Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
Nghiên cứu Y học
4 ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH NUÔI CON BẰNG SỮA MẸ
Lại Võ Bảo Kha*, Nguyễn Thị Thanh*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức và thực hành của bà mẹ về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang. Các bà mẹ có con ≤ 24 tháng nhập vào Khoa
Dịch Vụ 1- Bệnh Viện Nhi Đồng 2 đang cho con bú mẹ trong thời gian nghiên cứu.
Kết quả: 30,7% bà mẹ hiểu biết đúng về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ, 23,3% bà mẹ hiểu biết chưa đúng về
lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ, 44 % bà mẹ cho bé bú đúng tư thế, 37,3% bà mẹ biết cách cho bé bắt ngậm vú
đúng.
Kết luận: Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tỉ lệ các bà mẹ hiểu biết đúng về lợi ích nuôi con bằng sữa
mẹ và thực hành đúng nuôi con bằng sữa còn thấp, vì vậy việc giáo dục, hướng dẫn và cung cấp thông tin cho
các bà mẹ về lợi ích của sữa mẹ và cách nuôi con bằng sữa mẹ là cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên,
Từ khóa: Nuôi con bằng sữa me, kiến thức của bà mẹ.
ABSTRACT
ASSESSMENT OF KNOWLEDGE, PRACTICE BREASTFEEDING MOTHER IN SERVICE
DEPARTMENT 1 - CHILDREN'S HOSPITAL 2
Lai Vo Bao Kha, Nguyen Thi Thanh
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 16 - Supplement of No 4 - 2012: 27 - 35
Objectives: Assessment of knowledge and practices of mothers about breastfeeding benefits.
Methods: Cross-sectional description. Breastfeed mothers of baby ≤ 24 months who hopitalized at Children's
Hospital 2.
Results: 30.7% of mothers know correctly breastfeeding benefits, 23.3% of mothers have inadequate
information about breastfeeding benefits, 44% of mothers have correct posture during breastfeeding, 37.3% of
mothers help the baby sucking correctly.
Conclusions: By researching, we find that the percentage of mothers who know correctly breastfeeding
benefits and practice are still not hightly. Therefore, it is necessary that the education and instruction about
breastfeeding benefits and methods to breastfeed can be repeated or can be stimulated frequently.
Key words: Breastfeed mothers, knowledge of mothers.
sớm (trong vòng một giờ đầu sau sinh) và được
ĐẶT VẤN ĐỀ
nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu
Tại Việt Nam, chỉ 10% bà mẹ nuôi con hoàn
đời, sau đó ăn bổ sung hợp lý nhưng vẫn duy trì
toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, thấp nhất
cho bú sữa mẹ đến 24 tháng tuổi.
khu vực Tây Thái Bình Dương, Trong khi theo
Tuy nhiên, tại nước ta, nhiều người vẫn còn
chuyên gia nước ngoài, nuôi con bằng sữa mẹ
những quan niệm sai lầm dẫn đến những rào
giúp ngăn chặn 13% các ca tử vong ở trẻ dưới 5
cản trong việc nuôi con bằng sữa mẹ, đặc biệt là
tuổi.
trong 6 tháng đầu.
Trích nguồn theo khuyến cáo Tổ chức Y Tế
Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia
Thế giới (WHO, trẻ sơ sinh cần được cho bú
* Bệnh viện Nhi Đồng 2.
Tác giả liên lạc: ĐD Lại Võ Bảo Kha,
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
ĐT: 0989212489,
Email:
27
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
trong năm 2009, chỉ một nửa số trẻ sơ sinh được
bú sữa mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh,
trong đó, tỷ lệ này ở miền núi cao hơn ở thành
thị, ở các trạm y tế xã cao hơn ở các bệnh viện và
cơ sở y tế tư nhân.
Nhiều cha mẹ và ngay cả nhân viên y tế
cũng cho rằng người mẹ không có đủ sữa để
cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu, đôi khi
nhân viên y tế lại khuyên các bà mẹ cho trẻ ăn
sữa bột. Tại khu vực thành thị, gần 50% phụ nữ
mang thai mang theo các loại sữa thay thế sữa
mẹ hoặc sữa bột đến bệnh viện trước khi sinh
con.
