TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
-------------***--------------
BÀI GIỮA KỲ MÔN KINH TẾ LƯỢNG II
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TUỔI THỌ TRUNG
BÌNH CỦA CÁC QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI GIAI ĐOẠN
2008 – 2014
Lớp tín chỉ: KTE 318.2
Sinh viên thực hiện: Vũ Thị Thu Huyền - 1714420047
Phạm Hà Phương Anh - 1714410024
Trần Thị Huyền Mỹ - 1714420063
Vũ Thị Hồng Duyên - 17144100057
Nguyễn Thị Vân Anh - 1714410023
Hà Nội, tháng 9 năm 2019
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
HỌ TÊN
MSSV
CÔNG VIỆC
Vũ Thị Thu Huyền
1714420047
Lấy data, dofile, chạy
Stata, chương 3
Phạm Hà Phương Anh
1714410024
Lấy data, chạy Stata,
chương 3
Trần Thị Huyền Mỹ
1714420063
Tổng hợp chương 1, lấy
data
Vũ Thị Hồng Duyên
1714410057
Mở đầu, chương 2, lấy
data, chỉnh sửa hoàn thiện
tiểu luận
Nguyễn Thị Vân Anh
1714410023
Kết luận, chương 2, lấy
data
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................4
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU............................................6
1, Các nghiên cứu đi trước.....................................................................................6
2, Lỗ hổng nghiên cứu......................................................................................... 12
Chương II: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU.................................................................... 14
1, Cơ sở lý luận.................................................................................................... 14
2, Mô hình............................................................................................................ 16
3, Nguồn dữ liệu.................................................................................................. 18
4, Mô tả thống kê và mô tả tương quan biến số................................................... 19
Chương III: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ THẢO LUẬN.....................................24
1, Kết quả ước lượng........................................................................................... 24
2, Lựa chọn mô hình............................................................................................ 26
3, Kiểm định mô hình.......................................................................................... 26
4, Thảo luận......................................................................................................... 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................. 31
1, Kết luận............................................................................................................ 31
2, Khuyến nghị..................................................................................................... 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................... 34
PHỤ LỤC.............................................................................................................37
LỜI MỞ ĐẦU
Dân số thế giới không chỉ tăng lên mà ngày càng trở nên già đi. Già hoá dân số
là kết quả tất yếu của việc giảm sinh, đặc biệt khi điều kiện sống được cải thiện. Tỷ lệ
người già đang tăng nhanh hơn so với các nhóm tuổi khác. Ở các nước phát triển, tỷ lệ
người cao tuổi (NCT) cao hơn hẳn so với trẻ em. Ở những nước đang phát triển, dân số
già cũng tăng nhanh hơn bởi tốc độ giảm sinh, đây là kết quả từ thành công của chương
trình sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hóa gia đình. Chính vì vậy việc chăm sóc sức khỏe
và đặc biệt là tuổi thọ trung bình của các nước trên thế giới đang được rất nhiều người
quan tâm. Tuy nhiên muốn biết cách để chăm sóc sức khỏe và duy trì tuổi thọ của
mình, thì trước tiên chúng ta phải hiểu rõ về các yếu tố có ảnh hưởng đến tuổi thọ. Mặc
dù có rất nhiều yếu tố có thể nói là ảnh hưởng đến tuổi thọ và phúc lợi của xã hội
nhưng khi đi phân tích thì chúng có thực sự ảnh hưởng không và ảnh hưởng với tỷ lệ
bao nhiêu thì đó vẫn còn là một câu hỏi lớn. Hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam
có một số nghiên cứu về tuổi thọ của con người tuy nhiên mới xét đến ảnh hưởng của
một yếu tố hoặc tác động của dân số già, chưa có nhiều những nghiên cứu rõ và sâu về
các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình của các quốc gia trên thế giới. Vì vậy,
nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài của bài tiểu luận là Tuổi thọ trung bình của các
nước trên thế giới.
Bài tiểu luận phân tích về những yếu tố có cảnh hưởng đến tuổi thọ. Nguồn dữ
liệu được chúng tôi tham khảo từ World Health Organization và World Bank. Dữ liệu
lấy từ 43 nước trên thế giới từ năm 2008 đến năm 2014 để phân tích về những yếu tố
như : tỷ lệ nghèo vì nghèo đói có thể gây ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe của con
người; thu nhập quốc dân vì có nghiên cứu chỉ ra rằng số lượng hàng hóa mà một cá
nhân có thể mua chắc chắn có ảnh hưởng đến sức khỏe và phúc lợi của họ; chi tiêu cho
y tế vì nó quan trọng để biết mức độ mỗi chính phủ đang cố gắng nỗ lực để khắc phục
và nâng cao sức khỏe của người dân, cùng với đó là khả năng mà mỗi người dân có thể
chi tiêu cho sức khỏe của mình; an sinh xã hội vì đó là một yếu tố có ảnh hưởng khá
lớn đến thu nhập của một người, đặc biệt là người già và mất sức lao động; tỷ lệ người
dân hoàn thành cấp Trung học cơ sở vì trường học là nơi người ta có thể tìm hiểu về
sức khỏe và cách chăm sóc sức khỏe, số bác sĩ trên 1000 người cũng như số giường
bệnh trên 1000 người bởi vì nó tính đến tỷ lệ dân số có thể tiếp cận các dịch vụ y tế tại
mỗi điểm ở2 mỗi nước; chỉ số GINI vì chênh lệch thu nhập gây ra nhiều yếu tố văn
hóa, chính trị , xã hội có ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Với kiểu dữ liệu mảng, để ước lượng mô hình theo các biến kể trên, nhóm tác
giả tiến hành ước lượng theo 3 mô hình:
Hàm hồi quy gộp OLS.
Mô hình với các ảnh hưởng cố định FE ( Fixed-effect model) theo OLS.
Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên RE ( Random effect model).
Nhóm tiến hành thiết lập mô hình hồi quy và kiểm định mô hình sử dụng phần
mềm STATA14.
