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ
Hành Sơn, Liên Chiểu, Cẩm Lệ và hai huyện: Hòa Vang, huyện đảo Hoàng Sa;
với tổng cộng 56 xã, phường (45 phường và 11 xã).
Đà Nẵng không chỉ được thiên nhiên ưu đãi cho nhiều cảnh quang đẹp,
Đà Nẵng còn là một thành phố đáng sống bởi sự trong lành và yên bình nơi
đây. Từng liên tục giữ thứ hạng cao nhất nước về tốc độ phát triển kinh tế

nhưng Đà Nẵng vẫn duy trì tốt an ninh trật tự, không có người lang thang xin
ăn, không có người nghiện ma túy trong cộng đồng và rất hiếm khi xảy ra tình
trạng kẹt xe.“Không có người lang thang ăn xin” là một trong 5 tiêu chí được
Đà Nẵng phấn đấu trong nhiều năm.Theo đó, Sở LĐ-TB&XH tập trung tuyên
truyền, động viên những người lang thang xin ăn trở về địa phương; chấn
chỉnh người bán hàng rong chèo kéo khách tại các điểm du lịch ở các quận
nội thành. Khi phát hiện người ăn xin, bán hàng rong không đúng quy định,
người dân báo cho cơ quan chức năng địa phương để xử lí. Những nỗ lực này
của chính quyền thành phố Đà Nẵng đã tạo nên một bộ mặt đô thị đẹp đẽ
trong lòng du khách và bạn bè quốc tế.
3. Tiềm năng phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng
3.1. Vị trí địa lý
Đà Nẵng nằm ở vị trí vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, là cửa ngõ
ra biển Thái Bình Dương của các nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam
đồng thời là trung tâm giữa 3 di sản văn hóa thế giới: Quần thể di tích Cố đô
Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn là những điều kiện thuận lợi để thu
hút khách du lịch trong nước và quốc tế...
3.2. Tài nguyên tự nhiên
* Bãi biển Mỹ Khê
4


Biển Đà Nẵng đã được tạp chí Forbes của Mỹ bình chọn là 1 trong 6
bãi biển quyến rũ nhất hành tinh năm 2005. Mỹ Khê là một trong những bãi
tắm nhộn nhịp nhất ở Đà Nẵng với vị trí thuận lợi nằm gần trung tâm thành
phố. Biển Mỹ Khê nổi tiếng với bãi cát trắng mịn, sóng biển ôn hòa, làn nước
trong xanh ấm áp quanh năm cùng hàng dừa thơ mộng bao quanh biển. Bờ
biển dài, đẹp, nước trong xanh bốn mùa, ấm và độ sóng êm, không khí trong
lành trong một không gian rộng rãi với phong cảnh đẹp và những dịch vụ chất
lượng tốt nhất rất thích hợp cho kỳ nghỉ biển vào bất kỳ thời điểm nào trong

năm.
* Chùa Linh Ứng - Bán đảo Sơn Trà
Cách bãi biển Mỹ Khê Đà Nẵng khoảng 10km. Chùa tọa lạc trên một
ngọn đồi của bán đảo Sơn Trà, nằm ở lưng chừng núi, mang hình con rùa, mặt
hướng ra biển, lưng tựa vào cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn với bao chim thú
của bán đảo Sơn Trà…
Chùa Linh Ứng Bãi Bụt Sơn Trà là ngôi chùa lớn nhất ở thành phố Đà
Nẵng cả về quy mô (rộng khoảng 20ha) lẫn kiến trúc nghệ thuật. Đây là ngôi
chùa nằm trong quần thể du lịch bán đảo Sơn Trà được xây dựng với sự kết
hợp hài hòa giữa nét hiện đại và truyền thống của chùa Việt, hiện đang là
điểm du lịch mới của thành phố biển xinh đẹp này.
* Khu du lịch Bà Nà Hills
Bà Nà nằm trên đỉnh Núi Chúa, thuộc về dãy núi Trường Sơn nằm ở xã
Hòa Ninh, huyện Hòa Vang, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 25 km về
phía Tây Nam. Bà Nà được mệnh danh là Sapa thứ hai của Việt Nam, nơi
được biết đến như “Hòn ngọc khí hậu” của miền Trung, là một trong những
trung tâm du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng cao cấp nhất Đông Dương trong thời
kỳ Pháp thuộc.
Bà Nà được coi là lá phổi xanh của thành phố Đà Nẵng khi nơi đây là
nơi duy nhất có thể mang đến cho du khách nguồn không khí trong lành, tươi
mát và những cảm nhận độc đáo của sự giao thoa bốn mùa trong một ngày.
5


