Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Bài tập lớn HIẾN PHÁP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (125.3 KB, 12 trang )

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. QUYỀN CON NGƯỜI
1. Khái lược về quyền con người
2. Lý luận về quyền con người với môi trường
3. Quyền con người liên quan đến sự việc trên
II. QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
1.
2.

Khái lược quyền công dân
Quyền công dân liên quan đến sự việc trên

III. TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

2
3
3
3
4
4
5
5
6
7
10
11



1


MỞ ĐẦU
Nước là yếu tố sinh thái không thể thiếu đối với sự sống và là nguồn tài
nguyên có khả năng tái tạo vô cùng quý giá đối với con người. Tất cả sự sống trên
Trái Đất đều phụ thuộc vào nước và vòng tuần hoàn của nước. Nước ảnh hưởng
đến khí hậu, thời tiết hay trong tất cả các lĩnh vực như công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ… Vì thế, nguồn nước đóng vai trò không hề nhỏ trong sự phát triển của
một quốc gia. Và hơn hết, nước là mắt xích đầu tiên trong chuỗi dài dinh dưỡng
chủ yếu của sự sống sinh vật, do đó ảnh hưởng của nước đến sức khỏe là vô cùng
lớn. Chính vì thế mà ô nhiễm môi trường nước luôn là đề tài nóng gây nhức nhối
và bức xúc trong xã hội. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và
tương lai.
“Thời gian gần đây xảy ra sự việc một doanh nghiệp đổ trộm dầu thải gây ô
nhiễm nguồn nước của Nhà máy nước sạch D để cung cấp cho thành phố H. Nhà
chức trách vào cuộc và thông báo nước sinh hoạt ở khu vực này bị nhiễm chất
Styren với tỷ lệ cao hơn nhiều lần so với mức cho phép. Sự việc này đã gây tâm lý
hoang mang, lo lắng trong dư luận, ảnh hưởng tới sức khỏe và đời sống người
dân.”

2


Bằng kiến thức của mình, em xin thể hiện quan điểm và bình luận của mình
về vấn đề quyền con người, quyền cơ bản của công dân và trách nhiệm của các cơ
quan nhà nước trong sự việc trên.
Do còn nhiều hạn chế trong kiến thức nên trong bài làm không tránh khỏi

những sai sót. Rất mong thầy cô có thể góp ý để bài làm của em hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG
I.
1.

QUYỀN CON NGƯỜI
Khái lược về quyền con người

Nhân quyền hay quyền con người là những quyền tự nhiên của con người
và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào. Theo định nghĩa của Văn
phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc, nhân quyền là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có
tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ
mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những tự do cơ bản của con người. Trong bản
Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ, Thomas Jefferson đã đưa ra một nguyên tắc cơ bản
làm cơ sở cho sự thành lập chính phủ dân chủ. Các chính phủ trong thể chế dân
chủ không ban phát các quyền tự do cơ bản mà Jefferson đã nêu, mà chính các
chính phủ đó được lập ra để bảo vệ các quyền tự do đó – các quyền mà mọi cá
nhân hiển nhiên có do sự tồn tại của mình.
Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
luôn được tôn trọng và bảo đảm. Cùng với việc ghi nhận quyền con người, quyền
3


và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980,
1992, Đảng và Nhà nước ta đã thực thi nhiều chính sách bảo đảm quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và tham gia hầu hết các điều ước quốc tế

về quyền con người như Công ước quốc tế về loại trừ các hình thức phân biệt
chủng tộc năm 1965, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa
năm 1966, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966, Công ước
quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979, Công ước
về quyền trẻ em năm 1989, Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2006
v.v… và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, to lớn, góp phần xây dựng một
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh”, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung vì mục tiêu hòa bình và tiến bộ xã
hội của toàn nhân loại.
Về tên Chương, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, “quyền con người” đã trở
thành tên gọi của Chương, thay vì chỉ gọi là “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân” như Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đó. Việc thay đổi tên
Chương từ “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thành “Quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” trong Hiến pháp năm 2013 còn thể hiện
sự nỗ lực và cam kết mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các
Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

2.

