CHUYÊN ĐỀ: PHÂN LOẠI CÁC CHẤT VÔ CƠ
Chất vô cơ:
Đơn chất
♦ Kim loại
♦ Phi kim
Hợp chất
♦ Oxide
♦ Acid
♦ Base
♦ Hydroxide lưỡng tính
♦ Muối
........................................................................................
A. Đơn chất
- Kim loại.
- Phi kim.
I.
Kim loại
1. Khái niệm
Trong hóa học, kim loại (tiếng Hy Lạp là metallon) là nguyên tố có thể tạo ra
các ion dương (cation) và có các liên kết kim loại, và đôi khi người ta cho rằng
nó tương tự như là cation trong đám mây các điện tử. Trong bảng tuần hoàn
các nguyên tố, đường chéo vẽ từ bo (B) tới poloni (Po) chia tách các kim loại
với các phi kim. Các nguyên tố trên đường này là các á kim, đôi khi còn gọi là
bán kim loại; các nguyên tố ở bên trái của đường này là kim loại; các nguyên
-
tố ở góc trên bên phải đường này là các phi kim.
2. Phân loại
Nhóm IA (trừ H), nhóm IIA: các kim loại này là những nguyên tố s.
Nhóm IIIA (trừ B), một phần của các nhóm IVA, VA, VIA: các kim loại này là
-
những nguyên tố p.
Các nhóm B (từ IB đến VIIIB): các kim loại chuyển tiếp, chúng là những nguyên
-
tố d.
Họ lantan và actini (xếp riêng thành hai hàng ở cuối bảng): các kim loại thuộc hai
họ này là những nguyên tố f.
3. Ví dụ mở rộng
1
Magie _ Kim loại “dễ phát khùng”:
Tên gọi của nó có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, khi chỉ tới một khu vực ở Thessaly
gọi là Magnesia. Người Anh Joseph Black nhận ra magie là một nguyên tố vào
năm 1755, Năm 1808, Sir Humphrey Davy bằng điện phân đã cô lập được kim
loại magie nguyên chất từ hỗn hợp của magnesia và HgO. Năm 1831, A. A. B.
Bussy điều chế được nó trong dạng cố kết. Magie là nguyên tố phổ biến thứ 8
trong vỏ Trái Đất. Nó là một kim loại kiềm thổ, vì thế không tồn tại trong tự nhiên
ở dạng đơn chất. Nó được tìm thấy trong các khoáng chất như magnesit, dolomit
v.v.
Magie được sử dụng để làm cho hợp kim nhẹ bền, đặc biệt là cho ngành công
nghiệp hàng không vũ trụ, và cũng được sử dụng trong flashbulbs và pháo hoa bởi
vì nó đốt cháy với một ngọn lửa trắng rực rỡ.
II. Phi kim
1. Khái niệm
Phi kim là những nguyên tố hóa học dễ nhận electron; ngoại trừ hiđrô, phi kim
nằm bên phải bảng tuần hoàn. Hầu hết các phi kim không dẫn điện; một số nguyên
tố có sự biến tính, ví dụ như carbon: graphit có thể dẫn điện, kim cương thì không.
Phi kim thường tồn tại ở dạng phân tử.
2. Phân loại
- Các khí hiếm (khí trơ, khí quý): Nhóm VIII A ( heli, neon, argon, krypton, xenon,
-
radon).
Các halogen: Nhóm VII A (fluor, chlor, brom, iod, astatin).
Các phi kim còn lại: Nhóm VI A (oxy, lưu huỳnh, selen, telu), nhóm V A (nitơ,
photphor, arsenic), nhóm IV A (carbon, silic), nhóm III A (bor).
3. Ví dụ mở rộng
Photphor _ Vật mang ánh sáng:
Photphor (từ tiếng Hy Lạp phosphoros, có nghĩa là "vật mang ánh sáng" và nó
cũng là tên gọi cổ đại của Sao Kim) đã được nhà giả kim thuật người Đức là
Hennig Brand phát hiện năm 1669 thông qua việc điều chế nước tiểu. Làm việc ở
Hamburg, Brand đã cố gắng chưng cất các muối bằng cách cho bay hơi nước
tiểu, và trong quá trình đó ông đã thu được một khoáng chất màu trắng phát sáng
trong bóng đêm và cháy sáng rực rỡ. Kể từ đó, chữ lân quang, liên quan đến các
2
ánh sáng lân tinh của photphor, đã được sử dụng để miêu tả các chất phát sáng
trong bóng tối mà không cần cháy. Tuy nhiên bản chất vật lý của hiện tượng lân
quang không trùng với cơ chế phát sáng của photphor: Brand đã không nhận ra
rằng thực tế photphor cháy âm ỉ khi phát sáng.
B. Hợp chất
- Oxide.
- Acid.
- Base.
- Muối.
I. Oxide
1. Khái niệm
- Oxide là hợp chất của của hai nguyên tố, trong đó có một nguyên tố là oxy.
- VD: FeO, NO, ZnO, Al2O3, P2O5,...
2. Phân loại
Phân làm 4 loại: Oxide acid, oxide base, oxide trung tính, oxide lưỡng tính.
- Oxide acid:
+ Khái niệm: Là những oxide tác dụng với dung dịch base tạo thành muối và
nước.
+ Phân loại:
• Oxide acid tạo thành bởi phi kim và oxy:
• Oxide acid tạo bởi kim loại có hóa trị cao và oxy:
+ Ví dụ mở rộng:
Khí carbonic:
Carbon dioxide hay dioxide carbon (các tên gọi khác thán khí, anhydride
carbonic, khí carbonic) là một hợp chất ở điều kiện bình thường có dạng khí trong
khí quyển Trái Đất, bao gồm một nguyên tử carbon và hai nguyên tử oxy. Là một
hợp chất hóa học được biết đến rộng rãi, nó thường xuyên được gọi theo công
thức hóa học là CO2. Trong dạng rắn, nó được gọi là băng khô.
Carbon dioxide là một trong các khí đầu tiên được miêu tả như là chất hiện hữu
trong không khí. Vào thế kỷ XVII, nhà hóa học người Flanders là Jan Baptist van
Helmont đã quan sát thấy khi ông đốt than củi trong bình kín thì khối lượng còn
lại của tro là thấp hơn so với khối lượng nguyên thủy của than củi. Diễn giải của
ông là phần còn lại của than củi đã được biến tố thành chất không nhìn thấy mà
ông gọi là "khí" hay "linh hồn hoang dã" (spiritus sylvestre).
