TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÁO CÁO CÔNG TÁC THỰC TẬP 1
NGÀNH LUẬT
NỘI DUNG: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CỦA TÒA ÁN VỀ VẤN ĐỀ LY
HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Họ và tên sinh viên :
Mã sinh viên
:
Lớp
:
Hà Nội, tháng ….. / 20..…
1
TRƯỜNG ĐH THỦ ĐÔ HÀ NỘI
KHOA KHXH&NV
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO CÔNG TÁC THỰC TẬP 1
1. Chuyên ngành: Luật
2. Nội dung: Thực tiễn giải quyết của Tòa án về vấn
đề ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Họ và tên sinh viên:
Mã sinh viên:
Lớp:
Thực tập tại: Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm
NĂM HỌC 2019 - 2020
2
PHẦN I
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác
nhau. Trong đó, gia đình được coi là sản phẩm của xã hội gắn liền với quá
trình phát sinh, phát triển của xã hội, ở bất kỳ chế độ xã hội nào thì gia đình
đều thực hiện những chức năng xã hội cơ bản của nó với vai trò là tế bào của
xã hội. Sớm nhìn thấy vai trò nền tảng của gia đình và mối liên hệ hữu cơ
giữa gia đình và xã hội, sinh thời Bác Hồ của chúng ta đã chỉ rõ: Quan tâm
đến gia đình là đúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt
thì gia đình càng tốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt.
Điều đó nói lên rằng phát triển xã hội cùng với việc xây dựng xã hội mới phải
quan tâm thường xuyên đến việc củng cố quan hệ hôn nhân và gia đình
(HN&GĐ). Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường, sự bùng nổ của thời đại công nghệ thông tin và cùng
với sự du nhập của nhiều luồng văn hóa, tư tưởng, lối sống phương Tây đã
làm thay đổi rất nhiều quan điểm, lối sống và lý tưởng ở mỗi người, đặc biệt
là trong quan hệ gia đình biểu hiện rõ nhất là số vụ ly hôn ngày càng gia tăng
2. Đối tượng nghiên cứu
Giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài.
3. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Phạm vi: Tòa án nhân dân Quận Hoàn Kiếm.
Mục đích: những kiến thức lý luận về thực hiện pháp luật về giải quyết
ly hôn có yếu tố nước ngoài; trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn việc thi hành
Luật Hôn Nhân Và Gia Đình để đánh giá những mặt được, chưa được.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu về tình hình ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND quận
Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, từ đó làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn của
việc giải quyết lý hôn. Góp phần nâng cao nhận thức lý luận và kinh nghiệm
thực tiễn trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của những người
làm công tác xét xử.
5. Phương pháp nghiên cứu
Gồm: tài liệu, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, ...
3
PHẦN II
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CƠ SỞ THỰC TẬP
I. THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ ĐƠN VỊ /DOANH NGHIỆP TIẾP NHẬN THỰC
TẬP:
1. Tên cơ đơn vị nhận thực tập
Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm
2. Địa chỉ thông tin liên hệ
Địa chỉ: 22, Yết Kiêu, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
3. Lĩnh vực hoạt động/ngành nghề kinh doanh
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, TAND quận
Hoàn Kiếm có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu dân sự cũng như các tranh
chấp dân sự, cụ thể như sau:
- Giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình
TAND quận Hoàn Kiếm thường giải quyết các vụ án ly hôn, tranh chấp
về quyền nuôi con khi ly hôn, chia tài sản khi ly hôn và sau khi ly hôn; các
tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tranh
chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, xác định cha, mẹ
cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ,… Ngoài ra, các tranh chấp về cấp
dưỡng; tranh chấp về nuôi con hoặc chia tài sản của nam, nữ chung sống với
nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn cũng thuộc thẩm quyền giải
quyết của TAND quận Hoàn Kiếm.
- Tranh chấp về dân sự, đất đai
TAND quận Hoàn Kiếm giải quyết các tranh chấp về hợp đồng, thừa
kế, bồi thường thiệt hại, các tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp
xoay quanh hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, cho thuê, cho thuê
lại, góp vốn quyền sử dụng đất,…
- Tranh chấp về kinh doanh, thương mại
Các tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa
cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi
nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
- Tranh chấp về lao động
TAND quận Hoàn Kiếm có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp giữa
người lao động và người sử dụng lao động về việc xử lý kỷ luật lao động theo
4
hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động; hoặc bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh
nghiệp, đơn vị sự nghiệp công lập đưa người lao động đi làm việc ở nước
ngoài theo hợp đồng,…
- Giải quyết các yêu cầu về hôn nhân gia đình
Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm tiến hành giải quyết yêu cầu hủy
việc kết hôn trái pháp luật; yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận
nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; yêu cầu hạn chế quyền thăm nom con sau
ly hôn; yêu cầu xác định cha, mẹ, con,…
- Các yêu cầu về dân sự, đất đai
Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng
lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn
trong nhận thức, làm chủ hành vi; yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng
mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó; yêu cầu tuyên bố hoặc hủy
bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích,…đều được giải quyết tại TAND
quận Hoàn Kiếm.
- Các yêu cầu về kinh doanh thương mại
TAND quận Hoàn Kiếm có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ nghị
quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên theo
quy định của pháp luật về doanh nghiệp. Ngoài ra còn có các yêu cầu khác về
kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ
quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
- Các yêu cầu về lao động
Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm giải quyết các yêu cầu tuyên bố hợp
đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu, các yêu cầu khác về lao động
trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy
định của pháp luật.
* Thời gian làm việc :
Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm hoạt động liên tục vào tất cả các
ngày trong tuần: Từ thứ hai đến thứ sáu
- Sáng: Từ 8h00 - 11h30
- Chiều: Từ 13h30 - 17h
4. Quá trình hình thành và phát triển
Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể Tòa án
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương;
Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân
dân cấp cao và quy định về phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa
5
án nhân dân cấp cao theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối
cao.
5. Cơ cấu lãnh đạo, sơ đồ tổ chức
Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm hiện có 29 công chức, trong đó
có 15 Thẩm phán.
Chánh án: Ông Lê Anh Xuân;
Phó Chánh án: Bà Trần Thị Hồng Ngọc, Bà Nguyễn Thu Hiền
6. Chức năng nhiệm vụ và mục tiêu của cơ sở thực tập
Toà án xét xử những vụ án hình sự; những vụ án dân sự (bao gồm
những tranh chấp về dân sự; những tranh chấp về hôn nhân và gia đình;
những tranh chấp về kinh doanh, thương mại; những tranh chấp về lao động);
những vụ án hành chính.
Toà án giải quyết những việc dân sự (bao gồm những yêu cầu về dân
sự; những yêu cầu về hôn nhân và gia đình; những yêu cầu về kinh doanh,
thương mại; những yêu cầu về lao động); giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản
doanh nghiệp; xem xét và kết luận cuộc đình công hợp pháp hay không hợp
pháp.
Toà án giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật (quyết
định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình giải quyết tranh
chấp thương mại tại Trọng tài; ra quyết định thi hành án hình sự; hoãn hoặc
tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; ra quyết định miễn chấp hành hình phạt
hoặc giảm mức hình phạt đã tuyên; ra quyết định xoá án tích...).
