Tải bản đầy đủ (.doc) (5 trang)

NGHỊ LUẬN xã hội về THÓI NỊNH bợ TRONG CUỘC SỐNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (84.45 KB, 5 trang )

BÀI VĂN MẪU LỚP 12
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ THÓI NỊNH BỢ TRONG CUỘC SỐNG
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ THÓI NỊNH BỢ TRONG CUỘC SỐNG - MẪU 1
Nịnh tức khen ngợi quá đáng hay hoang tưởng nảy sinh từ quyền lợi riêng tư, có thể được
định nghĩa: “Đó là cử chi đáng khinh bỉ. Đó là quà tặng xấu xa và chỉ là bài học của những kẻ hợm
hĩnh”. Kẻ nịnh hót thường là những tên ích kỉ nguy hiểm. Nó cố nhét vào trí óc con người những điều
hư ảo hòm kiếm chát ân huệ hay đổi lại sự giúp đỡ thật lòng. Đó là kẻ xấu xa nhất trong số những kẻ
thù. Nó vừa là tội phạm, vừa là nhân chứng: “Kẻ này lừa dối người phân xử, kẻ kia lừa dối chúng ta”.
Một triết gia nói rằng: “Trong số những con thú hoang dã thì con thú gièm pha là đáng sợ nhất, còn
trong số những người trong nhà thì đáng sợ nhất là kẻ xu nịnh”. Kẻ nịnh hót chỉ tìm kiếm cái lợi ích
riêng tư và nó sống nhờ vào những kẻ đã lắng nghe nó.
Những kẻ chân chính thường ít bị lừa gạt bởi sự nịnh hót, bởi tâm địa của kẻ tìm kiếm cái lợi
ích riêng tư và sống nhờ vào những kẻ đã lắng nghe nó. Trong một số bức thư với lời lẽ dịu dàng,
Louis Veuillot kể rằng hàng ngày ông nhận được những lời tán dương của biết bao bạn bè thân, sơ.
Rồi cũng hàng ngày, đứng trước tấm gương để cạo mặt, ông tự hỏi: “Ta sẽ cạo nhẵn bao nhiêu Một
người có chức vị, không muốn bị kẻ thuộc quyền khống chế, phải đương đầu chống lại bọn xu phụ,
nịnh hót. Chúng cố nắm chỗ yếu của anh ta, làm cho anh ta tin phục, và coi những người khác đều là
kẻ thù nghịch.
Một hôm, vua Henry V đi ngang qua Amiens nghe thấy một vị quan tòa đang diễn thuyết.
Ông ta ráng cổ trình bày những tiêu đề như: “Rất lớn, rất mạnh, rất tốt, rất nhân từ, rất cao thượng”.
Nhà vua bèn nói: “Hãy thêm là rất mệt!”. Nhà vua làm ông quan tòa sửng sốt. Người tự trọng không
bao giờ nịnh hót. Sự ca ngợi, còn gọi là “tâng bốc” là lời nói bùi tai, cách gợi cảm ngọt ngào cốt để
cho người nghe thấy dễ chịu và nhấn mạnh về sự thành công của anh ta. Công tước De Mornay nổi
tiếng về nghệ thuật tỏ lời khen tặng. Vào năm 1862, tại Clermont Ferrand, ông kết thúc bài diễn văn
bằng lòng khen ngợi hoàng hậu “là người đã đưa nhiều ân huệ lên ngai vàng, và hàng ngày ban bố
xuống thần dân biết bao nhiêu lòng nhân ái”.
Lời khen ngợi phải chân thực, thích hợp, xúc động. Nó mở ra những lời tán dương mà người
la chưa diễn đạt hết và cũng tìm thấy ở đó đầy sự khoan dung. Nhưng nếu khen tặng lộ liễu thì có khi
làm tổn thương tới tính khiêm tốn. Nếu nói thái quá thì trở thành kì cục, đôi khi còn bị người nghe
phản đối. Sự khen tặng phải được cân nhắc cho hợp lý và công bằng, nhất là khi hạ thấp giá trị của
người này để khen tặng người kia. Chẳng hạn có kẻ nói “Anh cũng rộng rãi như A, còn B thì hà tiện”.