Ngoài ra, một trong những nguyên nhân
khiến tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ tại Việt Nam
thấp là do tác động quảng cáo của các hãng sữa,
điều này khiến các bà mẹ tin rằng mình không
có đủ sữa cho con bú, sữa mẹ không cung cấp
đầy đủ dưỡng chất cho con.
Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn là biện
pháp can thiệp hiệu quả nhất để giảm tử vong ở
trẻ, điều đó có nghĩa là cho trẻ sơ sinh bú sữa
mẹ mà không ăn hoặc uống thêm bất cứ một
thức ăn hay chất lỏng nào khác kể cả nước (trừ
khi có chỉ định của bác sĩ), sữa mẹ chứa tất cả
các chất dinh dưỡng và kháng thể mà em bé cần.
Rất nhiều chương trình nuôi con bằng sữa
mẹ được thực hiện nhằm mục đích quảng bá
và khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ
nhằm vào nhân viên y tế và vào các bà mẹ
trong nhiều năm qua. Riêng tại bệnh viện Nhi
Đồng 2 là đơn vị được công nhận bệnh viện
Bạn Hữu trẻ em , các chương trình giáo dục
sức khỏe cũng được thực hiện rất nhiều trong
những năm qua, việc đánh giá hiệu quả của
chương trình là cần thiết cũng như đánh giá
thực tế tình hình nuôi con bằng sữa mẹ trong
cộng đồng rất quan trọng, do đó chúng tôi
thực hiện đề tài này nhằm mục đích trên.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Đánh giá kiến thức của bà mẹ về lợi ích nuôi
con bằng sữa mẹ.
28
Đánh giá thực hành nuôi con bằng sữa mẹ .
Mục tiêu chuyên biệt
Xác định tỷ lệ bà mẹ có hiểu biết đúng về lợi
ích nuôi con bằng sữa mẹ.
Xác định tỷ lệ bà mẹ có hiểu biết chưa đúng
về lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ.
Xác định tỷ lệ bà mẹ cho bé bú đúng tư thế.
Xác định tỷ lệ bà mẹ biết cách cho bé bắt
ngậm vú đúng.
TỔNG QUAN
Tầm quan trọng và lợi ích của việc nuôi
con bằng sữa mẹ
Tầm quan trọng
Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh thách hợp cho
trẻ từ 0- 6 tháng tuổi.
Sữa mẹ có đủ năng lượng và các chất dinh
dưỡng và các chất cần thiết như đạm, đường,
mỡ, vitamin và muối khoáng với tỷ lệ thích hợp
cho sự hấp thu và phát triển cơ thể trẻ.
Sữa mẹ bảo vệ cơ thể chống lại các bệnh
nhiễm khuẩn.
Sữa mẹ còn giúp giảm nguy cơ bệnh bạch
cầu trẻ em và nguy cơ bệnh tiểu đường.
Sữa mẹ có tác dụng chống dị ứng do không
chưa các protein lạ.
Sữa mẹ vô khuẩn, không cần đun nấu,luôn
có nhiệt độ thích hợp không cần đun nấu, pha
chế.
Đối với trẻ sinh thiếu tháng, được nuôi con
bằng sữa mẹ sẽ phát triển hơn trẻ nuôi bằng sữa
ngoài.
Thành phần sữa mẹ cũng đa dạng không
giống nhau từ đầu đến cuối.
Sữa non
Sữa mẹ tiết ra những ngày đầu sau sanh là
sữa non, sữa non có màu vàng nhạt, sánh đặc.
Sữa non có nhiều kháng thể, tế bào bạch cầu
bảo vệ cơ thể chống lại nhiễm khuẩn và dị ứng.
Sữa non có tác dụng sổ nhẹ, giúp cho việc
tống phân su giúp trẻ đỡ vàng da.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
Giúp bộ máy tiêu hóa trưởng thành, chống
dị ứng và không dung nạp bất kỳ thức ăn khác.
