Tải bản đầy đủ (.doc) (22 trang)

Tiểu luận khoa học quản lý

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (125.87 KB, 22 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con
người, xét từ phạm vi cá nhân, tập thể, xã hội đến quốc gia. Đây
cũng là một hoạt động có ý nghĩa quyết định mang tính chất sống
còn của các chủ thể quản lý tham dự vào các hoạt động kinh tế-xã hội và nhân loại. Quản lý đúng dẫn đến thành công, tồn tại, ổn
định và phát triển bền vững, ngược lại quản lý sai sẽ dẫn đến thất
bại, suy thoái, lệ thuộc, biến chất và đổ vỡ.
Khoa học quản lý là kết quả của cả một quá trình nhiều
năm tổng kết từ thực tiễn quản lý và không ngừng được bổ sung,
nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kinh tế – xã hội.
Đó là một ngành khoa học luôn luôn sáng tạo, được vận dụng phù
hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá của mỗi quốc gia qua
từng thời kỳ khác nhau. Đối với Việt Nam nền kinh tế đang trong
quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do bắt đầu từ điểm
xuất phát chậm, từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu và chịu
ảnh hưởng của các cuốc chiến tranh kéo dài. Vì thế Việt Nam cần
kế thừa có chọn lọc các thành tựu về khoa học quản lý mà loài
người đã đạt được, đồng thời tự mình tổng kết, rút kinh nghiệm
sáng tạo phương thức quản lý thích hợp. Dựa trên các nguyên tắc
quản lý, nhà quản lý cần vận dụng các nguyên tắc đó vào từng
thời điểm cụ thể sao cho hợp lý và đem lại hiệu quả. Qua nghiên
cứu môn khoa học quản lý, em muốn tìm hiểu thêm về các
nguyên tắc quản lý. Vì vậy em chọn đề tài “Một số vấn đề về tổ
chức, điều hành trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt
Nam hiện nay”.


Do thời gian em nghiên cứu chưa nhiều, chưa sâu, nên vẫn
còn những hạn chế và thiếu xót trong khi viết bài. Vì vậy, em rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp, nhận xét từ thầy cô để


em có thêm kinh nghiệm khi viết các bài tiểu luận khác và đặc
biệt giúp ích cho em khi viết Luận văn khoa học sau này.
Em xin chân thành cám ơn thầy cô.

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Nhận thức và vận dụng các quy luật trong quản lý là một
quá trình đi từ cái chung đến cái riêng, từ trừu tượng đến cụ thể
để đề ra các nguyên tắc của quản lý. Các nguyên tắc quản lý là
các quy tắc chuẩn mực, bắt buộc những người quản lý phải tuân
thủ trong quá trình quản lý. Các nguyên tắc quản lý do con người
định ra, vừa phản ánh các quy luật khách quan nhưng cũng mang
dấu ấn chủ quan của con người. Trong lịch sử hoạt động quản lý,
người ta đã đưa ra nhiều nguyên tắc quản lý và mỗi lĩnh vực hoạt
động lại có những nguyên tắc quản lý đặc thù.
Để vận dụng các nguyên tắc trong quản lý vào thực tiễn
đòi hỏi người quản lý phải nắm vững nội dung và thực chất của
nguyên tắc, nắm vững sự diễn biến của đối tượng quản lý, từ đó
mà sáng tạo những hình thức và biện pháp thích hợp để tác động
vào đối tượng quản lý, nhằm Thống nhất tư tưởng, thống nhất
lợi ích để thống nhất hành động, đó chính là nguyên tắc tập
trung dân chủ, và nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích trong
khoa học quản lý.
1. Nguyên tắc tập trung dân chủ:


1. 1. Khái niệm:
Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản
của quản lý, phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng
quản lý cũng như yêu cầu và mục tiêu của quản lý.
Nguyên tắc tập trung dân chủ đảm bảo mối quan hệ chặt

chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ, càng mở rộng dân chủ thì
yêu cầu tập trung thống nhất càng cao, khắc phục tình trạng dân
chủ quá mức đưa đến tự do vô chính phủ cũng như tập trung quá
mức dẫn đến chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Tập trung phải
trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải được thực hiện trong khuôn khổ
tập trung. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong quản lý, nó
có tính khách quan, phổ quát song thực hiện không đơn giản, phụ
thuộc vào bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và phong cách của người
quản lý.
1.2 Sự cần thiết khách quan vận dụng nguyên tắc
tập trung dân chủ.
Cơ sở hình thành của nguyên tắc tập trung dân chủ là xuất
phát từ yêu cầu đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của hệ thống
quản lý. Trong thực tiễn, khi người quản lý thực hiện mô hình phi
dân chủ thì sẽ dẫn đến hệ thống chuyên quyền, độc đoán, quan
liêu. Nếu thực hiện hệ thống phi tập trung thì sẽ dẫn đến sự rối
loạn trong hệ thống, tình trạng tự phát, hỗn loạn, tự do vô chính
phủ làm cho hoạt động của hệ thống quản lý cũng không có hiệu
quả.
Cơ sở hình thành nguyên tắc tập trung dân chủ đó là khách
quan; thứ nhất, xuất phát từ vai trò và vị trí của Nhà nước trong