Phải trân trọng lời khuyên và cần lánh xa nó. Người ta lắng nghe và cử chỉ khiêm tốn ngay khi được
khen, không nên tỏ vẻ vui mừng trên nét mặt và chỉ tỏ vẻ cảm ơn bằng cách nói: tôi chỉ làm hết bổn
phận. Có lẽ khôn ngoan hơn là đừng nói gì cả…
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ THÓI NỊNH BỢ TRONG CUỘC SỐNG - MẪU 2
Trong cuộc sống của chúng ta, những lời khen là vô cùng cần thiết để khích lệ, động viên hay
khen ngợi ai đó. Lời khen giúp họ cảm thấy tự hào về những việc mình đã làm được và cố gắng làm
tốt hơn nữa. Tuy nhiên, những lời khen mang tính chất nịnh bợ thì không tốt chút nào. Tuân Tử đã
từng nói: “ Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta, những kẻ vuốt
ve, nịnh bợ ta chính là kẻ thù của ta vậy.” Trong câu nói bao gồm ba đối tượng: “Người chê ta”,
“người khen ta”, “kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta” và vai trò của họ đối với cuộc sống mỗi con người.
“Người chê ta mà chê phải là thầy ta”. Chê, nhưng là chê phải. Đó là những người thấy ta sai
và dám chỉ ra cái sai của ta, để từ đó ta rút ra được bài học và sửa chữa sai lầm. Bình thường, chúng ta
thường không thích những người chê mình. Tuy nhiên, người khôn ngoan phải là người biết phân biệt
đâu là những lời chê có thiện chí. Trong cuộc sống, tất nhiên không thiếu những kẻ ganh ghét, luôn
chê bai người khác một cách ác ý. Chúng ta nên biết phân biệt đâu là những lời chê ác ý để bỏ qua, và


đâu là những lời chê mang tính góp ý để chúng ta tiến bộ. Một người chỉ khi biết tiếp thu ý kiến của
người khác thì mới có thể thành công được. Còn nếu cứ khăng khăng làm theo ý mình, sớm muộn gì
người đó cũng sẽ thất bại mà thôi. Chính vì thế, vai trò của những lời “chê phải”, những người dám
nói lên những lời chê ấy là vô cùng quan trọng trong cuộc sống của chúng ta. Những người ấy chẳng
khác gì thầy ta, giúp ta hiểu ra, học được nhiều điều trong cuộc sống.
Đối tượng thứ hai, là những người khen ta, nhưng tất nhiên, là “khen phải”. Vậy thế nào là
khen phải? Đó là những lời khen chân thành, không nhằm vụ lợi cho bản thân mà tâng bốc đối tượng
một cách quá đáng. Mục đích của lời khen ấy chỉ là xuất phát từ việc bày tỏ sự ngưỡng mộ, hay khích
lệ người được khen. Con người ta luôn có xu hướng muốn được khen, vì những lời khen thường “dễ
nghe” hơn những lời chê. Lời khen là quan trọng, có tác dụng giúp con người ta thấy tự hào vì những
thứ được khen, tuy nhiên, chúng ta cần biết được đâu là những lời khen thật, đâu là những lời tâng
bốc, xu nịnh. Không nên vì được khen quá nhiều mà dẫn đến suy nghĩ mình đã hoàn hảo, từ đó sẽ dẫn
đến tự kiêu, không cố gắng, tất sẽ có ngày gặp thất bại. Những người có thể hiểu, có thể khen thật ta,