Sữa non có nhiều vitamin A giúp phòng
chống nhiễm khuẩn và bệnh khô mắt.
Vì vậy cần cho trẻ bú sớm nữa giờ đầu sau
sanh để tận dụng sữa non, không.
Nghiên cứu Y học
Trẻ bị bệnh cần cho bú mẹ nhiều hơn.
Cho trẻ bú mẹ kéo dài đến 2 năm hoặc nhiều
hơn.
Tư thế ngậm bắt vú như thế nào là đúng
Toàn thân trẻ áp sát vào người mẹ, đầu thân
và mông trẻ thẳng hàng.
Cho trẻ nhận thức ăn hay thức uống nào
trước khi trẻ bắt được vú mẹ.
Miệng trẻ mở rộng, càm sát vú mẹ.
Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ
Mẹ không cảm thấy đau đầu vú.
Ngậm sâu vào quầng vú.
Giúp ích cho sự phát triển của trẻ thể chất
lẫn tinh thần.
Làm thế nào người mẹ có đủ sữa nuôi con
Chi phí thấp hơn nuôi trẻ bằng sữa nhân tạo
nên tiết kiệm được chi phí chăm sóc trẻ.
Tinh thần thoải mái, nghỉ ngơi hợp lý.
Gắn bó tình cảm mẹ con.
Việc cho bú mẹ giúp tử cung co hồi tốt, giảm
chảy máu sau sinh, giúp duy trì cân nặng bình
thường.
Giúp chậm chu kỳ kinh nguyệt, chậm có
thai.
Giảm nguy cơ ung thư vú và bệnh loãng
xương.
Bảo vệ môi trường sống do không phải vứt
những vật dụng liên quan đến sản phẩm sữa ra
môi trường.
Cho trẻ bú sớm sau sinh
Ăn no, uống đủ, ngủ tốt.
Cho trẻ bú nhiều lần, bú cả ngày lẫn đêm.
Cho trẻ bú từng lượt bên, hết vú sữa bên này
mới chuyển bên kia.
Trong những năm gần đây rất có nhiều đề
tài nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của
sữa mẹ và lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ, bệnh
viện Nhi Đồng 2 được công nhận bệnh viện Bạn
Hữu Trẻ Em, đã có nhiều chương trình giáo dục
sức khỏe về việc nuôi con bằng sữa mẹ và lợi ích
của sữa mẹ.
Nuôi con bằng sữa mẹ là biện pháp tự nhiên
nhưng kinh tế, an toàn và hiệu quả bảo bệ sức
khỏe bà mẹ và trẻ em.
Cho trẻ bú càng sớm càng tốt, muộn nhất là
không quá 30 phút sau sinh thường và 4 giờ sau
mổ lấy thai, cho trẻ bú sớm để tận dụng sữa
non, động tác bú vú sẽ kích thích tuyến yên sản
xuất oxytocin và prolactin giúp tử cung mẹ co
hồi tốt tránh băng huyết sau sinh.
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Không nên vắt bỏ sữa non, cũng không cần
cho trẻ uống bất kỳ thức uống gì ngoài bú mẹ.
Tiêu chí chọn mẫu
Các bà mẹ có con <= 24 tháng nhập vào
Khoa Dịch Vụ 1- Bệnh Viện Nhi Đồng 2 đang
cho con bú mẹ.
Cho trẻ bú như thế nào
Bú nửa giờ đầu sau sinh.
Bú mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu mà không cần
cho trẻ ăn uống thêm bất cứ thứ gì khác.
Mẹ và con luôn nằm cạnh nhau.
Cho trẻ bú theo nhu cầu.
Trẻ không bú được thì vắt sữa ra ly và cho
trẻ bú bằng thìa.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
Đối tượng
Các bà mẹ có con ≤ 24 tháng nhập vào Khoa
Dịch Vụ 1- Bệnh Viện Nhi Đồng 2 đang cho con
bú mẹ.