3
Carbon điôxít thu được từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm cả khí thoát ra từ các
núi lửa, sản phẩm cháy của các hợp chất hữu cơ và hoạt động hô hấp của các
sinh vật sống hiếu khí. Nó cũng được một số vi sinh vật sản xuất từ sự lên men và
sự hô hấp của tế bào. Các loài thực vật hấp thụ carbon dioxide trong quá trình
quang hợp, và sử dụng cả carbon và oxy để tạo ra các carbohydrate. Ngoài ra,
thực vật cũng giải phóng ôxy trở lại khí quyển, oxy này sẽ được các sinh vật dị
dưỡng sử dụng trong quá trình hô hấp, tạo thành một chu trình. Nó có mặt trong
khí quyển Trái Đất với nồng độ thấp và tác động như một khí gây hiệu ứng nhà
kính. Nó là thành phần chính trong chu trình carbon.
Carbon dioxide có nhiều ứng dụng trong cuộc sống như:
+ Làm lạnh thực phẩm, các mẫu sinh học và các mặt hàng mau hỏng khác.
+ Sản xuất "sương mù băng khô" để tạo các hiệu ứng đặc biệt.
+ Cần thiết trong các hệ thống như thùng nhiên liệu hệ thống trơ trong các máy
bay B-47.
Tuy nhiên nó cũng gây ra một số tác hại như:
+ Hít nhiều khí CO2 làm con người phát phì. (Nhà khoa học Lars- Georg
Hersoug tại Trung tâm nghiên cứu phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe Đan Mạch
sau khi nghiên cứu thể trọng của một lượng lớn người gầy và béo phì trong suốt
-
22 năm).
+ Hiệu ứng nhà kính.
Oxide base:
+ Khái niệm: Là những oxide tác dụng với dung dịch acid tạo thành muối và nước.
VD:
+ Phân loại:
• Oxide base tan: Là những oxide base khi tan trong nước tạo dung dịch
base. VD:
• Oxide base không tan: Là những oxide base không tan trong nước để tạo
thành dung dịch base. VD:
+ Ví dụ mở rộng:
Magie oxide:
Magie oxide (công thức hóa học MgO) là một oxide của magie, còn gọi là Mag
Frit.
Magie oxide được sử dụng như là vật liệu chịu lửa trong các lò sản xuất sắt và
thép, các kim loại màu, thủy tinh hay xi măng. Magie oxide và các hợp chất khác
4
cũng được sử dụng trong nông nghiệp, công nghiệp hóa chất và xây dựng. Nó
được sử dụng để tạo các hợp kim nhôm - magie dùng trong sản xuất vỏ đồ hộp,
cũng như trong các thành phần cấu trúc của ô tô và máy móc. Magie oxide còn
được sử dụng trong kỹ thuật chế tạo pháo hoa do tạo ra các tia rất sáng và lập
lòe, magiê là một ví dụ, hoàn toàn trái ngược với các kim loại khác nó cháy ngay
cả khi nó không ở dang bột.
Magie oxide được dùng trong vật liệu gốm nhờ hai đặc tính quan trọng là độ giãn
nở nhiệt thấp và khả năng chống rạn men. Trong men nung nhiệt độ cao, chất này
là một chất trợ chảy (bắt đầu hoạt động từ 1170 độ C) tạo ra men chảy lỏng có độ
sệt cao, sức căng bề mặt lớn, đục và sần. Cũng như CaO, tác động làm chảy men
của nó gia tăng rất nhanh khi nhiệt độ càng cao.
MgO không nên dùng cho men có màu sáng. Nó cũng có thể tác hại đến một số
chất tạo màu phía dưới. MgO dùng làm chất điều chỉnh bề mặt – tạo mặt men
-
matte.
Oxide trung tính:
+ Khái niệm: Còn được gọi là oxide không tạo muối, là những oxide không tác
dụng với acid, base, nước. VD:
+ Ví dụ mở rộng:
Carbon monooxide:
Carbon monoxide, công thức hóa học là CO, là một chất khí không màu, không
mùi, bắt cháy và có độc tính cao. Nó là sản phẩm chính trong sự cháy không hoàn
toàn của carbon và các hợp chất chứa carbon.
Carbon monoxide đã được nhà hóa học người Pháp là de Lassone điều chế lần
đầu tiên năm 1776 bằng cách đốt nóng oxide kẽm (ZnO) với than cốc, nhưng ông
đã sai lầm khi cho khí thu được là hydro do nó cũng cháy với ngọn lửa màu xanh
lam. Sau này, nó được nhà hóa học người Anh là William Cruikshank xác định là
một hợp chất chứa carbon và oxy năm 1800. Nhà sinh lý học người Pháp là
Claude Bernard vào khoảng năm 1846 đã lần đầu tiên nghiên cứu kỹ lưỡng các
thuộc tính độc hại của carbon monoxide. Ông cho các con chó hít thở khí này và
nhận ra rằng máu của chúng tại tất cả các mạch máu là đỏ hơn.
Carbon monoxide là cực kỳ nguy hiểm, do việc hít thở phải một lượng quá lớn CO
sẽ dẫn tới thương tổn do giảm oxy trong máu hay tổn thương hệ thần kinh cũng
5
như có thể gây tử vong. Nồng độ chỉ khoảng 0,1% carbon monoxide trong không
khí cũng có thể là nguy hiểm đến tính mạng.
CO là chất khí không màu, không mùi và không gây kích ứng nên rất nguy hiểm vì
người ta không cảm nhận được sự hiện diện của CO trong không khí. CO có tính
liên kết với hemoglobin (Hb) trong hồng cầu mạnh gấp 230-270 lần so với oxy
nên khi được hít vào phổi CO sẽ gắn chặt với Hb thành HbCO do đó máu không
thể chuyên chở oxy đến tế bào. CO còn gây tổn thương tim do gắn kết với
myoglobin của cơ tim.
Triệu chứng ngộ độc CO thường bắt đầu bằng cảm giác bần thần, nhức đầu, buồn
nôn, khó thở rồi từ từ đi vào hôn mê. Nếu ngộ độc CO xảy ra khi đang ngủ say
hoặc uống rượu say thì người bị ngộ độc sẽ hôn mê từ từ, ngưng thở và tử vong.