đó chính là những người bạn của ta.
Còn đối tượng cuối cùng, cũng liên quan đến những lời khen, nhưng đó lại là “những kẻ vuốt
ve, nịnh bợ”ta, như Tuân Tử nói, đó cũng chính là “kẻ thù của ta”. Những kẻ ấy chỉ nói những lời
khen nhằm vụ lợi cho bản thân, chứ không xuất phát từ sự chân thành hay sự ngưỡng mộ đối với
người được khen. Những lời khen ấy khiến cho người được khen cảm thấy mình thật tốt đẹp, thật
quan trọng, thật vĩ đại, từ đó sẽ không cố gắng và dần dần sẽ bị thua kém so với những người xung
quanh. Điều ấy thật nguy hiểm. Và những kẻ xu nịnh ta như vậy, giống như kẻ thù của ta vậy. Họ
“giết” ta bằng những lời nịnh bợ, dối trá. Điều chúng ta cần làm là tránh xa, hạn chế giao lưu với
những đối tượng ấy trong cuộc sống hàng ngày cũng như trong môi trường học tập, làm việc. Câu nói
của Tuân Tử, từ xưa đến nay, vẫn luôn là bài học sâu sắc và đáng ghi nhớ cho tất cả mọi người trong
cuộc sống. Hãy luôn tỉnh táo, để phân biệt được đâu là bạn, đâu là thù, để có thể có được những lời
góp ý, lời khen chân thành nhất từ đó có thể hoàn thiện bản thân mình.
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ THÓI NỊNH BỢ TRONG CUỘC SỐNG - MẪU 3
Thói nịnh bợ là một căn bệnh tuy không di truyền, nhưng đã có từ ngàn xưa cho đến nay, tuy
không truyền nhiễm, nhưng đã phát sinh ở nhiều nơi, thời nào cũng có.
Nhận diện tướng mạo của kẻ xu nịnh thường thấy là tướng người với dáng lưng cong, đi đứng
khúm núm, khám lâm sàng, thấy lưỡi của đối tượng này có độ uốn rất dẻo, hai đầu gối bị chai sạn, dép
giày thì bị mòn mũi, còn da mặt thì có độ dày lì lợm.
Trên thực tế, thói nịnh bợ xưa nay có nhiều kiểu, nhiều cách, nhiều cấp độ khác nhau, với
muôn hình vạn trạng biến hóa khôn lường, có khi tiềm ẩn rất lâu, đến một thời điểm nhất định nào đó
mới bộc lộ. Nịnh bợ là một thủ đoạn thấp hèn nhằm tìm kiếm các lợi ích riêng tư và nó sống nhờ vào
những kẻ đã say sưa thích lắng nghe chúng. Khác với sân khấu, phim ảnh, trong cuộc sống đời thường
thì người nịnh và kẻ được nịnh đều được hưởng lợi đáng kể. Đáng buồn là người nịnh dễ được trọng
dụng, cất nhắc, thăng quan tiến chức, lên lương, khen thưởng, thậm chí có thể được che chở khi “lâm
nạn”… Loại người này chỉ được lòng một số rất ít, còn lại hầu như bị người đời khinh bỉ, giễu cợt, lên
án. Người nịnh tồn tại bởi có nhiều người ưa nịnh. Hai bạn “đồng hành” này kết thành phe cánh, tạo
nguồn lợi đối tác cho nhau. Những ai không “hát cùng nhịp” sớm muộn sẽ bị loại dần. Người nịnh
thường chi ra một ít tiền “chơi đẹp”. Còn những người được nịnh thì nghĩ rằng, không mất gì, lại ưa
nghe lời ngon ngọt, tụng ca cá nhân, say sưa sống trong cảm giác của kẻ bề trên. Kẻ nịnh trên thì
thường “chèn” dưới, “thượng đội, hạ đạp”, thích báo cáo vẽ vời khoác lác, ba hoa đủ điều. Họ sẵn

sàng uốn lưỡi, cong lưng, hạ mình thực hiện hành vi đê tiện, thấp hèn. Hình ảnh của một Hòa Thân
thời vua Càn Long là bậc thầy của thói nịnh hót. Từ một tên quan lại hạng quèn đã leo lên đến Tể
tướng và đục khoét, giàu có tột đỉnh. Xưa nay kẻ xu nịnh vẫn thường a dua theo đuôi kẻ có quyền lại
ưa nịnh để thăng quan tiến chức, bất chấp lẽ phải. Tham gia nhiều cuộc họp, triển khai công việc, có
hôm chúng tôi chứng kiến, nghe khi một vị lãnh đạo chủ trì hội nghị triển khai nghị quyết, do khả