Bài tiểu luận gồm có 3 chương :
Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Mô hình nghiên cứu
Chương 3 : Kết quả ước lượng và thảo luận
Chương I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1, Các nghiên cứu đi trước
Có nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra những nhân tố có ảnh hường đến tuổi
thọ trung bình.
a, Nhóm nghiên cứu các yếu tố có ảnh hưởng âm
Đầu tiên, là nghiên cứu về sự tương quan giữa tỉ lệ nghèo và tuổi thọ trung bình
của giáo sư Majid Ezzati của Đại học Hoàng gia Luân Đôn, Anh (2018) cho thấy
khoảng cách về tuổi thọ giữa bộ phận những người giàu có và thiếu thốn nhất trong xã
hội tăng từ sáu năm (2001) lên tám năm (2016) đối với phụ nữ và từ chín đến 10 năm
đối với nam giới. Nhóm nghèo nhất trong xã hội đang chết sớm hơn gần một thập kỷ
so với các nhóm giàu nhất, điều này cho thấy rằng việc cắt giảm phúc lợi và chi phí
sinh hoạt ngày càng cao khiến cho những người nghèo nhất bị loại ra khỏi tập thể xã
hội. Nghiên cứu này đã cho thấy tuổi thọ của những phụ nữ nghèo nhất nước Anh đã
giảm trong bảy năm qua – kể từ năm 2011. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn cũng cao hơn đáng kể, và có nguy cơ tử vong cao gấp hai phẩy năm lần so với
các bạn cùng lứa từ các gia đình giàu có. Các phát hiện cũng cho thấy rằng những
người nghèo ở Anh đang chết vì những căn bệnh có thể phòng ngừa và điều trị nếu đầu
tư nhiều hơn cho y tế và chăm sóc xã hội ở những khu vực thiếu thốn nhất, cũng như
hành động trong ngành để lựa chọn thực phẩm lành mạnh phải chăng hơn, sẽ giúp đảo
ngược xu hướng. Nhóm nghiên cứu của Đại học Hoàng gia Luân Đôn đã tiến hành
phân tích bằng cách sử dụng thông tin về những nơi có sự tử vong xảy ra, khớp với các
khu vực nhỏ của Anh – nơi được gọi là khu vực có sản lượng siêu thấp theo Văn phòng
Thống kê quốc gia. Tuy nhiên, nghiên cứu mới dừng lại ở một khía cạnh tác động đến
độ tuổi trung bình và phạm vi nghiên cứu chỉ ở nước Anh.
Ở một nghiên cứu khác, 4 nhà nghiên cứu Roberto De Vogli, Ritesh Mology,
Roberto Gnesotto, Giovanni Andrea Cornia (2005) đã đo lường mối tương quan giữa
bất bình đẳng thu nhập và tuổi thọ khi sinh ở Ý và trên 21 quốc gia giàu có hàng đầu.
Họ đã sử dụng hệ số tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính đa biến để đo lường mối
liên quan giữa bất bình đẳng thu nhập và tuổi thọ, được điều chỉnh theo thu nhập bình
quân đầu người, giáo dục và/ hoặc tổng sản phẩm quốc hội thì đưa ra được kết luận là:
tại Ý – một quốc gia nơi có dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục phổ biến với mạng
lưới an toàn xã hội mạnh mẽ, bất bình đẳng thu nhập có tác động độc lập và mạnh mẽ
hơn đến tuổi thọ so với thu nhập bình quân đầu người và trình độ học vấn. Ý có mức
độ bất bình đẳng thu nhập cao vừa phải và tuổi thọ trung bình so với các nước giàu
khác. Các phân tích xuyên quốc gia cho thấy mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập
và sức khỏe dân số đã luôn luôn tồn tại và mối tương quan này là ảnh hưởng âm. Mặc
dù vậy, nghiên cứu chưa có sự so sánh tác động qua các năm và phạm vi nghiên cứu
chỉ thực hiện các quốc gia giàu có.
Ngoài ra, Pickett và Wilkinson (2005) đã quyết định kiểm tra 155 bài báo
nghiên cứu về mối quan hệ giữa bất bình đẳng thu nhập và sức khỏe dân số, từ đó tìm
ra kết quả phân chia theo nhóm ( ảnh hưởng toàn bộ, không ảnh hưởng và ảnh hưởng
một phần). Ảnh hưởng toàn bộ có nghĩa là mối quan hệ giữa hai biến được giải thích
hoàn toàn. Không ảnh hưởng, có nghĩa là không có ý nghĩa thống kê. Ảnh hưởng một
phần, có nghĩa là chỉ có một số mối quan hệ có ý nghĩa thống kê. Thì hai nhà nghiên
cứu đã tìm ra rằng 70% các nghiên cứu ngụ ý rằng khi có sự bất bình đẳng thu nhập
lớn hơn, sức khỏe của dân chúng bị kém hơn kéo theo tuổi thọ trung bình giảm đi. Các
bài báo chỉ ra rằng điều quan trọng là phải lấy mẫu ở một khu vực rộng lớn để thể hiện
bản chất thực sự của bất bình đẳng thu nhập. Một vấn đề khác trong một vài nghiên
cứu là xác định các biến kiểm soát thích hợp. Ví dụ, các tác giả thừa nhận rằng là các
quốc gia có thu nhập bình quân đầu người giàu hơn các quốc gia khác, mối quan hệ
giữa tuổi thọ và GNI bình quân đầu người trở nên ít phổ biến hơn. Khi vấn đề được xác
định, Wilkinson và Pickett đã xem xét tất cả các giấy tờ và thấy rằng chỉ có 8% trong
số 155 bài báo không ủng hộ tuyên bố rằng bất bình đẳng thu nhập (chỉ số Gini) và tuổi
thọ trung bình có liên quan. Do đó, 2 nhà nghiên cứu suy ra có ảnh hưởng giữa hệ số
Gini và tuổi thọ trung bình, và ảnh hưởng đó là ảnh hưởng âm. Mặc dù được bài
nghiên cứu được thực hiện rất công phu nhưng vẫn còn hạn chế vì đây chỉ là tổng hợp
lại các bài báo, nghiên cứu trước, chưa có tính mới.