Ngộ độc CO có thể xảy ra ở những trường hợp chạy máy nổ phát điện trong nhà
kín, sản phụ nằm lò than trong phòng kín, ngủ trong xe hơi đang nổ máy trong nhà
-
hoặc gara...
Oxide lưỡng tính:
+ Khái niệm: Là những oxide tác dụng với cả dung dịch base và dung dịch acid
tạo thành muối và nước.
VD: .
+ Ví dụ mở rộng:
Kẽm oxide:
Kẽm Oxide (công thức hóa học: ZnO), trước đây, do được dùng để làm chất màu
trắng nên được gọi là kẽm trắng, hay kẽm hoa (là chất bột mịn sau khi ngưng tụ
kẽm ở trang thái hơi). Hiện nay, kẽm trắng là thuật ngữ để chỉ ZnO điều chế bằng
cách đốt cháy kẽm kim loại.
Từ lâu, người ta đã biết ZnO là một sản phẩm phụ trong quá trình luyện đồng.
Người La Mã dùng nó để luyện đồng thau, làm thuốc mỡ. Các nhà giả kim còn
nghĩ rằng có thể biến kẽm oxide thành vàng. Giữa thế kỉ XIII, nhà hóa học Đức
Cramer mới khám phá ra rằng đốt cháy kẽm kim loại sẽ thu được kẽm oxide. Năm
1781, tại Pháp, Courtois mới bắt đầu điều chế ZnO, nhưng mãi đến năm 1840
người ta mới áp dụng phương pháp này để sản suất ZnO và càng ngày càng áp
dụng rộng rãi do nhu cầu dùng ZnO ngày càng cao. Đó là vì người ta đã dùng
kẽm oxide thay thế cho chì trắng (khi đó là tên gọi của chì oxide). Kẽm oxide có
6
ưu điểm là không độc, không bị sẫm màu trong môi trường khí. Năm 1850,
S.Wetherill (New Jersey) hoàn thành một lò nung. Trong đó có một lưới lọc được
phủ bởi một hỗn hợp quặng kẽm và than. Khi đốt than, kẽm bị oxy hóa thành ZnO
ở cửa ra của lò. Những lò nung này càng ngày càng được cải tiến nhưng bây giờ
người ta không còn dùng nữa. Trong suốt nửa sau thế kỷ 19 người ta dùng ZnO
trong sản xuất cao su để giảm bớt thời gian cần thiết trong quá trình lưu hóa cao
su. Năm 1906, các nhà hóa học điều chế ra chất xúc tác hữu cơ đầu tiên cho phản
ứng lưu hóa cao su. Phát hiện này góp phần làm tăng thêm tầm quan trọng của
II.
-
kẽm oxide, vì nó là một trong những hóa chất để điều chế chất xúc tác này.
Acid
1. Khái niệm
Theo thuyết Arrhenius: Là chất khi tan trong nước phân li ra cation H+.
Theo thuyết Bronsted: Là chất nhường proton H+. Có thể là phân tử hoặc ion.
Theo Lewis: Là phần tử có khả năng nhận cặp e- tạo ra liên kết cộng hóa trị .
2. Phân loại
Theo số nấc phân li: (thuyết Arrhenius)
+ Acid một nấc: Là acid mà khi tan trong dung dịch nước chỉ phân li một nấc ra
ion H+. VD: HCl, CH3COOH,...
Acid nhiều nấc: Là acid mà khi tan trong dung dịch nước phân li nhiều nấc ra ion
H+. VD: H3PO4, H2S,...
- Theo thành phần nguyên tố:
+ Acid có oxy: Là acid mà trong thành phần phân tử có chứa nguyên tố oxy. VD:
+ Acid không có oxy: Là acid mà trong thành phần phân tử không chứa nguyên tố
-
oxy. VD:
Theo độ hoạt động:
+ Acid mạnh:
+ Acid trung bình, yếu:
3. Ví dụ mở rộng
Acid chlorhydric:
7
Không có nhiều tài liệu rõ ràng cho thấy acid chlorhydric được điều chế vào
thời kỳ Trung cổ. Có vẻ như nguồn đầu tiên đề cập đến việc điều chế vào thế
kỷ XV và XVI, nhưng vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Một số tác giả vẫn giữ quan
điểm rằng acid này được Basil Valentine, thầy tu dòng Be-ne-dict Đức, phát
hiện vào thế kỷ XV, bằng cách nung muối ăn (NaCl) và acid sulfuric (H 2SO4)
lục. Nước cường toan, một hỗn hợp giữa acid nitric và acid chlorhydric đã
được mô tả bởi nhà giả kim thuật châu Âu thế kỷ XIII Pseudo-Geber (Paul of
Taranto).
Acid chlorhydric có nhiều ứng dụng như:
+ Tẩy gỉ thép.
+ Tổng hợp các chất hữu cơ và cô cơ: PVC, hóa chất xử lí nước (sắt (III)
clorua và polyaluminium clorua (PAC)).
+ Điều chỉnh pH môi trường. OH− + HCl → H2O + Cl−
Tuy nhiên đây là một acid mạnh nên cần chú ý an toàn khi tiếp xúc:
Acid chlorhydric đậm đặc tạo thành các sương mù axit. Cả dạng sương mù và
dung dịch đều có khả năng gây ảnh hưởng ăn mòn các mô con người, có khả
năng gây tổn thương cơ quan hô hấp, mắt, da và ruột. Khi trộn acid
chlorhydric với các chất ôxy hóa phổ biến khác như natri hypoclorit (NaClO)
hoặc kali permanganat (KMnO4) làm giải phóng khí độc clo.
Khi tiếp xúc cần mang đồ bảo hộ như găng tay cao su, kính bảo vệ mắt, và
quần áo, giày.
Mức độ nguy hiểm của dung dịch acid chlorhydric phụ thuộc vào nồng độ của
nó. Bảng bên dưới liệt kê theo cách phân loại của EU về nồng độ axit này.
III.
-
Base
1. Khái niệm
Theo thuyết Arrhenius: Là chất khi tan trong nước phân li ra cation OH -.
Theo thuyết Bronsted: Là chất nhường proton OH-. Có thể là phân tử hoặc ion.
Theo Lewis : Là phần tử có khả năng cho cặp e- tạo ra liên kết cộng hóa trị .
8
2. Phân loại
- Theo số nấc phân li (thuyết Arrhenius)
+ Base một nấc: Là base mà khi tan trong dung dịch nước chỉ phân li một nấc ra
ion OH-. VD: NaOH, KOH,...