năng thuyết trình của mình có phần bị hạn chế, nên vị ấy đã gần như đọc nguyên văn nghị quyết,
không hề phân tích, giải thích… thì có cán bộ lại khen: “Anh vốn không thích nói dông, nói dài hay
ba hoa như nhiều người khác, truyền đạt nghị quyết như anh vừa trình bày nó vừa tiết kiệm được thời
gian, nhưng hiệu quả vẫn đảm bảo”. Về thăm một huyện miền núi, vị lãnh đạo cấp trên rất quan tâm
đến đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số, khi nói chuyện với cán bộ chủ chốt của huyện, đã ân cần
căn dặn cấp dưới của mình: “Các đồng chí phải làm thế nào(?) để nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho nhân dân”. Còn làm như thế nào để nâng cao đời sống thì vị ấy không hề nói đến. Đồng chí
thư ký đi theo không tiếc lời tâng bốc thủ trưởng của mình: “Anh giao trách nhiệm cho huyện, nhưng
không áp đặt giải pháp nào cụ thể mà để cho huyện phát huy tính năng động, sáng tạo của mình miễn
sao đạt được mục tiêu đề ra. Nghệ thuật lãnh đạo chỉ đạo của anh thoáng và dân chủ là ở chỗ đó”.
Nói đến thói nịnh bợ, có vô vàn chuyện không sao kể hết. Loại người này thường tùy cơ ứng
biến, bất kể trường hợp nào cũng nịnh được, thậm chí nịnh rất hay! Nhưng có một điều đã được khẳng
định là, người nịnh và kẻ được nịnh đều tự làm mất nhân cách của mình mà thôi. Thói nịnh bợ gây tác
hại không nhỏ. Nó làm cho chính kẻ nịnh mất hết bản lĩnh, trở thành biến chất, thoái hóa. Nó làm cho
người được nịnh không đánh giá đúng bản thân mình, sinh ra chủ quan, tự mãn. Nếu người được nịnh
là cán bộ có chức quyền cao trọng thì có thể sẽ làm tổn hại đến công việc chung, dẫn đến đánh giá sai
lệch cán bộ dưới quyền. Hậu quả là người tốt không được trọng dụng, người xấu lấn lướt lộng quyền.
Cần đề cao cảnh giác hơn vì thói nịnh hót là một trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết nội bộ,
chia bè, chia cánh trong cơ quan làm suy yếu tổ chức.
Người nịnh nọt và người ưa nịnh là hai mặt của một vấn đề. Có kẻ nịnh bởi vì có kẻ ưa nịnh!
Nịnh và ưa nịnh có đất sống chứng tỏ trong sinh hoạt chúng ta chưa dám nói thẳng nói thật với nhau,
do công tác phê bình và tự phê bình kém. Để hạn chế thói nịnh hót chúng ta cần tạo dư luận xã hội
rộng rãi, lên án tệ nịnh hót và thói ưa nịnh. Tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể, tổ chức quần

