THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHNNO và
PTNT HÀ NỘI
2.1. SƠ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG
THÔN HÀ NỘI
2.1.1. Sự hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của Chi nhánh
NHNN & PTNT Hà Nội
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội là một chi
nhánh trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam,
có trụ sở chính tại số 77 phố Lạc Trung - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam ra đời theo quyết định số 56 và 59
tháng 8 năm 1988 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Sự ra đời của Ngân
hàng nông nghiệp Việt Nam theo yêu cầu cấp bách của nền kinh tế với mục
đích chủ yếu là góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế, kiềm chế
làm phát, ổn định tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và trực tiếp giải quyết
nâng cao đời sống của nông dân. NHNN&PTNT Việt Nam có vai trò là Ngân
hàng quản lý Trung Ương, có hệ thống chi nhánh rộng khắp trong cả nước từ
tỉnh đến huyện, xã gồm hơn 2500 chi nhánh.
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam hoạt động
theo mô hình Tổng công ty Nhà nước, theo quyết định số 90/TTg ngày 07
tháng 03 năm 1994 của Thủ Tướng Chính phủ, thời gian hoạt động là 99 năm,
trụ sở tại Hà Nội, Ngân hàng có con dấu riêng và có tài khoản tiền gửi tại Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam còn
mở tài khoản tại các Ngân hàng khác cả trong nước và ngoài nước để phục vụ
thêm cho việc giao dịch và kinh doanh. Ngân hàng có trách nhiệm bảo toàn và
phát triển vốn, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh và có
quyền tự chủ về mặt tài chính.
Ngày 15 tháng 10 năm 1996, Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam đổi tên
thành Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam theo quyết
định số 280/QĐ-NH5 do Thống đốc Ngân hàng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Cao Sỹ Khiêm ký.
Tên giao dịch : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế: Vietnam Bank for agriculture and Rural
Development.
Tên viết tắt: VBARD
Trụ sở chính : Số 2 Láng Hạ - Đống Đa - Hà Nội.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội là một trong số
hơn 2500 chi nhánh của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam. Nó có vai trò trong việc tạo lập nguồn vốn, đáp ứng các nhu cầu
tín dụng của các thành phần kinh tế trên địa bàn Hà Nội, cung cấp các hình
thức dịch vụ Ngân hàng... góp phần thực hiện các chương trình, mục tiêu phát
triển kinh tế xã hội của hệ thống Ngân hàng Thương mại Quốc doanh do
Thống đốc Ngân hàng đề ra và đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế xã
hội của Thành phố Hà Nội.
Tên giao dịch: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Hà Nội.
Tên giao dich quốc tế: Vietnam Bank for agriculture and Rural
Development Hanoi Branch.
Trụ sở chính : Số 77 Phố Lạc Trung – Quận Hai Bà Trưng – Thành phố
Hà Nội.
Ngày 26 tháng 07 năm 1988, Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội (tiền thân
của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội) được thành lập.
Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội là Ngân hàng cấp I quản lý trực tiếp đối với
các Ngân hàng cấp huyện gồm 12 Ngân hàng huyện: Gia Lâm, Sóc Sơn, Đông
Anh, Từ Liêm, Thanh Trì, Ba Vì, Phúc Thọ, Hà Tây, Thạch Thất, Đan Phượng,
Hoài Đức, Mê Linh.
Tháng 9 năm 1994, Quốc hội Nhà nước Việt Nam có quy định tách tỉnh
và quy hoạch 7 huyện của Hà Nội về cấp tỉnh. Các Ngân hàng chi nhánh cấp
huyện trước đây trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội, sau khi tách tỉnh
được thiết lập và xây dựng Ngân hàng Nông nghiệp huyện trực thuộc Sở giao
dịch.
Năm 1995 Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành đổi mới hoạt
động quản lý theo Ngân hàng 2 cấp nhằm giảm những thủ tục phiền hà, kém
hiệu quả và tăng quyền tự chủ, năng lực tài chính của Ngân hàng chi nhánh.
Hoạt động này được tiến hành thí nghiệm tại hai thành phố lớn là Hà Nội và
Thành phố Hồ Chí Minh. Từ nay các Ngân hàng cấp huyện không chịu sự quản
lý của các Ngân hàng thành phố mà chịu sự quản lý của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Hà Nội một lần nữa lại bị thu hẹp về mô hình tổ chức và phạm
vi hoạt động. Ngân hàng chỉ còn quản lý các chi nhánh Ngân hàng cấp III là chi
nhánh các Ngân hàng nhỏ ở các quận nội thành như: Cầu Giấy, Hoàn Kiếm, Hai
Bà Trưng, Ba Đình, Tây Hồ và Thanh Xuân, Đống Đa. Chi nhánh Ngân hàng cấp
IV là chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp Hà Nội. Như vậy, Ngân hàng đã chuyển
hoạt động của mình chủ yếu trên địa bàn ngoại thành sang địa bàn nội thành.