Base nhiều nấc: Là base mà khi tan trong dung dịch nước phân li nhiều nấc ra ion .
VD: Mg(OH)2, Ca(OH)2,...
- Theo tính tan:
+ Base tan: LiOH, KOH, Ba(OH)2, Ca(OH)2, NaOH.
+ Base không tan: các hidroxit của nhiều kim loại (gồm Mg và các kim loại đứng
sau Mg trong dãy hoạt động hóa học của kim loại): Be, Al, Mn, Zn, Cr, Fe, Co, Ni,
Sn, Pb, Cu,... Riêng Mg(OH)2 tan được trong nước nóng hoặc đun sôi còn
-
Be(OH)2 thì tan được trong kiềm.
Theo độ hoạt động:
+ Base mạnh: Base của kim loại kiềm và kiềm thổ tan trong nước: LiOH, KOH,
Ba(OH)2, Ca(OH)2, NaOH.
+ Base trung bình, yếu: Còn lại.
3. Ví dụ mở rộng
Natri hydroxide:
Natri hydroxide lần đầu tiên được chuẩn bị bởi các nhà sản xuất xà phòng.
Quy trình tạo ra natri hydroxide xuất hiện như một phần của công thức chế tạo
xà phòng trong một cuốn sách Ả Rập vào cuối thế kỷ 13: Al-mukhtara` fi funun
min al-suna` (Những phát minh từ nhiều nghệ thuật công nghiệp khác nhau),
được biên soạn bởi al-Muzaffar Yusuf ibn 'Umar ibn' Ali ibn Rasul (năm
1295), một vị vua Yemen.
Natri hydroxide có nhiều ứng dụng trong đời sống cũng như sản xuất như:
+ Sản xuất xà phòng, chất tẩy, bột giặt.
+ Sản xuất tơ nhân tạo.
+ Sản xuất giấy.
+ Sản xuất nhôm (làm sạch quặng nhôm trước khi sản xuất).
+ Chế biến dầu mỏ và nhiều ngành công nghiệp hóa chất khác.
Tuy nhiên đây là một base mạnh nên cần chú ý an toàn khi tiếp xúc:
Giống như các acid ăn mòn và kiềm khác, các giọt dung dịch natri hydroxide
có thể dễ dàng phân hủy protein và chất béo trong các mô sống thông qua thủy
9
phân amide và thủy phân este, do đó gây ra bỏng hóa học và có thể gây mù
vĩnh viễn khi tiếp xúc với mắt. Chất kiềm rắn cũng có thể thể hiện tính chất ăn
mòn nếu có nước, chẳng hạn như hơi nước. Do đó, thiết bị bảo hộ , như găng
tay cao su , quần áo an toàn và bảo vệ mắt, luôn luôn nên được sử dụng khi xử
IV.
-
-
lý hóa chất này hoặc các giải pháp của nó.
Hydroxide lưỡng tính
1. Khái niệm
Theo thuyết Arrhenius: Là chất khi tan trong nước vừa có thể phân li như acid, vừa
có thể phân li như base.
VD: : Phân li theo kiểu base.
: Phân li theo kiểu acid.
Theo thuyết Bronsted: Là chất vừa có thể nhận, vừa có thể nhường proton H +.
VD: : Nhận proton H+.
: Nhường proton H+.
2. Ví dụ mở rộng
Nhôm hydroxide:
Nhôm hydroxit, Al(OH)3, được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng khoáng
gibbsit (còn gọi là hydrargillit) và ba chất đa hình hiếm hơn nhiều của nó:
bayerit, doyleite và nordstrandite. Nhôm hydroxide là lưỡng tính trong tự
nhiên, tức là, nó có cả tính chất base và có tính acid.
Nhôm hydroxide cũng được sử dụng như một chất độn chống cháy cho các ứng
dụng polymer trong một cách tương tự như magiê hydroxide và hỗn hợp của
huntite và hydromagnesite. Nó phân hủy khoảng 180 °C (356 °F), hấp thụ một
lượng đáng kể nhiệt trong quá trình và tỏa ra hơi nước. Ngoài vai trò là một
chất làm chậm cháy, nó rất hiệu quả như một thuốc giảm khói trong một loạt
các polyme, đặc biệt nhất trong polyeste, acrylics, ethylene vinyl acetate,
-
epoxy, nhựa PVC và cao su.
Muối
1. Khái niệm
Là hợp chất , khi tan trong nước phân li ra cation kim loại (hoặc cation NH 4+) và
-
anion gốc acid.
2. Phân loại
Muối trung hòa: Là muối mà anion gốc acid không còn hiđro có khả năng phân li
V.
ra H+ (hiđro có tính acid).
10
Chú ý: trong gốc acid của một số muối như Na 2HPO3, NaH2PO2 vẫn còn hiđro,
nhưng là muối trung hòa vì các hiđro đó không có khả năng phân li ra H+.
- Muối acid: Là muối mà anion gốc acid còn hiđro có khả năng phân li ra H + (hiđro
có tính acid).
VD: NaHCO3, NaH2PO4, NaHSO4,...
- Muối phức tạp:
+ Muối kép: Là muối kết tinh từ dung dịch hỗn hợp hai muối đơn giản
VD: Phèn: M2SO4.E2(SO4)3.24H2O (Trong đó M là Na, Li, K, Rb,...; E là Al,
Crom, Fe, NH4+,...)
+ Phức chất: [Ag(NH3)2]Cl, [Cu(NH3)4]SO4,....
3. Ví dụ mở rộng
Phèn chua:
Kali alum hay phèn chua là muối sunfat kép của kali và nhôm. Tên Việt Nam
phổ biến là "phèn chua". Công thức hóa học của nó là KAl(SO 4)2 và thông
thường được tìm thấy ở dạng ngậm nước là KAl(SO4)2·12H2O. Nó được sử
dụng rộng rãi để làm tinh khiết nước, thuộc da, vải chống cháy và bột nở.
Phèn chua đó là loại muối có tinh thể to nhỏ không đều, không màu hoặc
trắng, cũng có thể trong hay hơi đục. Phèn chua tan trong nước, không tan
trong cồn.
Phèn chua có nhiều tên gọi khác nhau như trong Hán việt gọi là vũ nát, vũ
trạch, mã xĩ phàn, nát thạch, minh thạch, muôn thạch, trấn phong thạch, tất
phàn, sinh phàn, khô phàn, minh phàn, phàn thạch...