Toà án có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước,
của tập thể; bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công
dân.
Bằng hoạt động của mình, Toà án góp phần giáo dục công dân trung
thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những
nguyên tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội
phạm, các vi phạm pháp luật khác.
7. Mô hình làm việc của cơ sở thực tập
Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm có Chánh án, Phó Chánh án, Chánh
tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên về thi hành
án, công chức khác và người lao động.
8. Môi trường làm việc của cơ sở thực tập
6
- Quy trình làm việc rõ ràng: Có tài liệu hướng dẫn về qui trình cần
được cập nhật tại các phòng ban về toàn bộ qui trình trong văn phòng. Các
bước làm việc phối hợp cũng cần làm rõ ràng và cụ thể.
- Quyền hạn và trách nhiệm trong từng hạng mục công việc cũng được
nêu rõ ràng và cụ thể. Phạm vi và khối lượng công việc rõ ràng. Hệ thống báo
cáo rõ ràng, biểu mẫu báo cáo, các thông tin báo cáo, các hạng mục quan
trọng trong báo cáo được hướng dẫn đầy đủ tới người nhân viên.
- Trang thiết bị cá nhân và trang thiết bị phòng ban đầy đủ máy tính, máy in
- Tinh thần làm việc chuyên nghiệp: Trong toà án thể hiện tinh thần làm
việc chuyên nghiệp, không bè phái, góp ý thẳng thắn trong chuyên môn. Giao
tiếp trong toà án thể hiện sự chuyên nghiệp không tung tin gây mâu thuẫn,
trao đổi đồng nghiệp trên tinh thần hợp tác.
II. THÔNG TIN VỀ BỘ PHÂN THỰC TẬP:
1. Chức năng nhiệm vụ chuyên môn chính của bộ phận thực tập
Do thư ký toà hướng dẫn thức tập chính đây là chuyên môn em thực
tập được tại tòa.
Nhiệm vụ của thư ký tòa:
+ Kiểm tra sự có mặt của những người được Tòa án triệu tập; nếu có
người vắng mặt thì phải nêu lý do;
+ Phổ biến nội quy phiên tòa;
+ Báo cáo Hội đồng xét xử danh sách những người được triệu tập đến
phiên tòa và những người vắng mặt;
+ Ghi biên bản phiên tòa;
+ Tiến hành hoạt động tố tụng khác thuộc thẩm quyền của Tòa án theo
sự phân công của Chánh án Tòa án.
Thư ký Tòa án phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Chánh án
Tòa án về hành vi của mình”.
2. Cơ cấu tổ chức của bộ phận thực tập
Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh và tương đương gồm có:
- Các tòa chuyên trách gồm Tòa hình sự, Tòa dân sự, Tòa gia đình và
người chưa thành niên, Tòa xử lý hành chính. Trường hợp cần thiết, Ủy ban
thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị
của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Căn cứ quy định tại khoản này và yêu
cầu, thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực
7
thuộc tỉnh và tương đương, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định việc
tổ chức Tòa chuyên trách.
- Bộ máy giúp việc: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định thành
lập và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy giúp việc Tòa án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương.
- Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương
đương có Chánh án, Phó Chánh án, Chánh tòa, Phó Chánh tòa, Thẩm phán,
Thư ký Tòa án, Thẩm tra viên về thi hành án, công chức khác.
8
PHẦN III.
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TẠI CƠ SỞ THỰC TẬP
1.Thực trạng hoạt động chung của đơn vị/doanh nghiệp thực
tập/cơ sở tiếp nhận thực tập
Theo quy định tại Điều 28 và Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì
việc giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình hay yêu cầu về hôn nhân và
gia đình đều thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Khoản 3, Điều 35 BLTTDS quy định :
“Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 (tranh chấp về dân sự, hôn
nhân và gia đình) và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước
ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở
nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của
Toà án nhân dân cấp huyện.”
2.Thực trạng tại bộ phận/ cơ sở tiếp nhận thực tập
*Thư ký tòa
-Tiếp nhận, xử lý đơn khởi kiện.
Khi nhận được hồ sơ khởi kiện, Thư ký Tòa án phải ghi vào sổ nhận
đơn. Một trong những căn cứ để Tòa án giải quyết vụ án là việc khởi kiện
phải còn trong thời hiệu khởi kiện, do đó, sổ nhận đơn phải ghi đúng thời
điểm nhận đơn; nếu hồ sơ khởi kiện gửi qua bưu điện, thì phải ghi rõ ngày
trên dấu bưu điện nơi gửi, đồng thời bao bì có dấu bưu điện phải được đính
kèm trong hồ sơ khởi kiện.
Để có nội dung đề xuất chính xác phương án xử lý đơn khởi kiện, Thư
ký Toà án phải nắm vững các quy định của BLTTDS, hướng dẫn tại Nghị
quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005, Nghị quyết số 02/2006/NQHĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao và
quy định của pháp luật nội dung về quan hệ tranh chấp.
Thư ký tòa án trong quá trình thu thập, xác minh chứng cứ, xây dựng
hồ sơ vụ án.
- Thông báo việc thụ lý vụ án
+ Soạn thảo, gửi thông báo việc thụ lý.
+ Tiếp nhận văn bản trả lời thông báo và các tài liệu, chứng cứ do
đương sự giao nộp.
+ Tham gia các hoạt động thu thập, xác minh chứng cứ
9
+ Khi đương sự viết bản tự khai, Thư ký Toà án có trách nhiệm hướng
dẫn cho đương sự viết và tiếp nhận bản tự khai của đương sự.
+ Khi lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, Thư ký Toà án
có trách nhiệm ghi biên bản.
* Trong hoà giải vụ án dân sự:
- Thông báo hòa giải
- Thư ký tòa có trách nhiệm kiểm tra sự có mặt của hòa giải
- Chuẩn bị phiên tòa
-Tại phiên tòa thư ký cho nhiệm vụ:
+ Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên tòa;
+ Phổ biến nội quy phiên tòa;
+ Kiểm tra và báo cáo với Hội đồng xét xử danh sách những người
được triệu tập đến phiên tòa;
+ Ghi biên bản phiên tòa, phiên họp, biên bản lấy lời khai của người
tham gia tố tụng;
* Sau khi lãnh đạo toà án duyệt đủ điều kiện thụ lý, Thư ký Toà án tiến
hành các thủ tục thụ lý vụ án.
- Thủ tục thụ lý vụ án bao gồm:
+ Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí: Thư ký Toà án tạm tính số tiền
tạm ứng án phí mà người khởi kiện phải nộp, gửi thông báo hoặc hướng dẫn
trực tiếp cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án
dân sự có thẩm quyền. Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phải ghi rõ thời
hạn người khởi kiện phải thực hiện xong việc nộp tiền tạm ứng án phí.
+ Ghi sổ thụ lý vụ án. Khi người khởi kiện xuất trình biên lai nộp tiền
tạm ứng án phí, thì Thư ký Toà án ghi sổ thụ lý vụ án.