Từ trên đỉnh Bà Nà du khách có thể phóng tầm nhìn bao quát cả một vùng
rộng lớn núi rừng nguyên sinh của dãy Trường Sơn hùng vĩ, cánh đồng phì
nhiêu vùng duyên hải Miền Trung và toàn cảnh thành phố với bãi biển được
bình chọn là một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh. An lạc, tự tại, thả
hồn với thiên nhiên hùng vĩ là những gì du khách có thể cảm nhận được.
Ngoài ra Bà Nà Hills còn nổi tiếng với hệ thống cáp treo đạt bốn kỷ lục

thế giới (dài nhất, độ chênh lớn nhất, tổng chiều dài cáp dài nhất và sợi cáp
nặng nhất)cùng khu vui chơi giải trí trong nhà Fantasy Park lớn nhất Đông
Nam Á…
3.3. Làng nghề mỹ nghệ.
Môt điểm du lịch khá đặc biệt và gần gũi với bất cứ ai đến tham
quanđó là Làng đá Non Nước.Làng đá Non Nước Đà Nẵng có từ rất lâu, theo
các nghệ nhân cao tuổi ở Làng đá Non Nước, nghề chế tác đá mỹ nghệ Non
Nước có cách đây gần 200 năm. Tại làng đá Non Nước, chúng tôi chọn được
những món quà lưu niệm có giá trị và đặc sắc được mài dũa hết sức công phu
bởi những nghệ nhân lành nghề, từ những mặt đá nhỏ xíu đến những bức
tượng nặng hàng chục tấn. Tại Việt Nam có rất nhiều làng nghề điêu khắc đá
truyền thống; nhưng có thể nói chỉ có làng nghề Non Nước dưới chân Ngũ
Hành Sơn mới thực sự đưa nghề thủ công độc đáo này đến gần với du khách
nhất, và mở rộng danh tiếng từ trong nước ra đến bạn bè quốc tế.

Làng đá Non Nước Đà Nẵng
6


3.4.Cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng
Hiện nay thành phố Đà Nẵng đang là địa phương đi đầu cả nước trong
việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, các công trình công
cộng để phục vụ dân sinh và phát triển du lịch; đẩy mạnh các dự án đầu tư du
lịch; mở rộng cơ sở lưu trú phục vụ du lịch; xây dựng hàng loạt sản phẩm du
lịch mới, có sức hấp dẫn và thu hút khách du lịch; triển khai các chương trình
xúc tiến, quảng bá du lịch trong và ngoài nước; đẩy mạnh liên kết hợp tác
phát triển du lịch giữa Thừa Thiên-Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam...Bên cạnh
đó, sân bay quốc tế Đà Nẵng được xây mới đạt tiêu chuẩn quốc tế, là một
trong 3 sân bay tốt nhất của Việt Nam. Cảng Đà Nẵng là cảng thương mại lớn
thứ ba ở Việt Nam cùng với việc các đường bay quốc tế và các đường bay

thuê chuyến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Pháp, Đức, Úc, Mỹ… đến
Đà Nẵng ngày càng được mở rộng khiến lượng khách du lịch từ các thị
trường này đến nơi đây ngày càng tăng lên…
3.5. Nguồn nhân lực
Đà Nẵng là một trong những tỉnh thành trong cả nước có chỉ số phát
triển giáo dục cao với hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh. Đà Nẵng có nguồn
nhân lực dồi dào, số lao động có chuyên môn kỹ thuật được đào tạo chiếm
gần một phần tư lực lượng lao động.
3.6. Các tiềm năng khác
Bên cạnh những tiềm năngtrên thì thành phố đáng sống nhất Việt Nam
còn tạo ấn tượng bởi những cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, lễ hội Quan
Thế Âm, hội đua thuyền... là những sự kiện văn hoá, du lịch đặc sắc, góp
phần quảng bá hình ảnh thành phố đến với bạn bè trong nước và quốc tế; bởi
những cây cầu nổi tiếng như: cầu sông Hàn, cầu Rồng, cầu Thuận Phước …

