Tải bản đầy đủ (.docx) (25 trang)

Tiểu luận cao học, QUẢN TRỊ KINH DOANH báo CHÍ TRUYỀN THÔNG đặc THÙ QUẢN TRỊ KINH DOANH báo CHÍ TRUYỀN THÔNG ở một số cơ QUAN báo CHÍ TRUNG ƯƠNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (238.65 KB, 25 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................
NỘI DUNG.............................................................................

I. Một số vấn đề về lí luận....................................................
1.1. Khái niệm kinh doanh
1.2. Khái niệm kinh doanh báo chí
1.3. Các yếu tố của môi trường kinh doanh
1.4. Tính đặc thù của hoạt động kinh doanh báo chí ở Việt
Nm trong nền kinh tế thị trường
1.5. Vai trò của quản trị kinh doanh báo chí ở Việt Nam
hiện nay
II. Đặc thù quản lí tại một số cơ quan báo chí trung
ương (Đài THVN, Thông tấn xã VN, Đài Tiếng nói VN)
2.1. Đặc thù về chủ thể kinh doanh báo chí truyền thông
2.2. Đặc thù về hàng hóa dịch vụ
2.3. Đặc thù về nhu cầu và phương thức tiếp cận, tiếp nhận
sản phẩm
2.4. Đặc thù về môi trường sản xuất kinh doanh
III. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh báo chí, truyền thông
3.1. Một số thuận lợi và khó khăn
3.2, Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh báo
chí truyền thông
3.3. Ý nghĩa của vấn đề này trong công tác quản lí báo chí
truyền thông với các cơ quan báo chí trung ương
3.4. Đài THVN đẩy mạnh chiến lược kinh doanh nội dung
số

3
4


4
4
6
6
8
11
13
13
14
17
18
19
19
21
22
23

MỞ ĐẦU
Tính đến tháng 12/2015, cả nước có 857 cơ quan báo in, trong đó
có 199 cơ quan báo chí in (86 báo trung ương, 113 báo địa phương), 658
tạp chí (521 tạp chí trung ương, 137 tạp chí địa phương), 01 hãng thông
tấn quốc gia.Về phát thanh, truyền hình (PTTH): có 67 đài phát thanh,
truyền hình Trung ương và địa phương (02 đài quốc gia là Đài Truyền
hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và 64 đài địa phương). Số kênh
chương trình PTTH quảng bá là 183 kênh, với 106 kênh chương trình


truyền hình quảng bá, 77 kênh chương trình phát thanh quảng bá và 75
kênh chương trình truyền hình trả tiền. Về báo chí điện tử: có 105 báo,
tạp chí điện tử (trong đó có 83 báo, tạp chí điện tử của cơ quan báo chí in

và 22 báo, tạp chí điện tử độc lập), tổng số trang thông tin điện tử tổng
hợp của các cơ quan báo chí được cấp phép là 248.
Đối với một mạng lưới báo chí rộng lớn như thế này thì việc phát
triển kinh tế báo chí là điều tất yếu. Trong một nền kinh tế thị trường thì
không phải trong số hơn 850 cơ quan báo chí đều nhận được sự hỗ trợ
của ngân sách nhà nước mà hầu hết đều có những bước tự chủ nguồn tài
chính, tự đảm bảo được nguồn lực kinh tế - kỹ thuật cho các hoạt động
nghiệp vụ cũng như khả năng mở rộng quy mô sản phẩm và khả năng ảnh
hưởng.
Với những đặc thù của các cơ quan báo chí trực thuộc Chính phủ:
Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt
Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong những năm qua. Viêc
quản trị kinh doanh báo chí truyền thông của các cơ quan này cũng có
những nét đặc thù riêng.

NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1. Khái niệm Quản trị kinh doanh
- Khái niệm kinh doanh
Kinh doanh là hoạt động tạo ra sản phẩm (dịch vụ cung cấp cho thị
trường theo quy định của pháp luật để có lợi nhuận).


Kinh doanh là một hoạt động được thực hiện có hệ thống và độc
lập với danh nghĩa và trách nhiệm riêng nhằm mục đích sinh lợi và theo
các điều kiện do Pháp luật quy định.
Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, kinh doanh là việc thực hiện
liên tục một hoặc một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích
kiếm lời.

- Mục đích cơ bản của kinh doanh
Một là, tạo ra sản phẩm, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trường
và tạo ra giá trị gia tăng để thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển.
Hai là, kinh doanh là các mắt xích của quá trình tái sản xuất mở
rộng, liên kết chuỗi.
Ba là, tạo ra đội ngũ lao động có chuyên môn, có tay nghề, có ý
thức tổ chức kỷ luật.
Bốn là, tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội, đóng góp ngân sách, tạo
việc làm, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.
Năm là, kinh doanh đúng đắn sẽ tạo ra định hướng tiêu dùng và
văn minh tiêu dùng.
-

Khái niệm quản trị kinh doanh

Quản trị kinh doanh được hiểu là việc thực hiện các hành vi quản
trị quá trình kinh doanh để duy trì, phát triển công việc kinh doanh của
doanh nghiệp, bao gồm việc cân nhắc, tạo ra hệ thống, quy trình và tối đa
hóa "hiệu suất", "quản lý hoạt động kinh doanh" bằng quá trình tư duy và
ra quyết định của nhà quản lý.
- Đặc điểm của quản trị kinh doanh


Một là, hoạt động kinh doanh được xác định bởi chủ thể bao gồm
chủ sở hữu và người điều hành.
Hai là, hoạt động kinh doanh mang tính liên tục.
Ba là, hoạt động kinh doanh mang tính tổng hợp và phức tạp. Đó là
sự kết hợp hài hòa việc quản trị các chức năng (quản trị tài chính, mua
hàng…)
Bốn là, hoạt động kinh doanh luôn gắn chặt và buộc phải đáp ứng