Ngày 15 tháng 10 năm 1996, Ngân hàng Nông nghiệp đổi tên thành
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì Ngân hàng
Nông nghiệp Hà Nội cũng được đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Hà Nội .
Cơ cấu tổ chức và các phòng ban điều hành của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Hà Nội như sau:
Ban Giám đốc:
Giám đốc: Nguyễn Quốc Hùng - Phụ trách tình hình hoạt động kinh
doanh của toàn bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội.
Phó Giám đốc: Võ Đức Tiến - giúp việc Giám đốc.
Phó Giám đốc: Nguyễn Thị Phồn Lan - giúp việc Giám đốc.
Bộ máy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng gồm có 7 phòng ban chính
gồm: Phòng kinh doanh, kế toán, kho quỹ, kiểm soát, hành chính, thanh toán
Quốc tế, kế hoạch và 08 chi nhánh Ngân hàng cấp quận:
NHNN - PTNT quận Hai Bà Trưng
NHNN - PTNT quận Hoàn Kiếm
NHNN - PTNT quận Cầu Giấy
NHNN - PTNT quận Ba Đình
NHNN - PTNT quận Tây Hồ
NHNN - PTNT quận Đống Đa
NHNN - PTNT quận Thanh Xuân
NHNN - PTNT quận khu vực Tam Trinh.
Phòng kinh doanh :
Là phòng nghiệp vụ của NHNo&PTNTHN có chức năng tham mưu
cho ban giám đốc trong công tác chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kinh doanh đạt hiệu quả.
Quan hệ tín dụng các thành phần kinh tế trên địa bàn cụ thể là đầu tư
tín dụng.
Kinh doanh dịch vụ tổng hợp
Kinh doanh mua bán ngoại tệ
Tham mưu cho Ban Giám đốc điều hành kinh doanh các Ngân hàng
Quận.
Phòng kế toán
Là phòng nghiệp vụ có chức năng tham mưu cho giám đốc
NHNo&PTNTHN trong lĩnh vực tài chính, các quỹ quản lý tài sản của
ngân hàng, tổ chức công tác hạch toán, kế toán thống kê thanh toán liên
hàng, và các dịch vụ khác.
Chuyên sâu về nghiệp vụ hạch toán kinh doanh một mặt hoạt động
của Ngân hàng cả bằng đồng nội tệ và ngoại tệ.
Hạch toán các nghiệp vụ kinh doanh: cho vay, tài khoản, thanh toán,
chỉ tiêu, kế toán nội bộ...
Thông báo các khoản nợ đến hạn
Thanh toán bù trừ liên hàng.
Những nghiệp vụ khác liên quan đến kế toán.
Phòng thanh toán Quốc tế
Là phòng nghiệp vụ của ngân hàng có chức năng tham mưu cho
ban giám đốc trong công tác chỉ đạo điều hành và tổ chức thực hiện
nhiệm vụ kinh doanh ngoại tệ như bảo lãnh xuất nhập khẩu, mở L/C,
TTr.
Thực hiện thanh toán quốc tế thông qua mạng SWIFT bằng tất cả các
loại tiền như: USD, D EM, SGD, GBP theo yêu cầu của khách hàng.
Mở L/C thanh toán với nước ngoàithông qua vay vốn hoặc vốn tự có
Thanh toán thị trường (Telegraphic Transfer)
Thanh toán nhờ thu
Mở L/C trả chậm
Vay vốn nước ngoài
Phòng kho quỹ
Có chức năng thu, chi tiền mặt và ngân phiếu của khách hàng,
Ngân hàng có áp dụng thu nhận trực tiếp tại địa chỉ của khach hàng
như là một loại hình dịch vụ của Ngân hàng (miễn phí).
Phòng kiểm soát nội bộ.
Là phòng có nhiệm vụ kiểm tra giám sát việc chấp hành quy trình
kinh doanh theo đúng quy định của ngân hàng nhà nước.
Phòng kiểm soát của Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội có chức năng như
thanh tra viên trong Ngân hàng, giúp ban Giám đốc nắm bắt kịp thời thiếu sót
trong hoạt động kinh doanh nhằm chỉnh sửa và kịp thời hạn chế tồn tại.
Phòng hành chính nhân sự
Đây là phòng được kết hợp từ phòng hành chính pháp chế và phòng tổ
chức đào tạo cán bộ, với những nhiệm vụ sau:
Hành chính, văn thư, tiếp tân
Quản trị, quản lý kho tàng, vật tư, ấn chỉ...