Không chỉ vậy, nghiên cứu của Abdalali Monsef, Abolfazl Shamohammadi
Mehrjardi (2017) đã xác định được tác động của thất nghiệp lên tuổi thọ trung bình,
các nhà nghiên cứu đã lấy dữ liệu trên World Bank của 136 quốc gia và sử dụng
phương pháp dữ liệu mảng trong giai đoạn từ 2002 – 2010 để điều tra về mối quan hệ
này. Nghiên cứu này chỉ ra rằng: thất nghiệp có tác động tiêu cực lên tuổi thọ trung
bình, kết quả chỉ ra rằng tất cả các biến thống kê trong nghiên cứu đều có ý nghĩa ở
mức 5%, ngoài ra thì hệ số của tỷ lệ thất nghiệp là âm, suy ra tỷ lệ thất nghiệp và tuổi
thọ trung bình có ảnh hưởng âm lẫn nhau. Tuy nhiên thì các nhà nghiên cứu cũng lưu ý
rằng ở nhiều nghiên cứu khác thì tìm thấy rất ít bằng chứng về thất nghiệp gây ảnh
hưởng đến thể chất và tâm lý cũng như sức khỏe của con người, nên họ khuyên nghị
rằng chúng ta cần xem xét nhiều nghiên cứu khác nhau để đánh giá chính xác nhất sự
ảnh hưởng của thất nghiệp lên sức khỏe, từ đó liên hệ đến tuổi thọ. Đây là một trong
những nghiên cứu có phương pháp nghiên cứu tương tự như của nhóm tác giả nhưng
nhóm tác giả xét đến sự tác động của nhiều yếu tố đến tuổi thọ mà không chỉ dừng lại ở
một khía cạnh.
b, Nhóm nghiên cứu có ảnh hưởng dương
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu nhập và tuổi thọ trung bình, nhóm tác giả
Raj Chetty, Michael Stepner, Sarah Abraham, Shelby Lin, Benjamin Scuderi, Nicholas
Turner, Augustin Bergeron, David Cutler (2016) đã sử dụng dữ liệu thu thập cho dân số
Hoa Kỳ được lấy từ 1,4 tỷ hồ sơ thuế xác định từ 1999 đến 2014. Dữ liệu về tỷ lệ tử
vong được lấy từ hồ sơ tử vong của cơ quan An sinh xã hội. Họ đã sử dụng phương
pháp nghiên cứu ước tính tuổi thọ trung bình, được xác định là tuổi thọ dự kiến cho
một cá nhân giả định trải qua tỷ lệ tử vong cho độ tuổi từ 40 đến 76 tuổi, tỷ lệ tử vong
ngoại suy ngoài 76 tuổi và tính tuổi thọ, điều chỉnh sự khác biệt về tỷ lệ chủng tộc và
dân tộc trên các phân vị, riêng đối với cá nhân từ 63 tuổi trở xuống, tỷ lệ tử vong được
tính dựa trên tỷ lệ phần trăm thu nhập 2 năm trước đó. Độ trễ 2 năm giúp giảm thiểu
quan hệ nhân quả ngược phát sinh từ thay đổi thu nhập lúc gần chết. Toàn bộ những
phân tích này đều được tiến hành riêng cho nam và nữ thì cho ra được kết quả là: Thu
nhập cao hơn có liên quan đến tuổi thọ cao hơn và sự khác biệt về tuổi thọ giữa các
nhóm thu nhập là khá lớn. Khoảng cách tuổi thọ giữa nam và nữ được thu hẹp với mức
thu nhập tăng. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa tuổi thọ và thu nhập thay đổi đáng kể giữa
các khu vực; sự khác biệt về tuổi thọ tương quan với hành vi sức khỏe và đặc điểm khu
vực địa phương. Nhưng nhìn chung, thu nhập có ảnh hưởng dương đối với tuổi thọ.
Về sự tương quan giữa chi phí y tế và tuổi thọ trung bình, nhóm nhà nghiên cứu
Elisabeta Jabaa, Chistiana Brigitte Balana, Loan Bogdan Robua (2014) đã thu thập dữ
liệu của 175 nước trên thế giới, được nhóm theo vị trí địa lý và mức thu nhập của hơn
16 năm (từ 1995 – 2010) và dựa vào phân tích dữ liệu bảng để ước tính tuổi thọ theo
chi phí y tế, đã đưa ra được kết luận rằng : sự bất bình đẳng trong chi tiêu chăm sóc sức
khỏe giải thích các kết quả khác nhau về tuổi thọ của người dân. Nghiên cứu đã xác
nhận những phát hiện trước đó về mối quan hệ giữa tình trạng sức khỏe và chi tiêu y tế.
Một phát hiện rõ ràng xuất hiện từ nghiên cứu này là, đối với các nước phát triển,chi
phí y tế cho mỗi đầu người tăng đáng kể cùng với sự gia tăng tuổi thọ, đặc biệt là các
nước Châu Âu thì tuổi thọ có thể tăng đến mức trường thọ. Kết quả nghiên cứu này cho
thấy sự khác nhau giữa chi phí y tế trên đầu người có ảnh hưởng quan trọng đến sự
chênh lệch về tuổi thọ trung bình giữa các quốc gia phát triển, đang phát triển và kém
phát triển – sự khác biệt này đang gia tăng theo thời gian. Những phát hiện của nghiên
cứu này chỉ ra mối liên hệ giữa chi phí y tế và tuổi thọ trung bình có ảnh hưởng dương
lẫn nhau. Tuy nhiên, nghiên cứu hiện tại chỉ xem xét một yếu tố, đó là chi phí y tế, trên
tình trạng sức khỏe của dân số, trong khi các yếu tố khác liên quan đến phong cách
sống, giáo dục và thu nhập của cá nhân nên được xem xét.