chúng cần có tiếng nói mạnh mẽ, trực diện trước những biểu hiện của những kẻ nịnh và kẻ ưa nịnh.
Làm được như vậy chắc chắn sẽ loại trừ được kẻ nịnh và kẻ ưa nịnh trong tổ chức, cơ quan, đơn vị
mình.
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ THÓI NỊNH BỢ TRONG CUỘC SỐNG - MẪU 4
Ngôn ngữ tiếng Việt có rất nhiều từ nịnh có thể dùng làm cả danh từ,động từ và tính từ, nhưng
định nghĩa chung nhất của từ nịnh là: Khen quá đáng hoặc khen không đúng, chỉ cốt để làm đẹp lòng
(thường nhằm mục đích cầu lợi). Các kiểu nịnh cũng khá rôm rả: ninh bợ (tự hạ mình, nịnh một cách
hèn hạ để cầu lợi), nịnh hót (nịnh nọt và ton hót chuyện), nịnh nọt (nịnh bằng cách luồn cúi hèn hạ),
nịnh đầm (chỉ nịnh phụ nữ để lấy lòng), nịnh thần (chỉ chung những kẻ dưới gian nịnh)… cho đến
nịnh thối! Chuyện cũ kể rằng: Có hai tay bợm nịnh đang ngồi hầu chuyện quan lớn, bỗng quan cho ra
một cái trung tiện. Lập tức một bợm lắng nghe rồi thốt lên: "Y hi, quản huyền chi âm (nghe như tiếng
đàn, tiếng sáo). Bợm kia cũng hếch mũi hít hà rồi trầm trồ: "Phảng phất chi lan chi vị (thoang thoảng
mùi hoa lan hoa nhài)". Nhưng quan lớn tỏ ra hiểu biết, không bằng lòng: "Trung tiện mà thơm thì e
tuổi thọ ta không được dài". Nghe vậy, một bợm gật gù: "Bẩm cụ, bây giờ đã có mùi rồi ạ!" bợm kia
cũng khẳng khái khẳng định: "Bẩm, bây giờ thì thối lắm ạ!", tương truyền vì thế mới có câu dân gian
rằng: nịnh thối không ngửi được. Xã hội càng phát triển thì từ nịnh càng trở nên đa dạng hơn với
những biến thể, kết hợp mới nhằm bắt kịp thời đại như: phỉnh nịnh, xu nịnh, ưa nịnh, đua nịnh, nịnh
trên nạt dưới. Xu nịnh là thói xấu nhưng không ngừng lan rộng trong mọi lĩnh vực bởi nguyên nhân
chủ yếu: những kẻ tài hèn, sức mọn, đức kém, văn hóa "lùn” lại muốn bay cao, vươn xa, thăng quan
tiến chức hoặc kiếm cách trục lợi tiền bạc. Thiết nghĩ ta cũng nên đặt một danh từ riêng gọi là nịnh sĩ
cho tiện phân biệt! Tất nhiên nịnh sĩ chỉ hướng vào các bậc lãnh đạo để thi thố tài nịnh và những
người lãnh đạo cương trực sáng suốt, kiên quyết, nhạy bén không bao giờ lầm lẫn trong mê cung của
nịnh thần, trừ những vị quan chức ngạo mạn, thiếu suy nghĩ, ích kỷ, thiển cận đương nhiên sa đà vào
những lời đường mật, vị mật ngọt thì chết ruồi. Những biểu hiện của nịnh nọt bây giờ không còn chất
phác, thô và phô như ngày xưa mà nó trở nên nhuần nhuyễn, khôn khéo, hiện đại, thực dụng và tinh vi
hơn nhiều. Trước hết điểm qua vài cụm ngôn từ trau chuốt, mỹ miều phổ thông dành riêng cho bề trên


như: Anh quá tinh ý! Tầm nhìn xa chiến lược của anh thật không còn gì đáng bàn! Không có anh, cơ
quan không biết trông cậy vào đâu! Hình như vượng khí của sếp đang phất. Dạo này chị trẻ quá, da cứ

