MỤC LỤC
I. Đặt vấn đề...................................................................................Trang 2
II. Cơ sở lí luận...............................................................................Trang 3
III. Thực trạng................................................................................Trang 3
1. Thuận lợi ...................................................................................Trang 3
1.1. Đối với giáo viên................................................................Trang 3
1. 2. Đối với học sinh...............................................................Trang 4
2. Khó Khăn ..................................................................................Trang 4
2.1. Đối với giáo viên và nhà trường.........................................Trang 3
2. 2. Đối với học sinh và phụ huynh.........................................Trang 4
IV. Giải pháp..................................................................................Trang 5
1. Một vài diể sơ lược về ký năng nghe....................................Trang 5
2. về phía giáo viên...................................................................Trang 5
3.Về phía học sinh ...................................................................Trang 6
4. Tiến trình dạy........................................................................Trang7
a) Warm up .....................................................................................Trang7
b) Pre – Listening:...........................................................................Trang7
c) While - Listening.........................................................................Trang8
d) Post- Listening............................................................................Trang9
V. Kết luận ...................................................................................Trang 10
VI. Kết luận .................................................................................Trang 10
VII/ Tài liệu tham khảo ..............................................................Trang 11
1
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Trên con đường phát triển và hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, trao đổi
thông tin chính là chìa khoá nhằm thúc đẩy sự hiểu biết giữa các Quốc gia.
Không có một quốc gia nào có thể tự phát triển một cách toàn diện mà không
cần đến sự trao đổi về kiến thức, văn hoá và công nghệ với các quốc gia khác
trên thế giới. Ngoài ra nó còn là cầu nối hoà bình, hữu nghị của các nước trên
thế giới, giúp cho các dân tộc hiểu nhau hơn, thân thiện hơn. Để làm được điều
này người ta đã chọn ngôn ngữ tiếng Anh làm cầu nói cho việc trao đổi, cho tình
hữu nghị của các dân tộc trên thế giới.
Không nằm ngoài những mục đích trên, Việt Nam cũng đã chọn tiếng Anh
là ngôn ngữ thứ hai bắt buộc để dạy cho tất cả học sinh từ THCS trở lên. Mục
tiêu giáo dục của nước ta hiện nay là : giáo dục học sinh toàn diện, đầy đủ kiến
thức khoa học tự nhiên và xã hội, trong đó ngôn ngữ là môn học không thể thiếu
được.
Trước đây mục tiêu của việc dạy học ngoại ngữ là đọc hiểu để phục vụ
nghiên cứu khoa học, kĩ thuật. Ngày nay nhằm phục vụ chính sách mở cửa, đổi
mới, hoà nhập với khu vực và trên toàn thế giới. Mục tiêu dạy học ngoại ngữ đã
thay đổi chuyển sang hướng giao tiếp vì vậy mà người giáo viên cũng phải thay
đổi cách dạy cho phù hợp với yêu cầu này. Để học sinh giao tiếp tốt thì giáo
viên cũng phải thay đổi cách dạy theo phương pháp giao tiếp bằng ngôn ngữ
(nghe và nói ). Chính vì vậy mà trong tiếng Anh nghe lại là một trong những kĩ
năng quan trọng nhất. Chúng ta không thể giao tiếp được nếu không nghe được.
Để thành công khi đàm thoại ta phải hiểu được người khác nói gì. Đánh giá sự
nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của tiếng Anh, sự đổi mới của đất nước để
hoà nhập với sự tiến bộ của nhân loại. Song việc dạy tiếng Anh chưa đạt hiệu
quả cao như mong muốn tại các trường không thuộc thành phố. Đây cũng là
điều mà Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Là một người giáo viên giảng dạy môn
học này có thể nói là người may mắn được làm một trong những người làm cầu
nối để góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước. Tôi lấy làm vinh dự và nắm
bắt kịp thời tầm quan trọng của việc dạy nghe trong nhà trường nói riêng và
trong xã hội nói chung, qua một vài năm giảng dạy tôi cũng mạnh dạn đưa ra
“Một số giải pháp nhằm cải thiện kỹ năng nghe cho học sinh Trung học cơ sở”
nhằm trao đổi và chia sẻ với các đồng nghiệp.