Lý luận về quyền con người với môi trường

Theo Tuyên bố của Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường con người
(Stốckhôm - năm 1972), con người được sống trong một môi trường trong lành là
một trong những nguyên tắc trọng tâm của quan hệ giữa các quốc gia. Nguyên tắc
1 nêu rõ: “Con người có quyền cơ bản được tự do, bình đẳng và đầy đủ các điều
kiện sống, trong một môi trường chất lượng cho phép cuộc sống có phẩm giá và
phúc lợi mà con người có trách nhiệm trong bảo vệ và cải thiện cho các thế hệ hôm
nay và mai sau”. Nguyên tắc 1 trong Tuyên bố của Hội nghị Liên Hợp Quốc về
Môi trường và phát triển (Rio de Janeiro - 1992) cũng khẳng định: “Con người là
trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền

được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên”.
Quyền con người được sống trong môi trường trong lành là nguyên tắc trụ
cột, là quyền tự nhiên của con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, liên quan
trực tiếp đến chất lượng cuộc sống. Đó là quyền con người được sống trong một
môi trường với chất lượng cho phép, cuộc sống được đảm bảo về mặt vệ sinh môi
trường, được hài hòa với tự nhiên. Hay nói cách khác, là quyền được sống trong
một vùng không bị ô nhiễm, không bị suy thoái môi trường .
4


Hiện nay, sức khỏe con người đang bị ảnh hưởng ngày càng lớn do sự xuống
cấp nghiêm trọng của môi trường và hệ sinh thái. Ô nhiễm môi trường và hủy hoại
môi trường tự nhiên đã trực tiếp tác động đến việc hưởng thụ quyền con người.
Nhu cầu của con người là phải nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm quyền
được sống trong môi trường trong lành, bảo đảm sức khỏe môi trường. Do vậy,
cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của quyền con người.
3.
Quyền con người liên quan đến sự việc trên
Tại Điều 43 Hiến pháp 2013 có ghi “Mọi người có quyền được sống trong
môi trường trong lành” và tại Khoản 1 Điều 20 Hiến pháp 2013 “Mọi người có
quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ”
Qua 2 điều trên, chúng ta dễ thấy rằng sự việc đổ trộm dầu thải gây ô nhiễm
nguồn nước của Nhà máy nước sạch D để cung cấp cho thành phố H và làm cho
nguồn nước ở đây bị nhiễm styren với nồng độ cao đã vi phạm pháp luật nặng nề.
Styren là hợp chất hữu cơ có công thức hóa học C6H5CH=CH2. Đây là chất
lỏng không màu, nhẹ hơn nước, không tan trong nước, dễ bay hơi và có vị hơi ngọt
tuy nhiên khi đậm đặc thì có mùi khó chịu. Styren là một chất hữu cơ dạng dầu, dễ
bay hơi, rất ít hoặc không tan trong nước, có mùi hôi và vị hơi ngọt. Styren được
dùng trong ngành công nghiệp chế biến cao su, nhựa polyme, cao su, sơn… và tồn
tại trong khói thuốc lá, khí thải phương tiện giao thông…

Khi được giải phóng vào nước, Styrene sẽ nhanh chóng bay hơi và bị phân
hủy bởi vi khuẩn. Styren góp phần hình thành khói mù ô nhiễm nên bị Cơ quan
Bảo vệ Môi trường Mỹ xếp vào danh mục những chất ô nhiễm không khí độc hại.
Chất Stylene trong kết quả kiểm nghiệm nước vừa được công bố là 1 trong
những chất có hại trong dầu nhớt thải. Đây là chất độc. Nếu tiếp xúc ngắn hạn có
thể ảnh hưởng hệ thống thần kinh như trầm cảm, mất tập trung, yếu, mệt mỏi và
buồn nôn. Tiếp xúc dài hạn có thể làm hư hỏng gan, tế bào thần kinh và gây ung
thư.
Chất này trong hộp xốp từng được cho là góp phần làm phát triển ung thư,
giảm thị lực, thính giác và gây tổn thương hệ thần kinh. Các nghiên cứu trên cả
người và động vật cho thấy phơi nhiễm styren gây tổn thương các tế bào bạch cầu
làm tăng nguy cơ bị bệnh bạch cầu hoặc u lympho, ung thư thực quản và ung thư
tuyến tụy.
Tại Khoản 2 Điều 38 của Hiến pháp 2013 “Nghiêm cấm các hành vi đe dọa
cuộc sống, sức khỏe của cộng đồng.” Việc đổ dầu thải vào nước được dùng để sinh
hoạt chung là hành động không thể chấp nhận được. Dầu thải luôn được liệt dưới
dạng chất thải nguy hại. Các chất trong dầu nhớt có thể nhiễm vào cơ thể nhanh
5