căng đẹp mịn màng! Trông chị không ai đoán đúng được tuổi! Bộ váy áo xịn này cứ như thiết kế dành
riêng cho chị ấy. Ngoài ra, lúc nào cũng phải thường trực tinh thần đón ý cấp trên mà lựa chiều phát
ngôn, luôn luôn tán dương ý kiến lãnh đạo tâng bốc năng lực thủ trưởng lên tận mây xanh: Quan lộ
của sếp xa tít tắp. Khả năng sếp còn phải ngồi cao nữa mới xứng tầm! Sếp dạy lúc nào cũng chí phải!
Nói ngọt không thôi thì chưa đủ các nịnh sĩ còn phải có hành động nhất quán với lời nói nữa.
Bất kỳ nơi đâu, bất kỳ nơi nào có cấp trên là nịnh sĩ xuất hiện xun xoe, khúm núm, chăm chút sửa
sang phục trang cho sếp, cắp cặp che ô, đưa đón (vai trợ lý), hiểu ý của sếp để tuyên truyền, thôi thúc
người khác làm theo (vai phát ngôn viên), lúc trái gió trở trời mà sếp ốm đau, cảm mạo, húng hắng ho
thì phải chăm sóc, xoa bóp, sắc thuốc (vai hộ lý). Có chuyện thật như đùa rằng: Trong một cuộc họp
cơ quan nọ, ban lãnh đạo đề nghị cán bộ thẳng thắn phê bình xếp để rút kinh nghiệm, nhưng chỉ nghe
khen sếp toàn tâm, toàn diện, toàn tài. Đột nhiên có một anh đứng lên xin được phê bình sếp khiến cả
cơ quan tròn mắt, lắng nghe. Anh này thủng thẳng: “Những gì cần nói, anh chị em đã nói hết rồi, còn
tôi xin phê bình một khuyết điểm lớn của sếp là quá lo nghĩ cho tập thể, làm việc ngày đêm mà không
chú ý đến sức khỏe của chính mình! Sức khỏe của sếp là tài sản của cơ quan, lỡ sếp đau ốm thì cơ
quan thiệt hại to”!
Không dừng ở lời nói kèm hành động, các nịnh sĩ chân chính còn dùng thêm chiêu bài quà
tình cảm. Những hiện vật nho nhỏ này bày tỏ tấm lòng tuy không phải của nhà làm được nhưng đều
có người thân, bạn bè cho, tặng, mua rẻ lại xịn nên nhớ thương lãnh đạo mà kính chuyển nào: Củ sâm
thằng bạn em vừa đi Hàn Quốc công tác mang về, hộp mỹ phẩm nhà em xách tay từ Paris! Rồi cà vạt
bút ký, cặp da, nước hoa… đều là quà tình cảm nhẹ nhàng chưa thể gọi là hối lộ được, thử hỏi sếp nào
nỡ từ chối tấm lòng thành? Chủ đề này chưa thể dừng ở đây được, phải điểm danh một số thủ pháp bí
kíp mà các nịnh sĩ nhập vai mỗi khi vào việc như bình bầu danh hiệu, đề bạt chức vụ, bỏ phiếu tín
nhiệm, chọn đại biểu đại diện… là các nịnh sĩ kiêm luôn kịch sĩ, không những nịnh trên mà còn tranh
thủ cả các đồng nghiệp để thuê ủng hộ, vay lá phiếu, mượn cánh tay biểu quyết cốt thu được kết quả
cuối cùng. Chỉ khổ cho những viên chức cần cù, chăm chỉ làm việc với tinh thần trách nhiệm và tận
tâm cống hiến nhưng chưa qua lớp đào tạo nịnh ngắn hạn hoặc cấp tốc nên cả đời cứ dậm chân tại
chỗ, không bao giờ được cất nhắc, trọng dụng, dẫn đến mất lòng tin, không còn hứng thú sáng tạo
trong công việc nữa, cũng vì thế nên mới có câu ca dao: không bằng cấp nào hơn cái bằng lòng, mà
cái bằng này chỉ có được nhờ 80% phương pháp nịnh học cùng những bí kíp chân truyền của nó. Từ
xưa, sách sử đã cho rằng: hôn quân bao giờ cũng gắn kết với nịnh thần. Xiểm nịnh làm cho người lãnh