quản lý, từ sự phát triển của trình độ lực lượng sản xuất và tương
ứng với nó là trình độ phân công lao động và hợp tác lao động. Tại
sao phải vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ : dân chủ là
khuyến khích sự tham gia, bởi ngày nay

thế giới biến đổi rất


nhanh, rất nhiều thông tin, sự kiện, tình huống mới phát sinh mà
nhà lãnh đạo không thể biết hết mọi cái, giải quyết hết mọi việc,
do đó phải có sự tham gia đóng góp ý kiến của mọi người; Thứ hai
xuất phát từ nhu cầu đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của hệ
thống quản lý, điều này diễn ra bởi nền kinh tế nhiều thành phần,
có sự phân công lao động cao, nảy sinh ra yêu cầu phải tổ chức
hợp tác trong lao động bảo đảm cho mọi cá nhân, mỗi doanh
nghiệp có tính tự chủ động trong sản xuất kinh doanh, nhằm phát
huy nhân tố tối cao : khả năng, tính năng động sáng tạo trong
thực hiện mọi công việc. Trong quá trình hợp tác lao động đó phải
có tính dân chủ, tuy nhiên mọi hoạt động trong hệ thống đều phải
đảm bảo hướng đến mục tiêu chung nhất mà Đảng ta xác định
nhằm bảo đảm sự ổn định trong quá trình đi đến mục tiêu, tránh
sai lệch định hướng xã hội chủ nghĩa, do đó đòi hỏi vừa phải có
dân chủ.
Nguyên tắc tập trung dân chủ còn xuất phát từ vai trò và
địa vị của nhà nước trong quản lý. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa,
dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, chính bản
thân nó định ra yêu cầu phải quản lý tập trung trong nền kinh tế,
vì những tư liệu sản xuất chủ yếu nằm trong tay nhà nước nên yêu
cầu phải được nhà nước quản lý tập trung mới phát huy được tác
dụng, hiệu quả.


Mặt khác, chế độ công hữu cũng nảy sinh yêu cầu dân chủ
trong quản lý. Vì nhà nước quản lý, nhưng trao quyền sử dụng
những

tư liệu sản xuất chủ yếu đó cho các ngành, các địa


phương, đơn vị nên đòi hỏi phải dân chủ để các ngành, các địa
phương, các đơn vị đó phát huy được tính năng động sáng tạo,
khai thác có hiệu quả các cơ sở hình thành.
Nguyên tắc tập trung dân chủ còn do sự phát triển của lực
lượng sản xuất mang tính chất xã hội hóa, phải huy động rộng rãi
các nguồn tiềm năng và nguồn lực trong nền kinh tế quốc dân,
nên vừa phải có tập trung để tránh mọi thất thoát, lãng phí, vừa
phải có tính dân chủ để huy động được mức tối đa.
1.3. Nội dung và yêu cầu của tập trung dân chủ :
Như vậy, từ cơ sở khách quan của việc hình thành nguyên
tắc tập trung dân chủ, khi thực hiện nguyên tắc này chúng ta phải
đảm bảo các yêu cầu và nội dung sau:
Cần phải đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ giữa tập trung và
dân chủ trong quản lý, tức là đảm bảo sự kết hợp giữa nội dung
lãnh đạo, thống nhất của cơ quan quản lý với tính chủ động sáng
tạo của đối tượng quản lý, cơ sở, của tập thể người lao động trong
hệ thống, nhằm đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong hoạt
động của hệ thống tổ chức quản lý. Yếu tố dân chủ là để phát huy
hiệu quả cao nhất trong quá trình phát triển cho nên phải kết hợp
nhuần nhuyễn cả hai yếu tố trên trong quản lý, thông qua sự kết
hợp đó đảm bảo sự thống nhất ý chí, thống nhất tư tưởng
để thống nhất hành động trong hệ thống quản nhằm đạt hiệu
quả cao. Đó là mục tiêu cao nhất trong quá trình quản lý.


Về bản chất thì tập trung và dân chủ là 2 xu hướng diễn ra
đồng thời cùng 1 lúc. Tập trung dân chủ là 1 nguyên tắc thống
nhất chứ không phải là sự kết hợp, sự điều hòa giữa tập trung và
dân chủ; không phải sự tập trung càng cao thì dân chủ càng giảm
và ngược lại.