Chịu sự quản lý của Ban Giám đốc giao như: tổ chức họp, lưu trữ hồ sơ
pháp lý...
Tổ chức cán bộ: Mô hình, quy chế và hoạt động, quy chế nhân viên, sắp
xếp, bố trí cán bộ.
Đào tạo, chính sách, lao động tiền lương...
Phòng kế hoạch
Là phòng nghiệp vụ của ngân hàng có chức năng làm tham mưu
cho ban giám đốc trong công tác chỉ đạo điều và tổ chức thực hiện hành
nhiệm vụ huy động vốn tạo nguồn vốn đảm bảo kinh doanh theo định
hướng của ngân hàng và mục tiêu của giám đốc.
Đề ra kế hoach tổng hợp, phân phối, điều hoà vốn.
Thống kê, đề xuất chiến lươc kinh doanh, phân tích thông tin đề xuất huy
động vốn.
Các chi nhánh cấp quận (Chi nhánh Ngân hàng cấp III) trên địa bàn Hà
Nội của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội về thực chất
là giống Ngân hàng Huyện. Ở đây bao gồm một ban Giám đốc có một Giám đốc,
Phó giám đốc, phòng tín dụng, phòng kế toán, ngân quỹ và các nhân viên phụ
trách vấn đề huy động vốn, cho vay, kế toán, thủ quỹ.
Các chi nhánh cấp quận vừa kinh doanh, vừa thực hiện các mục tiêu kinh
tế xã hội, thực hiện các nghiệp vụ mà Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn Hà Nội cho phép như:
Nhận tiền gửi của dân cư, các tổ chức kinh tế.
Cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội.
Làm dịch vụ đại lý.
Cho vay hộ nghèo thông qua nguồn vốn từ Ngân hàng người nghèo.
2.1.1. Các hoạt động chính của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Hà Nội
a. Hoạt động huy động vốn :
Bao gồm cả huy động vốn nội tệ và ngoại tệ với các hình thức chủ yếu là
gửi tiết kiệm, kỳ phiếu của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tổ chức tín
dụng, huy động qua bán kỳ phiếu, trái phiếu Ngân hàng. Ngoài ra Ngân hàng
còn huy động các nguồn khác như: đi vay từ các tổ chức tín dụng, Ngân hàng
Nhà nước, các Ngân hàng thương mại khác, nhận vốn uỷ thác, tài trợ cho vay
của các tổ chức quốc tế...
b. Hoạt động cho vay:
Với mọi thành phần kinh tế, mọi loại hình doanh nghiệp bao gồm cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. đồng tài trợ cả bằng đồng nội tệ và ngoại tệ...
c. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
d. Hoạt động thanh toán trong nước và quốc tế
e. Hoạt động bảo lãnh
Những năm đầu thành lập khách hàng chủ yếu của Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội là các đơn vị sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, chế biến và công nghiệp thực phẩm do Ngân hàng Nhà nước và Ngân
hàng Công thương bàn giao về. Hiện nay trong quá trình tổ chức, phân cấp địa
bàn hoạt động kinh doanh đã làm cho tính chất nông nghiệp trong hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng bị giảm đi. Hiện nay Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Hà Nội hoạt động như mọi Ngân hàng thương mại khác,
có khách hàng là các hộ, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong mọi
ngành nghề, lĩnh vực. Chính sự thay đổi đối tượng phục vụ này đã làm ảnh
hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Những ảnh hưởng
do tính thời vụ, tác động của thời tiết, tốc độ quay vòng vốn chậm, quy mô vay
vốn nhỏ... đã giảm dần nhưng thay vào đó, Ngân hàng phải chủ động mở rộng
kinh doanh đến mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực, nghành nghề... nên cán
bộ Ngân hàng buộc phải học hỏi thêm nhiều kinh nghiệm nhằm nắm bắt được
hoạt động của nhiều nghành nghề.
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội có
một lợi thế lớn là NHTM trên địa bàn Hà Nội - đây là địa bàn có tiềm lực kinh
tế lớn trong cả nước. Do vậy khả năng huy động và cho vay vốn. Vai trò của
Ngân hàng Nông nghiệp Hà Nội đối với sự phát triển kinh tế xã hội của Thành
phố Hà Nội đã dần tự được mình trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Đó là kết
quả sự hợp tác giữa Ngân hàng với các doanh nghiệp, các cấp chính quyền và
dân cư. Sự tăng trưởng và phát triển của Ngân hàng gắn liền với sự tăng
trưởng phát triển của kinh tế Thành phố nói riêng và của cả nước nói chung.