11
DANH PHÁP CÁC CHẤT VÔ CƠ
A. Giới thiệu chung
1. Cách phiên chuyển các thuật ngữ
- Các nguyên tố H, O viết hydrogen, oxygen, không viết hydro, oxy. Các từ hydro
và oxy dành cho các hợp chất có hydrogen và oxygen. Tuy nhiên, do tên này quá
-
phổ biết nên có thể viết H, O là hydro, oxy.
Bỏ các dấu thanh, dấu mũ; các âm tiết viết liền; không thay d bằng đ, không thay y
-
bằng i.
Bỏ ký tự e ở cuối tự, ký tự h câm (cloroform, cholesterol) nhưng h được giữ lại
nếu nằm trong ký hiệu nguyên tử (rhodium – Rh) và trong thiol (thiouracil), một
-
phụ âm viết hai lần liền nhau bỏ đi một (penicillin).
Giữ nguyên các vần ase (amylase), ose (glucose), ge (viết gen, không viết gien).
Giữ nguyên các tổ hợp nguyên âm, ví dụ: eu (leucin); au (aureomycin).
Chấp nhận các vần ngược: al (aldehyde), ad (cadmium), af (hafnium), ar
-
(carbon), eur (pasteur), os (phosphate), id (glucoside), oid (alcaloid), od (iod).
Chuyển ul thành un, ique thành ic (acid sunfuric).
Tên người, tên nước và tên địa danh không phiên chuyển.
Giữ nguyên cách gọi đối với các nguyên tố đã có tên Việt hoặc Hán-Việt đang
được sử dụng rộng rãi, kèm theo tên Latin trong dấu ngoặc đơn.
Ví dụ: bạc (Argentum).
a. Các quy tắc sử dụng phụ âm
- Phụ âm g đứng trước nguyên âm e không chuyển thành gi hoặc gh.
- Phụ âm d không chuyển thành đ những vẫn đọc như đ trong tiếng Việt (hydro,
-
indi).
Phụ âm c đứng trước các nguyên âm i, e, y trong những trường hợp cụ thể có thể
không chuyển thành x.
Ví dụ: xeri/ceri, axeton/ aceton, xiclohexan/ cyclohexan, axit/ acid.
- Không thay phụ âm s bằng x hoặc z ở âm vần cuối (ase, ose).
Phụ âm s này trong tiếng Pháp thường đọc là “zờ” nếu đứng giữa hai nguyên âm,
vì vậy được chuyển thành zơ hoặc za (bazơ, glucozơ, amilaza).
Sửa lại thành base, glucose.
- Những phụ âm kép tạo vần trong tiếng Việt được giữ nguyên.
12
Những phụ âm kép thường gặp là: th, ch, ph.
Ví dụ: metan /methane.
Etylen /ethylene.
Trong trờng hợp h trong các phụ âm kép ch hoặc th có thể được coi là “câm”.
Ví dụ: cholesterol / colesterol.
Cholorine /clor.
b. Thay đổi về hậu tố
- Đối với các nguyên tố B, Cl, F, I, P cần giữ nguyên các phụ âm r và d ở cuối
Ví dụ: Cloric, cloride, fluoric, boric, boran, iodic, phosphor …
- Chuyển đổi tên các nguyên tố :canxi/ calci, coban/ cobalt.
Các thuật ngữ: entapy/ enthalpy, gen/ gel, sunfide/ sulfide, orbitan/ orbital, ancol/
-
alcohol, ankan/ alkan, andehit/ aldehyde.
Chú ý: Không viết nitrin, mà phải viết nitril. Do nitrin là tên của dạng thù hình N 3.
Không dùng hậu tố -ua mà dùng –ide .
Ví dụ: clorua/ cloride
Bảng: Tên các nguyên tố hóa học
Tên nguyên tố
Ký
Nguyên tử Tên nguyên tố
Ký
Nguyên tử
hiệu
số
hiệu
số
Actini
Ac
89
Chì (Plumbum)
Pb
82
Americi
Am
95
Chlor
Cl
17
Antimon
Sb
51
Cobalt
Co
27
Argon
Ar
18
Copernici
Cp
112
Arsenic
As
33
Chromi
Cr
24
Astatin
At
85
Curium
Cm
96
Bạc (Argentum)
Ag
47
Darmstardi
Ds
110
Bari
Ba
56
Dubni
Db
105
Berkeli
Bk
97
Dysprosi
Dy
66
Beryli
Be
4
Đồng (Cuprum)
Cu
29
Bismuth
Bi
83
Einsteni
Es
99
Bohri
Bh
107
Erbi
Er
68
13
Bor
B
5
Europi
Eu
63
Brom
Br
35
Fermi
Fm
100
Cadmi
Cd
48
Fluor
F
9
Caesi
Cs
55
Franci
Fr
87
Californi
Cf
98
Gadolini
Gd
64
Calci
Ca
20
Gali
Ga
31
Carbon
C
6
Germani
Ge
32
Ceri
Ce
58
Hafni
Hf
72
Hassi
Hs
108
Niobi
Nb
41
Heli
He
2
Nitơ (Nitrogen)
N
7
Holmi
Ho
67
Nobeli
No
102
Hydro (Hydrogen) H
1
Osmi
Os
76
Indi
In
49
Oxy (Oxygen)
O
8
lod
I
53
Paladi
Pd
46
Iridi
Ir
77
Phosphor
P
15
Kali
K
19
Platin
Pt
78
Kẽm (Zincum)
Zn
30
Plutoni
Pu
94
Krypton
Kr
36
Poloni
Po
84
Lanthan
La
57
Praseodymi
Pr
59
Lawrenci
Lr
103
Promethi
Pm
61
Lithi
Li
3
Protactini
Pa
91
Luteti
Lu
71
Radi
Ra
88
Lưu huỳnh (Sulfur) S
16
Radon
Rn
86
Magnesi
Mg
12
Rheni
Re
75
Mangan
Mn
25
Rhodi
Rh
45
Meitneri
Mt
109
Roentgeni
Rg
111
Mendelevi
Md
101
Rubidi
Rb
37
Molypden
Mo
42
Rutheni
Ru
44
Natri
Na
11
Rutherfordi
Rf
104
Neodymi
Nd
60
Samari
Sm
62
14
Neon
Ne
10
Sắt (Ferrum)
Fe
26
Neptuni
Np
93
Scandi
Sc
21
Nhôm (Aluminium) Al
13
Seaborgi
Sg
106
Nickel
Ni
28
Seleni
Se
34
Seleni
Se
34
Thulium
Tm
69
Silic
Si
14
Titani
Ti
22
Stronti
Sr
38
Urani
u
92
Tantal
Ta
73
Vanadi
V
23
Techneti
Tc
43
Vàng (Aurum)
Au
79
Teluri
Te
52
Wolfram
w
74
(Tungsten)
Terbi
Tb
65
Xenon
Xe
54
Thali
Tl
81
Yterbi
Yb
70
Thiếc (Stanum)
Sn
50
Ytri
Y
39
Thủy ngân
Hg
80
Zirconi
Zr
40
(Hydrargyrum)
2. Các quy định về tên các hợp chất hóa học vô cơ
Có ba kiểu gọi tên các hợp chất hóa học:
- Kiểu lưỡng nguyên (binary-type nomenclature).