Theo một nghiên cứu dẫn đầu của các nhà nghiên cứu tại các trường đại học
StanFord và Harvard, trong đó nghiên cứu chính là ngài Sanjay Basu, lấy dữ liệu từ
3142 quận, 7144 khu vực dịch vụ chăm sóc chính và 306 khu vực sảnh bệnh viện đã
chỉ ra rằng : Người dân sống lâu hơn ở những khu vực có nhiều bác sĩ chính chăm sóc
hơn. Nhưng nguồn cung bác sĩ này đang bị thu hẹp khi nhiều sinh viên y khoa chọn các
chuyên khoa trả cao hơn. Nghiên cứu cho thấy tuổi thọ tăng 51,5 ngày cho mỗi người
dân khi tăng thêm 10 bác sĩ chăm sóc chính trên 100.000 người ở Hoa Kỳ từ năm 2005
đến 2015. Một sự gia tăng tương tự trong các nghiên cứu bơi chuyên gia khác thì điều
này lại làm tăng tuổi thọ chỉ 19,2 ngày. Nhìn chung, các khu vực có nhiều bác sĩ chăm
sóc chính sẽ có tỷ lệ tử vong thấp hơn. Số ca tử vong do tim mạch ít hơn 0,9%, tử vong
do ung thư ít hơn 1% và tử vong do hô hấp ít hơn 1,4% khi tăng thêm 10 bác sĩ chăm
sóc chính trên 100.000 người. Theo ngài Sanjay Basu, tăng số lượng các bác sĩ chăm
sóc chính giúp tăng khả năng một người được điều trị các yếu tố có nguy cơ gây mắc
bệnh tim mạch như huyết áp cao hoặc cholesterol cao hoặc phát hiện sớm đối với các
bệnh ung thư lớn như ung thư vú hoặc ung thư ruột kết. Không giống như một số
nghiên cứu trước đây, tác phẩm này chỉ ra rằng các yếu tố khu vực có thể ảnh hưởng
đến tuổi thọ, chẳng hạn như mức độ nghèo và số giường bệnh, cũng như các yếu tố cá
nhân, bao gồm thói quen hút thuốc và béo phì. Các nhà nghiên cứu cũng xem xét
những người di chuyển giữa các khu vực có mật độ chăm sóc chính khác nhau và so
sánh mức độ sống sót của họ thay đổi, kiểm soát các đặc điểm của khu vực và cá nhân.
Họ phát hiện ra rằng những người chuyển đến các khu vực có nhiều bác sĩ chăm sóc
chính đã tăng tuổi thọ lên tới 114,2 ngày mỗi thập kỷ cho mỗi 10 bác sĩ bổ sung trên
100.000 dân. Điều này cho thấy số lượng bác sĩ có ảnh hưởng dương đến tuổi thọ trung
bình.
Ngoài ra, đã có một nghiên cứu thực nghiệm của Vahid Yazdi Feyzabadi,
Aliakbar Haghdoost, Mohammad Hossein Mehrolhassani và Zahra Aminian (2015) về
sự liên quan giữa hòa bình và tuổi thọ, các nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình hồi quy
hiệu ứng ngẫu nhiên để kiểm tra mối liên hệ giữa hòa bình và tuổi thọ trung bình giữa
các quốc gia trên thế giới từ năm 2007 đến năm 2012. Chỉ số LE (Life Expectancy) khi
sinh và hòa bình toàn cầu (GPI : điểm từ 1 đến 5, điểm cao hơn có nghĩa là hòa bình
thấp hơn) đã được chọn làm kết quả và các biến dự đoán chính, tương ứng. Ngoài ra thì
có có đưa thêm các biến khác vào mô hình nghiên cứu như tổng thu nhập quốc dân
(GNI) bình quân đầu người và chỉ số giáo dục (EI). Dữ liệu được lấy từ Viện Kinh tế
và Hòa Bình (IEP) và UNDP (Chương trình Phát triển Liên hợp Quốc). Số lượng các
quốc gia lấy dữ liệu là 158 quốc gia dựa trên dữ liệu đã có sẵn. Và nghiên cứu đó đã
chỉ ra rằng GPI có tác động tiêu cực, đáng kể và có ý nghĩa thống kê đối với LE ( các
hệ số chuẩn hóa âm), sự liên kết này cũng có ý nghĩa ngay cả sau khi điều chỉnh EI,
GNI, hoặc cả EI và GNI. Từ đó suy ra sự đóng góp của hòa bình như một yếu tố quyết
định toàn cầu của LE là đáng kể về mặt thực nghiệm ngay cả sau khi điều chỉnh mức
độ kinh tế và giáo dục của các quốc gia. Điều này ngụ ý rằng các chính phủ nên nỗ lực
giải quyết hòa bình thông qua việc thực hiện quản trị tốt dựa trên sự tương tác với cả
công chúng và các quốc gia khác.Vậy, hòa bình và tuổi thọ trung bình có ảnh hưởng
lẫn nhau
Để nghiên cứu về tác động của giáo dục lên tuổi thọ, nhà nghiên cứu Wolfgang
Lutz, Kebale (2018) đã tổng hợp dữ liệu trung bình về GDP trên mỗi đầu người, tuổi
thọ và số năm giáo dục từ 174 quốc gia, từ năm 1970 đến năm 2010 để đưa ra được kết
luận rằng : bắt đầu từ năm 1975, sự giàu có tương quan với tuổi thọ. Nhưng mối tương
quan giữa tuổi thọ và số năm đi học gần hơn, đó là sự liên quan trực tiếp và không thay
đổi theo thời gian, nhưng sự giàu có thì thay đổi. Khi nhóm nghiên cứu đưa hai yếu tố
này vào cùng một mô hình toán học, họ thấy rằng sự khác biệt trong giáo dục dự đoán
chính xác sự khác biệt trong tuổi thọ, trong khi sự thay đổi về sự giàu có hầu như
không quan trọng. Lutz lập luận rằng vì việc học ở trường xảy ra nhiều năm trước khi
một người đạt đến tuổi thọ của họ, cho nên mối tương quan này phản ánh nguyên nhân:
giáo dục tốt hơn thúc đẩy cuộc sống lâu hơn. Nó cũng có xu hướng dẫn đến sự giàu có
hơn, đó là lý do vì sao sự giàu có và tuổi thọ cũng có mối tương quan với nhau. Nhưng
điều quan trọng Lutz nói rằng, sự giàu có dường như không thúc đẩy tuổi thọ, như các
chuyên gia vẫn nghĩ, thực tế - giáo dục thúc đẩy cả hai.