đòi hỏi của môi trường kinh doanh luôn biến động.
- Các phương pháp của quản trị kinh doanh
Phương pháp quản trị kinh doanh được hiểu là tổng thể các cách
thức tác động có thể và có chủ đích của chủ doanh nghiệp đối tượng kinh
doanh (cấp dưới và tiềm năng có được của doanh nghiệp) và khách thể
kinh doanh, khách hàng, các ràng buộc của môi trường quản trị vĩ mô,
các đối thủ cạnh tranh và các bạn hang để đạt được các mục tiêu kinh tế
đề ra trong điều kiện môi trường kinh doanh thực tế.
Phương pháp quản trị có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý.
Quá trình quản lý và quá trình hoạt động các chức năng quản trị theo
những nguyên tắc, nhưng các nguyên tắc đó chỉ được vận dụng và thể
hiện thong qua các phương pháp quản trị nhất định.
Phương pháp quản trị là biểu hiện của mối quan hệ qua lại giữa chủ
thể và đối tượng với khách thể kinh doanh, tức là mối quan hệ giữa con
người cụ thể với tất cả sự phong phú của đời sống. Vì vậy các phương
pháp quản trị mang tính chất đa dạng và phong phú và là bộ phận năng
động nhất của hệ thống quản trị.
Phương pháp quản tị không bất biến mà thường xuyên thay đổi
theo từng tình huống cụ thể, tùy thuộc vào đặc điểm của đối tượng cũng
như năng lực và kinh nghiệm của chủ doanh nghiệp


1.2. Khái niệm kinh doanh báo chí
Báo chí - loại hình hoạt kinh tế - dịch vụ trong kinh tế thị trường,
hoạt động báo chí không chỉ được coi là hoạt động truyền thông đại
chúng và hoạt động chính trị - xã hội, mà còn là hoạt động kinh tế - dịch
vụ, là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trên nhiều khía cạnh, cả về nhận thức
lý luận và hoạt động thực tiễn. Ở các nước tư bản chủ nghĩa có nền kinh
tế thị trường phát triển, cơ quan báo chí được coi như một doanh nghiệp
sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Quản lý cơ quan báo chí coi như

quản trị doanh nghiệp. Sản phẩm báo chí là sản phẩm hàng hóa; dịch vụ
báo chí là dịch vụ xã hội, bao gồm dịch vụ công ích và dịch vụ thương
mại. Các thế lực chính trị chi phối hoạt động, chức năng kinh tế của báo
chí được thừa nhận từ lâu. Trên thực tế, nền công nghiệp báo chí - truyền
thông của họ đóng một vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã
hội. Ở ta, do điều kiện lịch sử, cho đến những năm gần đây, hoạt động
báo chí mới được xem xét ở khía cạnh hoạt động kinh doanh.
Quan niệm về kinh doanh báo chí là sản xuất, quản trị và tiêu thụ
sản phẩm của các cơ quan báo chí và tổ chức cá nhân. Tuy nhiên tại Việt
Nam chưa có kinh doanh báo chí thực sự và chưa có báo chí thị trường.
Mặc dù đã xuất hiện rất nhiều hình thức kinh doanh nhưng bản chất thì
không phải.
1.3. Các yếu tố của môi trường kinh doanh:
Môi trường kinh doanh được cấu thành từ nhiều yếu tố khác nhau.
Xét theo cấp độ tác động đến sản xuất và quản trị doanh nghiệp, có cấp
độ nền kinh tế quốc dân và cấp độ ngành.
Ở cấp độ nền kinh tế quốc dân (còn gọi là môi trường vĩ mô, môi
trường tổng quát), các yếu tố môi trường bao gồm:
-Các yếu tố chính trị - luật pháp
-Các yếu tố kinh tế
-Các yếu tố kỹ thuật – công nghệ


-Các yếu tố văn hóa – xã hội
-Các yếu tố tự nhiên
Ở cấp độ ngành (còn gọi là môi trường tác nghiệp), các yếu tố môi
trường bao gồm:
-Sức ép và yêu cầu của khách hàng
-Các đối thủ cạnh tranh hiện có và tiềm ẩn
-Mức độ phát triển của thị trường các yếu tố

-Các sản phẩm thay thế sản phẩm của doanh nghiệp đang sản
xuất
-Các quan hệ liên kết
Môi trường vĩ mô gồm

Môi trường kinh tế vĩ mô

các yếu tố nằm bên ngoài

1. Các yếu tố kinh tế

tổ chức, định hướng và có

2. Các yếu tố chính trị và pháp luật

ảnh hưởng đến các môi

3. Dân số - lao động

trường tác nghiệp và môi

4. Các yếu tố văn hóa – xã hội

trường nội bộ, tạo ra các

5. Các yếu tố tự nhiên

cơ hội và nguy cơ đối với

6. Các yếu tố công nghệ


doanh nghiệp.

7. Các yếu tố môi trường quốc tế

Môi trường tác nghiệp là

Môi trường tác nghiệp

môi trường bao hàm các

1. Các đối thủ cạnh tranh

yếu tố bên ngoài tổ chức,

2. Khách hàng

định hướng sự cạnh tranh

3. Người cung ứng nguyên vật liệu

trong ngành.

4. Các đối thủ tiềm ẩn
5. Hàng thay thế

Hoàn cảnh nội bộ bao

Hoàn cảnh nội bộ


hàm các nguồn lực nội bộ

1. Nguồn nhân lực

tổ chức.Môi trường kinh


tế vĩ mô

2. Nghiên cứu và phát triển
3. Sản xuất
4. Tài chính – kế toán
5. Marketing
6. Văn hóa của tổ chức

Sơ đồ các yếu tố môi trường

1.3. Tính đặc thù của hoạt động kinh doanh báo chí ở Việt Nam
trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, kinh
doanh báo chí ở Việt Nam hiện nay là một hoạt động kinh doanh mang
tính đặc thù. Hoạt động này vừa là hoạt động chính trị xã hội trên lĩnh


vực văn hóa tư tưởng, vừa là hoạt động kinh tế nhằm đem lại nguồn thu,
lợi nhuận cho các cơ quan báo chí.
Có thể nói, trong đời sống chính trị, xã hội, báo chí giữ một vai trò
hết sức quan trọng. Bất kỳ một lực lượng cầm quyền nào trong các quốc
gia trên thế giới đều sử dụng báo chí như một công cụ để tác động vào tư
tưởng, tình cảm của công chúng, nhằm tạo ra ở họ những nhận thức mới,