Trong nguyên tắc thống nhất này, tập trung và dân chủ tác
động cùng chiều, theo tỷ lệ thuận, đòi hỏi phải đảm bảo lẫn nhau.
Xu hướng tập trung được biểu hiện ở 2 nội dung : thứ nhất,
tập trung là sự thống nhất về tư tưởng và hành động của tất cả
các thành viên trong hệ thống; thứ hai đó là sự tập trung quyền
lực để giải quyết các công việc phát sinh trong hệ thống, tức là
phải có đủ quyền lực để giải quyết mọi vấn đề có sự lãnh đạo,
quản lý, điều hành thông suốt. Do đó tập trung là một xu hướng
cần thiết.
Về xu hướng dân chủ thì hiện nay có hai quan điểm khác
nhau về dân chủ. Quan điểm thứ nhất là: Dân chủ là quyền và
trình độ dân chủ tương ứng với quyền lực của đối tượng quản lý.
Nếu hiểu theo quan điểm này dễ dẫn tới tình trạng dân chủ quá đà
tự phát, tự do vô chính phủ;Quan điểm thứ hai coi dân chủ là môi
trường, là điều kiện để phát triển của mỗi cá nhân. Như vậy, dân
chủ là môi trường, là điều kiện để phát triển của mỗi cá nhân có
được những cơ hội phát triển hoàn thiện trong sự phát triển của xã
hội, của cộng đồng. Tùy thuộc khả năng và mức độ ảnh hưởng của
các cá nhân tới quyết định chung của cộng đồng, tới việc giải
quyết công việc chung mà có thể thấy một xã hội dân chủ đến
mức nào.


Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ có ý nghĩa
quan trọng, là cơ sở để xây dựng mô hình tổ chức quản lý còn gọi
là nguyên tắc phân công, phân cấp, đồng thời còn là cơ sở để xây
dựng cơ chế quản lý kinh tế .
Để vận dụng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân
chủ cần có 2 điều kiện về nhận thức và thực tiễn:
Về mặt nhận thức thì cần phải nhận thức đúng vai trò của

tập trung và vai trò của dân chủ trong quan hệ tập trung - dân
chủ. Trong quan hệ tập trung dân chủ thì tập trung bao giờ cũng
giữ vai trò chủ đạo, nó định hướng cho các biện pháp dân chủ
nhằm để đảm bảo sự tồn tại và tạo ra khả năng phát triển của hệ
thống. Mất đi sự tập trung là mất đi sự thống nhất trong hoạt động
của hệ thống dẫn tới tình trạng tổ chức sẽ bị biến dạng. Ngoài ra,
tập trung còn là cơ sở định hướng để giải quyết các nội dung, biện
pháp thực hiện dân chủ; còn dân chủ thì có vai trò tạo cơ sở về xã
hội, kinh tế, chính trị để thực hiện tốt tập trung trong quản lý.
Chính về mặt này các nhà quản lý mới tạo ra được sự thống nhất
về tư tưởng, ý chí và hành động nhằm đảm bảo tốt cho yêu cầu
tập trung trong quản lý. Ngược lại dân chủ cũng có vai trò tạo cơ
sở cho xã hội, kinh tế chính trị để thực hiện tốt tập trung trong
quản lý, thông qua các giải pháp dân chủ mà các nhà quản lý thực
hiện được sự thống nhất trong quản lý một cách tốt nhất. Như vậy,
các biện pháp dân chủ nhằm bảo đảm cho sự lãnh đạo tập trung,
càng mở rộng dân chủ thì yêu cầu tập trung thống nhất càng cao.
Tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải được thực
hiện trong khuôn khổ tập trung. Đây là nguyên tắc rất quan trọng
của quản lý, nó có tính khách quan, phổ quát, song thực hiện


không đơn giản, phụ thuộc vào bản lĩnh, phẩm chất đạo đức và
phong cách của người quản lý.
Về mặt thực tiễn, chúng ta cần phải sử dụng kết hợp,
những công cụ, những biện pháp thực hiện tập trung dân chủ
trong quản lý. Để đảm bảo yêu cầu tập trung trong quản lý cần có
những công cụ sử dụng như: Luật, chính sách, chế độ, quy chế.
Nhà nước sử dụng các hệ thống chiến lược, kế hoạch, chương trình
phát triển…và sử dụng một công cụ nữa đó là chế độ một người

chỉ huy (còn gọi là chế độ thủ trưởng). Đồng thời để đảm bảo yêu
cầu dân chủ, các nhà quản lý phải sử dụng các giải pháp như: chế
độ tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các chế
độ, các hình thức đảm bảo quyền tham gia quản lý của chủ thể
người lao động.
Thực trạng đất nước ta hiện nay đòi hỏi phải bảo đảm sự
lãnh đạo tập trung của nhà nước được thể hiện chức năng quản lý
bằng những công cụ như: sử dụng hệ thống pháp luật, chiến lược,
chương trình, kế hoạch, các chính sách, chế độ quản lý và áp dụng
chế độ một người chỉ huy để đảm bảo định hướng xã hội chủ
nghĩa của một nền kinh tế chứ không can thiệp sâu vào vai trò của
dân chủ trong quan hệ tập trung dân chủ. Tập trung chính là sự
thống nhất, tập trung là cơ sở để định ra giải pháp và nội dung
dân chủ trong quản lý, tập trung còn là nền tảng pháp lý cho nội
dung dân chủ, định ra những khuôn khổ, những giới hạn cần thiết
để đảm bảo dân chủ đúng hướng, bản chất quyền tập trung dân
chủ xã hội chủ nghĩa
Từ sự phân tích trên cho thấy nhà quản lý phải đảm bảo
cho bằng được sự kết hợp giữa các công cụ của tập trung và các