II/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Đối với học sinh học ngoại ngữ nói chung, học tiếng Anh nói riêng, nắm được
các kỹ năng đã khó, thành thục chúng lại càng khó hơn. 4 kỹ năng : Nghe – nói
– dọc – viết. Và không phải ngẫu nhiên người ta lại đưa kỹ năng nghe lên hàng
đầu trong 4 kỹ năng đó. Nghe một trong 4 kỹ năng cần thiết trong quá trình thực
hiện giao tiếp. Giống như kỹ năng đọc nghe cũng là một kĩ năng tiếp thụ, nhưng
nghe thường khó hơn đọc vì ngôn bản tiếp thụ qua nghe là lời nói, có những đặc
điểm khác với văn bản viết. Khi người ta nói, các ý thường không được sắp xếp
có trình tự chặt chẽ như viết; ý hay được lặp đi lặp lại, có những từ thừa, đệm,
không đúng ngữ pháp. Người nói hay nói tắt, nói láy, nói ngập ngừng. Khi nghe
2
người khác nói ta chỉ nghe một lần; còn đọc ta có thể đọc đi đọc lại văn bản
nhiều lần. Do đó, khi dạy kỹ năng nghe, ngoài những thủ thuật chung áp dụng
cho kỹ năng tiếp thụ, giáo viên còn cần có những thủ thuật đặc thù cho các hoạt
động luyện nghe của học sinh.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy Tiếng Anh tôi cũng nhận thấy kỹ năng
nghe là kỹ năng rất khó. Với các trang thiết bị phục vụ cho việc dạy nghe còn
hạn chế. Học sinh thì hay nản chí, thấy khó thì ngại học. Chính vì vậy mà tôi
luôn động viên học sinh “không ai giỏi ngoại ngữ trong một sớm một chiều hay
mưa dầm thấm lâu” để động viên và khích lệ các em. Bên cạnh đó tôi cũng đầu
tư rèn luyện cho các em ngay từ buổi đầu học sinh làm quen với bộ môn này.
III. THỰC TRẠNG:
1. Thuận Lợi:
1.1 . Giáo viên:
- Tất cả giáo viên Anh văn của trường đã đạt chuẩn, có trình độ tay nghề
vững.
- Luôn có tinh thần học hỏi nhằm nâng cao chuyên môn, giảng dạy nhiệt
tình, tinh thần trách nhiệm cao.
- Tham gia đầy đủ các chuyên đề của trường, Huyện và các lớp bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức.
- Luôn cố gắng áp dụng đổi mới phương pháp giảng dạy, ứng dụng công
nghệ thông tin trong giảng dạy.
- Nắm bắt được đối tượng học sinh, hiểu tâm tư nguyện vọng của học sinh,
để xây dựng kế hoạch lên lớp.
- Vài năm trở lại đây phụ huynh học sinh đã quan tâm hơn đến việc học tập
nói chung và môn Anh văn nói riêng. Thông qua các phương tiện thông tin
đại chúng: tivi, internet, đài, báo . . . phụ huynh cũng hiểu được tầm quan
trọng của tiếng Anh trong tương lai gần.
1.2. Đối với học sinh:
- Những năm gần đây đời sống của nhiều gia đình tương đối ổn định. Vì
vậy mà phụ huynh cũng quan tâm đến việc học của con em nhiều hơn.
- Do sự bùng nổ của công nghệ thông tin nên các em cũng đã và đang quan
tâm đến môn học này.
- Trong vài năm trở lại đây học sinh được làm quen với tiếng Anh ở trường
tiểu học qua một số loại sách như: Let’s go . . . vì vậy khi lên lớp 6 các em
không còn bỡ ngỡ với môn này nữa.