Có rất nhiều những nghiên cứu về mối liên hệ giữa các chỉ số sức khỏe và cơ sở
hạ tầng dành cho sức khỏe cụ thể như số bệnh viện, trạm xá, số giường và số bác sĩ
trong các bệnh viện nhà nước, thì nghiên cứu của T.Subba Lakshmi, Dukhabandhu
Sahoo (2013) là một nghiên cứu tiêu biểu. Họ đã sử dụng mô hình hồi quy đơn giản
log kép để ước tính các hệ số co dãn giữa cơ sở hạ tầng y tế và chỉ số sức khỏe của
bang Andhra Pradesh, Ấn Độ trong giai đoạn từ 1980 đến 2010 và đưa ra được kết luận
là: Giá trị R2 trong mô hình xác nhận rằng 70% biến động trong tất cả các chỉ số sức
khỏe được giải thích bởi cơ sở hạ tầng y tế. Tuy nhiên chỉ xây dựng cơ sở hạ tầng y tế
tốt không mang lại kết quả tốt cho sức khỏe. Nó chủ yếu dựa vào kết quả hoạt động,
thực hiện, bảo trì cơ sở hạ tầng y tế và sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng có sẵn trong tiểu
bang. Tuy nhiên, điểm yếu nhất của nghiên cứu này là họ mới chỉ lấy dữ liệu và nghiên
cứu trong một tiểu bang của Ấn Độ mà chưa mở rộng ra các khu vực khác, cho nên kết
quả của họ chưa thực sự đáng tin cậy để có thể áp dụng cho nhiều vùng khác.
2, Lỗ hổng nghiên cứu
Từ những nghiên cứu đã có, chúng tôi nhận thấy vẫn còn nhiều lỗ hổng trong
nghiên cứu đi trước:
Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu về thu nhập có ảnh hưởng đến tuổi thọ, các nhà
nghiên cứu mới chỉ đưa ra phán đoán qua các số liệu tại một thời điểm xác định về thu
nhập của mội người dân mà chưa kể đến trường hợp thu nhập của họ có thể thay đổi rất
nhiều trong tương lai: người thu nhập thấp có thể trở thành người có thu nhập cao và
ngược lại. Điều này gây ra những sai sót đáng kể trong nghiên cứu
Thứ hai, về yếu tố chi tiêu dành cho y tế có ảnh hưởng tới tuổi thọ trung bình,
thì đa số nghiên cứu đều chỉ ra rằng chi tiêu càng nhiều tuổi thọ trung bình càng cao,
càng những nước phát triển, có nhiều tiểm năng để đầu tư cho y tế, thì người dân nước
đó càng sống lâu. Nhưng có một thực tế đã chỉ ra rằng, Ở Mỹ, chi tiêu cho y tế bình
quân đầu người thường cao hơn gấp ba lần so với các nước giàu khác, nhưng dân số
của các quốc gia có chi tiêu y tế thấp hơn nhiều so với Hoa Kỳ lại có cuộc sống lâu hơn
đáng kể. Trong trường hợp cực đoan nhất, chúng ta thấy rằng người Mỹ chi tiêu gấp 5
lần so với người Chile, nhưng dân số Chile thực sự sống lâu hơn người Mỹ, theo Max
Roser (2016).Và điều này cho thấy, những nghiên cứu trước đó chưa thực sự chính xác.
Thứ ba, hầu như các nghiên cứu đều chỉ ra những yếu tố khá rõ ràng có liên
quan đến tuổi thọ trung bình, cho nên khá ít những nghiên cứu đề cập đến những yếu tố
sâu xa có ảnh hưởng gián tiếp đến tuổi thọ trung bình không chỉ đối với người dân hiện
tại mà còn cả người dân trong tương lai như tỷ lệ hoàn thành trung học cơ sở - chính là
sự chỉ ra sự giáo dục, mức độ nhận thức về sức khỏe của người dân từ đó khiến cho thu
nhập bình quân đầu người có mối tương quan đến tuổi thọ, ngoài yếu tố là số lượng về
y bác sĩ đã được khai thác khác triệt để thì yếu tố về số lượng giường bệnh còn chưa
được khai thác sâu mà mới được khai thác trong những nghiên cứu nhỏ lẻ dù đây là
một biến khá quan trọng.
Thứ tư, những nghiên cứu kể trên đây đều chỉ là một trong các nghiên cứu để
chúng ta tham khảo và các nhà nghiên cứu đều khuyến nghị rằng những nghiên cứu
khác nhau sẽ cho ra nhiều kết quả khác nhau về mức độ ảnh hưởng của từng biến độc
lập lên biến phụ thuộc, cụ thể biến phụ thuộc ở đây là tuổi thọ trung bình, và chúng ta
cần xem xét nhiều nghiên cứu để đưa ra kết luận được chính xác hơn.
Chính vì vậy, tận dụng những ưu điểm từ các bài nghiên cứu trước và khắc phục
những nhược điểm nhận thấy trong quá trình nghiên cứu chúng tôi quyết định sẽ khai
thác sâu về đề tài nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng tới tuổi thọ trung bình.
Chương II: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
1, Cơ sở lý luận
a, Khái niệm
Tuổi thọ trung bình hay kỳ vọng sống (tiếng Anh: Life expectancy) là số năm dự
kiến còn lại của cuộc đời ở một độ tuổi nhất định. Nó được kí hiệu là ex, nghĩa là số
trung bình các năm tiếp theo của cuộc đời cho một người ở độ tuổi x nào đó, tính theo
một tỉ lệ tử cụ thể. Tuổi thọ trung bình phụ thuộc vào các tiêu chuẩn được sử dụng để
chọn các nhóm. Tuổi thọ trung bình thường được tính riêng cho nam và nữ. Nữ giới
thường sống lâu hơn nam giới ở hầu hết các quốc gia có hệ thống y tế sản khoa tốt.
b, Các lý thuyết có liên quan đến tuổi thọ trung bình
* Lý thuyết về chính trị
Các yếu tố chính trị thực tế rất có ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và nó
là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến tuổi thọ trung bình của con người
ở mỗi nơi trên thế giới, nước nào có độ ổn định chính trị càng cao, tuổi thọ của con
người càng tăng. Một là, các chế độ xã hội mà nhà nước ban hành như chế độ an sinh
xã hội hay phúc lợi xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ của người cao tuổi hay
những người ko có sức lao động. Hai là, những yếu tố chính trị ảnh hưởng đến sự phân
bố hàng hóa và tài nguyên thiên nhiên tới người dân. Chính phủ sẽ xác định đáp ứng
các nhóm xã hội khác nhau những quyền lợi khác nhau, điều mày ảnh hưởng khá nhiều
lên tuổi thọ trung bình của mỗi nước.