+ Lập hồ sơ ban đầu. Sau khi ghi sổ thụ lý, Thư ký Toà án lập hồ sơ
ban đầu gồm bìa hồ sơ vụ án (theo mẫu), đơn kiện và các tài liệu kèm theo.
Bìa hồ sơ vụ án phải ghi số thụ lý, ngày thụ lý vụ án.
- Trong trường hợp lãnh đạo toà án phê duyệt không thụ lý mà trả lại
đơn kiện, Thư ký Toà án soạn thảo văn bản thông báo trả lại đơn kiện.
Khi soạn thảo bản thông báo về việc trả lại đơn kiện, Thư ký Toà án
phải căn cứ các quy định tại Điều 168 của BLTTDS và hướng dẫn tại mục 7,
Phần I của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, để ghi cụ thể lý do và điều khoản luật
làm căn cứ trả lại đơn kiện.
Sau khi thông báo trả lại đơn kiện được Thẩm phán ký và đóng dấu,
nếu người khởi kiện nộp đơn trực tiếp tại Toà án, thì Thư ký Toà án làm giấy
mời, mời người khởi kiện đến Toà án để giao thông báo, trả lại đơn và các tài
liệu kèm theo. Nếu người khởi kiện gửi đơn kiện qua bưu điện, thì Thư ký Toà
10
án thực hiện thủ tục gửi thông báo trả lại đơn kiện, kèm theo đơn và các tài liệu
cho người khởi kiện qua bưu điện.
3. Nhận xét Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã làm rõ và thực hiện tốt.
PHẦN IV
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC
NGOÀI
1. Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài
Luật Hôn nhân và Gia đình đã dành nhiều điều luật để quy định về vấn
đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, cho đến nay, trải qua nhiều lần
sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và Gia đình cũng như các văn bản pháp luật
khác vẫn chưa có quy định rõ ràng, định nghĩa cụ thể thế nào là “Ly hôn có
yếu tố nước ngoài”.
Tại Khoản 2 Điều 663 của Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về khái
niệm quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự thuộc một trong
các trường hợp sau đây:
– Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
– Các bên tham gia đều là công dân Viêṭ Nam , pháp nhân Việt Nam
nhưng viêcc̣ xác lập, thay đổi, thực hiện hoăcc̣ chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại
nước ngoài;
– Các bên tham gia đều là công dân ViêṭNam, pháp nhân Việt Nam
nhưng đối tượng của quan hê c̣dân sự đóở nước ngoài.
Quan hệ hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài nói riêng thuộc phạm trù quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài
nên có thể áp dụng toàn bộ quy định của Bộ Luật Dân sự về vấn đề quan hệ
dân sự có yếu tố nước ngoài để kết hợp với luật chuyên ngành để giải quyết
quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, việc xây dựng được khái
niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài một cách đầy đủ, toàn diện và chuẩn mực
trong đạo luật chuyên ngành là cần thiết.
Với tinh thần đó, Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 đã quy định rõ về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
như sau:
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và
gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam
định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là
công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó
11
theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến
quan hệ đó ở nước ngoài.”
Mặt khác, ly hôn theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam
năm 2015 được xem là một vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của
Tòa án. Điều 464 Bộ luật này có quy định rõ thế nào là một vụ việc dân sự.
Theo đó, “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một
trong các trường hợp sau đây: a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá
nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài; b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ
quan, tổ chức Việt Nam những việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm
dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; c) Các bên tham gia đều là công dân,
cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước
ngoài”.
Với hai quy định nêu trên ta thấy, tại Điều 464 Bộ luật tố tụng Dân sự
2015 không quy định chủ thể trong vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là
“người Việt Nam định cư nước ngoài” nhưng tại Điều 3 Luật Hôn nhân và
gia đình 2014 lại quy định chủ thể này. Lý giải cho vấn đề này ta có thể hiểu,
Điều 464 Bộ luật tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2015 là văn bản luật hình thức
áp dụng chung có các quan hệ có yếu tố nước ngoài. Khi có sự kiện pháp lý
xảy ra trên thực tế thì cần áp dụng luật chuyên ngành, trên sơ sở luật chung
để giải quyết một vấn đề cụ thể. Mặt khác, chủ thể theo quy định tại Điều 464
BLTTDS 2015 đã bao hàm cả “người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Như
vậy, có thể thấy rằng, liên quan đến vấn đề “có yếu tố nước ngoài” trong các
quy định nêu trên của các văn bản pháp luật Việt Nam đã có sự thống nhất
với nhau.
Theo đó, ta có thể hiểu “Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc chấm
dứt quan hệ vợ chồng giữa vợ và chồng mà ít nhất một trong hai bên là người
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; hoặc giữa công dân Việt
Nam với nhau mà căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân
theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài; hoặc tài sản liên quan
đến việc ly hôn ở nước ngoài”.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 có quy định về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau: “ 1.
Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước
ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này. 2. Trong trường hợp bên là
công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly
hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú
chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết
theo pháp luật Việt Nam. 3. Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước
ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”
12
Như vậy, khi giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thì Tòa án không
những chỉ áp dụng pháp luật của Việt Nam mà còn phải chú ý tới pháp luật
nước ngoài. Vấn đề lựa chọn pháp luật để áp dụng trong ly hôn có yếu tố
nước ngoài cũng là một điều khá trọng. Nếu lựa chọn không đúng thì bản án
hoặc Quyết định có thể bị hủy. Đặc biệt là pháp luật của nước nơi thường trú
chung của vợ chồng hay là pháp luật nơi có bất động sản của vợ chồng.
Từ các cơ sở trên ta có thể thấy quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài có
một trong các yếu tố sau:
– Yếu tố chủ thể:
Quan hệ ly hôn được coi là có yếu tố nước ngoài khi có ít nhất một
trong các bên chủ thể tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài. Pháp luật Việt Nam quy định người nước ngoài là người không
có quốc tịch Việt Nam, bao gồm người có quốc tịch nước ngoài và người
không
quốc tịch.
– Yếu tố làm chấm dứt quan hệ hôn nhân:
Bao gồm căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ hôn nhân. Đó
chính là sự kiện pháp lý làm chấm dứt quan hệ hôn nhân. Điều kiện để xác
định việc ly hôn có yếu tố nước ngoài hay không trong trường hợp này là sự
kiện pháp lý đó phải theo pháp luật nước ngoài hoặc xảy ra ở nước ngoài.
Đối với những quan hệ này, yếu tố chủ thể không được đặt ra. Nghĩa là,
trong trường hợp các bên chủ thể tham gia đều là công dân Việt Nam, nhưng
nếu sự kiện pháp lý là chấm dứt quan hệ hôn nhân xảy ra ở nước ngoài hoặc
theo pháp luật nước ngoài thì quan hệ đó là quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài.
– Yếu tố vị trí của tài sản liên quan đến quan hệ ly hôn:
Trong trường hợp này, không cần xét đến hai yếu tố trên, nếu tài sản
liên quan đến quan hệ ly hôn không nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà ở nước
ngoài, thì quan hệ đó cũng được coi là quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Bên cạnh đó, một quan hệ ly hôn khi không xét đến cả ba yếu tố trên
nhưng nếu quan hệ ly hôn chấm dứt bằng một bản án, quyết định ly hôn của
Toà án hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài thì đó cũng là một
trong những dấu hiệu xác định quan hệ ly hôn đó là quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài.