Hiện nay, với bộ máy nhân sự của NHNo&PTNTHN năm 2000 là 221
người; 2001là 279 người; năm 2002 là 350 người và được phân bổ trong các
phòng ban.
Ban giám đốc
Phòng
kế
hoạch
Phòng
tín
dụng
Phòng
kiểm soát
Phòng
thanh toán
quốc tế
Phòng
ngân
quỹ
Phòng
vi
tính
Phòng
h nhà
chính
nhân
sự
Cầu Giấy
Đống Đa
Thanh Xuân
Tam Trinh
Ba Đình
Hai B Trà ưng
Ho n Kià ếm
Tây Hồ
2.2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP & PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI
2.2.1. Thực trạng kinh tế năm 2001 trên địa bàn Hà Nội.
Năm 2001, nền kinh tế cả nước nói chung và nền kinh tế thủ đô Hà Nội
tiếp tục có những chuyển biến tích cực, một số ngành sản xuất, lưu thông hàng
hoá đã có bước phát triển khá hơn. Cụ thể:
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 10,9% so với năm 2000
Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản tăng 0,72%so với năm 2000
Tổng mức luân chuyển hàng hoá tăng 10,3% so với năm 2000
Kim ngạch xuất khẩu tăng 7,8%, nhập khẩu tăng 4,1% trong đó nhâp
khẩu địa phương tăng 4,8%.
Nhìn chung giá cả thị trường tương đối ổn định trong những tháng đầu
năm. Từ quý II, do biến động của tỷ giá ngoại tệ USD làm cho giá vàngvà một
số mặt hàng nhập có biến động có biến động còn các mặt hàng khác trong
nước tương đối ổn định.
Về tài chính: Tổng thu ngân sách đạt 121,1% tăng 28,8% so với năm
2000 hầu hết các khoản thu đều vượt kế hoạch.
Nguồn vốn các tổ chức tín dụng ước đạt 95.946 tỷ đồng tăng 24,2% so
với năm 2000. Dư nợ ước đạt 48.630 tỷ đồng tăng 22,4% so với năm 2000.
Năm 2001 tiếp tục bội thu, ước đạt 6.800 tỷ đồng tăng 23,15, chi tiền mặt tăng
21,4%.
2.2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT Hà Nội.
Là một ngân hàng hoạt động trên địa bàn thủ đô Hà Nội, với thực trạng
nền kinh tế như trên đã tạo ra cho NHNo&PTNT Hà Nội nhiều thuận lợi nhưng
cũng có vô vàn khó khăn. Song với mục tiêu tồn tại phát triển tạo ra lợi nhuận,
ngân hàng luôn nắm bắt tình hình kinh tế xã hội, trên cơ sở đó ngân hàng đưa
ra các chính sách, giải pháp phù hợp và thực tế ngân hàng đã thu được những
kết quả cao trong hoạt động kinh doanh. Sau đây là kết quả hoạt động kinh
doanh của NHNo&PTNT Hà Nội trong 3 năm 1999, 2000, 2001.
a. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Bởi nét đặc trưng của ngân hàng thương mại là nguồn vốn
kinh doanh chủ yếu là nguồn huy động dưới các hình thức tiền gửi, tiền vay, do
đó kinh doanh của ngân hàng phụ thuộc phần lớn vào kết quả của hoạt động
huy động vốn: khả năng và quy mô huy động.
Cùng với NHNo&PTNT thành phố Hồ Chí Minh, NHNo&PTNT Hà Nội được coi
là một trong hai “ hồ chứa”, có nhiệm vụ phân phối điều hoà vốn tại hai thành
phố lớn nhất của cả nước. Gánh một trọng trách lớn lao như vậy NHNo&PTNT
Hà Nội đã rất chú trọng đến công tác huy động vốn và nếu như trước đây ngân
hàng chủ yếu huy động để cho vay thì đến nay ngân hàng đã coi nhiệm vụ quan
trọng là kinh doanh dựa trên nguồn vốn huy động và đầu tư tín dụng. Lợi
nhuận của ngân hàng không chỉ có lợi nhuận thu được từ hoạt động đầu tư tín
dụng mà còn có lợi nhuận thu được từ nguồn vốn thừa được điều chuyển theo
lệnh của tổng Giám đốc NHNo&PTNTViệt Nam với mức phí quy định hiện nay
là 0,65% chung cho tất cả các nguồn vốn. Có thể nói, NHNo&PTNT Hà Nội đã
rất chú trọng đến công tác huy động vốn, thông qua việc sử dụng rất nhiều các
hình thức và biện pháp tích cực chủ động nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi
trong dân cư và tranh thủ những nguồn vốn khác nên qua các năm ngân hàng
luôn có tốc độ tăng trưởng nguồn vốn tương đối cao và đều đặn. Phần này chỉ
trình bày sơ bộ về kết quả của công tác huy động vốn tại ngân hàng năm 2001,
chúng ta sẽ đi sâu và phân tích kỹ càng hơn trong phần thực trạng tình hình
huy động vốn.