đạo thiếu sáng suốt và công bằng, thiên vị cảm tính, không khách quan, luôn lơ mơ trong thực tiễn,
lúc nào cũng tự hài lòng về bản thân sẽ thoái hóa dần trí tuệ rồi mắc sai lầm khuyết điểm vì nịnh sĩ.
Ngược lại, nịnh sĩ sẽ trở thành hiện tượng tiểu nhân đắc ý nêu gương xấu cho xã hội với hệ lụy không
cần học hành, phấn đấu, cố gắng làm gì cho mệt, chỉ cần mài gối, uốn lưỡi rèn luyện kỹ năng nịnh ắt
thành công. Chúng ta muốn đổi mới cách làm việc thì cần phải phê phán, lên án nghiêm khắc thói xu
nịnh vì đây là hành vi phản văn hóa dưới nhiều góc độ khác nhau. Loại bỏ thói xu nịnh không hề dễ
dàng vì bản chất nó vốn thể hiện bằng những lời có cánh êm ái du dương nên hễ chui qua tai là ngấm
ngay vào tim. Kinh nghiệm cho thấy khắc tinh của nịnh thần chỉ có: trung thần – chính thần – trực
thần nhưng điều khó khăn nhất và đồng thời nhân tố quyết định là làm thế nào người cầm cân nảy
mực chọn chính xác được trung thần mà không bị nhầm lẫn với nịnh thần?
NGHỊ LUẬN XÃ HỘI VỀ THÓI NỊNH BỢ TRONG CUỘC SỐNG - MẪU 5
Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn hoá nhân loại. Từ thời cổ đại, người dân Trung
Quốc có quyền tự hào về những bậc học giả, về những người thầy lỗi lạc, uyên bác, từng đúc kết nên
nhiều triết lý nhân sinh trở thành chân lý cho mọi thời đại. Tuân Tử là một trong số những bậc vĩ đại
ấy. Và câu nói của ông: “Người chê ta mà chê phải là thầy ta, người khen ta mà khen phải là bạn ta,
những kẻ vuốt ve, nịnh bợ là kẻ thù của ta vậy”, cũng đủ cho hậu thế phải suy nghĩ.


Xã hội loài người ngày càng phát triển về kinh tế, về tư tưởng, nhận thức và cũng song hành
với sự phức tạp trong mọi quan hệ đời sống. “Miệng lưỡi thế gian” là điều không thể tránh khỏi. Mỗi
con người sống chung trong đồng loại cần phải biết chấp nhận lời chê tiếng khen của mọi người.
Nhung để nhận biết sự “thật” – “giả” trong mỗi lời khen tiếng chê, để có ứng xử thích hợp, quả không
đơn giản. Câu nói của Tuân Tử đã giúp chúng ta cái “kính chiếu yêu” để nhận biết đâu là “thầy”, đâu
là “bạn”, đâu là “thù” trong cuộc đời đầy phức tạp đó.
Là một con người, kể cả bậc vua chúa, vĩ nhân, trong cuộc sống, thật khó tránh khỏi những sai
lầm. Những lúc như thế, hẳn chúng ta nhận được những lời nhận xét của mọi người. Tất yếu, mỗi
người khác nhau, sẽ có những nhận xét, thái độ khác nhau về ta. Điều quan trọng là ở chính bản thân
ta: biết nhận ra cái đúng, cái sai của mình; quan trọng hơn, trong vô số những lời “khen”, “chê” đó, ta
nhận ra ai là “thầy ta”, ai là “bạn ta” ai là “kẻ thù” của ta vậy!
Lời dạy của Tuân Tử thật chí lý: “Người chê ta mà chê đúng là thầy ta, người khen ta mà khen