2. Khó khăn:
2.1 . Về phía giáo viên và nhà trường:
3. Quan niệm sai của học sinh về phương pháp học nghe:
Hầu hết chúng ta không gặp khó khăn nhiều trong việc nghe tiếng mẹ đẻ của
mình, cho nên chúng ta không quan tâm đến việc học nghe như thế nào. Vì vậy
3
dễ đưa ra những nhận định sai về những gì dẫn đến việc nghe thành công. Một
nhận định sai lầm mà học sinh mắc phải đó là khi nghe tiếng mẹ đẻ của mình,
các em chú ý và nhớ tất cả mọi từ. Với cách nhận thức nhứ thế này, cho nên
các em suy ra rằng việc nghe một ngoại ngữ cũng làm tương tự.
Qua phiếu thăm dò việc nghe cho thấy, có đến 90% học sinh trả lời rằng các
em không nghe được tất cả các từ trong đĩa. Kết quả là không hiểu gì và thậm
chí là học ngày càng tệ hại hơn.
Một quan niệm sai lầm phổ biến khác tồn tại trong tư tưởng học sinh đó là
các em nghe và hiểu tất cả trong tiếng mẹ đẻ của mình. Các em quên rằng cũng
có nhiều khi chúng ta nghe nhầm và hiểu nhầm ý người khác. Đôi lúc chúng ta
vẫn nghe mà không hiểu chính tiếng mẹ đẻ của mình, và cách đơn giản để giải
quyết vấn đề là chúng ta phải lờ đi hoặc là nghĩ nó không quan trọng. Thêm
vào đó, học sinh không chịu nghĩ rằng là một khi không hiểu thì chúng còn
phải suy ra, bởi vì không phải lúc nào lời nói đến với mình cũng mạch lạc.
- Giáo viên ít có điều kiện giao tiếp với người nước ngoài để nâng cao khả
năng nghe nói.
- Phương tiện dạy học : cơ sở vật chất thiếu chưa đáp ứng được yêu cầu
giảng dạy bộ môn như tranh ảnh, băng, đĩa . . .
- Tuy nhà trường cũng có tạo điều kiện cho việc dạy và học nghe song chưa
nhiều, máy nghe còn ít chỉ có một cái dùng chung cho 6 giáo viên, băng
đĩa của giáo viên còn nghèo nàn, băng đĩa giáo viên tự mua nên chất lượng
chưa tốt.
- Nhà trường chưa có phòng nghe chuyên dụng nên việc dạy và học cũng
gặp ít nhiều khó khăn: học sinh ngồi bàn trên dễ nghe hơn các bàn cuối
lớp.
- Phương tiện dạy học còn thiếu thốn, chưa phù hợp. Vì vậy rất khó để có
một tiết dạy đạt hiệu quả cao.
- Do ở xa thành thị nên việc tìm kiếm các nguồn băng, đĩa cho việc dạy nghe
ngoài chương trình học để giúp học sinh có thể luyện nghe thêm ở nhà rất
khó.
- Trình độ của học sinh không đồng đều dẫn đến rất khó cho giáo viên giảng
dạy.
2.2 Về phía học sinh và phụ huynh:
- Đa số phụ huynh chưa thực sự quan tâm đúng mức về việc học tập của con
em mình, họ cũng chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của học bộ
môn này. Cho nên chưa dành nhiều thời gian cũng như nhắc nhở việc học
tập học sinh.
- Do ở nông thôn nên học sinh ít có điều kiện để giao tiếp với nhau. Không
có những câu lạc bộ tiếng Anh hay những giờ ngoại khoá để các em có thể
giao lưu, học hỏi những kiến thức đã được học ở trên lớp.
- Một lớp học như hiện nay còn quá đông.
- Một bộ phận không nhỏ học sinh còn mải chơi, lười học.