giải pháp của dân chủ; nếu không kết hợp đồng bộ thì việc thực
hiện nguyên tắc trên trở nên vô nghĩa.
2. Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích:
2.1. Khái niệm:
Quản lý, suy cho cùng là quản lý con người nhằm phát huy
tính tích cực lao động sáng tạo của người lao động. Con người có
những nhu cầu và lợi ích nhất định. Lợi ích vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy mọi hoạt động của con người. Do vậy trong
quản lý phải chú ý đến lợi ích của con người, đảm bảo sự kết hợp

hài hòa các lợi ích, trong đó lợi ích của người lao động là động lực
trực tiếp, đồng thời chú ý đến lợi ích của tổ chức và của xã hội.
2.2 Nội dung nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích.
Kết hợp hài hòa các lợi ích có liên quan đến hoạt động của
tổ chức trên cơ sở đòi hỏi của các quy luật khách quan để tạo ra
động lực thúc đẩy hoạt động của con người nhằm đạt được mục
tiêu của tổ chức.
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta
hiện nay có nhiều lợi ích cần được thỏa mãn như: Lợi ích cá nhân,
tập thể, xã hội....Do vậy việc kết hợp hài hòa các lợi ích phải được
xem xét và đề ra ngay từ khi xây dựng các chiến lược quy hoạch,
kế hoạch kinh tế - xã hội trong quá trình quản lý đến khâu phân
phối và tiêu dùng. Quan điểm lợi ích kinh tế là quan điểm về mục
tiêu, quan điểm định hướng cơ bản, quan điểm của quản lý tổ
chức. Chính vì vậy để giải quyết tốt các mối quan hệ lợi ích trong
quản lý tổ chức sẽ đảm bảo cho tổ chức hoạt động có hiệu quả,
đạt được mục tiêu đề ra. Nếu xử lý các mối quan hệ lợi ích không


tốt sẽ dẫn đến những mâu thuẫn xung đột làm giảm hiệu quả kinh
tế - xã hội, thậm chí gây ra những thiệt hại to lớn.
Trong lĩnh vực kinh tế: Nguyên tắc kết hợp các lợi ích kinh
tế là quyền lợi được hưởng thụ của người lao động, tập thể đơn vị
sau khi đã hoàn thành kế hoạch và nghĩa vụ đối với nhà nước. Nó
không chỉ được thể hiện bằng giá trị vật chất, mà cả các giá trị
tinh thần, văn hóa, xã hội.
Lợi ích kinh tế cá nhân: Thể hiện cụ thể bằng các khỏan
thu nhập bằng tiền, quyền lợi về nhà ở, chữa bệnh, quyền nghỉ
ngơi, giải trí, quyền được học tập… Những lợi ích đó không chỉ đáp
ứng nhu cầu riêng cho bản thân mà cho cả gia đình họ và tái tạo

sức lao động.
Lợi ích tập thể Lợi ích của doanh nghiệp: lợi ích được hưởng
của tập thể những người lao động như chế độ thù lao cho lao động
tại doanh nghiệp, các chế độ cung ứng bảo đảm cho việc tái sản
xuất mở rộng tùy thuộc vào tính chất và vị trí của công nghiệp
trong nền sản xuất xã hội.
+ Lợi ích chung của ngành sản xuất, kinh doanh: Lợi ích
của từng ngành phải đảm bảo đầy đủ điều kiện kinh tế - kỹ thuật,
văn hóa - xã hội cho ngành phát triển đúng với vị trí của ngành
sản xuất - xã hội.
+ Lợi ích từng địa phương: đòi hỏi cần được tạo điều kiện
để họ phát huy tốt mặt mạnh, sớm khắc phục trình độ yếu kém,
tạo điều kiện để họ phát huy tốt mặt mạnh, sớm khắc phụ trình độ
yếu kém, tiến tới xóa đi sự cách biệt, chênh lệch về mọi mặt giữa
các địa phương, đưa nền kinh tế cả nước cùng phát triển.


Lợi ích toàn xã hội: Bao gồm các nguồn lực đáp ứng
nguyện vọng và nhu cầu chung toàn xã hội mà mọi người, mọi
ngành, mọi địa phương đều được hưởng và đều có nghĩa vụ thực
hiện như: quốc phòng, an ninh, kinh tế - kỹ thuật, văn hóa, giáo
dục... phục vụ cho toàn xã hội. Việc kết hợp giữa các lợi ích là thỏa
mãn đồng thời các lợi ích theo đúng nhu cầu, bảo đảm cho các lợi
ích không đối lập nhau, cũng có tác dụng hỗ trợ, thúc đẩy nhau
phát triển. Và kết hợp các lợi ích kinh tế có vị trí quan trọng trong
quản lý vì nó đáp ứng các đòi hỏi cụ thể về quyền lợi. Kết hợp hài
hòa các lợi ích kinh tế, nhằm khắc phục những hạn chế nảy sinh,
trước hết, phải giải quyết đúng đắn các lợi ích, xác định vị trí quan
tọng của từng lợi ích trong toàn xã hội
Để thực hiện tốt nguyên tắc này cần chú ý những vấn đề