những định hướng mới có giá trị trong cuộc sống.
Ở nước ta, báo chí là công cụ của Đảng, của Nhà nước, của các tổ
chức và đoàn thể xã hội, là diễn đàn của quần chúng nhân dân. Vai trò của
báo chí trong đời sống chính trị thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giải phóng đất nước. Ngay khi
chưa có Đảng lãnh đạo, các lực lượng xã 30 hội đã có những tờ báo hoạt
động rất tích cực và đã gây được sự chú ý của dư luận xã hội về các vấn
đề chính trị. Báo chí đã trở thành vũ khí quan trọng của nhân dân ta trong
các phong trào đấu tranh chính trị. Đồng thời là vũ khí sắc bén trên mặt
trận tư tưởng, văn hóa. Mặt khác báo chí cũng đã tạo ra được những điều
kiện cần thiết để mọi người dân đều có thể tham gia vào đời sống chính
trị của đất nước. Vì vậy, báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc
thông tin, cung cấp, phổ biến thông tin và định hướng dư luận xã hội. Vì
vậy báo chí không chỉ là vũ khí tư tưởng sắt bén, lợi hại mà còn là người
tuyên truyền tập thể, cổ động tập thể và tổ chức tập thể…điều này càng
phù hợp với thời đại bùng nổ thông tin hiện nay.
Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, Nhà nước vừa là diễn đàn của
quần chúng nhân dân. Sự phát triển của báo chí gắn liền với ý thức hệ,
với lợi ích của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế mà nó đại diện.
Hoạt động báo chí là loại hình hoạt động thông tin chính trị - xã hội diễn
ra dưới một hình thức thông tin đặc biệt. Quan điểm chỉ đạo của Đảng và
Nhà nước về báo chí là: Phát triển đi đôi với quản lý tốt.


Nghĩa là theo luật pháp các ngành chức năng phải tác động đến hoạt
động báo chí và ngành báo chí phải phát triển theo hướng sao cho vừa
thực hiện được những nhiệm vụ tư tưởng mà Đảng và Nhà nước giao
phó, nâng cao chất lượng báo chí để phục vụ nhu cầu ngày càng cao của
nhân dân và xã hội, lại vừa giảm gánh nặng của ngân sách tài trợ cho báo
chí hoạt động.

Do đó, nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản tạo điều
kiện thuận lợi và hành lang pháp lý vững chắc giúp báo chí hoạt động có
hiệu quả đồng thời có thể tự nuôi sống mình trong nền kinh tế thị trường
nhiều cạnh tranh mà doanh thu là yếu tố quyết định sự tồn tại của báo chí.
Và cũng chính vì bởi báo chí là một loại hàng hóa và dịch vụ đặc
biệt trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và định hướng cho hoạt động của
con người nên nếu các cơ quan báo chí quan tâm đến điều này một cách
có định hướng chung tốt thì chất lượng báo chí sẽ đựơc nâng cao và ngày
càng đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của công chúng tiêu thụ báo chí.
Trong nền kinh tế thị trường, báo chí thông tin chính xác, kịp thời sẽ
tạo nên sức mạnh thắng lợi về sự cạnh tranh. Do đó, báo chí không chỉ
dừng lại ở những thông tin kinh tế, thị trường, hàng hóa, tài chính…mà
còn có thể hướng dẫn thị trường, hướng dẫn việc áp dụng những thành
tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới.v.v... Chính vì vậy, báo chí không
thể tự đặt ra các mục tiêu kinh tế mà chỉ chuyển tải những thông tin
nhanh chóng, kịp thời có giá trị định hướng góp phần tạo nên hiệu quả
kinh tế cho xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, báo chí cũng thể hiện là một đơn vị sự
nghiệp, hoạt động theo cơ chế tự hạch toán và thực hiện chức năng kinh
doanh có lợi nhuận. Nước ta một thời gian dài trước đổi mới là nền kinh
tế bao cấp. Năm 1986, thực hiện chính sách “Đổi mới” của Đảng, đất
nước ta phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã
hội chủ nghĩa. Các cơ quan báo chí ở Việt Nam là cơ quan ngôn luận của


Đảng, Nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, định hướng, phổ biến chủ
trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước đến người
dân. Nhưng đặt trong sự phát triển chung của nền kinh tế thị trường, các
cơ quan báo chí nhận ra rằng, các sản phẩm “hàng hóa” đặc biệt của mình
có thể đem lại một khoản thu không nhỏ vừa giúp mở rộng quy mô các cơ

quan báo chí vừa cải thiện đời sống của đội ngũ những người làm báo.
Chính vì nhận thức chiến lược này, bên cạnh việc thực hiện chức
năng thông tin, tuyên truyền trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và chính trị,
hiện nay các cơ quan báo chí đều đặc biệt chú trọng đến các hoạt động
kinh doanh bên lề của mình, nhất là các hoạt động quảng cáo, phát hành,
tổ chức sự kiện truyền thông.v.v.. Mặt khác, khi nhìn nhận báo chí cũng là
ngành nghề tạo ra lợi nhuận, cơ quan báo chí cũng là một doanh nghiệp
thực thụ thì các cơ quan báo chí cũng phải chịu sự tác động mang tính
quy luật tất yếu cạnh tranh và những tác động của nền kinh tế thị trường.
Như đã nói ở trên, do báo chí là một loại hàng hóa và dịch vụ đặc
biệt nên hai yêu tố cung và cầu của thị trường báo chí cũng không giống
với các loại hình kinh doanh khác. Cụ thể, Cầu báo chí không chỉ phụ
thuộc vào: Thu nhập của người tiêu dùng, Giá cả của các loại hàng hoá
liên quan, Dân số, Thị hiếu, Các kỳ vọng (của người tiêu dùng) mà còn
chịu sự chi phối mạnh của các điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội và trình
độ dân trí.
Trên thị trường báo chí Việt Nam hiện nay, sự cạnh tranh giữa các cơ
quan báo chí in, báo điện tử, các đài PTTH diễn ra khá quyết liệt, chủ yếu
trên các phương diện thông tin nhằm phát triển thương hiệu, tăng uy tín
đối với công chúng và cuối cùng là nâng cao hiệu quả kinh doanh theo
mục tiêu mà từng đơn vị đặt ra.
1.4. Vai trò của quản trị kinh doanh báo chí ở Việt Nam hiện nay
Sự tham gia, tác động của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh
doanh báo chí trên lĩnh vực báo chí đứng trước yêu cầu của sự phát triển,


xu hướng xã hội hóa hoạt động quản lý cũng là một đòi hỏi tất yếu đối
với báo chí hiện đại. Tuy nhiên, việc quản lý đều phải căn cứ vào các văn
bản luật và văn bản hướng dẫn dưới luật cùng một số quy định hiện hành
khác.