Tổng nguồn 4257 tỷ, tăng 27,3% so với năm 2000.
Tiền gửi tiết kiệm 640 tỷ, chiếm 15%, tăng 78,8% so năm 2000.
Tiền gửi kỳ phiếu 1.141 tỷ, chiếm 26,8%, tăng 22,7% so với năm 2000.
Tiền gửi TCKT: 862 tỷ, chiếm 20,2%, tăng 23,3% so năm 2000.
Tiền gửi TCTD: 1.453 tỷ, chiếm 34,1%, tăng 42,5% so năm 2000.
Tiền gửi kho bạc: 161 tỷ, chiếm 3,8%, giảm 60,0% so năm 2000.
Nguồn vốn VND: 3.886 tỷ, chiếm 91% tổng nguồn vốn, tăng
24,9%.
Tiền gửi tiết kiệm: 293 tỷ, chiếm 7,5% nguồn nội tệ , tăng 112,3%.
Tiền gửi kỳ phiếu: 1.141 tỷ chiếm 29,5% nguồn nội tệ, tăng 22,7%.
Tiền gửi TCKT: 818 tỷ, chiếm 18,6% nguồn nội tệ, tăng 21,3%.
Tiền gửi TCTD: 1452 tỷ, chiếm 37,6% nguồn nội tệ, tăng 42,1%.
Tiền gửi kho bạc : 161 tỷ, chiếm 4,2% nguồn nội tệ, giảm 51,4%.
Nguồn vốn USD: 391 tỷ , chiếm 9% tổng nguồn vốn, tăng 56,4%.
Tiền gửi tiết kiệm: 347 tỷ, chiếm 88,7% nguồn ngoại tệ, tăng 57,8%.
Tiền gửi TCKT: 43 tỷ, chiếm 11,0% nguồn ngoại tệ, tăng 43,3%.
Tiền gửi khác : 1 tỷ, chiếm 0,3% nguồn ngoại tệ, tăng 100%.
Phân theo kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn: 776 tỷ, chiếm 18%, giảm 6,0%.
Tiền gửi dưới 12 tháng : 1.777 tỷ, chiếm 42%, tăng 31,6%.
Tiền gửi trên 12 tháng: 1.714tỷ, chiếm 40%, tăng 45,3%.
Đánh giá thực trạng nguồn vốn năm 2001.
Nguồn vốn nội tệ
Tiền gửi tiết kiệm 293 tỷ, là nguồn vốn ổn định, lãi suất đầu vào thấp,
thuận lợi cho cân đối vốn, năm 2001 nguồn vốn này tăng nhanh nhưng
quá nhỏ bé, rất bất lợi cho kinh doanh . Nguyên nhân chủ yếu do màng
lưới chậm mở rộng, năm 2001 NHNo&PTNT Hà Nội có 20 phòng giao dịch
nhưng thời gian hoạt độngcòn ngắn nên nguồn vốn này tăng, mặt khác
công tác tiếp thị quảng cáo chưa được chú trọng, hầu hết các phòng giao
dịch vẫn ngồi chờ khách hàngđến gửi tiền, chưa bám sát các khu dân cư để
vận động sâu rộng trong nhân dân.
Tiền gửi kỳ phiếu 1.141 tỷ, chiếm 29,5% là nguồn vốn lớn thứ hai của
NHNo&PTNT Hà Nội chủ yếu là loại 12 tháng và một bộ phận 24 tháng.
Nguồn vốn này ổn định tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư trung hạn,
nhưng lãi suất đầu vào cao nên hiệu quả kinh doanh thấp và thường có rủi
ro về lãi suất. Trong nguồn kỳ phiếu này có 868 tỷ, chiếm 76% là tiền gửi
của các TCTD nên không bền vững.
Tiền gửi các TCTD là 1452 tỷ, chiếm 37,6% là nguồn vốn lớn trong
tổng nguồn vốn của NHNo&PTNT Hà Nội, lãi suất đầu vào thường cao hơn
đầu vào của các nguồn vốn khác và thường xuyên không ổn định. Cụ thể
Kết cấu nguồn vốn của các TCTD trong tổng nguồn vốn nội tệ của
NHNo&PTNT Hà Nội như sau:
Đơn vị: Tỷ đồng
Ngân hàng Nguồn vốn nội tệ T.đó: Tổng nguồn
vốn của TCTD
Tỷ trọng
Trung tâm 2.208 1.345 60,9
Cầu giấy 265 50 18,9
Đống đa 296 230 77,7
Thanh xuân 159 108 67,9
Tây hồ 236 110 44,6
Ba đình 344 278 80,8
Tam trinh 5 0 0
Hai bà trưng 168 40 23,8
Hoàn kiếm 185 160 86,5
Tổng cộng 3.866 2.320 60,0
Như vậy trong tổng nguồn vốn nội tệ năm 2001 của NHNo&PTNT Hà
Nội có đến 60% là tiền gửi của các TCTD, tuy có hiệu quả thiết thực, nhưng
không ổn định và hiệu quả thấp hơn các nguồn vốn khác.