* Lý thuyết về kinh tế
Đây là yếu tố rất quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ trung bình và
gián tiếp đến các yếu tố khác cũng có ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình. Có thể kể đến
như tỷ lệ hộ nghèo trong nền dân số, thu nhập của mỗi cá nhân trong xã hội, sự bất
bình đẳng trong thu nhập, khả năng tiêu dùng cảu mỗi cá nhân phụ thuộc và thu nhập –
tất cả những điều này có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ trung bình của mỗi con người.
Thống kê cho thấy những nước giàu, phát triển thường có tỷ lệ tuổi thọ trung bình cao
hơn vì họ có đủ tiền chi trả cho những dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe tốt hơn, các nhu
cầu về mặt tinh thần của họ cũng đươc đáp ứng cao hơn tạo điều kiện tốt cho sức khỏe.
Cụ thể là, thu nhập cá nhân là nguồn hạnh phúc theo hầu hết các lý thuyết kinh tế tiêu
chuẩn.
* Lý thuyết về văn hóa , xã hội và phát triển con người
Về khía cạnh phát triển con người, các yếu tố quyết định tiềm năng của chất
lượng cuộc sống bao gồm các mặt như cung cấp dịch vụ liên quan đến sức khỏe cộng
đồng (an toàn thực phẩm, cơ sở vật chất của bệnh viện, đội ngũ y bác sĩ,…), phát triển
giáo dục, phân biệt giới tính cũng như các yếu tố địa lý.
Ngoài ra giáo dục trong các trường tiểu học và trung học là 1 phần quan trọng
của chất lượng cuộc sống con người. Đi học và được giáo dục tốt giúp con người có
nhận thức tốt hơn về cách bảo vệ sức khỏe bản thân, những điều nên làm về không nên
làm để bảo vệ sức khỏe, có thể ví dụ như người vùng cao do không thực tiếp cận với
kiến thức, nên khi bị ốm hay bị bệnh tật, thay vì đi bệnh viện thì họ lại mời thầy cúng
không có chuyên môn hay tự nhận về để giải bệnh, và điều này thì đương nhiên không
thể làm bệnh thuyên giảm mà ngày càng nghiêm trọng hơn, đều này cũng xảy ra tương
tự ở những nước nghèo đói tại Châu Mĩ và Châu Phi.
Ngoài ra theo nhiều nghiên cứu, giới tính cũng ảnh hưởng khá nhiều đến tuối thọ
trung bình. Nữ giới thường sống lâu hơn nam giới, nam giới thường là trụ cột trong gia
đình, hay gánh vác những việc nặng nhọc và có phần ít chú ý đến những vấn đề sức khỏe
như nữ giới nên tuổi thọ cuả họ thường thấp hơn. Có thể cho rằng, những yếu tố địa lý
cũng có ảnh hưởng đến tuổi thọ trung bình của con người. Nói chung khí hậu ấm áp và
thân thiện vừa phải, ít ô nhiễm sẽ làm tăng tuổi thọ rõ rệt, con người sẽ ít mắc các bệnh do
ô nhiễm môi trường gây ra như nguồn nước bẩn gây ung thư hay khí hậu khắc nghiệt sẽ
gây ốm đau, bệnh tật nhiều hơn chưa kể tới những trân bão lũ, động đất , sóng thần gây
thiệt hại cả về người và của. Đặc biệt, khi con người được sống ở nơi an toàn,
đảm bảo về an ninh thì tính mạng của họ được bảo đảm, tuổi thọ cũng sẽ cao hơn rất
nhiều so với những người ở vùng có tranh chấp, chiến tranh, an ninh không ổn định.
Với những lý do này, người dân sống trong sa mạc, vùng bắc nam cực, những nơi ô
nhiễm nặng hay những nơi không an toàn sẽ có tuổi thọ trung bình thấp hơn những nơi
khác. Có một số nghiên cứu đặc biệt chỉ ra có những nơi người dân có tuổi thọ trung
bình cao hơn hẳn không vì những lý do nêu trên mà do yếu tố di truyền mà người dân
vùng đó có được cùng chế độ ăn và chăm sóc sức khỏe do ông bà, cha mẹ họ truyền
dạy. Điều này phản ánh một nhận thức hoặc định nghĩa khác nhau về tuổi thọ trung
bình ở 1 số nơi trên thế giới.
2, Mô hình
a, Xây dựng mô hình
Dựa vào lý thuyết trên, mô hình mà nhóm tác giả đề xuất là:
Trong đó:
=+.+. +.
1:
+. +. +.+.
+.+. ++
Hệ số tự do
: Hệ số hồi quy (i = (2,10))
: Sai số ngẫu nhiên
Kí hiệu:
: Đặc điểm riêng không thấy được của từng quan sát
=
+
b, Giải thích biến
Nhóm nghiên cứu tiến hành logarit cơ số tự nhiên hai biến số là thu nhập (inc) và
chi cho sức khỏe (health_expend). Các biến số được giải thích cụ thể trong bảng
2.1 sau:
Tên biến
Tuổi thọ trung
Kiểu biến
Phụ thuộc
Viết tắt
Thang đo
Đơn vị
life_exp
Tuổi thọ kỳ vọng khi sinh
(Life Expectancy at Birth
Tuổi (năm)
bình
- LEB) của một quốc gia
(năm)
Tỉ lệ nghèo
Độc lập
pov
Tỷ lệ nghèo trên đầu
người ở mức thu nhập
%
1,9$/ngày
Thu nhập quốc
dân bình quân đầu
Độc lập
lninc
GNI trên đầu người
US$/người
người
Chi tiêu hiện tại cho sức
khỏe trên đầu
người
Chi cho sức khỏe
Độc lập
lnhealth
(US$)
(Current
US$/người
expenditures on health per
capita
in
current
US
dollars)
Tỷ lệ hoàn thành học vấn
bậc trung học cơ sở theo
Trình độ học vấn
Độc lập
educ
quốc
gia
Secondary
(Lower
%
completion
rates)
Số lượng bác sĩ
Độc lập
doct
trên 1000 người
Số bác sĩ trên 1000 dân.