Như vậy, để xác định một quan lệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cần xét
đến một trong các yếu tố trên, nếu đáp ứng điều kiện đối với ít nhất một yếu
tố để quan hệ ly hôn đó trở thành quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài thì
không cần xét đến các yếu tố còn lại.
13
2. Hậu quả pháp lý của ly hôn, ly hôn có yếu tố nước ngoài
Nếu kết hôn là cơ sở pháp lý để hình thành các quan hệ nhân thân và tài sản
giữa vợ và chồng thì ly hôn chính là cơ sở pháp lý để làm thay đổi hay chấm
dứt các quan hệ đó. Luật Hôn nhân và Gia đình không có những điều khoản
cụ thể, riêng biệt quy định về quan hệ nhân thân, tài sản đối với trường hợp ly
hôn có yếu tố nước ngoài. Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải
áp dụng các quy định pháp luật chung về điều kiện, căn cứ ly hôn.
2.1. Quan hệ nhân thân
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là những quyền liên quan đến lợi ích
tinh thần gắn liền với nhân thân của vợ chồng trong quan hệ vợ chồng, không
có nội dung kinh tế, không định giá được bằng tiền và không thể chuyển giao
cho người khác.Quyền nhân thân giữa vợ và chồng có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quyền nhân thân giữa vợ và chồng phát sinh trên cơ sở kết
hôn, gắn liền với quan hệ vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân. Các quyền
và nghĩa vụ này chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Tức là, quan hệ
nhân thân giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ được bắt đầu bằng việc
đăng ký kết hôn. Theo đó, vợ và chồng sẽ có thêm các quyền về hôn nhân gia
đình theo quy định của pháp luật. Còn sau khi quyết định, bản án của Tòa án
giải quyết ly hôn có hiệu lực hoặc khi một trong hai bên bị tuyên bố là đã
chết thì quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt.
Thứ hai, quyền nhân thân là quyền gắn liền với cá nhân và không
thể là đối tượng chuyển dịch cho người khác, quyền này có tính độc lập, cá
biệt hoá cá nhân này với cá nhân khác, không thể trộn lẫn. Vì vậy, quyền
nhân thân của vợ chồng không thể chuyển giao cho người khác, không thể do
người khác thực hiện thay mà chỉ phụ thuộc giữa vợ chồng.
Thứ ba, các quyền nhân thân giữa vợ và chồng được pháp luật thừa
nhận và bảo vệ. Quyền nhân thân của cá nhân được quy định cụ thể tại
BLDS và được cụ thể hóa tại Luật HNGĐ với chủ thể cụ thể là vợ chồng.
Quyền nhân thân của vợ chồng được pháp luật quy định trong các quy phạm
pháp luật nên có thể thấy quyền này đã được pháp luật thừa nhận và bảo đảm
thực hiện.
Thứ tư, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng thể hiện mỗi liên hệ tình
cảm giữa vợ và chồng.Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về
tình nghĩa vợ chồng:”1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn
trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các
công việc trong gia đình.2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ
trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,
công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
và lý do chính đáng khác.”Nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan
14
tâm, chăm sóc nhau được điều chỉnh bằng các nguyên tắc đạo đức, truyền
thống và theo phong tục, tập quán của người Việt Nam rồi sau đó được nâng
dần lên thành luật. Vi phạm những quy tắc đạo đức chỉ bị xã hội lên án, vi
phạm các quy tắc pháp luật sẽ bị xử phạt theo quy định.Về nghĩa vụ chung
sống, có thể hiểu rằng hôn nhân trước hết là cuộc sống chung giữa người đàn
ông và người phụ nữ: chung nhà, chung bàn ăn và chung chăn gối. Tất nhiên,
vợ và chồng không nhất thiết phải ở chung, ăn chung, ngủ chung một cách
liên tục, thường xuyên trong suốt thời kỳ hôn nhân; song, ít nhất giữa họ luôn
phải có mối liên hệ sâu đậm về phương diện sinh hoạt vật chất và thân xác.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận một cách rõ ràng nghĩa vụ
chung sống; tuy nhiên, không thể nói rằng mục đích của hôn nhân đã đạt
được một khi hai bên kết hôn không thực sự chung sống với nhau. Việc
không chung sống liên tục trong một thời gian dài có thể dẫn đến những
khó khăn trong việc duy trì cơ sở đạo lý và cơ sở thực tế của quy tắc suy đoán
con chung của vợ chồng.
Thứ năm, các quyền và nghĩa vụ nhân thân thể hiện tính dân chủ,
bình đẳng giữa vợ, chồng:Vợ,chồng có quyền bình đẳng trong việc lựa chọn
chỗ ở, nơi cư trú theo Điều 20 Luật hôn nhân và gia đình 2014: “Việc lựa
chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận, không bị ràng buộc bởi
phong tục, tập quán, địa giới hành chính.”Vợ,chồng có quyền bình đẳng
trong việc lựa chọn tín ngưỡng: Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Ngoài ra, vợ chồng còn có
quyền bình đẳng trong việc lựa chọn việc làm, tham gia vào công tác xã hội
theo quy định tại Điều 23 Luật hôn nhân và gia đình: “Vợ, chồng có quyền,
nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao
trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội.”Vậy quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình chủ yếu là
các quan hệ nhân thân mang tính chất lâu dài, bền vững được nhà nước quy
định cụ thể, chặt chẽ và phù hợp trong Luật hôn nhân và gia đình 2014.
2.1.1. Quan hệ giữa vợ và chồng sau ly hôn:
Cũng như các trường hợp ly hôn không có yếu tố nước ngoài, việc ly
hôn sẽ được coi là căn cứ làm chấm dứt quan hệ vợ chồng. Việc chấm dứt
này có thể xuất phát từ yêu cầu ly hôn đơn phương hoặc do cả hai bên yêu
cầu công nhận thuận tình ly hôn và phải được toà án công nhận bằng bản án
ly hôn hoặc quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn của các đương sự. Sau
khi bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực thì quan hệ vợ chồng sẽ
chính thức chấm dứt.
2.1.2. Quan hệ giữa cha, mẹ và con cái sau ly hôn:
Ly hôn làm chấm dứt quan hệ vợ chồng nhưng không làm chấm dứt quan
hệ giữa cha, mẹ và con chung. Việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái là quyền lợi
đồng thời là nghĩa vụ của cha mẹ trước và sau khi ly hôn. Tuy nhiên, sau khi ly
15
hôn sẽ làm phát sinh một vài vấn đề trong quan hệ giữa cha mẹ và con chung. Ví
dụ như sau khi ly hôn, đương nhiên con cái không thể chung sống được với cả
cha lẫn mẹ.
Do vậy, việc giao con chưa thành niên cho một trong hai người nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục là điều cần thiết. Khi quyết định giao con chưa
thành niên cho ai (trong hai vợ chồng) nuôi dưỡng Toà án phải xem xét đến
hoàn cảnh thực tế của mỗi bên, nhằm đảm bảo lợi ích về mọi mặt cho đứa trẻ.