Tiền gửi kho bạc 161 tỷ VND, chiếm 4,2%, đây là nguồn vốn có đầu vào
thấp nhưng biến động phụ thuộc vào tình hình cân đối Ngân sách.
Tiền gửi các TCKT và các tổ chức khác 818 tỷ chiếm 21,3%, nguồn vốn
này có hiệu quả cao nhưng tỷ trọng nhỏ, xu hướng nguồn vốn này sẽ giảm tỷ
trọng vì các doanh nghiệp sẽ sử dụng vào kinh doanh dưới nhiều hình thức có
lợi hơn gửi ngân hàng.
Nguồn ngoại tệ.
Tiền gửi tiết kiệm 347 tỷ, chiếm 88,7% nguồn ngoại tệ và 8,15% tổng
nguồn vốn, tăng 57,8% một phần do lãi suất nhưng phần chủ yếu do tâm lý
của người gửi muốn được hưởng tỷ giá tăng. Nguồn vốn này biến động một
phần do lãi suất, tỷ giá trên thị trường nhưng còn chịu ảnh hưởng của giá
bất động sản trên địa bàn Hà Nội.
Tiền gửi các TCTD chiếm 11,0% vì NHNo&PTNT Hà Nội không được
chủ động nhận tiền gửi ngoại tệ của các TCTD.
Thị phần nguồn vốn của NHNo&PTNT Hà Nội với nguồn vốnTCTD
trên địa bàn Hà Nội.
Tổng nguồn vốn 4.257 tỷ/ 95.946 tỷ, chiếm 4,4%.
Trong đó: tiền gửi dân cư: 1.781 tỷ/ 33.258 tỷ, chiếm 4,1%.
Tiền gửi nội tệ: 3.906 tỷ/ 43.095 tỷ, chiếm 9,1%.
Tiền gửi ngoại tệ: 350 tỷ/ 31.389 tỷ, chiếm 1,1%.
Đánh giá chung về công tác nguồn vốn năm 2001.
Năm 2001, nguồn vốn của NHNo&PTNT Hà Nội tăng trưởng khá, đã góp
phần tích cực vào kết quả tài chính năm 2001 của toàn thành phố cũng như
ngân hàng Quận, nhưng so với nguồn vốn của các TCTD trên địa bàn thì
nguồn vốn của NHNo&PTNT Hà Nội còn quá nhỏ bé, chứng tỏ công tác nguồn
vốn của NHNo&PTNT Hà Nội tuy đã có gắng nhưng mới thu hút được lượng
vốn quá nhỏ bé trong tiềm năng nguồn vốn vô cùng to lớn trên địa bàn Hà Nội
cả nội tệ, ngoại tệ nhát là nguồn vốn từ dân cư, mặt khác kết cấu nguồn vốn
của NHNo&PTNT Hà Nội không bền vững, lãi suất cao chưa tạo được sức cạnh
tranh cho NHNo&PTNT Hà Nội trong tín dụng cũng như các hình thức đầu tư
khác trong tương lai.
Nguồn vốn trên đây thể hiện vai trò của nguồn vốn trong kinh doanh
ngân hàng, nó đang là lợi thế lớn để tạo quỹ thu nhập, tạo nguồn xử lý rủi ro
cho các tồn đọng tín dụng trước đây, do vậy hơn bao giờ hết NHNo&PTNT Hà
Nội phải tận dụng thời cơ, tăng tốc huy động để bù đáp sự thuyên giảm nguồn
vốn của các TCTD, vừa tăng trưởng thêm nguồn vốnđể trong vòng 2-3 năm có
thể xử lý hết những tồn đọng cũ, tạo đà phát triển cho những năm tiếp theo.
b. Hoạt động sử dụng vốn.
• Công tác đầu tư tín dụng.
Dư nợ
Thực tế cho thấy hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ
yếu của NHNo&PTNT Hà Nội là hoạt động cho vay. Vì nguồn vốn huy
động được tập trung chủ yếu cho các thành phần kinh tế trên địa bàn Hà
Nội; phần vốn không sử dụng hết được ngân hàng điều chuyển về
NHNo&PTNT Việt Nam để điều hoà cho các ngân hàng thiếu vốn. Lợi
nhuận mang lại từ hoạt động cho vay thường chiếm tỷ trọng cao gần
90%, ngoài ra còn có lợi nhuận thu được từ các hoạt động khác như
hoạt động kinh doanh ngoại tệ, hoạt động thanh toán thừa vốn.