Bác sĩ bao gồm cả bác sĩ
Người
đa khoa và chuyên
khoa
Số lượng giường
bệnh
Độc lập
beds
Số giường bệnh trên 1000
dân
Cái
Tỷ lệ thất nghiệp
Độc lập
unemploy
Tỷ lệ thất nghiệp trong
%
tổng lực lượng lao động
Hệ số GINI
Độc lập
gini
Chỉ số Gini đo lường mức
GINI Index
độ phân phối thu nhập
peace =1 khi
quốc gia nằm
trong top
40
quốc gia
hòa
bình nhất
Xếp hạng hòa
Độc lập
bình
peace
Thứ tự xếp hạng hòa bình
peace =0
khi
qua các năm
quốc
gia
khôngnằm
trong top
40
quốc gia
hòa
bình nhất
Bảng 2.1: Mô tả các biến số (Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp)
3, Nguồn dữ liệu
Dữ liệu trong bài nghiên cứu được lấy từ các bài tổng hợp số liệu của World
Bank, quan sát bao gồm 43 quốc gia từ năm 2008 đến năm 2014. Nguồn số liệu được
nhóm tác giả sử dụng cho từng biến:
Tuổi thọ trung bình < />Tỷ lệ nghèo < />
Thu nhập quốc dân bình quân đầu người
< />Chi cho sức khỏe < />Trình độ học vấn < />Số lượng bác sĩ trên 1000 người
< />
< />Tỷ lệ thất nghiệp < />Hệ số GINI < Xếp hạng hòa
bình: Institute for Economics and Peace.
4, Mô tả thống kê và mô tả tương quan biến số
a, Mô tả thống kê
Các số liệu mà chúng tôi thu thập và nghiên cứu đại diện cho các biến được liệt
kê trong Bảng 2.2 dưới đây:
Tên biến
Số
quan sát
Giá trị
trung bình
Độ lệch
chuẩn
Giá trị
nhỏ nhất
Giá trị
lớn nhất
life_exp
267
74.71
6.16
49.03
83.23
pov
262
5.28
11.74
0.03
77.60
lninc
265
9.63
0.92
6.67
11.18
lnhealth
267
6.51
1.58
1.34
9.04
educ
267
80.17
22.49
12.48
110.87
doct
267
2.35
1.40
0.01
6.26
beds
267
3.86
2.48
0.10
11.50
unemploy
267
7.95
5.10
0.32
32.18
gini
267
36.83
8.09
24.60
56.20
peace
267
0.40
0.49
0.00
1.00
Bảng 2.2: Bảng mô tả các biến độc lập (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ dữ
liệu với sự trợ giúp của phần mềm Stata)
Nhận xét:
Đối với biến tuổi thọ trung bình (life_exp), Sierra Leone là quốc gia có tuổi thọ
kỳ vọng khi sinh ở mức thấp nhất là 79 tuổi. Quốc gia có tuổi thọ kỳ vọng khi sinh ở
mức cao nhất là Spain (Tây Ban Nha) với 83,23 tuổi.
Đối với biến tỉ lệ nghèo (pov), Switzerland là nước có tỷ lệ nghèo thấp nhất là
0,03% vào năm 2014, trong khi Madagascar là nước có tỷ lệ nghèo cao nhất là 77,6%
vào năm 2012.
Đối với biến thu nhập trên đầu người (lninc), người dân Luxembourg có mức
thu nhập bình quân cao nhất ở $71610/năm vào năm 2008, trong khi người dân
Burundi có thu nhập bình quân thấp nhất là $790/năm vào năm 2013.
Đối với biến chi cho sức khỏe (lnhealth), người dân Uruguay được thống kê là
chi nhiều nhất với trung bình $8438.34/năm vào năm 2012, trong khi người dân
Tunisia chi ít nhất ở mức trung bình $3,8/năm vào năm 2010.
Đối với biến trình độ học vấn (educ), Romania có 110,87% dân số đã tốt nghiệp
trung học cơ sở, trong khi với Niger, tỉ lệ này thấp nhất, chỉ là 12.48% vào năm 2014.
Đối với biến bác sĩ (doct), Greece dẫn đầu với khoảng 6 bác sĩ trên 1000 dân vào
năm 2013 và 2014, trong khi các nước Sierra Leone, Ethiopia, Liberia không có bác sĩ
nào trên 1000 dân.
Đối với biến giường bệnh (beds), Belarus có nhiều giường bệnh nhất với 11,5 cái
trên 1000 dân, trong khi ở Ireland, tỉ lệ này là 0,1 cái trên 1000 dân vào năm 2012.
Đối với biến tỷ lệ thất nghiệp (unemploy), North Macedonia vào năm 2009 là
nước được thống kê là nước có tỉ lệ thất nghiệp cao nhất ở 32,18% , trong khi ở Niger,
tỉ lệ này thấp nhất ở 0,32%.
Đối với biến hệ số GINI (gini), Honduras dẫn đầu với hệ số được thống kê là
56,2, trong khi Ukraine có hệ số GINI thấp nhất ở mức 24,6.
b, Mô tả biến định tính
peace
Tần số
Phần trăm
Cum.