Bên cạnh vấn đề giao con cho ai nuôi thì việc cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn,
thay đổi nuôi con sau ly hôn… cũng là những vấn đề mới phát sinh trong
quan hệ cha mẹ, con cái sau khi ly hôn nói chung và ly hôn có yếu tố nước
ngoài
nói riêng.
2.2. Quan hệ tài sản
Cũng giống như quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng
cũng sẽ chấm dứt kể từ sau khi bản án hay quyết định của Toà án về việc ly
hôn có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, việc chia tài sản sau ly hôn là vấn đề
hết sức phức tạp, từ việc chia tài sản chung của vợ chồng đến việc xác định
tài sản riêng của các bên trong thời kỳ hôn nhân…Đặc biệt, việc giải quyết
quan hệ tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài còn gặp khó khăn hơn nữa
bởi việc xác định khối tài sản khi tài sản đó ở nước ngoài, việc lựa chọn áp
dụng pháp luật nước ngoài trong trường hợp tài sản là bất động sản ở nước
ngoài. Do đó, khi giải quyết vấn đề tài sản trong ly hôn có yếu tố nước ngoài
theo pháp luật Việt Nam phải kết hợp việc vận dụng các văn bản pháp luật
trong nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, đôi khi cả pháp luật nước
ngoài.
Đối với trường hợp ly hôn có liên quan đến tài sản là bất động sản ở
nước ngoài thì việc giải quyết vấn đề tài sản tuân theo pháp luật nơi có tài
sản. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không có những điều khoản cụ thể
và riêng biệt về quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản đối với trường hợp ly hôn
có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, thông thường khi giải quyết vấn đề này, Thẩm
phán sẽ áp dụng pháp luật chung về điều kiện, căn cứ ly hôn. Ví dụ thẩm
quyền giải quyết vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc Tòa án Việt Nam
sẽ áp dụng Luật HNGĐ Việt Nam, BLDS Việt Nam và các văn bản pháp luật
liên quan để giải quyết các vấn đề hậu quả pháp lý của việc ly hôn nói chung,
bao gồm quan nhân thân và quan hệ tài sản giữa vợ và chồng
3. Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
3.1. Các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài
16
Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài gồm
hai loại là nguồn pháp luật quốc gia và nguồn pháp luật quốc tế. Trong đó,
nguồn pháp luật quốc gia giữ vai trò chủ yếu.
3.1.1. Nguồn pháp luật quốc gia
Nguồn pháp luật quốc gia bao gồm tất cả các quy định của pháp luật quốc gia
liên quan đến vấn đề điều chỉnh pháp lý quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.
Nguồn pháp luật quốc gia ở mỗi nước có thể là nguồn thành văn nếu thuộc hệ
thống Civil Law cũng có thể là nguồn không thành văn nếu thuộc hệ thống
Common Law hoặc có thể gồm cả nguồn thành văn và không thành văn.
Các quy định nói trên ở Việt Nam được quy định chủ yếu trong các văn bản
pháp luật sau đây:
– Hiến pháp. Quyền của công dân trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
nói chung và hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng bao gồm cả
lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài là một trong những quyền cơ bản được
Hiến pháp khẳng định. Đó là nhân quyền – quyền tối cao của công dân được
Nhà nước và pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Do vậy, trong các bản Hiến pháp
của Việt Nam: Hiến pháp năm 1946; Hiến pháp năm 1960; Hiến pháp năm
1980; Hiến pháp năm 1992, đặc biệt là bản Hiến pháp năm 2013 đều quy
định
rất
rõ
quyền này.
Đây là những quy định có tính nguyên tắc và trên tinh thần của các quy
định này, các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã ban hành các bộ Luật,
đạo luật và một hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật nhằm điều
chỉnh lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung và hôn nhân gia đình có yếu tố
nước ngoài nói riêng, bao gồm cả lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài,
– Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 1995, Bộ Luật Dân sự Việt Nam
năm 2005, Bộ Luật Dân sự Việt Nam năm 2015 và các văn bản hướng
dẫn thi hành đều có những quy định liên quan đến vấn đề hôn nhân gia đình
nói chung và vấn đề ly hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng.
– Luật Hôn nhân và Gia đình. Đây là đạo luật chuyên ngành điều
chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly hôn và ly hôn có
yếu tố nước ngoài. Trước khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chúng đã
từng có các đạo luật hôn nhân và gia đình sau đây: Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 1959, Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam
với người nước ngoài năm 1993, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Đi kèm theo từng đạo luật là hệ thống các
văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể.
3.1.2. Nguồn pháp luật quốc tế điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước
ngoài
17
- Điều ước quốc tế: Về mặt lý luận, nguồn quốc tế điều chỉnh quan hệ
hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly hôn và ly hôn có yếu tố nước
ngoài nói riêng là các Điều ước quốc tế toàn cầu, Điều ước quốc tế khu vực
và Điều ước quốc tế song phương. Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay mới
chỉ có các Điều ước quốc tế khu vực và song phương giữa các quốc gia có
quy định về vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Song các Điều ước quốc tế
loại này không điều chỉnh cụ thể mà chỉ quy định nguyên tắc chọn pháp luật
để áp dụng khi giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài. Ví dụ như
Công ước La Haye về tư pháp quốc tế năm 1902, công ước Bustamante năm
1928 và nhiều Điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp.
- Tập quán quốc tế: Về mặt lý luận, tập quán quốc tế cũng là nguồn
pháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình, trong đó có quan hệ ly
hôn và ly hôn có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên cho đến nay chưa có công
trình nào hệ thống hóa hay tổng hợp được các tập quán quốc tế cụ thể đã và
đang được áp dụng khi giải quyết vấn đề này trên thực tế. Nó chủ yếu được
vận dụng với tính chất tập quán quốc gia trong khuôn khổ loại nguồn quốc
gia và do từng quốc gia tự xác định.
3.2. Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài
Như đã trình bày ở Mục 1.3.1, nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly
hôn có yếu tố nước ngoài gồm hai loại là nguồn pháp luật quốc gia và nguồn
pháp luật quốc tế. Trong đó, nguồn pháp luật quốc gia giữ vai trò chủ yếu.
Hai loại nguồn này tác động qua lại và bổ sung cho nhau trong việc điều
chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo thông lệ và nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa pháp luật quốc gia
với các Điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên trong lĩnh vực dân sự nói
chung và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, nếu cùng một
vấn đề mà quy định của Điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên khác với
quy định của pháp luật quốc gia thì áp dụng các quy định của Điều ước
quốc tế đó.