sau:
Thứ nhất: trong quản lý tổ chức phải quan tâm đến người
lao động là lực lượng trực tiếp tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ
cung cấp cho xã hội. Lợi ích cá nhân của người lao động là động
lực trực tiếp thúc đẩy họ làm việc. Bởi vậy cơ chế, chính sách quản
lý nhằm vào việc đem lại lợi ích vật chất cho người lao động. Đó là
đem lại những khoản tiền lương, thưởng, phúc lợi tập thể và phúc
lợi xã hội mà họ được hưởng. Đồng thời đáp ứng nhu cầu ngày
càng cao về học tập, chữa bệnh và phát triển toàn diện của người
lao động.
Thứ hai: Cùng với việc quan tâm đến lợi ích của người lao
động phải chăm lo đến lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Nếu chỉ
quan tâm đến lợi ích của người lao động mà sao nhãng lợi ích tập
thể, lợi ích xã hội thì chủ nghĩa cá nhân sẽ phát triển, thậm chí


dẫn đến tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi ở một số người có chức
có quyền. Hơn nữa lợi ích cá nhân cũng không thể bền vững nếu
không chăm lo đến lợi ích tập thể, lợi ích xã hội.
Thứ ba: Phải coi trọng cả lợi ích vật chất lẫn tinh thần của
người lao động và tập thể. Trong khi lao động còn là một hoạt
động bắt buộc đối với con người thì vấn đề khuyến khích lợi ích
vật chất đối với người lao động phải đặt lên trên vị trí ưu tiên thỏa
đáng. Tuy nhiên bên cạnh đó phải chú ý khuyến khích tinh thần
thông qua các phương pháp tâm lý động viên, giáo dục tư tưởng,
đạo đức...
Khuyến khích lợi ích tinh thần thực chất là sự đánh giá của
tập thể, xã hội đối với sự cống hiến của mỗi người, là sự khẳng
định vị trí của họ trong cộng đồng. Đây là một động lực mạnh mẽ
thúc đẩy người lao động, làm việc một các tích cực và có hiệu quả

cao.
Những hình thức và biện pháp chủ yếu để thực hiện
nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích trong quản lý kinh tế ở Việt
Nam.
Thực hiện đường lối phát triển kinh tế đúng đắn dựa trên
cơ sở vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với điều kiện
kinh tế - xã hội của đất nước.
Xây dựng và thực hiện các quy hoạch và kế hoạch chuẩn
xác, quy tụ được lợi ích của cả hệ thống.
Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán kinh tế và vận dụng
đúng đắn các đòn bẩy kinh tế, tiền lương, thưởng, tài chính, tín
dụng, giá cả.


Kết hợp hài hòa các lợi ích: Sẽ không có sự thống nhất giữa
mục đích, hành động nếu không có sự thống nhất về lợi ích và nhu
cầu. Có nhiều loại lợi ích cần được thỏa mãn. Nhưng cần kết hợp
hài hòa giữa các lợi ích để đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý
đặt ra.
II. THỰC HIỆN ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC TẬP
TRUNG DÂN CHỦ, KẾT HỢP HÀI HÒA CÁC LỢI ÍCH ĐỐI VỚI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) nền kinh tế Việt Nam
chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị
trường. Sau gần 30 năm đổi mới các yếu tố cấu thành cơ bản của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã
được tạo lập và đi vào hoạt động, từng bước hoàn thiện. Những
thành tựu đổi mới về kinh tế cùng với đổi mới về chính trị đã tạo
nên bầu không khí dân chủ mới trong xã hội, tạo nên động lực
mới, đưa đất nước không chỉ thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội mà còn vươn lên nhóm nước có mức thu nhập trung bình,

làm thay đổi căn bản diện mạo kinh tế - xã hội của đất nước.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc quản lý nền kinh
tế của Việt Nam còn gặp không ít khó khăn, trở ngại và cả thiếu
sót. Do còn có những rào cản trong cả tư tưởng, nhận thức, cơ
chế, chính sách và tổ chức thực hiện. Những hạn chế yếu kém
trong việc quản lý kinh tế biểu hiện ở chỗ chưa đảm bảo thực hiện
đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, bóp méo tập trung biến tập
trung thành quyền lực chuyên quyền, độc đoán, quan liêu (lợi
dụng chức vụ quyền hạn) dẫn đến tham nhũng, xảy ra ở hầu hết
các lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành. tính chất tham nhũng ngày