Tiêu chí loại trừ
Người nhà không đồng ý trả lời đầy đủ
bảng câu hỏi.
Người nhà không đồng ý cho cán bộ y tế
quan sát khi cho bú.
Thời gian: 12 tháng.
29
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
KẾT QUẢ
Phương pháp nghiên cứu
Điều tra thu thập số liệu dựa vào bảng câu
hỏi có sẵn như mẫu đính kèm, nghiên cứu mô tả
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 1. Sự phân bố theo tuổi mẹ.
hàng loạt.
Cách tiến hành
Phỏng vấn điều tra theo mẫu có sẵn.
Các bà mẹ khi có đủ tiêu chuẩn sẽ được
chọn, và trả lời theo bảng câu hỏi và nhân viên y
Nhóm tuổi
18 – 25 tuổi
26 – 35 tuổi
36 – 45 tuổi
Tổng
Xử lí số liệu
Theo phương pháp thống kê y học , dùng
chương trình Epinfo 6,0.
Liệt kê và định nghĩa các biến số
Nhóm tuổi mẹ, tuổi bé, giới tính bé, trình độ
học vấn, nghề nghiệp bà mẹ, địa chỉ.
Biến số phụ thuộc
4 câu
Phòng tránh nhiễm khuẩn.
Dễ tiêu hóa.
Trẻ thông minh.
Ngừa béo phì cho trẻ.
Gắn bó tình cảm mẹ con.
Chi phí thấp.
Thực hành
Tư thế ngậm bắt vú đúng và tư thế bé bú
Tiêu chí thực hành đúng
Đúng: Khi đúng tất cả.
Chưa đúng hoàn toàn: Thiếu từ 1-2.
30
Tuổi của bé
Tần số (n=150)
54
70
20
6
150
Tỉ lệ (%)
36,0
46,7
13,3
4
100
Trình độ học vấn
Đại học
Trung học
Tiểu học
Tổng
Tần số (n=150)
36
75
39
150
Tỉ lệ (%)
24
50
26
100
Bảng 4. Sự phân bố theo nghề nghiệp của bà mẹ.
Kiến thức
Chưa đúng: Thiếu > 2.
Tháng tuổi
Dưới 6 tháng
6 – 12 tháng
12,5 – 18 tháng
18,5 – 24 tháng
Tổng
Bảng 3. Sự phân bố theo trình độ học vấn của bà mẹ.
Biến số độc lập
Biết rõ lợi ích sữa mẹ: Khi trả lời
Tỉ lệ (%)
20,7
71,3
8,0
100
Bảng 2. Sự phân bố theo tuổi bé.
tế quan sát tư thế và cách ngậm bắt vú khi bà mẹ
cho con bú.
Tuổi của mẹ
Tần số (n=150)
31
107
12
150
Nghề nghiệp
CBCC
Buôn bán
Nội trợ
Công nhân
Tổng
Tần số (n=150)
64
17
59
9
150
Tỉ lệ (%)
42,7
11,3
39,3
6,0
100
Bảng 5. Sự phân bố theo địa chỉ.
Địa điểm
TP HCM – Nội thành
TP HCM – Ngoại thành
Bình Dương
Bình Phước
Đồng Nai
Vũng Tàu
Tiền Giang
Tây Ninh
Bình Thuận
Khánh Hòa
Đắc Nông
Kiên Giang
Bến Tre
Đắc Lắc
Kom Tum
Phú Yên
Tần số (n=150) Tỉ lệ (%)
65
43,3
6
4,0
13
8,7
9
6,0
16
10,7
14
9,3
3
2,0
2
1,3
4
2,7
2
1,3
4
2,7
1
0,7
3
2,0
1
0,7
1
0,7
1
0,7
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
Địa điểm
Cần Thơ
Cà Mau
Thái Bình
Lâm Đồng
Tổng
Tần số (n=150) Tỉ lệ (%)
1
0,7
2
1,3
1
0,7
1
0,7
150
100,0
Bảng 6. Sự phân bố theo giới tính trẻ.