- Kiểu phối trí (coordination-type nomenclature).
- Kiểu thay thế (substitutive-type nomenclature).
Để gọi tên các hợp chất vô cơ, chủ yếu sử dụng danh pháp kiểu lưỡng nguyên
(thành phần của hợp chất gồm hai hợp phần: hợp phần âm điện và hợp phần dương điện).
Do danh pháp kiểu lưỡng nguyên không cho biết đầy đủ các thông tin về cấu trúc, cho
nên, trong một số trường hợp người ta phải vận dụng danh pháp phối trí hoặc danh pháp
thay thế (trong đó nguyên tử hydro có thể được trao đổi hoặc thay thế với các nguyên tử
hoặc nhóm nguyên tử khác).
15
Một hợp chất được hợp thành bởi các hợp phần âm và dương cùng với các tiền tố
chỉ độ bội. Hợp phần dương viết trước, hợp phần âm viết sau và được phân cách nhau
bằng khoảng trống. Các tiền tố có thể không cần viết nếu không có nó vẫn có thể hiểu
được.
Trong hợp chất:
- Tên của hợp phần dương: là tên nguyên tố.
- Tên của hợp phần âm:
+ Đơn tố: kết thúc bằng hậu tố -ide.
+ Dị tố: kết thúc bằng hậu tố -at.
Các hợp phần dương và âm đều có thể là những nhóm và số lượng hợp phần cũng
có thể lớn hơn một. Nếu có nhiều hợp phần thì tên các hợp phần được viết theo trình tự
alphabet của ký tự đầu của tên các hợp phần hoặc ký tự thứ hai của tên các hợp phần nếu
ký tự đầu giống nhau.
Vị trí của hydro luôn luôn nằm sau cùng trong số các hợp phần dương, có thể có
khoảng trống phân cách với hợp phần âm nếu không chắc nó có liên kết với anion hay
không. Tên các hợp chất kép được viết sau tên hợp chất chính phân cách bởi gạch ngang
dài và tiếp đó là tỉ lệ của chúng trong ngoặc đơn. Cách viết tên các phân tử nước kết tinh
cũng như vậy.
Ví dụ:
HCl: hydro clorid.
NaOH: natri hydroxide.
KMgCl3: kali magnesi cloride.
CaCl2.8NH3: calci cloride – amoniac (1/8).
B. Hợp chất tạo bởi hai nguyên tố
I. Hợp chất tạo thành bởi hai phi kim
- Ion có số oxi hóa dương được đọc trước
- Dùng các tiền tố (tiếp đầu ngữ) để chỉ số lượng nguyên tử của mỗi nguyên tố
trong phẩn tử.
Số
1
2
3
4
5
6
16
7
8
9
10
nguyê
n tử
Tên
tiền tố
Mono
-
Di-
Tri-
Tetra- Penta
-
Hexa
-
Hepta
-
Octa- Nona
-
Deca
-
- Kết thúc bằng hậu tố -ide.
Tên hợp chất = Tiền tố - tên phi kim 1 + tiền tố - tên phi kim 2 – ide
Ví dụ:
CO: carbon monoxide
CO2: carbon dioxide
CCl4: carbon tetracloride
Ca3P2: calci phosphide
- Ta thường bỏ qua tiền tố mono- ở phần tử đầu tiên. Nếu không có tiền tố trước
phần tử đầu tiên thì mặc định rằng nguyên tố đó chỉ có một nguyên tử.
II. Hợp chất tạo thành bởi một kim loại và một phi kim
- Cation (kim loại) luôn được đọc trước.
- Anion (phi kim) được đọc sau cation, kết thúc bằng hậu tố –ide.
- Các kim loại chuyển tiếp có thể có nhiều hóa trị, khi đó ta phải đọc tên hóa trị
kèm theo.
Tên hợp chất = tên kim loại + tên phi kim – ide
(Với kim loại nhiều hóa trị:Tên hợp chất = tên kim loại (hóa trị)+ tên phi kim – ide)
Ví dụ:
CaCl2: calci cloride
CuCl2: đồng(II) cloride
BaS: bari sulfide
FeBr3: sắt (III) bromide
III. Acid không có oxy
Mặc dù HF có thể gọi tên là hydro floride, tuy nhiên còn có thể gọi tên là acid
flohydric khi ta muốn nhấn mạnh rằng đây là một acid, một dung dịch.
Tên hợp chất = acid + tên phi kim – hydric
Ví dụ:
HCl (k): hydro cloride => HCl (dd): acid clohydric.
H2S (k): hydro sulfide => H2S (dd): acid sulfuhydric.
C. Hợp chất tạo bởi ba nguyên tố
17
I. Oxoacid
Oxoacid là hợp chất chứa oxy cùng ít nhất một nguyên tử hydro gắn vào oxy và sẽ
tạo ra một base tương ứng nếu mất một hydro hoặc nhiều hơn.
Tên hệ thống:
Tên hệ thống = Tiền tố - hydro + tiền tố - oxo – tên phi kim – at
Ví dụ:
H3BO3: trihydro trioxoborat.
HNO3: hydro trioxonitrat.
H2CO3: dihydro trioxocarbonat.
H2S2O4: dihydro tetraoxodisulfat.