càng phức tạp, thủ đoạn tinh vi, phạm vi, lĩnh vực tham nhũng
ngày càng rộng, tính có tổ chức của các vụ việc, vụ án tham
nhũng ngày càng rõ nét, mức độ tham nhũng lớn, một số vụ án
tham nhũng gây hậu quả rất nghiêm trọng, làm thất thoát một
lượng lớn tài sản của Nhà nước khiến dư luận xã hội đặc biệt quan
tâm. Điển hình gần đây cho tình trạng tập trung mà thiếu dân chủ
là vụ án bán quota ở Bộ Thương mại trong quá trình thực hiện việc
phân bổ quota dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ, một số cán bộ,
lãnh đạo của Bộ Thương mại lợi dụng cơ chế xin - cho, đã có hành
vi nhận hối lộ của các doanh nghiệp để xét cấp quota xuất khẩu.
Trong đó nổi lên là “thầy trò” Mai Văn Dâu, nguyên Thứ trưởng
Thường trực Bộ Thương mại và Lê Văn Thắng, nguyên Vụ phó Vụ
Xuất nhập khẩu Bộ Thương mại. Scandal cán bộ cao cấp Thanh tra
Nhà nước nhận hối lộ, ung nhọt tham nhũng ở PMU18, nay lại Tập
đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin, Công ty hàng hải
Việt Nam Vinalines và các khoản chi tiền Nhà nước “hào phóng”
vô tội vạ v.v. Sức mạnh kinh tế một khi liên kết với quyền lực để
hình thành lợi ích nhóm sẽ dẫn đến tham nhũng trong chính trị,

chi phối chính sách. Đây mới chính là điều lo ngại nhất đối với sự
tồn vong của kinh tế - xã hội, chính trị, của đất nước.
Tình hình kinh tế - xã hội trong nước còn có nhiều khó
khăn, vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố tiêu cực, nguy cơ phát sinh tham
nhũng. Đáng chú ý nguy cơ phát sinh tham nhũng trong quá trình
triển khai thực hiện một số chủ trương, chính sách lớn như: Đẩy
mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước, nhất là các doanh
nghiệp đang quản lý, sử dụng một số tài sản khó định giá như tài
nguyên, khoáng sản, hạ tầng viễn thông, hạ tầng kỹ thuật lớn;


việc thoái vốn đầu tư ngoài lĩnh vực kinh doanh chính của các tập
đoàn kinh tế, tổng công ty Nhà nước; vấn đề xử lý nợ xấu và hoạt
động tín dụng của một số tổ chức tín dụng và ngân hàng thương
mại; vấn đề hoàn thuế VAT...
Do xem nhẹ dân chủ sẽ dẫn dến tập trung quan liêu, thống
nhất cứng nhắc vi phạm dân chủ, xuất hiện hàng loạt sai lầm như:
gia trưởng, độc đoán, sùng bái cá nhân, cá nhân trùm lên tập thể,
có nơi có lúc rất nghiệm trọng. Trong kinh tế thì nhấn mạnh một
chiều tập trung thống nhất, coi nhẹ dân chủ; nhấn mạnh một
chiều tính kế hoạch, coi nhẹ cơ chế thị trường; nhấn mạnh một
chiều quan hệ dọc, coi nhẹ quan hệ ngang…. làm hạn chế tính đa
dạng, phong phú, sáng tạo của các thành phần kinh tế.
Trong các nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí, tham
nhũng phần nhiều ở lĩnh vực đầu tư công, do đầu tư dàn trải, lãng
phí lớn nhất là do chủ trương đầu tư không đúng, không hiệu quả.
Đặc biệt là đầu tư cho xây dựng cơ bản rất lãng phí và tổn thất
vốn đầu tư của Nhà nước, không những thất thoát trước mắt mà
còn có hậu quả về sau mà chúng gây nên như giảm sút chất lượng
công trình ảnh hưởng đến tuổi thọ của công trình so với thiết kế.

Thực trạng dàn trải trong đầu tư công (phải chăng trong
thực thi chính sách thiếu đi sự tập trung?!) vì do phân vùng các
địa phương, từng tỉnh, mạnh ai nấy xin, mạnh ai nấy chi, nên các
cảng biển, sân bay, sân golf đua nhau mọc lên. Các tỉnh tự chi
ngân sách mà không chịu liên kết lại, nên trong 1 vùng kinh tế, có
tỉnh rất mạnh, có tỉnh lại rất yếu, (thiếu sự liên kết vùng). Cùng
với đó, tình trạng nhiều công trình sử dụng vốn ODA có hiện tượng
đội vốn, mà câu chuyên đình đám nhất mới xảy ra là tuyến đường


sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông bị đội vốn là 1 ví dụ (vi phạm dân
chủ).
Tất cả những vụ bê bối, tham nhũng gây thất thoát tài sản
của Nhà nước đều có một đặc điểm chung là quyền lực tập trung
vào tay một vài cá nhân, phe cánh, mà thiếu dân chủ, mất dân
chủ trầm trọng .
Trong quản lý nhà nước về kinh tế, nếu không có sự thống
nhất về lợi ích sẽ khiến các chủ thể quản lý cũng như đối tượng
quản lý không có động lực thúc đẩy để đạt mục tiêu, ( giống như
thuyền không có gió), nhưng các lợi ích không được kết hợp hài
hòa sẽ dẫn đến sự rối loạn, phá vỡ tổ chức, làm đảo lộn xã hội, đất
nước có nguy cơ rối loạn.
Đề cao lợi ích cá nhân không quan tâm đến lợi ích tập thể,
lợi ích xã hội. Liên kết các lợi ích cá nhân tạo thành Lợi ích nhóm.
Lợi ích nhóm, từ lâu không xa lạ với xã hội, có lợi ích nhóm
tích cực và lợi ích nhóm tiêu cực. Lợi ích nhóm tích cực là lợi ích
chính đáng, hợp pháp của một nhóm người. Việc hình thành nó là
nhu cầu khách quan, chính đáng, tự nhiên trong xã hội tồn tại
nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp, nhiều nhóm người với những đặc
điểm, hoàn cảnh khác nhau. Trong khi, lợi ích nhóm tiêu cực là “lợi