Trên thực tế hiện nay, trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, không có các
quy phạm thực chất thống nhất mà mới chỉ có các quy phạm xung đột thống
nhất. Vì vậy, khi giải quyết vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu quy định
của Điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên khác với quy định của pháp
luật quốc gia thì ưu tiên áp dụng các quy định của Điều ước quốc tế đó
4. Nguyên tắc và phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
4.1. Nguyên tắc điều chỉnh
Trong việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói
chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng, ngoài việc phải tôn trọng các
18
nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia, pháp luật hôn nhân và gia đình
quốc gia được áp dụng theo chỉ dẫn của quy phạm xung đột chúng ta còn
phải tuân theo một số nguyên tắc đặc thù. Cụ thể bao gồm các nguyên tắc sau
đây:
-Tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng phù hợp với pháp
luật quốc gia theo chỉ dẫn của quy phạm xung đột và điều ước quốc tế mà quốc
gia là thành viên.
- Dành cho ng ười nước ngoài chế độ đãi ngộ quốc dân trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
nói riêng.
- Không áp dụng pháp luật nước ngoài theo chỉ dẫn của quy phạm
xung đột, nếu xét thấy hậu quả áp dụng pháp luật nước ngoài trái với trật tự
công cộng hay các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc gia của mình.
Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng nêu trên hoàn
toàn phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế và công pháp
quốc tế hiện đại và sẽ là cơ sở để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính
đáng của các cá nhân trong giao lưu dân sự quốc tế góp phần thúc đẩy phát
triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa các quốc gia.
4.2. Phương pháp điều chỉnh
Về mặt lý luận cũng như trên thực tế, hiện nay có hai phương pháp điều
chỉnh quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài. Đó là phương
pháp thực chất (áp dụng quy phạm thực chất thống nhất) và phương pháp
xung đột (phương pháp áp dụng quy phạm xung đột).
Như đã trình bày ở Mục 1.3.2, hiện nay, trên thế giới chưa có quy phạm
thực chất thống nhất điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước
ngoài nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng nên trong lĩnh vực
này hiện chỉ có phương pháp áp dụng quy phạm xung đột. Và như vậy, các
vấn đề cụ thể về ly hôn có yếu tố nước ngoài sẽ được giải quyết theo pháp
luật quốc gia được quy phạm xung đột chỉ dẫn áp dụng.
Các quy phạm xung đột hướng dẫn chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm quy phạm xung đột do quốc gia tự xây
dựng và quy phạm xung đột thống nhất do các quốc gia thỏa thuận xây dựng
bằng cách ký kết các Điều ước quốc tế để cùng áp dụng. Tuy nhiên, quy
phạm xung đột do quốc gia tự xây dựng là chủ yếu. Hiện nay, các nước trên
thế giới áp dụng các quy phạm xung đột chủ yếu sau đây để hướng dẫn chọn
pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài:
- Quy phạm xung đột quy định áp dụng luật theo quốc tịch của
đương sự. Đây là quy phạm chủ yếu và được áp dụng rộng rãi trên thế giới
19
để giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình có yếu
tố nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói
riêng được quy định trong pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới và cả
trong Công ước La Haye về tư pháp quốc tế năm 1902, công ước Bustamante
năm 1928 và nhiều điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp.
- Quy phạm xung đột quy định áp dụng luật theo nơi cư trú của
đương sự. Quy phạm này được áp dụng trong những trường hợp không áp
dụng luật theo quốc tịch của đương sự mà pháp luật quốc gia hoặc điều ước
quốc tế quy định. Ở Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và một số nước Nam Mỹ quy
phạm này còn là quy phạm chủ yếu được áp dụng để giải quyết xung đột
pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói chung và trong
lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng
- Quy phạm xung đột quy định áp dụng luật theo nơi có tài sản của
vợ chồng. Quy phạm này được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực sở hữu, thừa
kế bất động sản v.v…có yếu tố nước ngoài nhưng trong một số trường hợp
cũng được áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật về hôn nhân và gia đình
có yếu tố nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài
nói riêng.
- Quy phạm xung đột quy định áp dụng luật theo nơi tòa án có
thẩm quyền giải quyết vụ việc. Quy phạm này được quy định trong pháp
luật quốc gia của các nước và trong cả các Điều ước quốc tế, đặc biệt Điều
ước quốc tế về tương trợ tư pháp và được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực tố
tụng dân sự có yếu tố nước ngoài nhưng trong một số trường hợp cũng được
áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật về hôn nhân và gia đình có yếu tố
nước ngoài nói chung và trong lĩnh vực ly hôn có yếu tố nước ngoài nói
riêng.
Việc áp dụng quy phạm xung đột nào cụ thể do từng quốc gia tự quy
định trong pháp luật quốc gia hoặc thỏa thuận với nhau để quy định trong
Điều ước quốc tế. Ví dụ, theo Điều 17 Bộ Luật Dân sự Đức, việc ly hôn được
giải quyết theo luật của nước người chồng mang quốc tịch khi xin ly hôn, và
cho phép dẫn chiếu ngược trở lại hoặc dẫn chiếu đến luật của nước thứ ba.
Đồng thời còn quy định chỉ cho phép áp dụng pháp luật nước ngoài để giải
quyết việc ly hôn khi nội dung của nó phù hợp với điều kiện ly hôn mà pháp
luật của Đức quy định.
Theo quy định của các nước Đông Âu, vấn đề ly hôn được giải quyết
theo pháp luật của nước mà vợ chồng mang quốc tịch lúc xin ly hôn (Điều 21
Luật Tư pháp quốc tế của cộng hòa Séc, Điều 17 Luật Tư pháp quốc tế của
cộng hòa Balan, Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình của Bungary…).
Trường hợp vợ chồng có quốc tịch khác nhau lúc xin ly hôn thì áp dụng luật
nơi chung sống của vợ chồng (theo pháp luật Balan) hoặc luật của nước có
tòa án giải quyết việc ly hôn (theo pháp luật của cộng hòa Séc) v.v…
20
Việc áp dụng luật nơi cư trú của vợ chồng cũng được nhiều nước quy
định. Ví dụ, theo pháp luật của Pháp, việc ly hôn được giải quyết theo pháp
luật nơi cư trú chung của hai vợ chồng; trường hợp vợ chồng không có nơi
thường trú chung thì áp dụng pháp luật của nước mà vợ chồng mang quốc
tịch. Tòa án Pháp cũng vẫn công nhận một số trường hợp việc ly hôn được
giải quyết trên cơ sở pháp luật nước ngoài mặc dù điều kiện ly hôn không
được pháp luật của pháp quy định.
Việc áp dụng luật của nước mà tòa án giải quyết việc ly hôn là thực tiễn
phổ biến ở các nước như Anh, Hoa Kỳ, Singapore, Thụy Sỹ và Trung
Quốc….
Như vậy, việc xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết vấn
đề ly hôn cũng đồng thời là xác định luật áp dụng cho bản thân việc ly hôn. Ở
các nước này, thẩm quyền của tòa án thường được xác định theo nơi cư trú
của đương sự (theo quy định của nước Anh, là nơi cư trú của người chồng),
mặc dù, về nội dung, khái niệm nơi cư trú ở các nước không hoàn toàn giống
nhau.
5. Thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài
Thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài có một số điểm khác so với thủ tục
ly hôn trong nước. Hiện nay việc ly hôn có yếu tố nước ngoài có nhiều khó
khăn và vướng mắc. Tuy nhiên đã có sự thống nhất về quy định của pháp
luật.