qua 2 đường chính là thở và ăn uống. Qua các con đường này, các chất ô nhiễm
vào máu rất nhanh. Theo đường máu, một số hợp chất trong dầu nhớt được phân
bố khắp cơ thể và nhanh chóng phân hủy thành các hóa chất khác có độ độc cao
hơn hoặc thấp hơn. Bên cạnh đó, có một số chất khó phân hủy hơn có thể tích lũy
trong các mô trong cơ thể. Ngoài ra, các chất trên còn có thể nhiễm qua đường da
khi tiếp xúc trực tiếp nhưng chậm hơn so với hai đường thở và ăn uống phía trên.
Việc đào thải các chất độc chủ yếu qua đường tiểu và thở.
Nuốt một số sản phẩm dầu mỏ như xăng và dầu hỏa gây kích ứng da, mắt,
cổ họng và dạ dày, suy nhược hệ thống thần kinh trung ương, khó thở và viêm
phổi. Một số các hợp chất cũng có thể ảnh hưởng đến máu, hệ thống miễn dịch,

gan, lá lách, thận, thai nhi đang phát triển.
II.
1.

QUYỀN CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
Khái lược quyền công dân

Quyền công dân là Khả năng tự do lựa chọn hành vi của công dân mà nhà
nước phải bảo đảm khi công dân yêu cầu.
Quyền công dân được quy định trong Hiến pháp, điều chỉnh những quan hệ
đặc biệt quan trọng giữa công dân và nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá nhân và hoạt
động bình thường của xã hội.
Quyền công dân bao gồm các quyền về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa,
giáo dục và các quyền tự do cá nhân.
Quyền cơ bản trước hết là quyền tự thân, phân biệt con người với động vật,
“tạo hoá cho họ”, tức nằm sẵn trong chính con người. Nhưng không phải tất cả mọi
quyền tự thân; bởi liệt kê trên không hề đề cập tới những quyền tự nhiên, như sinh
lý, ăn, ngủ, thở… hay quyền kinh tế mua bán, vay mượn, đổi chác, hoặc tình cảm
yêu đương, hiếu, hỷ… vốn mang tính tuyệt đối hiểu theo nghĩa luôn tồn tại trong
bất cứ xã hội nhà nước nào dù dân chủ hay không, mà chỉ những quyền được nhà
nước do người dân sinh ra phải chịu trách nhiệm pháp lý bảo đảm cho họ: 1- chắc
chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án bảo vệ, mới được gọi là quyền cơ bản.
Hiến định quyền cơ bản vì vậy đồng nghĩa với hiến định trách nhiệm pháp lý nhà
nước phải bảo đảm quyền con người đã được hiến định. Nguyên lý đó được hiến
pháp Đức quy định ngay tại điều 1, “Quyền cơ bản có hiệu lực trực tiếp, ràng buộc
lập pháp, hành pháp và tư pháp phải bảo đảm”.
Như vậy quyền cơ bản không phải cứ ghi vào hiến pháp là có, mà chỉ khi
chế tài được nhà nước chịu trách nhiệm bảo đảm nó mới có. Chức năng soạn thảo
hiến pháp, do vậy, một khi đã hiến định quyền cơ bản nào, thì phải xác định được ở
6



các khoản mục tiếp theo các quy phạm chế tài nhà nước thích ứng. Hiến pháp Mỹ
còn không đưa ra điều khoản quyền cơ bản, như tự do tôn giáo, ngôn luận, báo chí,
biểu tình, hội họp chẳng hạn, mà hiến định trực tiếp trách nhiệm nhà nước: “Quốc
hội không được phép ban hành luật quy định tôn giáo nhà nước, cấm tự do tín
ngưỡng, tự do ngôn luận báo chí, hoặc hạn chế quyền biểu tình hội họp…” (Tu
chính số I). Hay Hiến pháp Nga, điều 29 về “quyền tự do truyền thông báo chí”,
quy định “cấm (nhà nước) kiểm duyệt”.
2.