ích” mà nhóm thu được nhằm vào các “tình huống” hay “phi vụ”
nhạy cảm, không lành mạnh, mờ ám, thiếu minh bạch.
Trong quản lý nhà nước về kinh tế ở Việt nam có sự đổi
mới tư duy và hành động, cung cách quản lý. Từ chỗ coi nhẹ lợi
ích con người, xóa nhòa bản ngã cá nhân, thiếu vắng hẳn sự quản
lý chặt chẽ, khoa học, lại thừa cung cách quản lý lỏng lẻo, trôi nổi,


cùng sự bám giữ nặng nề cung cách quản lý xin- cho, khiến cho
kinh tế thị trường hiện nay phát triển lộn xộn, rối loạn các giá
trị.lợi ích nhóm- bản chất là lợi ích cá nhân của một nhóm người
liên kết với nhau- làm những điều phi pháp, thiếu minh bạch, lợi
dụng cách quản lý tùy tiện để trục lợi, vơ vét của chung, xâm hại
lợi ích Nhà nước. Họ cấu kết với nhau, hình thành những cái “vòi
bạch tuộc”, bám chắc vào những khe hở quản lý, khe hở luật pháp
để làm giàu bất chính, và như một quy luật, càng nhiều lợi ích
nhóm bao nhiêu, kinh tế xã hội càng bất an, kém hiệu quả bấy
nhiêu. Lợi ích nhóm càng giàu lên bao nhiêu, kinh tế xã hội càng
nghèo đi bấy nhiêu, bất ổn bấy nhiêu.
Một trong những tư duy quản lý kinh tế đã thay đổi đó là
cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu DNNN,
chuyển đổi mô hình doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ
phần. Nhưng trong quá trình thực thi còn chậm chễ so với tiến độ
vì nguyên nhân quan trọng lại đang nằm trong chính giới chức
quản lý DNNN đó là sự níu kéo, không muốn CPH. Nguyên nhân có
thể quá trình đó làm mất đi vị thế của nhóm người, của cá nhân
nào đó đang gắn chặt với hiện trạng cần tiếp tục duy trì, hoặc
muốn kéo dài thêm sự tồn tại. Bởi lý do đơn giản là cải cách làm
cho lợi ích của một số nhóm nhỏ có quyền lực đang có khả năng
thao túng chính sách bị xâm hại, thậm chí không còn môi trường

để tồn tại.
Thực tế lợi ích nhóm đang diễn ra phổ biến ở nhiều cấp,
nhiều ngành, nhiều địa phương. Đó là, các quan chức lợi dụng
chức vụ, quyền hạn của mình để móc nối, thông đồng với nhau để
lách luật, hay vi phạm luật nhằm tham nhũng. Cụ thể như dùng


của công để biếu xén lẫn nhau, sử dụng các biện pháp để chuyển
tài sản nhà nước, tập thể sang cho cá nhân. Dùng mọi thủ đoạn để
tham nhũng công quỹ. Lợi ích nhóm còn thể hiện ở sự móc ngoặc
giữa một số quan chức nhà nước với các đại gia, doanh nghiệp để
hợp thức hóa việc ăn cắp, tham nhũng của công, làm giàu cho các
cá nhân hay một nhóm; sự móc nối giữa các doanh nghiệp với
nhau và với các quan chức có quyền, có chức để dành những gói
thầu, những khoản ưu đãi từ tiền công quỹ; chạy chức, chạy
quyền; sự thông đồng của một nhóm người để mưu cầu có việc
làm, có chức, có quyền bằng cách mua bán, đút lót, hối lộ.
Một trong những biểu hiện của lợi ích nhóm lớn nhất và
trầm trọng nhất đó là những hoạt động rửa tiền qua hệ thống
ngân hàng, những hoạt động của các đại gia ngân hàng trong việc
câu kết lũng đoạn thị trường tiền tệ. Thực tế hiện nay, lợi ích
nhóm đã thành căn bệnh bùng phát khá trầm trọng trong hoạt
động kinh tế .
III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT NGUYÊN TẮC TẬP
TRUNG DÂN CHỦ, KẾT HỢP HÀI HÒA CÁC LỢI ÍCH ĐỐI VỚI
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Một là: Nâng cao nhận thức trách nhiệm cho các chủ thể
quản lý, cũng như đối tượng quản lý nắm rõ về nội dung, bản chất
nguyên tắc tập trung dân chủ. Khi có nhận thức đúng mới có cơ
sở để vận dụng thực hiện nguyên tắc tắc tập trung dân chủ có