Ly hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm các trường hợp: Ly hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc ly hôn giữa người nước ngoài
với nhau thường trú ở Việt Nam.
* Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài được quy định tại Luật
Hôn nhân và gia đình và Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì thẩm quyền giải quyết ly hôn
có yếu tố nước ngoài thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện (khoản 3 Điều
123)
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đã có sự thông nhất về thẩm
quyền so với Bộ luật Tố tụng dân sự cũ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28
và điểm a khoản 1 Điều 35 thì thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước
ngoài thuộc về Tòa án nhân dân cấp huyện (Trước đây thuộc về Tòa án nhân
dân cấp tỉnh).
* Luật áp dụng
Việc giải quyết ly hôn giữa công dân Vệt Nam với người nước ngoài,
giữa người nước ngoài với nhau thường trú trên lãnh thổ Việt Nam được giải
quyết theo pháp luật Việt Nam về hôn nhân và gia đình. Cụ thể là theo quy
21
định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 và các văn bản
liên quan.
Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt
Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp
luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi
thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam.
Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân
theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.
* Trình tự, thủ tục xin ly hôn có yếu tố nước ngoài
Bước 1: Người xin ly hôn viết đơn xin ly hôn và gửi bộ hồ sơ xin ly
hôn tới Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Hồ sơ xin ly hôn có yếu tố nước
ngoài bao gồm các tài liệu:
– Đơn xin ly hôn.
– Bản sao Giấy CMND hoặc giấy chứng thực cá nhân (Hộ chiếu, Thẻ
căn cước công dân); Hộ khẩu (có sao y bản chính).
– Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, trường hợp mất bản chính giấy
chứng nhận kết hôn thì nộp bản sao có xác nhận sao y bản chính của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và phải trình bày rõ trong đơn kiện
– Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con)
– Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp)
– Nếu hai bên kết hôn tại Việt Nam, sau đó vợ hoặc chồng xuất cảnh
sang nước ngoài (không tìm được địa chỉ) thì phải có xác nhận của chính
quyền địa phương về việc một bên đã xuất cảnh
– Nếu hai bên đăng ký kết hôn theo pháp luật nước ngoài muốn ly hôn
tại Việt Nam thì phải hợp thức lãnh sự giấy đăng ký kết hôn và làm thủ tục
ghi chú vào sổ đăng ký tại Sở Tư pháp rồi mới nộp đơn xin ly hôn. Trong
trường hợp các bên không tiến hành ghi chú nhưng vẫn muốn ly hôn thì trong
đơn xin ly hôn phải trình bày rõ lý do không ghi chú kết hôn.
Bước 2: Tòa án thụ lý đơn, xem xét đúng thẩm quyền, đúng quy định
pháp luật thì ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí gửi người nộp đơn. Người
nộp đơn nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai tiền tạm ứng án phí lại cho
Tòa án. Tòa án thụ lý vụ án xin ly hôn và ra thông báo thụ lý vụ án gửi viện
kiểm sát cùng cấp và bị đơn (người có liên quan).
Bước 3: Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật
quy định.
Lưu ý: Pháp luật không yêu cầu đơn ly hôn phải thông qua hòa giải tại
cơ sở (UBND xã, phường, Công đoàn cơ quan,.) Tuy nhiên trên thực tế nhiều
Tòa án vẫn bắt buộc có bước hòa giải này.
22
* Thời hạn giải quyết
Tùy vào từng vụ việc cụ thể mà thời hạn giải quyết khác nhau. Trên cơ
sở luật định thì thời hạn chuẩn bị xét xử là từ 04 – 06 tháng kể từ ngày thụ lý
vụ án; Thời hạn mở phiên tòa từ 01 – 02 tháng kể từ ngay có quyết định đưa
vụ án ra xét xử.
II. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
1.Thực trạng ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Thứ nhất, khi tiến hành giải quyết vụ việc li hôn có yếu tố nước ngoài
tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam xuất hiện rất nhiều khó
khăn trong thực tiễn, đặc biệt là trong hoạt động ủy thác tư pháp trong một số
công việc như ghi lời khai, tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, xác minh địa
chỉ, trưng cầu giám định. Để giải quyết vụ việc li hôn có yếu tố nước ngoài
(đương sự ở nước ngoài) thì hoạt động uỷ thác tư pháp ra nước ngoài là vấn
đề có tính chất quyết định trong việc đưa vụ án ra xét xử, tuy nhiên, hiện nay
viêc uỷ thác tư pháp còn nhiều khó khăn, vướng mắc.
Ví dụ, chị H sinh năm 1990 ở xã A, huyện B, tỉnh C và chồng là anh G
kết hôn với nhau, hai vợ chồng có với nhau một con chung là cháu K. Năm
2013, anh G đi lao động tự do ở nước ngoài (Cộng hoà liên bang Đức). Sau
một thời gian, chị H thấy chồng mình là anh G có một số biểu hiện khác
thường, không thường xuyên gọi điện liên lạc, cũng không quan tâm đến vợ
con đang sống ở Việt Nam, trong khi ở nhà thì giữa chị H và mẹ chồng xảy ra
nhiều mâu thuẫn, mẹ chồng chị H thường xuyên chửi bới con dâu vô cớ và
còn cố tình chia rẽ tình cảm của vợ chồng chị. Từ tháng 1/2014 đến nay, chị
H không còn liên lạc được với chồng, con trai cũng bị gia đình chồng chia
cắt, không cho gặp. Đỉnh điểm, trên facebook cá nhân, chồng chị còn khoe
ảnh hạnh phúc bên vợ mới và con ở nước ngoài. Cực chẳng đã, chị H đành
viết đơn xin li hôn. Thế nhưng, việc li hôn của chị không mấy thuận lợi vì
thời gian đầu theo thư gửi về chồng chị ghi địa chỉ là thành phố Berlin, nhưng
hiện nay bản thân chị cũng không biết chồng mình đang sinh sống cụ thể ở
nơi nào tại Đức.
Hoặc trương hợp chị A ở xã Y Th, huyện Y M, tỉnh N, kết hôn với
chồng là anh B ở TP H vào năm 2005, hai vợ chồng có với nhau một con
chung là cháu C, năm 2008, anh B đi xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc
(theo diện xuất khẩu chui), thời gian đầu thì vợ chồng chị còn thỉnh thoảng
liên lạc với nhau, chị có biết được nơi ở (địa chỉ) của chồng bên Hàn Quốc.
Từ năm 2010 đến thời điểm hiện tại thì chồng chị là anh B không liên lạc với
vợ, cũng từ thời điểm đó thì chị và gia đình chồng thường xảy ra mâu thuẫn,
chị mang con ra Hà Nội sinh sống và làm việc, đầu năm 2018, chị làm thủ tục
li hôn gửi toà án tỉnh H, phía toà H hướng dẫn chị lựa chọn toà án nơi bị đơn
cư trú để giải quyết cho thuận lợi theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, bị đơn đỡ vất vả cho việc đi lại, nhưng Toà tỉnh N không thụ lý
23
giải quyết trường hợp của chị vì không có văn bản thoả thuận giữa hai vợ
chồng về việc lựa chọn toà án để giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, chị cũng không cung cấp được thông tin về địa chị cụ
thể của người chồng của mình bên Hàn Quốc, nên việc li hôn của chị với
chồng bị tắc không giải quyết được, chị A không thể li hôn được với anh B để
có thể đi xây dựng hạnh phúc mới với người đàn ông khác bởi vì về mặt pháp
lý thì chị và anh B vẫn là vợ chồng hợp pháp.