Về mặt quản lý nội dung, là một cơ quan thông tin đại chúng, đặt
dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, và hoạt động theo những quy định
của pháp luật, tất cả các sản phẩm báo chí đều cần được quản lý thống
nhất về mặt nội dung. Tuy nhiên, quản lý nội dung không đồng nghĩa với
việc phải quản lý tất cả các công đoạn làm ra sản phẩm.
Chức năng kinh tế của báo chí đã rõ, song cần phải khẳng định rằng
nhiệm vụ quan trọng nhất của nền báo chí cách mạng Việt Nam là một bộ
phận quan trọng trong công tác tuyên truyền của Đảng, tuyên truyền
đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước. Đồng thời,
nhanh chóng phản ánh những diễn biến mới của đời sống xã hội, tâm tư
nguyên vọng của quần chúng nhân dân.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa X) “Về công tác tư tưởng,
lý luận và báo chí trước yêu cầu mới” nêu rõ: “ Báo chí cần phải nắm
vững và tuyên truyền sâu rộng, kịp thời, có hiệu quả đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, bám sát nhiệm vụ
công tác lý tư tưởng, tích cực tuyên truyền, cổ vũ thành tựu của công
cuộc đổi mới. Coi trọng đúng mức việc phát hiện, biểu dương các nhân tố
mới, điển hình tiên tiến; tích cực đấu tranh, góp phần ngăn chặn và từng
bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các tiêu cực và tệ nạn xã
hội; phản bác có hiệu quả những thông tin, quan điểm sai trái phản động,
thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng; tiếp tục phát huy
tiềm lực và uu điểm, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, nâng cao
chất lượng tư tưởng, tính hấp dẫn, mở rộng đối tượng độc giả, vươn lên
hiện đại về mô hình tổ chức hoạt động, về cơ sở vật chất, kỹ thuật và
công nghệ.


Báo chí phải đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chủ nghĩa
MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, làm
cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ

nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những
tinh hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần của
xã hội.”
Thúc đẩy phát triển hoạt động kinh doanh, tăng doanh thu cho cơ
quan báo chí nhưng với đặc thù của mình không như những ngành nghề
kinh doanh khác, báo chí còn là bộ phận quan trọng trong công tác tư
tưởng, và luôn chịu sự chi phối, điều chỉnh bởi các yêu cầu, nhiệm vụ về
thông tin, tuyên truyền các chủ trương, quan điểm của Đảng, đường lối
chính sách của nhà nước…
Do đó, các cơ quan báo chí cần phải hết sức tỉnh táo, tránh tình trạng
chỉ quan tâm tới lợi nhuận, doanh thu mà không quan tâm tới chức năng
thông tin, tuyê truyền trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đi ngược lại lợi ích
của nhân dân, của đất nước.
II. ĐẶC THÙ QUẢN LÍ TẠI MỘT SỐ CƠ QUAN BÁO CHÍ
TRUNG ƯƠNG (ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM, THÔNG TẤN
XÃ VIỆT NAM, ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM)
1. Đặc thù về chủ thể kinh doanh báo chí truyền thông, bao
gồm chủ sở hữu và người điều hành:
- Về chủ sở hữu: Theo Luật Báo chí Việt Nam hiện hành thì không
có báo chí tư nhân. Tuy nhiên, theo luật Báo chí mới đã bổ sung quy định
về liên kết trong hoạt động báo chí, trong đó quy định cụ thể lĩnh vực, nội
dung các cơ quan báo chí được phép liên kết với cơ quan báo chí khác,
pháp nhân, cá nhân có đăng ký kinh doanh phù hợp với lĩnh vực liên kết;
thời lượng tối đa được phép liên kết trong kênh phát thanh, kênh truyền
hình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu theo quy
định và kênh thời sự - chính trị tổng hợp; thời lượng tối đa mà cơ quan


báo nói, báo hình có hoạt động liên kết sản xuất toàn bộ kênh phát thanh,
kênh truyền hình. Cơ quan báo chí chủ động thực hiện, chịu trách nhiệm

mà không phải xin phép cơ quan quản lý nhà nước về báo chí, nhằm cải
cách thủ tục hành chính, bảo đảm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ
quan báo chí.
VTV, TTXVN và VOV là cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ
chính trị là định hướng và tuyên truyền, phổ biến thông tin rộng rãi tới
các cơ quan thông tin đại chúng và trực tiếp tới độc giả. Về hoạt động báo
chí truyền thông, các cơ quan này lại là đối tượng quản lý nhà nước về
thông tin và truyền thông của Bộ Thông tin và Truyền thông và là các đơn
vị sự nghiệp công lập theo sự điều chỉnh của Nghị định số 16/2015/NĐCP ngày 14/2/2015 về quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công
lập.- Về người điều hành: Ban Lãnh đạo của VTV, TTXVN và VOV là
công chức được Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm có nhiệm vụ điều hành
các cơ quan báo chí thuộc Chính phủ hoàn thành nhiệm vụ chính trị được
giao là phương tiện thông tin, công cụ tuyên truyền, vũ khí tư tưởng quan
trọng của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo
trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
2. Đặc thù về hàng hóa và dịch vụ:
Đây là các cơ quan báo chí truyền thông trực thuộc Chính phủ với
nhiều loại hình báo chí (báo in, báo điện tử, truyền hình, phát thanh) cụ
thể:
- VTV với sản phẩm truyền hình là chủ yếu đang trên đà tăng
trưởng mạnh mẽ, với đội ngũ hơn 4000 con người khắp các khu
vực trên toàn quốc và trên thế giới, VTV đã bao quát được khá


nhiều thông tin sự kiện quan trọng toàn cầu qua 9 kênh quảng
bá. Trung tâm Sản xuất & Kinh doanh Nội dung số (VTV
Digital) đã đi vào hoạt động đáp ứng nhu cầu thông tin điện tử.
Đài THVN cũng có báo điện tử (VTV.VN) và báo in có Tạp chí
Truyền hình