7


cũng như văn hóa, tình cảm của con người, những đặc sản nổi tiếng nơi đây,
đó là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế.
4. Thực trạng phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng hiện nay.
Khi tham quan du lịch Đà Nẵng, chúng tôi không chỉ thấy được vẻ đẹp
ở nơi đây mà còn ngưỡng mộ về sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã
hội. Đà Nẵng đã trở thành một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo
dục khoa học và công nghệ lớn nhất của khu vực miền Trung -Tây Nguyên và
là thành phố lớn thứ 4 của Việt Nam. Sau khi nghiên cứu mô hình phát triển
kinh tế xã hội của Đà Nẵng, tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm phát triển
của thành phố để phục vụ cho công tác của bản thân sau này tại cơ sở:
a. Những thành tựu đạt được về lĩnh vực du lịch của Thành phố Đà Nẵng.
Tốc độ tăng trưởng về khách du lịch bình quân hàng năm giai đoạn

2011-2015 là 20,1%, trong đó khách quốc tế tăng bình quân 25,4%, khách nội
địa tăng bình quân 18,5%. Tổng thu du lịch giai đoạn 2011-2015 tăng bình
quân đạt 30,7%, Năm 2011, tổng thu du lịch đạt 4.600 tỷ đồng đến năm 2015
đạt 12.800 tỷ đồng, tăng gấp 2,56 lần và tăng gấp 3,9 lần so với giai đoạn
2006-2010.
Tổng lượt khách đến Đà Nẵng năm 2016 đạt 5,5triệu lượt, tăng 18,4%
so với năm 2015; trong đó khách quốc tế đạt 1,67 triệu lượt, tăng 32,4% so
với năm 2015, khách nội địa đạt 3,86 triệu lượt, tăng 13,2% so với năm 2015.
Tổng thu du lịch đạt 16.082,8 tỷ đồng, tăng 25,4% so với năm 2015. Dự kiến
năm 2017 đón được 6,3 triệu lượt khách, tăng 14,34% so với ước thực hiện
năm 2016; trong đó 2 triệu lượt khách quốc tế và 4,3 triệu lượt khách nội địa.
Tổng thu từ khách du lịch năm 2017 ước đạt 18.500 tỷ đồng, tăng 15,77% so
với ước thực hiện năm 2016.
Sở Du lịch Thành phố Đà Nẵng cũng đã triển khai các hoạt động liên
kết phát triển du lịch 03 địa phương Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng - Quảng Nam
năm 2016; triển khai ký kết đa phương giữa Hà Nội với 03 địa phương; Phối
8


hợp Hiệp hội du lịch tổ chức diễn đàn du lịch mùa xuân 2016; xây dựng Quy
chế phối hợp giữa Sở Du lịch và Hiệp hội Du lịch. Ngoài ra, cộng đồng doanh
nghiệp du lịch đã tăng cường công tác phối hợp, kết nối phát triển sản phẩm
du lịch, tour tuyến góp phần thu hút du khách đến với Đà Nẵng.
Môi trường du lịch được đảm bảo an toàn. Mô hình Trung tâm hỗ trợ
du khách, 02 quầy thông tin tại ga quốc tế và quốc nội - Sân bay quốc tế Đà
Nẵng phát huy hoạt động hiệu quả. Duy trì đội cứu hộ biển, thành lập lực
lượng chống chèo kéo khách du lịch, đầu tư xây dựng nhà vệ sinh công cộng
tại các khu vực tập trung nhiều khách du lịch. Công tác thanh kiểm tra, xử lý
trong hoạt động du lịch như: chống đeo bám, chèo kéo khách, ăn xin trá hình
tại các điểm du lịch,bình ổn giá trong các dịp lễ hội,... được triển khai thường

xuyên, đặc biệt trong thời gian qua với sự phát triển nóng của thị trường
khách Hàn Quốc, Trung Quốc và để đảm bảo môi trường du lịch thành phố,
Trong năm 2016, Sở Du lịch đã tiến hành hơn 85 lượt thanh kiểm tra, ban hành
78 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền phạt là 662,3 triệu
đồng, tăng gấp 3,4 lần so với năm 2015; trong đó, xử phạt 14 cơ sở lưu trú với
78,8 triệu đồng, 16 đơn vị lữ hành với 175 triệu đồng (tước giấy phép lữ hành
quốc tế 24 tháng đối với 02 công ty lữ hành cho người nước ngoài mượn tư cách
pháp nhân để hoạt động lữ hành quốc tế, 01 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế
không có giấy phép lữ hành quốc tế), 16 người nước ngoài hướng dẫn du lịch
trái phép với 292,5 triệu đồng, 25 trường hợp vi phạm liên quan đến thẻ
hướng dẫn viên với 85,4 triệu đồng, … và chuyển hồ sơ 20 trường hợp cho
Công an thành phố xử lý vi phạm theo thẩm quyền.