1. Trường hợp chất tạo acid có hai mức oxi hóa hóa dương thông dụng
Mức oxi hóa trên:
Tên hợp chất = acid + tên phi kim – ic
Mức oxi hóa dưới:
Tên hợp chất = acid + tên phi kim – ous
Ví dụ:
H2SO3: acid sunfurous.
H2SO4: acid sunfuric.
2. Trường hợp chất tạo acid có nhiều mức oxy hóa dương thông dụng
Tiền tố
Mức oxy Perhóa
lớn
nhất
(số
OXH = số
nhóm của
phi kim)
Mức oxy
hóa lớn kế
cận
Mức oxy
hóa thấp
hơn
Mức oxy Hypohóa thấp
nhất
Hậu tố
-ic
Ví dụ
HClO4
Tên gọi
Acid
percloric
Anion
ClO4-
Tên anion
Perclorate
-ic
HClO3
Acid cloric
ClO3-
Clorate
-ous
HClO2
Acid
clorous
ClO2-
Clorite
-ous
HClO
Acid
hypoclorou
s
ClO-
Hypoclorit
e
18
Bảng tên thông dụng của một số acid
Nhóm IIIA
H3BO3
Acid boric
Nhóm IVA
H2CO3
Acid carbonic
Nhóm VA
HNO3
Acid nitric
H3PO4
Acid
phosphoric
H3AsO4
Acid arsenic
Nhóm VIA
Nhóm VIIA
H2SO4
Acid sulfuric
HClO3
Acid cloric
H2SeO4
Acid selenic
HBrO3
Acid bromic
HIO3
Acid iodic
Phân nhóm B: H2MnO4: acid manganic
3. Trường hợp số oxi hóa của phi kim trong hai axit như nhau
+ Nếu trong phân tử có nhiều nhóm OH nhất thì khi đọc thêm tiền tố orto-.
+ Nếu trong phân tử có ít nhóm OH nhất thì khi đọc thêm tiền tố meta-.
+ Nếu trong phân tử số OH trung bình khi đọc thêm tiền tố pyro-.
Ví dụ: H3P5O4: acid ortophosphoric
H4P2O7: acid pyrophosphoric
II. Muối của acid có oxy (Kim loại + phi kim + oxy)
Tên hệ thống = Tên kim loại + tiền tố - oxo – tên phi kim – at
(Hóa trị nếu KL nhiều hóa trị)
- Nếu acid tương ứng kết thúc bằng hậu tố –ic => muối kết thúc bằng hậu tố –at.
- Nếu acid tương ứng kết thúc bằng hậu tố -ous => muối kết thúc bằng hậu tố –it
- Các kim loại chuyển tiếp có thể có nhiều hóa trị, khi đó ta phải đọc tên hóa trị
kèm theo.
Tên hợp chất = tên kim loại + tên phi kim – [
(Hóa trị nếu KL nhiều hóa trị)
Ví dụ:
Ca(ClO)2: calci hypoclorit.
19
Fe2(CO3)3: sắt(III) carbonat.
III. Base
Tên hợp chất = tên kim loại - hydroxide
(Hóa trị nếu KL nhiều hóa trị)
Ví dụ:
NaOH: natri hydroxide.
Fe(OH)2: sắt(II) hydroxide.
D. Ion
Theo khuyến nghị của IUPAC, trạng thái oxy hóa của ion được biểu thị bằng số La
Mã (trong ngoặc đơn), còn điện tích bằng số Arab cùng với dấu điện tích (cũng nằm trong
ngoặc đơn).
Ví dụ: PO43-: phosphat(V).
UO22+: uranyl(VI) hoặc dioxourani(2+).
I. Cation
Tên các cation cần phải sử dụng hoặc số điện tích hoặc số oxy hóa của chúng.
Ví dụ:
Na+: ion natri (1+) hoặc cation natri(I).
I+: ion iod(1+) hoặc cation iod(I).
- Với cation được hình thành bằng cách thêm một hydron (hydron là tên được
khuyến nghị dùng chung cho cả proton và các đồng vị deutron, tritron) vào một hydride
nhị tố (là một chất có hydro có tính nucleophilic).
=> Hậu tố -i.
Ví dụ:
H3S+: sulfani.
H2I+: iodoni.
H3O+: oxoni.
PH4+: phosphani.
Chú ý:
20
Tên amoni (ammonium) của ion NH4+ không phải là tên hệ thống, tuy nhiên do đã
được dùng nhiều năm nên vẫn tiếp tục được được lưu dùng.
II. Anion
Tương tự cation, nhưng hậu tố sẽ là -ide, -at, -it, đặc trưng cho các hợp phần âm
điện.
Ví dụ:
Cl-: cloride
SO42-: sulfat, tetraoxosulfat (2-)
- Những anion được hình thành bằng cách mất một hydron của hydride thì sử dụng
danh pháp thay thế ( hậu tố -ide).
Ví dụ:
CH3-: methanide
SiH3-: silanide
- Với anion hình thành bằng cách mất các hydron của acid.
+ Nếu tất cả các hydron đều mất thì đọc tên như gốc acid cuối muối (hậu tố -at).
Ví dụ:
SO42-: sulfat
PO43-: phosphate
+ Nếu chưa mất hết cảc hydron thì sử dụng dang pháp phối trí
Tên ion = tiền tố - hydro – gốc axit (số điện tích)
Ví dụ:
HSO4-: hydrosunfat(1-)
H2PO4-: dihydrophosphat(1-)
PHÂN LOẠI HỢP CHẤT HỮU CƠ
21
PHÂN LOẠI VÀ DANH PHÁP CHẤT HỮU CƠ
I. Phân loại hợp chất hữu cơ
II. Phân loại danh pháp
Trong thời kì trước đây, khi chỉ có một số ít hợp chất hữu cơ được biết đến, thì các
hợp chất mới được gọi tên một cách bất thường theo người phát hiện ra chúng. Chẳng
hạn: ure (NH2CONH2) là một chất tinh thể tách ra từ nước tiểu (urin); acid bacbituric
là một chất an thần được người tìm ra nó gọi tên để tỏ sự kính trọng người bạn của
mình Barbara. Với sự phát triển nhanh chóng của hóa học hữu cơ vào cuối thế kỉ 19,
nên số hợp chất hữu cơ không ngừng tăng lên và cần một phương pháp gọi tên chúng
một cách hợp lí và có hệ thống. Vì vậy danh pháp hệ thống IUPAC ra đời
(International Union of Pure and Applied Chemistry – Hiệp hội quốc tế về hóa học
thuần túy và ứng dụng).