- TTXVN với mạng lưới 63 cơ quan thường trú TTXVN ở các
tỉnh trong nước và 30 cơ quan thường trú ngoài nước, các Ban
biên tập tin, Tòa soạn; đồng thời khai thác tin, ảnh của hơn 40
hãng Thông tấn và các tổ chức báo chí quốc tế để hàng ngày
TTXVN cung cấp hàng trăm sản phẩm thông tin văn bản, âm
thanh và truyền hình bằng tiếng Việt và các thứ tiếng nước
ngoài.
- Đài Tiếng nói Việt Nam hiện đang thực hiện cả bốn loại hình
báo chí:
+ Phát thanh gồm: Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1);
Hệ Văn hóa - Đời sống - Khoa giáo (VOV2); Hệ Âm nhạc Thông tin - Giải trí (VOV3); Hệ Phát thanh dân tộc (VOV4);
Hệ Phát thanh đối ngoại quốc gia (VOV5); Kênh VOV Giao
thông Quốc gia (VOVGT).
+ Truyền hình: Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam; Kênh
Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam; Đài truyền hình kỹ thuật
số VTC.
+ Báo in giấy (Báo Tiếng nói Việt Nam)
+ Báo điện tử trực tuyến VOV.VN
Sản phẩm của VTV, TTXVN và VOV cũng như là các hàng hóa
đặc thù như các cơ quan báo chí khác là tạo thành thị trường kinh doanh
“song sản phẩm”:


Sản phẩm thứ nhất chính là nội dung (chương trình phát thanh,
chương trình truyền hình, các bài báo, tạp chí…).
Sản phẩm thứ hai: Dịch vụ gia tăng được đem bán cho các
doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh quảng cáo, truyền thông.
Tuy nhiên, cơ quan báo chí thuộc Chính phủ phải thực hiện nhiệm vụ
chính trị là chủ yếu nên chức năng làm nội dung là sản phẩm chính và
được Chính phủ đặt hàng thông qua việc cấp kinh phí từ ngân sách Nhà

nước hoặc có cơ chế tài chính đặc thù. Cụ thể các nhiệm vụ thông tin
được Chính phủ đặt hàng của các cơ quan bao gồm:
- Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) là đài truyền hình Quốc gia, là cơ
quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường
lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch
vụ công; góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần
của nhân dân bằng các chương trình truyền hình. Đồng thời, VTV đã tăng
cường nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng
và Nhà nước bằng các phương thức truyền thông đa phương tiện hàng
đầu Việt Nam như thực hiện các kênh truyền hình phục vụ đồng bào dân
tộc thiểu số, kênh truyền hình đối ngoại, tăng cường chất lượng phủ sóng
đặc biệt chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo; thông tin qua Báo
điện tử truyền hình Việt Nam, Tạp chí Truyền hình
- Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) là cơ quan thuộc Chính phủ có
nhiệm vụ chính trị là định hướng thông tin tuyên truyền, là hãng thông
tấn duy nhất của Việt Nam cung cấp hàng trăm sản phẩm thông tin văn
bản, âm thanh và truyền hình bằng tiếng Việt và các thứ tiếng nước ngoài
(tiếng Anh, Trung Quốc, Pháp, Tây Ban Nha…) cho các báo in, điện tử,
các đài phát thanh truyền hình trong cả nước và các hãng thông tấn, báo
chí nước ngoài. TTXVN cũng cung cấp thông tin trực tiếp thông qua các
loại bản tin, báo, tạp chí, sách thông tấn, báo ảnh tiếng nước ngoài, báo


ảnh Dân tộc và Miền núi song ngữ (với 11 chữ viết các dân tộc thiểu số
Việt Nam), sản phẩm truyền hình, âm thanh và thông tin điện tử cho các
đối tượng chuyên biệt cũng như phổ biến rộng rãi cho công chúng. Ngoài
ra, TTXVN còn thực hiện chức năng ngân hàng tư liệu ảnh quốc gia và
đang quản lý hàng triệu bản phim ảnh gốc quý hiếm.
- Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) là đài phát thanh Quốc gia, là cơ
quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường

lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần nâng cao
dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân và công chúng. Về phát
thanh đối nội, ngoài các chương trình bằng tiếng phổ thông, Đài TNVN
hàng ngày đang sản xuất và phát sóng các chương trình phát thanh bằng
12 thứ tiếng dân tộc thiểu số, gồm: tiếng Mông, Thái, Dao, Cơ Tu, Ê Đê,
Jơ Rai, Ba Na, Xơ Đăng, M’Nông, K’Ho, Chăm, Khơ Mer. Về phát thanh
đối ngoại, hàng ngày Đài TNVN thực hiện các chương trình phát thanh
đối ngoại bằng 12 thứ tiếng, gồm: tiếng Anh, Pháp, Đức, Nhật, Nga, Tây
Ban Nha, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia tiếng Việt
dành cho người Việt Nam ở nước ngoài; ngoài ra từ cuối năm 2015, Đài
TNVN đã phát sóng Kênh tiếng Anh 24/7 để phục vụ thính giả là người
nước ngoài đang sinh sống, làm việc, học tập và du lịch ở Việt Nam.
Cũng chính sự “bao cấp” về nguồn lực nên các cơ quan báo chí
thuộc Chính phủ như VOV, Thông tấn xã VN còn thiếu sự gắn kết, chia
sẻ một cách có hệ thống giữa người sản xuất thông tin, cung cấp thông tin
với người tiếp nhận, sử dụng thông tin; điều này khiến cho các sản phẩm
báo chí chưa thực sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng, của công chúng;
chưa thật sự đáp ứng yêu cầu thông tin tuyên truyền của Đảng và Nhà
nước trong tình hình mới.