9


Nguồn nhân lực du lịch được từng bước bổ sung và tăng cường. Tính đ ến
hết năm 2016, toàn thành phố có khoảng 27.000 người lao động trực tiếp làm
việc trong ngành du lịch, tăng 8,1% so với năm 2015. Phấn đấu đến năm 2020
tạo việc làm cho trên 35.300 người lao động trực tiếp. Để nâng cao chất lượng
dịch vụ và bồi dưỡng kỹ năng cho nguồn nhân lực du lịch, ngành du lịch đã
phối hợp với dự án EU xây dựng quy trình xử lý tình huống cho các khách sạn
1-3 sao; Tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý nhà
nước, đội ngũ HDV, thuyết minh viên, lái xe, thuyền viên, nhân viên phục vụ.
b. Những khó khăn, hạn chế về lĩnh vực du lịch của Thành phố Đà Nẵng.
Bên cạnh những thành tích đạt được, hoạt động du lịch vẫn còn những
khó khăn: quy hoạch điểm xây dựng cầu tàu, bến du thuyền đã có, tuy nhiên
các dự án chậm triển khai, ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch
đường sông; thiếu chính sách ưu đãi đầu tư phát triển các dịch vụ vui chơi giải
trí, nhất là giải trí về đêm, khu mua sắm và ẩm thực quy mô lớn; thiếu các

show diễn nghệ thuật quy mô lớn, đặc sắc định kỳ phục vụ khách du lịch; chưa
có sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương; kinh phí dành cho công tác quảng
bá, xúc tiến du lịch Đà Nẵng ra thị trường quốc tế mặc dù đã được tăng cường
song vẫn chưa tương xứng; nguồn nhân lực du lịch vẫn chưa đáp ứng kịp nhu
cầu phát triển hiện nay; môi trường du lịch mặc dù được cải thiện song vẫn còn
tiềm ẩn hoạt động kinh doanh thiếu lành mạnh, trái pháp luật của một bộ phận
doanh nghiệp du lịch, nhất là kinh doanh lữ hành và hướng dẫn viên; ảnh
hưởng tiêu cực từ sự cố môi trường biển phía Bắc miền Trung,…
Hiệu quả kinh doanh du lịch chưa cao, tuy tốc độ tăng trưởng nhanh
nhưng du lịch Đà Nẵng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch chưa được quan
tâm đầu tư đúng mức. Nguồn nhân lực hoạt động trực tiếp trong ngành du lịch
còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường đặc biệt là đội

10


ngũ hướng dẫn viên có trình độ ngoại ngữ chưa tốt đã làm ảnh hưởng đến chất
lượng du lịch nói riêng và hình ảnh du lịch Đà Nẵng và Việt Nam nói chung.
Thiếu sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước về du
lịch; các dự án đầu tư về du lịch - dịch vụ đăng ký nhiều nhưng triển khai
chậm.
Do đặc thù của địa phương nên ở Đà Nẵng mùa vụ du lịch rất rõ rệt do
vậy từ tháng 9 đến tháng 12 Đà Nẵng rất thiếu khách du lịch.
Các trung tâm mua sắm quà lưu niệm, đặc sản, các khu vui chơi giải trí,
ẩm thực về đêm dù đã có, nhưng bị phân tán nên chưa thể đáp ứng nhu cầu và
sự tiện lợi cho du khách. Việc phân tán không gian du lịch như vậy sẽ không
thể tạo không khí và môi trường du lịch sôi động, đủ hấp dẫn và tiện lợi thu
hút du khách.
Mặc dù công tác xúc tiến, phát triển du lịch đạt được những kết quả

nhất định tuy nhiên, do thiếu nguồn lực, đặc biệt là kinh phí nên quy mô và
chất lượng các hoạt động xúc tiến, phát triển du lịch còn hạn chế, công tác
quảng bá hình ảnh du lịch Đà Nẵng chưa được thực hiện liên tục để tiếp cận
và khai thác các thị trường khách quốc tế trọng điểm.
5. Giải pháp phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng
a. Các giải pháp phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng .
Tập trung phát triển du lịch vào chiều sâu, hình thành các sản phẩm du
lịch mới, có sức cạnh tranh cao. Ưu tiên phát triển theo 3 nhóm sản phẩm
chính:
+ Nhóm sản phẩm du lịch biển, nghỉ dưỡng cao cấp.
+ Nhóm sản phẩm du lịch mua sắm, hội nghị hội thảo (MICE).
+ Nhóm sản phẩm du lịch văn hoá, lịch sử, sinh thái, làng quê, làng
nghề.
Đa dạng hóa sản phẩm du lịch bổ trợ như du lịch tâm linh, du lịch văn
hóa - ẩm thực, chữa bệnh - làm đẹp, du lịch thể thao giải trí biển...
Nâng cao chất lượng dịch vụ theo hướng chuyên nghiệp, đảm bảo môi
11