0
159
59.55
59.55
1
108
40.45
100
Tổng
267
100
Bảng 2.3: Bảng phân tích tần số của biến định tính (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ
dữ liệu với sự trợ giúp của phần mềm Stata)
Nhận xét:
Bảng 4.2 cho thấy hai giá trị 0 và 1 của biến peace phân bố khá đồng đều, trong
đó, bộ dữ liệu nhóm tác giả tổng hợp và phân tích bao gồm 59,55% các nước nằm
ngoài danh sách 40 quốc gia hòa bình nhất thế giới qua các năm, 40,45% còn lại gồm
các nước nằm trong danh sách này.
c, Mô tả tương quan các biến số
Tương quan giữa các biến số được thể hiện trong Bảng 4.3 được nhóm tác giả lập
ra như sau:
life_exp
life_exp
pov
lninc
lnhealth
educ
doct
beds
unemploy
gini
peace
1
pov
-0.74
1
lninc
0.87
-0.73
1
lnhealth
0.53
-0.30
0.60
1
educ
0.24
-0.32
0.32
0.24
1
doct
0.62
-0.48
0.69
0.52
0.23
1
beds
0.25
-0.35
0.42
0.30
0.16
0.51
1
unemploy
0.24
-0.20
0.17
0.06
0.03
0.35
0.23
1
gini
-0.31
0.30
-0.46
-0.35
-0.16
-0.47
-0.54
-0.17
1
peace
0.56
-0.31
0.60
0.50
0.11
0.39
0.25
0.01
-0.46
Bảng 2.4: Ma trận sự tương quan giữa các biến độc lập (Nguồn: Nhóm tác
giả tổng hợp từ dữ liệu với sự trợ giúp của phần mềm Stata)
Những số liệu trên được tính toán bằng phần mềm Stata, kết quả từ việc chạy mô
hình có trong phụ lục.
Từ bảng trên, kỳ vọng của nhóm tác giả về ảnh hưởng của các biến độc lập đến
biến phụ thuộc như sau:
1
✓
Tỉ lệ nghèo có ảnh hưởng tiêu cực đến tuổi thọ trung bình (hệ số góc mang dấu (-) trong hàm
hồi quy).
✓
Thu nhập càng cao thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong hàm hồi
quy).
✓
Chi cho sức khỏe càng nhiều thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong
hàm hồi quy).
✓
Trình độ giáo dục càng cao thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong
hàm hồi quy).
✓
Số bác sĩ trên 1000 dân càng nhiều thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+)
trong hàm hồi quy).
✓
Trình độ giáo dục càng cao thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong
hàm hồi quy).
✓
Tỷ lệ thất nghiệp càng cao thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong
hàm hồi quy).
✓
Trình độ giáo dục càng cao thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (+) trong
hàm hồi quy)
✓
Hệ số GINI càng thấp thì tuổi thọ trung bình càng cao (hệ số góc mang dấu (-) trong hàm hồi
quy)
✓
Xếp hạng hòa bình thuộc top 40 quốc gia hòa bình nhất thì tuổi thọ trung bình cao hơn nước
không thuộc top 40 quốc gia hòa bình nhất thế giới (hệ số góc mang dấu
(
trong hàm hồi quy)
Những kỳ vọng trên sẽ được kiểm định trong chương III của bài nghiên cứu này.
Chương III: KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG VÀ THẢO LUẬN
1, Kết quả ước lượng
Sau khi tiến hành nghiên cứu, nhóm tác giả đã tổng hợp bảng kết quả ước lượng
dưới đây với mh1, mh2 và mh3 là mô hình RE, FE và RE sau khi chữa bệnh.
Biến số
pov
doct
beds
unemploy
gini
lninc
lnhealth
educ
peace
peace_pov
peace_doct
mh1
mh2
mh3
-0.03326525
0.0468777*
-0.06964767***
(-0.02058723)
(0.02715526)
(0.01982809)
0.12117532**
0.1474858***
0.09674143**
(0.05026369)
(0.05010743)
(0.0492884)
0.03100866
0.03876781
0.01787542
(0.02720194)
(0.02635003)
(0.02328733)
0.10831949***
0.0804744**
0.12121539***
(0.03151199)
(0.03612478)
(0.02932324)
-0.01742608
-0.04540892
0.00279458
(0.02607189)
(0.02910382)
(0.02486842)
5.1723221***
4.9428376***
4.9985972***
(0.34742947)
(0.43552595)
(0.33187241)
0.02262449
0.03847779
0.0196888
(0.03531017)
(0.03462626)
(0.02798174)
0.00157986
0.00157844
-0.00083548
(0.00241802)
(0.00234251)
(0.00186565)
-12.078453*
-14.880556**
-7.4113317
(6.3306706)
(6.5694777)
(6.2493451)
0.17706296*
0.09710569
0.11181014
(0.09564234)
(0.09650505)
(0.11058477)
0.02354144
0.00265438
0.00861011
(0.09113156)
(0.0887047)
(0.08158915)
peace_beds
-0.06277359
-0.05911337
-0.05097096
(0.04752773)
(0.0461074)
(0.03977258)
0.03526268
0.07347559
-0.00890523
(0.04246994)
(0.04631936)
(0.04235509)
0.0591319*
0.07172741**
0.02481275
(0.03511389)
(0.03527167)
(0.03044694)
0.98574658*
1.205713**
0.6737339
(0.56920694)
(0.58753278)
(0.5657483)
-0.01488859
-0.03698912
-0.0025372
(0.06289277)
(0.06087917)
(0.05082751)
-0.00094243
-0.00101689
-0.00069208
(0.00345675)
(0.00335405)
(0.00277597)
Hệ số chặn
24.099867***
(3.5253247)
27.154905***
(4.4669333)
25.514583***
(3.3963324)
Số quan sát
260
260
260
0.7717
0.74727057
0.7854
peace_unemploy
peace_gini
peace_lninc
peace_lnhealth
peace_educ
Hệ số xác định
Kiểm định lựa chọn
mô hình POLS và
RE
P-value = 0.0000
Kiếm định lựa chọn
mô hình RE và FE
Kiểm định tự tương
quan
P-value = 0.3820
P-value = 0.0013
Bảng 3.1: Kết quả ước lượng mô hình (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ dữ liệu với sự
trợ giúp của phần mềm Stata)
Ghi chú: Giá trị trong ngoặc đơn là sai số ước lượng, với *,**,*** hệ số có ý nghĩa ở
mức 10%, 5% và 1%