Trong các cơ quan báo chí trực thuộc Chính Phủ, với những thuận
lợi đặc thù VTV đã tự chủ được về tài chính và đang trên đường xây dựng
mô hình tập đoàn truyền thông khá mạnh mẽ.
3. Đặc thù về nhu cầu và phương thức tiếp cận, tiếp nhận sản
phẩm:
Theo định hướng trong Quy hoạch Báo chí đến năm 2025, phát triển
báo chí phải phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ và xu thế
phát triển thông tin, truyền thông thế giới. Cần kết hợp chặt chẽ các loại
hình báo chí đồng thời phát huy lợi thế của các phương tiện, dịch vụ

thông tin internet nhằm chủ động cung cấp thông tin chính thống, tăng
diện bao phủ trong nước và quốc tế; hạn chế ảnh hưởng tiêu cực và bảo
đảm an toàn, an ninh thông tin mạng. Trong đó, tập trung trước hết cho
các cơ quan báo chí chủ lực như Thông tấn xã Việt Nam, Nhân dân, Đài
Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam...:
- Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã
Việt Nam, Báo Nhân Dân, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân
dân thực hiện theo mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện.
- Về cơ bản, các báo điện tử tự cân đối tài chính. Nhà nước có cơ chế
hỗ trợ phát triển một số báo điện tử chủ lực có kỹ thuật, công nghệ hiện
đại, tính tương tác cao, phong phú về nội dung, có khả năng thu hút công
chúng, định hướng dư luận xã hội, nhất là trước các sự kiện, vấn đề quan
trọng, phức tạp, nhạy cảm để phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền và
thông tin đối ngoại (bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài).
- Đến năm 2020, các đài truyền hình địa phương tự chủ về tài chính.
Nhà nước có cơ chế hỗ trợ, đặt hàng đối với các kênh, chuyên mục,
chương trình, phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuyên truyền.
- Các kênh truyền hình Thông tấn xã Việt Nam (chủ quản Thông tấn
xã Việt Nam), kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (chủ quản Đài


Tiếng nói Việt Nam), kênh truyền hình Công an nhân dân (chủ quản Bộ
Công an), kênh truyền hình Quốc phòng Việt Nam (chủ quản Bộ Quốc
phòng), kênh truyền hình Quốc hội (chủ quản Đài Tiếng nói Việt Nam),
kênh truyền hình Nhân Dân (chủ quản Báo Nhân Dân) không xây dựng
hệ thống truyền dẫn, phát sóng riêng biệt.
4. Đặc thù về môi trường sản xuất kinh doanh: môi trường kinh
tế, văn hóa, xã hội…
Theo Luật Báo chí mới đã quy định mở hơn luật hiện hành về hoạt
động kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, thể hiện tại điểm c khoản

2 điều 21 quy định: nguồn thu của cơ quan báo chí gồm thu từ hoạt động
kinh doanh, dịch vụ của cơ quan báo chí, các đơn vị trực thuộc cơ quan
báo chí.
Về nguồn tài chính hoạt động TTXVN và VOV được nhà nước cấp kinh
phí ngân sách hoạt động thường xuyên và đầu tư phát triển, hàng năm
tăng theo tỷ lệ quy định của Nhà nước; ngoài ra còn có nguồn thu hoạt
động sự nghiệp theo quy định, trong khi đó, VTV đã tự cân đối được kinh
phí chi thường xuyên và đầu tư từ nguồn thu quảng cáo và dịch vụ để hoàn
thành nhiệm vụ chính trị của Đài THVN. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù
của TTXVN, hơn nữa Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt
Nam và TTXVN là 03 cơ quan thông tấn, báo chí với chức năng nhiệm
vụ được giao trực tiếp trong các Nghị định của Chính phủ, có quy trình
hoạt động khác biệt so với các cơ quan báo chí, sự nghiệp công lập khác
(thực hiện chức năng thông tấn, phát thanh, truyền hình, cung cấp thông
tin cho các báo, đài trong và ngoài nước) nên TTXVN, Đài THVN, Đài
TNVN đang đề nghị Chính phủ sẽ không thuộc đối tượng điều chỉnh bởi
Nghị định quy định cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công lập trong
lĩnh vực thông tin - truyền thông.


III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH BÁO CHÍ – TRUYỀN THÔNG
1. Một số thuận lợi và khó khăn.
* Thuận lợi:
- Trong bối cảnh báo chí truyền thông phát triển mạnh mẽ, cuộc đấu
tranh trên mặt trận tư tưởng ngày càng phức tạp thì vai trò của các cơ
quan báo chí chính thống của Đảng và Nhà nước, có uy tín cao trên thị
trường báo chí trong nước và khu vực như VTV, TTXVN, VOV càng
được coi trọng và có nhiều tiềm năng để nhận được sự ưu tiên để đầu tư,
phát triển toàn diện và bền vững.

- Đây là các cơ quan có nguồn lực khá mạnh, bao gồm: nguồn nhân
lực khá hùng hậu, có đội ngũ nhà báo nhiều nhất, là cơ quan báo chí có
nhiều sản phẩm thông tin nhất (với khoảng 60 loại), với đủ các loại hình
báo chí (báo giấy, báo điện tử, báo hình, báo nói). Đặc biệt, TTXVN có
lợi thế riêng mà cho đến nay chưa cơ quan báo chí trong nước nào có
được, là có hệ thống CQTT tại 63/63 tỉnh, thành phố trong nước và 30
CQTT ngoài nước phân bố ở 5 châu lục. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, hội
tụ truyền thông không có nghĩa là sự cộng dồn một cách máy móc các
loại hình báo chí trong cùng một cơ quan
- Báo chí Việt Nam trong giai đoạn tới được nhận định sẽ được định
hướng phát triển theo hướng cách mạng, chuyên nghiệp, hiện đại, chất
lượng, hiệu quả, đáp ứng nhu cầu thông tin của nhân dân, tuyên truyền
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm đoàn kết
tập hợp quần chúng, tạo đồng thuận trong xã hội, định hướng tư tưởng và
thẩm mỹ, góp phần nâng cao dân trí, văn hóa...
* Khó khăn:
- Hệ thống báo chí nhiều về số lượng nhưng chất lượng chưa tương
xứng, còn chồng chéo về tôn chỉ, mục đích, nội dung, đối tượng phục vụ.