trường du lịch an ninh, an toàn, sạch đẹp, thân thiện và mang tính bền vững.
Đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực du lịch có kỹ năng, đáp
ứng yêu cầu ngày càng cao của du khách, gắn hoạt động đào tạo của nhà
trường với thực tiễn của doanh nghiệp, xã hội.
Phát triển đồng thời thị trường khách du lịch nội địa và thị trường
khách du lịch quốc tế: Làm tốt công tác nghiên cứu, xúc tiến thị trường để xác
định đối tượng khách chủ lực của Đà Nẵng để có hướng đầu tư, khai thác
thích hợp. Đẩy mạnh phát triển các thị trường Đông Bắc Á; duy trì và phát
triển thị trường khách truyền thống khu vực Đông Nam Á, Tây Âu, Bắc Mỹ
hướng đến mở rộng thì trường khách các nước Úc, Trung Đông, Ấn Độ, Nga
và Đông Âu. Tiếp tục phát triển thị trường khách nội địa, chú trọng thu hút thị

trường khách nghi dưỡng và du lịch MICE.
Thành phố cần đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: Phát
triển cả số lượng và chất lượng cơ sở lưu trú, nâng cấp và xây dựng thêm các
khu vui chơi giải trí, khu mua sắm hiện đại, đa dạng về hàng hóa…Cải tiến
chất lượng phục vụ của hệ thống đường hàng không, đường thủy, đường sắt,
đường nội thị, phát triển các phương tiện vận chuyển phục vụ du lịch…
Điều chỉnh tổ chức các sự kiện phù hợp với thời gian để thu hút du
khách như du lịch tâm linh, du lịch hội thảo, tổ chức các lễ hội ...; tăng cường
nghiên cứu lượng khách đến Việt Nam vào thời gian từ tháng 9 đến tháng 12
đảm bảo thu hút khách du lịch.
Cần đầu tư mạnh hơn nữa để đa dạng hóa sản phẩm du lịch hướng tới
sản phẩm giá trị cao để phục vụ du khách, đặc biệt là du khách quốc tế.
Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường. Phối hợp với các địa
phương, các ngành tăng cường công tác giáo cụ cộng đồng bảo vệ môi trường
sinh thái và cảnh quan thiên nhiên thành phố.

12


Thành phố Đà Nẵng cần xây dựng chiến lược tăng cường quảng bá,
tiếp thị hình ảnh du lịch Đà Nẵng đối với khu vực thị trường trong nước và
quốc tế.
Trên đây là những đề xuất góp phần để thành phố Đà Nẵng phấn đấu
đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn 2016-2020; đầu
tư phát triển du lịch có trọng tâm, trọng điểm, nâng cao chất lượng và tính
chuyên nghiệp, hiệu quả, đảm bảo phát triển bền vững, xây dựng Đà Nẵng trở
thành trong những trung tâm du lịch dịch vụ lớn của cả nước.
b. Các chỉ tiêu phát triển du lịch thành phố Đà Nẵng
Về khách du lịch: Phấn đấu đến năm 2020 đón được 8.850.000 khách
du lịch, trong đó có 2,45 triệu khách quốc tế và 6,4 triệu khách nội địa. Tốc

độ tăng trưởng về lượng khách bình quân hằng năm giai đoạn 2016-2020 đạt
13-14%.
Về tổng thu du lịch: Đến năm 2020 phấn đấu tổng thu du lịch đạt
31.500 tỷ đồng, tăng bình quân hằng năm giai đoạn 2016-2020 đạt 19,7%.
Về cơ sở lưu trú du lịch: Dự kiến đến năm 2020 sẽ có 26000 phòng
khách sạn tăng 8.050 phòng so với năm 2015, trong đó số phòng khách sạn 35 sao sẽ tăng 5.500 phòng, nâng tổng số phòng khách sạn từ 3-5 sao lên
15.000 phòng.
Về nhân lực du lịch: Đến năm 2020 tạo việc làm cho trên 35.300 người
lao động trực tiếp.
KẾT LUẬN
1. Ưu điểm
Qua chuyến đi nghiên cứu thực tế giúp cho học viên chúng tôi nắm bắt
được tình hình chính trị, kinh tế - xã hội, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã
hội, đồng thời nắm bắt được những chủ trương chính sách, đường lối của
Đảng và Pháp luật của Nhà nước ở địa phương, giúp chúng tôi có thêm những
kinh nghiệm thực tế để áp dụng vào quá trình công tác sau này tại cơ sở.