1. Danh pháp thông thường
Là loại tên gọi được hình thành dựa theo nguồn gốc tìm ra hoặc theo tính chất
bề ngoài (màu sắc, mùi vị, …) và không có tính hệ thống.
Vd: HCOOH: acid fomic (formica: kiến), CH3COOH: acid acetic (acetus: giấm),
…
2. Danh pháp bán hệ thống
Là loại danh pháp có tính trung gian giữa hai loại danh pháp trên, vì nó chỉ có
một vài yếu tố hệ thống.
Ví dụ: Stiren (C6H5CH=CH2) có nguồn gốc là stirax (tên loại nhựa cây cho ta
stiren) và có hậu tố -en (nói lên sự có mặt của nối đôi C=C) là yếu tố hệ thống.
22
3. Danh pháp hệ thống (IUPAC)
a. Tên gốc – chức
Tên phần gốc + Tên phần định chức
Tên phần gốc
Tên phần định chức
Công thức
Tên gọi
Công thức
Tên gọi
CH3-
methyl
-OH
alcohol
C2H5-
ethyl
-CHO
aldehyd
CH3CH2CH2-
propyl
-CO-
keton
(CH3)2CH-
isopropyl
-COOH-
acid carboxylic
C6H5-
phenyl
COO-
ester
C6H5CH2-
benzyl
-NH2
amin
CH2=CH-
vinyl
CH2=CH-CH2-
allyl
b. Tên thay thế
Tên phần thế/nhánh + tên mạch chính + tên phần định chức
(đi kèm số chỉ vị trí)
(đi kèm số chỉ vị trí)
4. Nguyên tắc chọn mạch chính
- Có chứa nhóm chức – dài nhất – chứa nhiều nhánh.
- Đánh số ưu tiên: chức – nhánh sao cho tổng số chỉ mạch nhánh là nhỏ nhất.
III. Các hợp chất hữu cơ và danh pháp của chúng
A. Hydrocarbon
1. Alkan
a. Đinh nghĩa
- Alkan là những hydrocarbon no, mạch hở.
- Công thức chung: CnH2n+2 (n ≥ 1).
b. Danh pháp
Danh pháp IUPAC
Số chỉ vị trí – tên nhánh + tên mạch chính + an
1
2
3
CH3-CH-CH3
5
4
3
2
1
CH3-CH2-CH-CH-CH3
23
5’
CH3
4’
3’
2’
CH2CH3
CH3
3-etyl-2-methylpentan
1’
2-methylpropan
Tên bán hệ thống
(CH3)2CHCH3: isobutan
(CH3)2CHCH2CH3: isopentan
C(CH3)4: neopentan
c. Lịch sử tên gọi và các thông tin
- Alkan: tên gọi theo IUPAC.
- Parafin: là tên gọi xuất phát từ tiếng Latinh parum (ít) và affinitas (ái lực) vì
chúng ít có khả năng phản ứng với các chất khác.
- Alkan có cả trên Trái Đất và trong hệ Mặt Trời, tuy nhiên chỉ có một tỷ lệ
không lớn. Các hydrocacbon nhẹ, đặc biệt là metan và etan là một phần quan
-
trọng của các thiên thể khác.
Ngày nay, các nguồn chứa quan trọng nhất của alkan rõ ràng là khí thiên
nhiên và dầu mỏ, là những hợp chất hữu cơ duy nhất có ở dạng khoáng chất
trong tự nhiên. Khí thiên nhiên chủ yếu chứa metan và etan, với một
chút propan và butan. Dầu mỏ là hỗn hợp của các alkan lỏng và các
hydrocacbon khác. Cả hai đều được hình thành khi các động vật biển chết được
che phủ bằng trầm tích để loại bỏ sự có mặt của oxy và được chuyển hóa sau
nhiều triệu năm ở nhiệt độ và áp suất cao thành các chất tự nhiên tương ứng. Ví
-
dụ dưới đây miêu tả một phản ứng hình thành ra khí thiên nhiên:
C6H12O6 → 3CH4 + 3CO2
Chúng tự tập hợp lại trong các loại đá xốp, được che phủ bởi các lớp không
thấm nước phía trên. Ngược lại với metan là hợp chất được tạo ra với khối
lượng lớn, các alkan mạch dài hơn ít được tạo ra để có một khối lượng đáng kể
trong tự nhiên. Các mỏ dầu hiện nay sẽ không được tái tạo một khi chúng bị
-
cạn kiệt.
Các alkan rắn thu được như là cặn còn lại sau khi cho dầu mỏ bay hơi, được
biết đến như là hắc ín. Một trong các mỏ tự nhiên lớn nhất của alkan rắn là
trong hồ chứa bitum gọi là La Brea trên đảo Trinidad vùng Caribe.
2. Cycloankan
24
a. Đinh nghĩa
- Xycloalkan là hydrocarbon no mạch vòng. Thường chỉ xét xycloalkan đơn
vòng.
- Công thức tổng quát của monoxicloalkan: CnH2n (n ≥ 3).
b. Danh pháp
Danh pháp IUPAC
Số chỉ vị trí – tên nhánh + cyclo + tên mạch chính + an
cyclopropan
methylcyclopentan
c. Lịch sử tên gọi và các thông tin
Hầu hết các hợp chất hữu cơ chứa các vòng của các nguyên tử carbon:
Ester của acid chrysanthemic có tác dụng diệt côn trùng của hoa cúc có chứa
cyclopropan (vòng 3 cạnh).
Prostaglandin – các acid béo không no là chất trung gian của quá trình viêm
và cảm nhận đau, là hormone mạnh, kiểm soát nhiều chức năng sinh lí khác
thường ở người – có chứa cylopentan.
-
3. Alken, alkadien
a. Đinh nghĩa
-
Alken là hydrocarbon không no, mạch hở trong phân tử có chứa 1 liên kết đôi
C=C còn lại là các liên kết đơn.
-
Công thức tổng quát của alken: CnH2n (n ≥ 2).
- Alkadien là những hydrocarbon không no, mạch hở trong phân tử có chứa 2
liên kết đôi còn lại là các liên kết đơn.
b. Danh pháp
Danh pháp IUPAC
Số chỉ vị trí – tên nhánh + tên mạch chính + số chỉ vị trí-en/dien
CH2=C-CH3
2-methylpropen
(isobutylen)
CH3
25