Sau đây là kết quả công tác cho vay trong 3 năm 1999, 2000, 2001
của NHNo&PTNT Hà Nội.
Bảng3: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế và theo thời gian
của NHNo&PTNT Hà Nội qua các năm1999 - 2001.
Đơn vị: tỷ đồng
Năm
Chỉ tiêu
1999 2000 2001
1. Tổng dư nợ 958 1297 1574
2. Dư nợ theo thành phầnkinh tế
+Kinh tế Nhà nước 808 884 1267
+Kinh tế ngoài quốc doanh 150 413 307
3. Dư nợ theo thời gian
+ Dư nợ ngắn hạn 831 1122 1117
+Dư nợ trung và dài hạn 127 135 457
Căn cứ số liệu trên, tổng dư nợ cho vay từ năm 1999-2001 tăng
lên. Cụ thể, tổng dư nợ 31/12/2000 đạt 1297 tỷ đồng tăng 35,44% so
với dư nợ năm 1999, bình quân đầu người đạt 6145 triệu. So với 12 tỷ
dư nợ khi mới thành lập thì sau 12 năm dư nợ cho vay đối với nền kinh
tế trên địa bàn Hà Nội đã tăng lên 107 lần ; sang năm 2001 tổng dư nợ
là 1574 tỷ đồng, đạt 95% kế hoạch NHNo Việt Nam Trung ương giao,
tăng 21,8% so với năm 2000. Điều này cho thấy địa bàn hoạt động kinh
doanh tiền tệ có tính canh tranh cao, các ngân hàng khác liên tục hạ lãi
suất cho vay để thu hút khách hàng nhưng với sự cố gắng chú trọng
công tác tìm kiếm khách hàng nên kết quả công tác dư nợ của ngân
hàng vẫn đạt mức tăng trưởng khá. Hiện tại ngân hàng đã có thêm một
số khách hàng như Công ty cao su Sao Vàng, Công ty vật tư nông sản,
Công ty cà phê Việt Nam, Công ty than Đông Bắc… đặc biệt là những
công ty lớn như Nhà máy thuốc lá Thăng Long, Bia Việt Hà, Bia Hà Nội.
Về cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế.
Theo số liệu thống kê hiện nay năm 2001, trong tổng dư nợ là
1547 tỷ đồng NHNo&PTNT Hà Nội đã phân bổ cho 112 doanh nghiệp
Nhà nước, 103 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 562 hộ sản xuất, đặc
biệt có 7 tổng công ty 90, 91 với tỷ trọng như sau:
Dư nợ DNNN là 1267 tỷ đồng chiếm 80% tổng dư nợ, tăng
43,3%so với năm 2000.
Dư nợ ngoài quốc doanh là 158 tỷ chiếm 10% tổng dư nợ, tăng
52% so với năm 2000.
Dư nợ hợp tác xã là 2,9 tỷ đồng, giảm 25% so với năm 2000.
Dư nợ hộ sản xuất là 48 tỷ chiếm 35 tổng dư nợ, tăng 122% so với
năm 2000.
Dư nợ vay khác là 97 tỷ chiếm 6,8% tổng dư nợ, giảm 69% so với
năm 2000.
Dư nợ cho các thành phần kinh tế đều tăng nhanh, trong đó dư nợ
cho vay theo thành phần kinh tế Nhà nước tăng tương đối ổn định đặc
biệt tăng mạnh vào năm 2001 là 1267 tỷ đồng chiếm tỷ trọng cao trung
bình là 80% tổng dư nợ (năm 1999 là 84,34%; năm 2000 là 68,15%;
năm 2001 là 80,5%) đây là thành phần kinh tế mạnh và giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế. Bên cạnh tốc độ tăng trưởng về dư nợ cho vay đối
với thành phần kinh tế Nhà Nước ta còn thấy tốc độ tăng trưởng về dư
nợ cho vay trong các thành phần kinh tế phi quốc doanh. Điều này phản
ánh việc NHNo&PTNT Hà Nội thực hiện đường lối xây dựng và phát
triển kinh tế của Đảng, Nhà nước đó là phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Số liệu của bảng 3 cũng
chỉ rõ dư nợ cho vay đối với thành phần này không ổn định có năm tăng,
có năm giảm. Đây cũng là khó khăn chung của tất cả các ngân hàng vì
cho vay các thành phần kinh tế phi quốc doanh tuy là đầy triển vọng
nhưng cũng có không ít những rủi ro . Do vậy các ngân hàng cần xem
xét, tiến hành tốt công tác thẩm định cho vay đạt hiệu quả.