Quyền công dân liên quan đến sự việc trên

Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về
quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo hướng: quyền công
dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của
người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã
hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi
ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; mọi người đều
bình đẳng trước pháp luật; không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,
dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội (Điều 15 và Điều 16). Nguyên tắc hiến định này
vừa khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền và nghĩa vụ, vừa đặc biệt nhấn
mạnh đến việc thực hiện quyền của người này không thể là sự chối bỏ, phủ nhận
hay xâm phạm đến quyền của người khác; nói khác đi, việc tôn trọng các quyền tự
do của mỗi người phải đặt trong mối quan hệ với việc tôn trọng quyền và tự do của
người khác.
Vì thế chúng ta có thể thấy, tại Điều 43 Hiến pháp 2013 có ghi rõ “Mọi
người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi
trường” và theo khoản 1 điều 15 Hiến pháp 2013 “Quyền công dân không tách rời
nghĩa vụ công dân”. Đã là con người công dân Việt Nam, việc được sống trong

môi trường trong lành nói chung hay sử dụng nước sạch nói riêng đã được công
nhận là một quyền. Tuy nhiên, song song với quyền là nghĩa vụ, bất kể một công
dân Việt Nam nào đều phải có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Cụ thể ở đây là bảo vệ
nguồn nước sạch. Không được có bất cứ hành vi nào xâm hại đến nguồn nước sinh
hoạt mà mọi người đang sử dụng. Việc đổ trộm dầu thải vào nguồn nước sinh hoạt
là hành động vi phạm Hiến pháp, vi phạm pháp luật, đạo đức con người.
Khoản 2 điều 9 về các hành vi bị nghiêm cấm của Luật tài nguyên nước
2012 có quy định cấm “Xả nước thải, đưa các chất thải vào vùng bảo hộ vệ sinh
khu vực lấy nước sinh hoạt; xả nước thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật vào nguồn nước.” Dầu đổ trộm thường không giống như
các loại dầu thải thông thường bởi dầu thải thông thường có thể tái chế và người ta

7


mua lại để sử dụng. Dầu bị đổ trộm có thể là phế cặn sót lại không thể tái chế
được. Chất cặn này còn nguy hiểm, độc hại hơn nhiều.
Dầu này có thể tồn tại nhiều thế kỷ trong đất, có thể ra đến nước ngầm. Khi
chất thải ngấm vào nước ngầm nó là câu chuyện khác nghiêm trọng hơn. Các chất
độc hại này tích tụ lượng lớn trong đất và nhả dần ra môi trường theo thời gian gây
ảnh hưởng lớn đến môi trường nói chung và nguồn nước sử dụng sinh hoạt nói
riêng.
Chưa kể đến, việc xử lý lượng dầu thải trôi xuống suối cũng rất phức tạp bởi
một phần nổi trên mặt nước, phần lắng đọng xuống lòng hồ, còn một phần thì bị
khuếch tán trong nước. Mà chủ yếu phần khuếch tán sẽ trôi vào hệ thống xử lý
nước của nhà máy.
III.

TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC


Việc nước sinh hoạt bị nhiễm dầu thải ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và
đặc biệt là sức khỏe, sự an toàn, tính mạng của con người. Hành vi đổ trộm dầu
thải là hành vi phạm pháp. Cần có những biện pháp xử lí nghiêm khắc.
Tuy nhiên, việc đầu tiên cần làm đó là cần có sự chỉ đạo nhanh chóng trong
việc xử lí nguồn nước bị nhiễm bẩn trước. Thành phố H cần khẩn trương ngăn
chặn lượng nước nhiễm dầu thải tiếp tục trôi vào nhà máy và súc rửa toàn bộ khu
vực bể chứa nước, hệ thống xử lý của Nhà máy nước D.
Ngoài ra, Nhà máy nước D cần bơm toàn bộ nước nhiễm bẩn ra ngoài, để
khô các bể chứa trong vài ngày để làm công tác vệ sinh. Nếu cần thiết, lắp đặt các
hệ thống cấp nước tạm cho người dân, đến khi xử lý xong hoàn toàn mới bắt đầu
sản xuất nước trở lại.
Tuy nhiên, với tất cả các biện pháp thực hiện quyết liệt, khẩn trương, chúng
ta chỉ mong giảm được phần nào chứ không thể xử lý được triệt để toàn bộ lượng
dầu trong môi trường.
Về hành vi phi pháp của những đối tượng đổ trộm dầu thải, theo khoản Điều
63 Hiến pháp 2013 “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài
nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách
nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại.” Không những thế, Tội gây ô nhiễm môi
trường được quy định tại Điều 235 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung
2017. Theo đó. Người nào thực hiện một trong các hành vi theo quy định tại điều
này, thấp nhất phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 03
tháng đến 02 năm vào cao nhất bị phạt tiền từ 1 tỉ đồng đến 3 tỉ đồng hoặc phạt tù
từ 03 năm đến 07 năm. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến
8


200 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất
định từ 01 năm đến 05 năm.
Nếu kẻ chủ mưu là pháp nhân thương mại thì mức thấp nhất là 3 tỉ đồng đến
7 tỉ đồng. Mức cao nhất là từ 12 tỉ đồng đến 20 tỉ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có

thời hạn từ 01 năm đến 03 năm. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79
của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
Theo quy định tại Điều 79 Bộ luật Hình sự, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn là
chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà
pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại
đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến
an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra.
Ngoài ra theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP, doanh nghiệp phải có biện
pháp khắc phục hậu quả: Buộc khôi phục lại tình trạng môi trường ban đầu; Buộc
chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc và phân tích mẫu môi
trường trong trường hợp có vi phạm về xả chất thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi
trường hoặc gây ô nhiễm môi trường theo định mức; Buộc phải thực hiện các biện
pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường và báo cáo kết quả đã khắc phục
xong hậu quả vi phạm.
Cuối cùng, Nhà nước cần phải tiếp tục, kiên trì trong việc bảo vệ môi trường
giống như quy định tại Khoản 1, 2 Điều 63 Hiến pháp 2013 “Nhà nước có chính
sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên
thiên nhiên” và “Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động bảo vệ môi trường, phát
triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo”
Và tại Điều 5 Luật tài nguyên nước 2012 có ghi “Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ
ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng và cơ sở giáo dục, đào tạo tổ chức
phổ biến, giáo dục về tài nguyên nước, hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện
pháp bảo vệ tài nguyên nước, sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả và chấp hành các
quy định của pháp luật về tài nguyên nước”. và “Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước tuyên
truyền, vận động nhân dân tham gia bảo vệ tài nguyên nước, sử dụng nước tiết
kiệm, hiệu quả và chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước; giám
sát việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục

hậu quả tác hại do nước gây ra.”

9


Cần phải thường xuyên, liên tục tuyên truyền, khuyến khích mọi người bảo
vệ môi trường. Nâng cao ý thức về môi trường cho mọi người và cần cho họ biết
mức độ xử phạt nếu vi phạm là gì. Cần có những biện pháp cứng rắn xử lí những
hành vi vi phạm.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về môi trường nước nói chung và về vụ việc
trên nói riêng. Pháp luật cần quy định thêm về chủ thể có quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại là sự suy giảm chức năng,tính hữu ích
của môi trường mà không chỉ quy định chủ thể chịu thiệt hại về sức khỏe, tính
mạng, lợi ích của các cá nhân, tổ chức đơn lẻ nữa, khi đó, các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền trong lĩnh vực môi trường phải có nghĩa vụ khởi kiện đòi bồi thường
thiệt hại đối với môi trường tự nhiên.
Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện đòi bồi thường
thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường. Pháp luật cần quy định rõ ràng hơn về thời
hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại theo hướng kéo dài hơn so với quy định
hiện hành,đồng thời cần phân biệt giữa thời hiệu khởi kiện về tài sản và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân.
Xây dựng và hoàn thiện quy chế pháp lý về bảo hiểm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại. Theo đó, pháp luật cần quy định tổ chức,cá nhân có hoạt động
nguy cơ gây thiệt hại lớn cho môi trường thì phải mua bảo hiểm trách nhiệm bồi
thường thiệt hại về môi trường nhằm đảm bảo việc bồi thường cho người bị thiệt
hại khi có thiệt hại xảy ra.
Nâng cao năng lực hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về môi
trường, tránh tình trạng chồng chéo, đưa đẩy trách nhiệm hiện nay.
Nâng cao chế tài xử phạt đối với các trường hợp gây ô nhiễm môi trường
nhằm nâng cao sức răn đe, đảm bảo sự nghiêm túc hơn trong quá trình thực hiện