4
- Một nguyên nhân nữa là đầu vào lớp 6 có bộ phận học sinh chưa đọc thông
viết thạo tiếng Việt, nên gặp rất nhiều khó khăn trong học tiếng Anh.
- Học sinh hầu hết không có băng để nghe tại nhà.
- Học sinh ít có thời gian thực hành trên lớp vì bài quá dài. Một số chủ đề
đòi hỏi cao với trình độ của học sinh và chưa thật gần gũi.
- Tiếng Anh là môn học thuộc lòng nên rất dễ quên.
- Tiếng Anh có nhiều âm khó nên học sinh gặp khó khăn trong việc nghe.
- Học sinh dùng học tốt, sách cũ của các năm học trước có sẵn đáp án nên
không cần nghe cũng vẫn trả lời câu hỏi được.
- Do vốn từ vựng ít (lười học) nên học sinh rất sợ nghe.
- Tiếng Anh là ngôn ngữ nước ngoài, học sinh rất ít khi dùng để giao tiếp
thường xuyên ngoài giờ học trên lớp.
- Học sinh thường mua sách giải có đáp án và chép sẵn vào sách giáo khoa
trước khi đến lớp. Điều này giải thích tại sao học sinh không chú ý trong
lớp học. Học sinh có thể trả lời các câu hỏi và đọc bài dịch mà thực sự
không hiểu nó. Cho nên qua kết quả điều tra cho thấy chỉ có 17% học sinh
đánh giá mình học nghe có tiến bộ; 59% nhận định là việc học nghe của
mình là dậm chân tại chổ, và 24% đánh giá việc nghe của mình ngày càng
tệ hại. Không phải kết quả thấp là do sách giải mang lại. Nhưng mà nó là
một trong những nguyên nhân giảm sự chú ý của học sinh khi giáo viên
yêu cầu làm các bài tập trong sách giáo khoa. Chúng ta phải thừa nhận
rằng không ai thích nghe những điều mà mình đã biết, cho nên học sinh
các em cũng thế.
4. Học sinh có tâm lí mình không đủ khả năng để nghe:
Một trong những lo lắng thường thấy ở học sinh đó là khi không hiểu một từ
sẽ dẫn đến không hiểu nghĩa nguyên cả câu. Qua dạy nghe trong hơn một năm
qua với bộ sách giáo khoa mới, bản thân tôi thấy rằng, khi không hiểu một từ thì
học sinh ngừng nghe tiếp các phần còn lại và suy nghĩ về từ mà mình không
hiểu; thay vì nghe tiếp để dựa vào ngữ cảnh để đoán nghĩa của từ mà mình
không hiểu. Tâm lí này kéo dài từ lần này đến lần khác đẫn đến học sinh sợ nghe
và thậm chí bỏ học môn nghe.
Học nghe cũng gây ra một lo lắng khác cho học sinh đó là: Không giống với
học đọc và nói. Học sinh không thể điều chỉnh được tốc độ nguồn thông tin đến
với mình. Ví dụ trong giờ học nghe thì học sinh được nghe từ những băng đĩa đã
thu sẵn và do giáo viên điều khiển. Số lần nghe và tốc độ nghe này thì học sinh
không điều chỉnh được, dẫn đến các em lo lắng.
Các bài tập học ở lớp cũng gây áp lực cho học sinh. Học sinh có vẻ bị áp lực
khi phải đưa ra câu trả lời đúng ngay tức khắc. Thêm vào đó, cảm giác thất bại
có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc không hiểu bài cho học sinh.
5. Giáo viên còn gặp một số khó khăn trong quá trình lôi cuốn học sinh vào bài
giảng của mình làm giảm chất lượng của tiết học:
Có thể khi bản thân đưa ra vấn đề này sẽ làm khó chịu cho những thầy cô dạy
tốt. Nhưng mà không phải vì thế mà chúng ta phủ nhận điều này. Tôi nghĩ các
đồng nghiệp sẽ đồng ý với tôi rằng: Chúng ta sẽ không làm tốt việc mà chúng ta
5