- Xu hướng “thương mại hóa” trong hoạt động báo chí, khai thác
thông tin thiếu chọn lọc, nặng về phản ánh mặt trái, tiêu cực của xã hội,
nhiều nội dung tin bài giật gân, câu khách; tính trung thực của báo chí bị
giảm sút; có hiện tượng một số báo điện tử, kênh chương trình phát
thanh, truyền hình,…bị tư nhân chi phối đã làm giảm chất lượng chính trị,
chất lượng văn hóa, chất lượng khoa học, chất lượng nghiệp vụ báo chí.
- Lãnh đạo một số cơ quan báo chí buông lỏng công tác quản lý, giáo
dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, phóng viên, biên tập viên.
Quy trình biên tập,duyệt bài chưa coi trọng và thực hiện nghiêm túc, cá
biệt có báo và nhà báo đưa thông tin thiếu chuẩn xác, thiếu trách nhiệm,

thông tin sai nhiều nhưng không cải chính, vi phạm đạo đức người làm
báo, lợi dụng nghề nghiệp để trục lợi, thậm chí có trường hợp vi phạm
pháp luật.
- Vẫn còn sự chênh lệch lớn về sự hưởng thụ thông tin báo chí giữa
các khu vực, địa bàn, vùng, miền.
- Vai trò quản lý Nhà nước, của cơ quan chủ quản báo chí chưa được
phát huy nên hiệu lực quản lý còn hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển
của các loại hình báo chí trong tình hình mới; chưa nghiên cứu, phân loại,
xác định tính chất, nhiệm vụ của báo chí để có cơ chế, chính sách phù
hợp.
- Việc cung cấp thông tin cho báo chí thiếu kịp thời, gây khó khăn cho
hoạt động của các cơ quan báo chí.
2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh báo chí truyền
thông
- Nâng cao chất lượng sản phẩm thông tin báo chí nhằm xây dựng
uy tín, vị thế của tờ báo. Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức,
cải tiến, xây dựng mới một số chuyên mục đáp ứng nhu cầu của thị


trường; Phát triển báo in trên vật liệu điện tử song song đẩy mạnh báo
điện tử đảm bảo phát hành các sản phẩm rộng rãi trên cả nước và ở những
địa bàn quan trọng trên thế giới.
- Tăng cường nghiên cứu thị trường, đẩy mạnh công tác tiếp thị,
tiếp cận với các đối tác quảng cáo lớn, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài,
xuất khẩu nông lâm thủy sản, du lịch; xúc tiến hợp tác với các Bộ, ngành,
địa phương thực hiện các chương trình thông tin theo đơn đặt hàng phù
hợp với chức năng nhiệm vụ và năng lực của báo.
- Hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy, xây dựng, cải tiến, chuẩn
hóa hệ thống các văn bản quy định về chức năng nhiệm vụ, quy chế công
tác, quản lý, điều hành, chi tiêu nội bộ theo quy định của pháp luật.

- Tái cơ cấu: các cơ quan báo chí cần phải suy nghĩ, tính toán để tái
cơ cấu lại chính mình và tiếp tục phát triển trước các khó khăn như: Xu
thế cạnh tranh thông tin ngày càng khốc liệt; số lượng bạn đọc sụt giảm;
liên tục bị cắt giảm trợ cấp từ các cơ quan chủ quản… Để báo chí tiếp tục
phát triển trong tình hình mới thì yêu cầu tái cơ cấu lại bộ máy, trang bị
hạ tầng kỹ thuật hợp lý; thực hiện hiện đại hóa hạ tầng kết hợp với đào
tạo và đào tạo lại đội ngũ phóng viên cho phù hợp với tình hình và điều
kiện tác nghiệp mới. Nâng cao năng lực nhà báo, xây dựng kế hoạch đào
tạo biên tập viên, phóng viên, họa sĩ trình bày, chuyên viên tiếp thị, quản
lý kinh tế báo chí, tài chính – kế toán. Thực hiện kế hoạch đào tạo, đào
tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp
vụ báo chí và các kỹ năng khác cho biên tập viên, phóng viên nhằm đảm
bảo: Bản lĩnh chính trị vững, có khả năng đồng thời viết tin bài, chụp ảnh,
quay phim, phỏng vấn, thuyết trình, dẫn chương trình thuần thục.
- Đổi mới hệ thống thiết bị công nghệ, kỹ thuật, ứng dụng mạnh
mẽ các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới trong lĩnh vực báo chí truyền
thông.


3. Ý nghĩa của vấn đề này trong công tác quản lý báo chí truyền
thông hiện nay đối với các cơ quan báo chí trực thuộc Chính phủ
- Mặc dù xác định, báo chí là “một sản phẩm đặc biệt" nhưng nhiều
người đang làm báo trong các cơ quan báo chí thuộc Chính phủ vẫn chỉ
biết viết ra những gì mình có nên chưa thực sự đáp ứng đúng nhu cầu của
người mua (tức bạn đọc). Do đó, để thực hiện tốt nhiệm vụ của các cơ
quan báo chí thuộc Chính phủ trong việc cung cấp, định hướng thông tin;
tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước thì thực tế
đang buộc các nhà điều hành, các nhà báo phải tìm hiểu và có giải pháp
thích hợp đối với Xu hướng tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng
Việt Nam hiện nay.

- Đội ngũ nguồn nhân lực chưa kịp thích ứng với các phương thức
hoạt động truyền thông mới: còn tình trạng vừa thừa, vừa thiếu cán bộ:
thiếu những phóng viên, biên tập viên giỏi, thiếu cán bộ làm hiệu đính,
thiếu những nhà báo được coi là cây bút, tay máy giỏi. Cần xây dựng một
đội ngũ kinh doanh báo chí thực thụ, tức là biết kinh doanh, biết làm báo
chứ không chỉ biết viết báo
- Vấn đề bản quyền: Việc quản lý, xử lý vi phạm chưa chặt chẽ, quyết
liệt về vấn đề bản quyền đối với các trang thông tin điện tử Tổng hợp
trích dẫn không xin phép và "chế biến" với đủ loại tít gợi cảm, xúc động
và giật gân…khiến việc kinh doanh, hoạt động của các báo chính thống
ngày càng khó khăn.
- Tái cơ cấu các sản phẩm thông tin (kể cả ấn phẩm và các trang tin
điện tử, báo điện tử, tạp chí) để nâng cao hiệu quả thông tin tuyên truyền
và hoạt động kinh tế. Thu hẹp và tiến tới ngừng xuất bản những sản phẩm
thông tin không còn hiệu quả. Đẩy mạnh nghiên cứu phát triển các sản
phẩm thông tin mới phù hợp với yêu cầu đa dạng của công chúng. Đồng


thời, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, cơ chế chính sách được Chính
phủ hỗ trợ để tập trung phát triển sản phẩm báo chí mũi nhọn.
4. Đài Truyền hình Việt Nam đẩy mạnh chiến lược kinh doanh
nội dung số.
Tại Hội nghị cán bộ chủ chốt của Đài THVN tại Quảng Ninh diễn ra
vào đầu tháng 6/2017, một lần nữa vấn đề phát triển kinh doanh nội dung
số lại được đưa ra bàn thảo sôi nổi. Trên cơ sở phân tích của chuyên gia
nước ngoài cũng như ý kiến từ các đơn vị trong Đài đều cho thấy, với tầm
ảnh hưởng sâu rộng, có một kho nội dung phong phú, chất lượng và có
sức hút lớn đối với khán giả, việc phát triển kinh doanh nội dung số với
VTV là điều chắc chắn trong bối cảnh thị trường truyền thông, quảng cáo,
mạng xã hội đang phát triển như vũ bão hiện nay.