pháp luật của các chủ thể.
Gia nhập các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường nhằm nâng cao ý thức
trách nhiệm trước tiên của Nhà nước trong quản lý, tiếp theo là trách nhiệm của các
cá nhân, tổ chức đang tiến hành các hoạt động gây nguy hại cho môi trường bị thế
giới lên án.
Cần có lộ trình, chương trình thực hiện cụ thể. Cần phân công các cấp từ cao
đến thấp chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các cấp, các ngành xây
dựng kế hoạch, đề án cụ thể để triển khai thực hiện chương trình; phân công chỉ
đạo điều hành, kiểm tra, đôn đốc thực hiện các nội dung chương trình, các đề án,
kế hoạch công tác, các công trình, dự án trọng điểm đã xác định; xây dựng các cơ
10


chế, chính sách có tính đặc thù để Thành ủy và Hội đồng nhân dân Thành phố
quyết định theo thẩm quyền.
Để bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân, thì cơ quan Nhà
nước cùng với các nhà chức trách, cách nhà lãnh đạo của Thành phố H và đại diện
của nhà máy nước D cần có những biện pháp để vào cuộc điều tra, khắc phục hậu
quả và cần mạnh tay xử lí nghiêm khắc hành vi này.
KẾT LUẬN
Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề chung trên toàn thế giới. Việc nghiêm
túc nhìn nhận vấn đề này là điều cấp thiết hiện nay đối với Nhà nước và mỗi người
dân. Việc đổ trộm dầu thải chỉ là một vấn đề trong vô vàn vấn đề gây ô nhiễm môi
trường nói chung và tài nguyên nước nói riêng. Mặc dù Nhà nước đã có những
điều luật, những biện pháp xử lí nghiêm khắc nhưng đâu đó vẫn còn chưa đạt được
hiệu quả, vẫn còn nhiều kẽ hở cho những người có ý đồ xấu, không có ý thức. Vì
thế, các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền,
nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho mỗi người dân và có những biện pháp răn
đe những kẻ có ý đồ xấu, mạnh tay xử lí những hành vi vi phạm để thực hiện hóa
quyền con người, quyền công dân cho mọi người dân. Và mỗi người dân cũng cần

tự giác nâng cao ý thức để bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân mình.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
Lao Động
3.
4.

Giáo trình luật hiến pháp – nhà xuất bản Lao Động
Hiến Pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam- Nhà xuất bản

Luật tài nguyên nước 2012
Bộ luật Hình sự 2015
5.
/>q=quyền+con+người+là+gì&oq=quyền+con+người&aqs=chrome.1.0l2j69i60l2j69
i61j0l2j69i60.3945j0j7&sourceid=chrome&ie=UTF-8
6.
/>7.
/>8.
/>9.
/>10.
/>11


/>%81p-c%C3%A2%CC%A3n-quy%C3%AA%CC%80n-con-ng
%C6%B0%C6%A1%CC%80i-trong-ba%CC%89o-v%C3%AA%CC%A3-m
%C3%B4i-tr%C6%B0%C6%A1%CC%80ng37639&fbclid=IwAR0yFZZDQa9V509SEDYya5WteQjiFU4TjDqpxIoSFvUjMrD
i59IgxJjpodY
11.


12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×