Có thể nói, kết cấu dư nợ như trên là phù hợp với tình hình phát
triển kinh tế tại địa bàn thủ đô Hà Nội. Nó vừa cho thấy sự phát triển
bình đẳng giữa các thành phần kinh tế; vừa khẳng định vai trò, vị trí chủ
đạo của thành phần kinh tế Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội Thành phố và thông qua đó thành phần kinh tế phi quốc doanh
cũng khẳng định vị trí của mình, không ngừng phát triển góp phần lớn
vào tổng sản phẩm xã hội của Hà Nội.
Xét về cơ cấu dư nợ theo thời gian
Số liệu trên cho thấy cơ cấu dư nợ ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng
cao trong tổng dư nợ. Năm 1999 dư nợ ngắn hạn chiếm 86,7% trên tổng
dư nợ; trong khi đó dư nợ đầu tư trung và dài hạn chỉ chiếm 13,3% trên
tổng dư nợ, sang hai năm 2000, 2001 tỷ trọng đầu tư ngắn hạn có giảm
nhẹ giao động trên 70% (năm 2000 chiếm 86,5% tổng dư nợ , năm 2001
chiếm 71% tổng dư nợ), ngược lại đầu tư trung và dài hạn lại có xu
hướng tăng lên nếu năm 2000 là 13,5% tổng dư nợ (tương ứng là 135
tỷ đồng) thì đến năm 2001 tỷ trọng này đã lên tới 29% tổng dư nợ
(tương ứng là 457 tỷ đồng). Sự gia tăng này chứng tỏ ngân hàng đã
biết kết hợp giữa nguồn vốn ngắn hạn với huy động vón trung dài hạn
để bổ sung lẫn nhau.
Nguyên nhân đầu tư cho vay ngắn hạn của NHNo&PTNT Hà Nội
luôn chiếm tỷ trọng cao trung bình trên 70% tổng dư nợ là do nguồn vốn
ngân hàng huy động được hầu hết là vốn ngắn hạn dưới 12 tháng. Do
vậy, việc đầu tư cho vay trung và dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn bị
hạn chế. Hệ quả tất yếu là vốn tín dụng của NHNo&PTNT Hà Nội về đầu
tư trung hạn nhỏ. Để đổi mới trang thiết bị công nghệ hay dây chuyền
sản xuất, tăng cường năng lực sản xuất trang bị dây chuyền công nghệ
tiên tiến cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế, đặc biệt trong giai
đoạn hiện nay các doanh nghiệp của nước ta chủ yếu là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ,vốn công nghệ còn rất lạc hậu, hoạt động chủ yếu
bằng vốn của ngân hàng, công tác huy động vốn trung và dài hạn là hết
sức cần thiết và bức bách.
Cho vay hộ nghèo.
Bảng 4: Tình hình cho vay hộ nghèo của NHNo&PTNT Hà nội qua các năm
Đơn vị:
STT Chỉ tiêu 1999 2000 2001
1 Doanh số cho vay (triệu đồng)
+Ngắn hạn
+Trung hạn
1452
450
1002
788
309
479
1527
470
1057
2 Số lượng hộ nghèo được vay
(hộ)
1178 612 619
3 Tổng số hộ nghèo (hộ) 5814 5640 5600
4 Dư nợ hộ nghèo (triệu đồng) 2242 1569 2218
5 Số hộ nghèo còn dư nợ (hộ) 1004 741 802
6 Số hộ đã thoát nghèo (hộ) 185 354 395
Hoạt động cho vay hộ nghèo đã thu được những kết quả cao, góp
phần vào công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội,
NHNo&PTNT Hà Nội cùng các cấp, các ngành của Hà Nội thực hiện
chương trình 03 của thành uỷ Hà Nội về xoá đói, giảm nghèo. Nhờ công
tác cho vay đối với các hộ nghèo mang lại kết quả đáng kể là tổng số hộ
nghèo và số hộ thoát nghèo ngày càng tăng. Năm 1999 tổng số hộ nghèo
là 5814 trong đó có 185 hộ đã thoát nghèo thì sang năm 2001 số hộ
thoát nghèo đã lên tới con số 395 hộ, gấp gần 2,1 lần.
Doanh số cho vay: đối với các đối tượng khách hàng này ngân
hàng chủ yếu tiến hành cho vay trung và dài hạn, tỷ trọng doanh số cho
vay trung hạn luôn chiếm một tỷ trọng cao trung bình khoảng trên 60%
tổng doanh số cho vay.