Tại Hội nghị, Tổng Giám đốc Trần Bình Minh đã nhấn mạnh, Đài
THVN sớm nhận thức về vấn đề này và chuyển động thực hiện cách đây
hơn hai năm. Việc ra đời VTV Digital với những bước thành công của
VTVGo là những ghi nhận bước đầu cho chủ trương phát triển sản xuất,
kinh doanh số của Đài tuy nhiên để đạt được như kỳ vọng vẫn còn nhiều
việc phải làm. Một trong những lý do dẫn đến sự phát triển chưa được
như mong muốn là do chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị, sự
coi trọng về phát triển, kinh doanh nội dung số ở mỗi đơn vị cũng không
giống nhau.
Xuất phát từ thực tiễn đó, để đưa ra những định hướng, chiến lược rõ
ràng, triển khai có hiệu quả nhiệm vụ phát triển nội dung, kinh doanh và
hạ tầng số của Đài THVN, ngay sau khi kết thúc Hội nghị tại Quảng
Ninh, Tổng Giám đốc đã ký Quyết định thành lập Ban chỉ đạo và Tổ công
tác về phát triển nội dung số của Đài THVN. Ban chỉ đạo ra đời có nhiệm
vụ thống nhất chỉ đạo, quyết định cơ chế chính sách của Đài nhằm phát


triển nội dung, kinh doanh và hạ tầng số phù hợp với định hướng và xu
hướng phát triển của thị trường số; đồng thời, đảm bảo về an toàn, an
ninh thông tin cũng như tuân thủ các quy định về bản quyền. Tổng Giám
đốc Trần Bình Minh đồng thời làm Trưởng ban chỉ đạo.
Hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo là Tổ công tác phát
triển nội dung số và làm việc theo nhóm. Tổ này có nhiệm vụ nghiên cứu,
cập nhật thông tin về xu thế cũng như tình hình phát triển của thị trường
nội dung, dịch vụ, công nghệ trong môi trường số, đề xuất, kiến nghị với
Ban chỉ đạo đối với từng mảng vấn đề cụ thể được phân công.
Sản xuất nội dung số được Đài xác định là nhiệm vụ bắt buộc phải
làm, thực hiện trong kế hoạch sản xuất và không làm tăng quỹ tiền lương,
chi phí sản xuất đã phân bổ. Việc thành lập Ban chỉ đạo cũng như Tổ
công tác sẽ xác định những nội dung chương trình nào kinh doanh được

trên môi trường số, thực hiện mang tính thí điểm ở một số đơn vị và
không làm một cách ồ ạt trong nửa cuối năm 2017 và năm 2018.
Cuộc họp đầu tiên của Ban chỉ đạo và tổ công tác về phát triển nội
dung số của Đài THVN cũng đã diễn ra vào trung tuần tháng 6 vừa qua.
Tại đây, nhiều ý kiến đề xuất về phát triển nội dung số đã được đưa ra. Để
nhiệm vụ này thực hiện một cách bài bản, có kế hoạch định hướng rõ
ràng, Tổng Giám đốc đã thống nhất cần thành lập các nhóm về phát triển
nội dung, hạ tầng và kinh doanh số của Đài THVN. Trong đó, ở mỗi
nhóm sẽ có các nhóm trưởng dẫn dắt. Họ là những người hiểu biết, có
tâm huyết về nội dung số.
Theo đó, Đài sẽ thành lập 06 nhóm bao gồm: Nhóm tin tức; Nhóm
phim, giải trí, thể thao và các chương trình chuyên biệt; Nhóm phát triển
hạ tầng số, truyền dẫn số và phân phối nội dung số; Nhóm phát triển
thương hiệu và cơ chế chính sách; Nhóm kinh doanh nội dung số và


Nhóm bảo vệ bản quyền. Ban chỉ đạo và các nhóm sẽ đưa ra kế hoạch,
mục tiêu hoạt động về kinh doanh nội dung số, lựa chọn các nhân sự phù
hợp để thực hiện nhiệm vụ được giao, đảm bảo tính hiệu quả cao nhất.
Tổng Giám đốc Trần Bình Minh khẳng định, đây là một cuộc cách mạng
từ nôi của truyền hình truyền thống. Chính công việc kinh doanh trên môi
trường số đã giúp vượt qua rào cản giữa các đơn vị trong Đài. Tất cả vì
mục tiêu phát triển bền vững VTV trên môi trường truyền hình truyền
thống, tận dụng thế mạnh kinh doanh nội dung trên môi trường số, gia
tăng thêm vị thế và uy tín của VTV.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cơ sở lý luận báo chí - PGS.TS Nguyễn Văn Dững. NXB Lao động,
2013.
2. Truyền thông, Lý thuyết và kỹ năng cơ bản - PGS. TS Nguyễn Văn

Dững (chủ biên) và TS. Đỗ Thị Thu Hằng. NXB Chính trị Quốc gia - Sự
thật, H: 2012.
3. Một số vấn đề về kinh tế báo in - Đinh Văn Hường - Bùi Chí Trung.
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015.
4. Xây dựng tập đòan truyền thông: Giải pháp chiến lược trong phát triển
nền báo chí Việt Nam - TS. Lê Hải. NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật.
HN-2013.
5. Giáo trình Tâm lí học báo chí - PGS.TS Đỗ Thị Thu Hằng. NXB Đại
học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2015.


×