hiệu quả, không chệch hướng. Tập trung và dân chủ là hai thành
tố cấu thành một chỉnh thể thống nhất của nguyên tắc. Hai thành
tố này ràng buộc, chế ước lẫn nhau, tập trung phải dựa trên cái
nền dân chủ và dân chủ phải dưới sự chỉ đạo của tập trung, dân


chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Dân chủ càng được tăng
cường thì càng có sự thống nhất tập trung cao. Tuyệt đối hóa,
nhấn mạnh một yếu tố nào đều không đúng, trái với bản chất của
nguyên tắc tắc tập trung dân chủ.
Hai là: Nhà quản lý (chủ thể quản lý) cần đảm bảo sự kết
hợp giữa các công cụ của tập trung và các giải pháp của dân chủ;
Để đảm bảo yêu cầu tập trung trong quản lý cần có những công
cụ sử dụng như: Luật, chính sách, chế độ, quy chế. Nhà nước sử
dụng các hệ thống chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển…
và sử dụng một công cụ nữa đó là chế độ một người chỉ huy (còn
gọi là chế độ thủ trưởng). Đồng thời để đảm bảo yêu cầu dân chủ,
các nhà quản lý phải sử dụng các giải pháp như: chế độ tự chủ
trong hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện các chế độ, các
hình thức đảm bảo quyền tham gia quản lý của chủ thể người lao
động.
Ba là: Đảm bảo việc phân cấp quản lý, tránh tình trạng
chồng chéo về nhiệm vụ và thẩm quyền, gắn trách nhiệm, quyền
hạn khi giao nhiệm vụ.
Bốn là: Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ
cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm
quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ để
làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chống tập trung quan
liêu, khắc phục dân chủ hình thức.
Trong quản lý kinh tế: Thực hiện chế độ tự chủ trong sản

xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; thực hiện các chế độ phân
công, phân cấp trong quản lý; thực hiện các hình thức để bảo đảm
tập thể người lao động tham gia quản lý.


Năm là: Như phần thực trạng nêu trên, do bóp méo nguyên
tắc tập trung dân chủ và không thực hiện đúng nguyên tắc kết
hợp hài hòa các lợi ích dẫn đến chuyên quyền, quan liêu, độc
đoán, tham nhũng và lợi ích nhóm. Để ngăn chặn tình trạng trên
phải đẩy mạnh công khai hóa, minh bạch hóa các hoạt động của
các bộ máy công quyền. Bởi lẽ, nếu trong hoạt động của bộ máy
công quyền còn nhiều điểm tối, không rõ ràng, thì lợi ích nhóm
còn có cơ hội hình thành. Do vậy, công khai, minh bạch các hoạt
động của bộ máy công quyền là một trong những giải pháp làm
cho lợi ích nhóm ít có cơ hội hình thành, phát triển.
Sáu là: Phát huy vai trò giám sát của cộng đồng và xã hội,
phát hiện những dấu hiệu bất thường nhằm ngăn chặn sự hình
thành lợi ích nhóm, tham nhũng.
Bảy là: Có chế tài đủ mạnh để xử lý vi phạm nguyên tắc
trên bằng việc cụ thể hóa thành các văn bản quy phạm pháp luật.

IV. KẾT LUẬN.
Tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa các lợi ích là những
nguyên tắc quản lý khoa học, nhưng việc thực hiện đúng đắn nội
dung của nguyên tắc này là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và vô
cùng quan trọng. Chỉ khi nào chúng ta kết hợp được sự tập trung
dân chủ, các lợi ích cá nhân, tập thể, xã hội một cách hài hoà thì
mới phát huy được hết vai trò của các nguyên tắc này. Việc tìm
hiểu nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa các lợi ích



có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng quan trọng đối với công tác
quản lý nhà nước về kinh tế ở nước ta hiện nay. Buông lỏng sự
lãnh đạo tập trung vừa mở đường cho sự tự do vô kỷ luật, vừa đẩy
dân chủ đến chỗ mất phương hướng và vô giá trị. Các lợi ích
không được kết hợp hài hòa dẫn đến lợi ích nhóm tiêu cực làm
ảnh hưởng đến nền kinh tế, mất trật tự, rối loạn trong xã hội.
Vì vậy. Hơn bao giờ hết, những nhà quản lý và các đối
tượng quản lý cần sớm nhận thức được vai trò quan trọng của các
nguyên tắc này trong lĩnh vực hoạt động của mình nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu quả để đạt được mục tiêu đặt ra, góp phần
xây dựng và phát triển đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Khoa học quản lý - NXB Chính trị quốc gia
năm


2. Giáo trình cơ sở khoa học của quản lý – NXB Chính trị
quốc gia năm 1997.
3. Các webside của Tạp chí kinh tế , Thời báo Kinh tế Việt
Nam.....



×