13


Thông qua việc tiếp xúc với các di tích lịch sử, học viên có cái nhìn
trực tiếp để đánh giá, tiếp thu kho văn hóa nhân loại. Từ chuyến đi thực tế,
chúng tôi còn được mở rộng tầm mắt, hiểu rõ hơn về những kiến thức mình
đã được học, được tự do học hỏi để có thêm kiến thức phục vụ cho công tác
sau này. Chúng tôi đã được đi đến những vùng đất mới, khám phá những nét
đẹp về thiên nhiên, văn hóa và con người tại những vùng miền khác nhau trên
cả nước. Từ nét đẹp cổ kính của Kinh thành Huế, sự hùng tráng oanh liệt một
thời của Thành cổ Quảng Trị… đến những điệu múa của các tràng trai, cô gái
trên Bà Nà Hills làm đắm say lòng người.
Thông qua chuyến đi thực tế, sự gắn kết của các thành viên trong lớp

tăng lên rõ rệt. Tinh thần đoàn kết, tương trợ được thể hiện rõ nét mỗi khi có
thành viên trong đoàn gặp vấn đề khó khăn nào đó cần có sự giúp đỡ. Chuyến
đi là cơ hội để các thành viên gần gũi nhau hơn, hiểu nhau hơn và thông cảm,
chia sẻ với nhau nhiều hơn
2. Hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm, đợt nghiên cứu thực tế còn những tồn tại hạn
chế không thể tránh khỏi:
- Thời gian nghiên cứu thực tế có hạn trong khi có rất nhiều điểm cần
phải đặt chân tới, vì vậy thời gian tìm hiểu, nghiên cứu….dành cho mỗi điểm
không có nhiều. Một mặt các địa điểm cách khá xa về mặt địa lý nên thời gian
di chuyển trên xe khá nhiều
- Một số bạn dù đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng, nhưng không tránh khỏi việc
không đảm bảo sức khỏe trong suốt chuyến đi
- Nội dung báo cáo chỉ ra rất nhiều thành tích, ưu điểm nhưng các phần
hạn chế tồn tại chưa được đưa ra đầy đủ để tìm hiểu, bóc tách.
- Thông qua hướng dẫn viên, có thể nắm thêm nhiều thông tin nhưng đó
có thể là những thông tin một chiều hay mang tính cá nhân cần phải kiểm
chứng lại.
3. Đề xuất, kiến nghị.
14


Trong nhiều năm qua trường Đào tạo cán bộ Hà Nội đã đề ra kế hoạch
đi nghiên cứu thực tế cho các học viên khi tham gia chương trình đào tạo
Trung cấp LLCT – HC, đây là một trong những nội dung cần thiết và bổ ích
của học viên. Việc đi nghiên cứu thực tế ở các cơ sở giúp cho học viên nắm
bắt được tình hình chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời nắm bắt
được những chủ trương chính sách, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà
nước ở địa phương. Vì vậy tôi mong nhà trường cần tiếp tục quan tâm hơn
nữa đến hoạt động thực tế bổ ích này, để học viên có những kinh nghiệm thực

tế hữu ích khi về công tác tại cơ sở.
Các thành viên cần chú trọng hơn nữa trong việc tự cân bằng thể chất,
tự bảo vệ sức khỏe, ăn - ngủ - nghỉ một cách khoa học, để chuyến đi thành
công một cách tốt đẹp.
Trên đây là những cảm nhận của bản thân tôi trong thời gian được đi
thực tế tại Thành phố Đà Nẵng về lĩnh vực du lịch của Thành phố Đà Nẵng.
Quá trình nghiên cứu thực tiễn không được sâu, rộng nên cũng khó tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô giáo
Xin trân thành cảm ơn thầy cô !
GIÁO VIÊN CHỦ NHIỆM

NGƯỜI VIẾT
NGUYỄN QUANG LÊ

15



×