Ở đây có những bất cập đó là: Một là, về xác định thẩm quyền của Tòa
án. Theo quy định của Luật Quốc tịch thì “người Việt Nam định cư ở nước
ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống
lâu dài ở nước ngoài”. Tuy nhiên, thời gian để xác định “lâu dài” không được
quy định cụ thể trong một văn bản nào. Trường hợp người Việt Nam đi công
tác, học tập hoặc du lịch nhưng khi hết thời hạn họ ở lại nước sở tại thì có
được xem là người Việt Nam định cư nước ngoài hay không? Vấn đề này ảnh
hưởng đến việc xác định thẩm quyền giải quyết của tòa án.
Hai là, về nơi cư trú của một bên đương sự ở nước ngoài. Không ít
trường hợp công dân Việt Nam, thậm chí kể cả các pháp nhân Việt Nam
không chịu tìm hiểu kỹ điều kiện, địa chỉ cụ thể của người nước ngoài; của
pháp nhân nước ngoài; không yêu cầu người nước ngoài, pháp nhân nước
ngoài cung cấp địa chỉ tại nơi mà họ đang sinh sống, trụ sở pháp nhân đang
hoạt động… dẫn đến tình trạng quyền và lợi ích bị xâm. Khi khởi kiện đến
tòa án thì không xác định được địa chỉ hoặc không có địa chỉ người nước
ngoài, khiến tòa án rất khó khăn trong xác định địa chỉ. Nhiều trường hợp, bị
đơn trong vụ án là người đang ở nước ngoài khi biết mình bị khởi kiện tại tòa
án luôn tìm cách né tránh, thay đổi địa chỉ nên tòa án không thể triệu tập họ
tham gia tố tụng và không có chế tài xử lý
.-Thứ hai, khó khăn trong thực hiện ủy thác tư pháp. Khi tiến hành giải
quyết vụ việc li hôn có yếu tố nước ngoài tại cơ quan nhà nước có thẩm
quyền của Việt Nam đã xảy ra rất nhiều khó khăn trong thực tiễn, đặc biệt là
hoạt động ủy thác tư pháp đối với một số công việc cụ thể như ghi lời khai,
tống đạt giấy tờ, thu thập chứng cứ, xác minh địa chỉ, trưng cầu giám định…
Việc ủy thác tư pháp để ghi lời khai của những cá nhân đang ở những nước
mà Việt Nam chưa ký hiệp định tương trợ tư pháp thì hầu như không có kết
quả. Những việc mà Tòa án Việt Nam ủy thác tư pháp cho Tòa án nước ngoài
thì kết quả trả lời thường rất chậm, thậm chí nhiều trường hợp không nhận
được sự trả lời. Chính vì vậy, việc lấy lời khai, tống đạt các văn bản của Tòa
án hoặc xác định tài sản ở nước ngoài là không thực hiện được làm cho vụ án
bị kéo dài, vi phạm thời hạn xét xử, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.
Nhiều vụ không thể thụ lý giải quyết do công dân Việt Nam xin li hôn chỉ
cung cấp cho Tòa án bản đăng ký kết hôn có địa chỉ của bên kia, ngoài ra thì
không có một thông tin nào khác của bị đơn. Điều này dẫn đến thực tế nhiều
24
cuộc hôn nhân chỉ mang tính hình thức và vẫn bị kéo dài, ảnh hưởng đến
cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của nguyên đơn. Bên cạnh đó, thủ tục
hợp thức hóa lãnh sự đối với các việc mà Tòa án Việt Nam yêu cầu thì nhiều
Tòa án nước ngoài chưa đáp ứng kịp thời, do vậy cũng đã gây khó khăn cho
việc xét xử.
- Thứ ba, khó khăn trong việc áp dụng pháp luật. Trường hợp không có
điều ước quốc tế, áp dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam trên thực tế
gặp phải rất nhiều khó khăn. Nhiều vụ việc tòa án Việt Nam xác định thuộc
thẩm quyền và đưa ra phán quyết, nhưng do các quốc gia khác cũng cho rằng
thẩm quyền giải quyết cũng thuộc thẩm quyền của nước họ, điều này dẫn đến
xung đột pháp luật giữa Việt Nam và các nước đó. Tác giả xin nêu ra một
trường hợp đã được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết và
vụ án này đã được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, đó là vụ ly
hôn giữa Lý Hương và Chồng là Tony Lam. Năm 2001, Lý Hương theo Tony
Lam về Mỹ. Cả hai tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn ngày 6/2 tại quận
Clack, bang Neveda. Sau một thời gian sinh sống với nhau, hai người sảy ra
mâu thuẫn. Lý Hương đưa con về nước và đệ đơn ly hôn lên Tòa án nhân dân
thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xử cho
nữ diễn viên này được ly hôn chồng và giao quyền nuôi con cho người mẹ.
Cùng thời gian Tony Lam đâm đơn tố Lý Hương mang con về nước mà
không có sự đồng ý của người cha, tòa án New York phán quyết, quyền nuôi
con chung của cả hai được giao hoàn toàn cho Tony Lam.
Đối với trường hợp trên thì có hai hệ thống pháp luật điều chỉnh đó là
Pháp luật Việt Nam và pháp luật Hoa Kỳ. Ở đây, có khó khăn trong việc áp
dụng pháp luật đó là giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lại chưa ký kết (tức là không
có hiệp định tương trợ tư pháp) về giải quyết vấn đề này, đó là nguyên nhân
dẫn đến sự xung đột pháp luật giữa hai quốc gia. Theo quy định của pháp luật
Việt Nam thì trường hợp này thuộc thẩm quyền riêng biệt chỉ Tòa án Việt
Nam mới có thẩm quyền giải quyết. Do đó tòa án Việt Nam không chấp nhận
và cho thi hành đối với bất kỳ phán quyết của cơ quan tài phán của các nước
khác.
-Thứ tư, trình độ Thẩm phán cũng còn nhiều bất cập. Kiến thức chuyên
môn của của một số Thẩm phán về Tư pháp quốc tế chưa được sâu, bên cạnh
đó thì trình độ ngoại ngữ của đội ngũ Thẩm phán còn rất hạn chế, từ đó gây
khó khăn trong việc tiếp cận với pháp luật nước ngoài cũng như khi tiến hành
tố tụng trong những vụ án có công dân nước ngoài hoặc pháp nhân nước
ngoài.
2. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng:
- Thứ nhất, trong cuộc sống hiện nay thì thế hệ trẻ chưa có được những
nhận thức đầy đủ và đúng đắn về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc hôn
nhân, dẫn đến vợ chồng đối xử với nhau tùy tiện, không coi trọng tình cảm,
25