đúng là bạn ta”. Mỗi người, khi phạm điều sai, tự mình không dễ gì nhận ra. Người nhận ra cái sai của
ta, lại “chê”- tức khẳng định cái sai của ta và chỉ cho ta biết – hẳn phải là người có tầm tri thức, hiểu
biết hơn ta. Người đó xứng đáng là bậc “thầy” của ta về trí tuệ. Hơn thế, người thấy và dám chỉ cho ta
nhận ra cái sai của mình, để mình có hướng khắc phục, sửa chữa, hẳn đó phải là người có cái tâm thật
cao quý: nhưng muốn cho chúng ta nhanh chóng tiến bộ. Chúng ta, về thái độ, tình cảm không thể
không tôn vinh người đó là bậc “thầy” về nhân cách để ta học tập.
Người “khen ta mà khen phải” – nghĩa là người đó không những không đố kỵ, hiềm khích
trước những cái tốt, cái mạnh của ta, mà còn “khen”, cùng chung vui, chia ngọt sẻ bùi… Đó hẳn là
người bạn tốt, người bạn tri âm, tri kỷ của ta vậy. Cuộc đời mỗi chúng ta, nếu có được nhiều người
“thầy”, người “bạn” như thế thì hạnh phúc biết bao nhiêu.
Tuy nhiên, trong cuộc sống, không phải ai khen hay chê ta đều là “thầy”, là “bạn” của ta.
Tuân Tử đã một lần nữa chỉ cho ta biết cách nhận ra “ bộ mặt thật” của những “kẻ” hiểm độc đó. Đó
là “kẻ vuốt ve, nịnh bợ ta”, Tuân Tử tỏ thái độ rõ rệt, dứt khoát khi gọi những loại người đó “là kẻ thù
của ta vậy”. Nhưng để nhận ra đâu là bạn “khen ta mà khen đúng” với “những kẻ vuốt ve, nịnh bợ”
thật không dễ. Trước hết, kẻ vuốt ve, nịnh bợ, họ khen ta là xuất phát mục đích mưu cầu lợi ích riêng
của chính họ. Bởi vậy, thành tích của ta chỉ có một, chúng thổi phồng lên ba, bốn hoặc nhiều hơn thế.
Thậm chí, có khi chúng còn ngụy biện, “phù phép” những khuyết điểm, sai lầm của ta thành “thành
tích”. Những kẻ đó, luôn lấy việc “nịnh bợ” để tiến thân, khiến cho người được khen ngày càng tự
đánh mất mình, xa rời lẽ phải…Thật đáng tiếc là những kẻ đó không thời đại nào không có. Sử sách
đã ghi lại không biết bao nhiêu bậc vua chúa đã bị những kẻ nịnh thần làm cho u mê, dẫn đến hãm hại
trung thần, triều chính đổ nát, xã tắc suy vong… Lời dạy của Tuân Tử lại một lần nhắc nhở mỗi chúng
ta cần sáng suốt để nhận ra đâu là “bạn la” khen ta thật lòng, đâu là “kẻ vuốt ve, nịnh bợ” ta.
Không chỉ đúng với xã hội xưa, mà ngày nay và với tất cả mọi người, ở trên mọi lĩnh vực, lời
dạy của Tuân Tử như một chiếc “kính chiếu yêu” giúp chúng ta nhận ra người tốt, kẻ xấu trong cuộc
sống, trong học tập. Khi kinh tế thị trường mở cửa, những kẻ chạy theo lợi nhuận, vì danh, vì lợi ngày
càng nhiều. Nhân viên nịnh bợ thủ trưởng, cấp dưới luôn luôn vuốt ve, chiều theo ý cấp trên; các bạn
lười học thì xun xoe các bạn học giỏi để cầu “phao cứu trợ” trong thi cử, kiểm tra… Hành động của
những kẻ đó có thể khác nhau, nhưng đều chung một bản chất: mưu cầu lợi ích riêng tư. Nhưng bạn
cũng đừng vì những hiện tượng đó mà đánh mất niềm tin vào cuộc đời. Bởi người tốt, những người
xứng đáng là “thầy ta”, “bạn ta” luôn luôn ở bên ta.

Câu nói của Tuân Tử cũng là một lời nhắc nhở chí tình, chí lý cho chính mỗi chúng ta trong
quan hệ ứng xử với mọi người. Chúng ta muốn mọi người chê ta thật lòng – như Tuân Tử đã dạy- ta
phải biết coi trọng những người đó như bậc “thầy của ta”. Cũng vậy, với bạn bè, đồng đội ta phải sống
với cái tâm chân thành, dám chỉ ra những khuyết điểm của bạn mà ta nhận thấy, với ý thức cầu mong
cho bạn mình ngày càng hoàn thiện. Mỗi chúng ta cần biết “chia ngọt sẻ bùi”” với bạn bè, coi thành
tích của bạn làm niềm vui chung cùng chia sẻ.



×