Giới tính
Tần số (n=150)
Tỉ lệ (%)
Nam
87
58,0
Nữ
63
42,0
Tổng (N)
150
100,0
Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
Bảng 7. Lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ.
Lợi ích nuôi con
bằng sữa mẹ
Không biết
Biết > 3
Biết < =3
Biết <2
Tổng
Tần số (n=150)
Tỉ lệ (%)
4
46
65
35
150
2,7
30,7
43,3
23,3
100,0
Bảng 8. Nguồn kiến thức có được từ các bà mẹ .
Nguồn kiến thức có được từ
các bà mẹ
Nhân viên y tế
Truyền thông
Gia đình
khác
Tổng
Tần số
(n=150)
26
91
23
10
150
Tỉ lệ (%)
17,3
60,7
15,3
6,7
100,0
Bảng 9. Kiến thức bà mẹ về thời gian cần thiết cho bé
bú hoàn toàn.
Kiến thức bà mẹ về thời gian
cần thiết cho bé bú hoàn toàn
3 - 4 tháng
4 - 5 tháng
5 - 6 tháng
6 tháng
12 tháng
18 tháng
24 tháng
Tổng
Tần số
(n=150)
6
3
7
122
6
3
3
150
Tỉ lệ (%)
4,0
2,0
4,7
81,3
4,0
2,0
2,0
100,0
Bảng 10. Tư thế bắt ngậm vú.
Đúng
Chưa đúng hoàn toàn
Không đúng
Tần số
(n=150)
66
78
6
Tổng
150
100,0
Bảng 11. Tư thế bé bú.
Tư thế bé bú
Đúng
Chưa đúng hoàn
toàn
Không đúng
Tổng
Tần số (n=150)
56
Tỉ lệ (%)
37,3
89
59,3
5
150
3,3
100,0
Xét mối tương quan
Bảng 12. Mối tương quan giữa trình độ học vấn và
kiến thức về lợi ích sữa mẹ.
Mối tương quan giữa trình độ
Đại Trung Tiểu
học vấn và kiến thức về lợi ích
học học học
sữa mẹ
Tần số (n=150)
0
0
4
Không biết
Tỉ lệ (%)
0,0 0,0 2,7
Tần số (n=150)
18
24
4
Biết > 3
Tỉ lệ (%)
12,0 16,0 2,7
Tần số (n=150)
15
34
16
Biết ≤ 3
Tỉ lệ (%)
10,0 22,7 10,7
Tần số (n=150)
3
17
15
Biết < 2
Tỉ lệ (%)
2,0 11,3 10,0
36
75
39
Tần số (n=150)
Tổng
24,0 50,0 26,0
Tỉ lệ (%)
Tổng
4
2,7
46
30,7
65
43,3
35
23,3
150
100,0
=28,595; P=0,000
Bảng 13. Mối tương quan trình độ học vấn và nguồn
gốc kiến thức.
Mối tương quan giữa trình độ
Đại Trung Tiểu
học vấn và nguồn gốc kiến
Tổng
học học học
thức
SL (n)
6
16
4
26
NVYT
TL (%)
4,0 10,7 2,7 17,3
SL (n)
28
48
15 91
Truyền thông
TL (%)
18,7 32,0 10,0 60,7
SL (n)
1
10
12 23
Gia đình
TL (%)
0,7
6,7 5,3 6,7
SL (n)
1
1
8
10
Khác
TL (%)
0,7
0,7 5,3 6,7
36
75
39 150
SL (n)
Tổng
TL (%)
24,0 50,0 26,0 100,0
=32,062; P=0,000
Bảng 14. Mối tương quan giữa trình độ học vấn và
tư thế bắt ngậm vú.
Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
Tư thế bắt ngậm vú
Nghiên cứu Y học
Tỉ lệ (%)
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
44
52
4
Mối tương quan giữa trình
độ học vấn và tư thế bắt
ngậm vú của trẻ
SL (n)
Đúng
TL (%)
Đại Trung Tiểu
Tổng
học học học
28
18,7
28 10
18,7 6,7
66
44
31
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
Nghiên cứu Y học
Mối tương quan giữa trình
độ học vấn và tư thế bắt
ngậm vú của trẻ
SL (n)
Chưa đúng
hoàn toàn
TL (%)
SL (n)
Không đúng
TL (%)
SL (n)
TL (%)
Tổng
Bảng 15. Mối tương quan giữa trình độ học vấn và
tư thế bé bú.
Đại Trung Tiểu
Tổng
học học học
8
5,3
0
0,0
36
24,0
Mối tương quan giữa trình
độ học vấn và tư thế bế bé
bú
SL (n)
Đúng
TL (%)
SL (n)
Chưa đúng
hoàn toàn
TL (%)
SL (n)
Không
đúng
TL (%)
46 24
78
30,7 16,0 52,0
1
5
6
0,7 3,3
4,0
75 39
150
50,0 26,0 100,0
=31,517; P=0,000
SL (n)
TL (%)
Tổng
Đại Trung Tiểu
Tổng
học học học
23
15,3
13
8,7
0
0,0
36
24,0
25
8
16,7 5,3
49
27
32,7 18,0
1
4
0,7 2,7
75
39
56
37,3
89
59,3
5
3,3
150
50,0 26,0 100,0
=22,156; P=0,000
Bảng 16. Mối tương quan giữa nghề nghiệp và kiến thức về thời gian cần thiết cho bé bú đúng.
Mối tương quan giữa nghề nghiệp và kiến thức
về thời gian cần thiết trẻ bú mẹ hoàn toàn
3 – 4 tháng
4 – 5 tháng
5 – 6 tháng
6 tháng
12 tháng
18 tháng
24 tháng
Tổng
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
3
2,0
2
1,3
0
0,0
Buôn
bán
1
0,7
0
0,0
1
0,7
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
SL (n)
TL (%)
55
36,7
1
0,7
2
1,3
1
0,7%
12
8,0
1
0,7
1
0,7
1
0,7
48
32,0
2
1,3
0
0,0
0
0,0
7
4,7
1
0,7
0
0,0
1
0,7
0
0,0
1
0,7
0
0,0
0
0,0
SL (n)
TL (%)
64
42,7
17
11,3
59
39,3
9
6,0
1
0,7
CBCC
Nội
trợ
2
1,3
1
0,7
6
4,0
Công
nhân
0
0,0
0
0,0
0
0,0
Khác
Tổng
0
0,0
0
0,0
0
0,0
6
4,0
3
2,0
7
4,7
122
81,3
6
4,0
3
2,0
3
2,0
150
100,0
=44,903; P=0,006
Bảng 17. Mối tương quan giữa nghề nghiệp và tư thế bắt ngậm vú.
Mối tương quan giữa nghề nghiệp
và tư thế bắt ngậm vú của trẻ
Đúng
Chưa đúng hoàn toàn
CBCC
Buôn bán
Nội trợ
Công nhân Khác
Tổng
SL (n)
41
4
19
2
0
66
TL (%)
27,3
2,7
12,7
1,3
0,0
44,0
SL (n)
23
13
34
7
1
78
TL (%)
15,3
8,7
22,7
4,7
0,7
52,0
SL (n)
0
0
6
0
0
6
TL (%)
0,0
0,0
4,0
0,0
0,0
4,0
SL (n)
64
17
59
9
1
150
TL (%)
42,7
11,3
39,3
6,0
0,7
100,0
Không đúng
Tổng
=27,089; P=0,001
32
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
Nghiên cứu Y học
Bảng 18. Mối tương quan giữa tuổi mẹ và tư thế bắt ngậm vú.
Mối tương quan giữa tuổi mẹ và tư thế bé bắt ngậm vú
SL (n)
Đúng
TL (%)
SL (n)
Chưa đúng
hoàn toàn
TL (%)
SL (n)
Không đúng
TL (%)
Tổng
18 – 25 tuổi
7
4,7
22
14,7
2
1,3
26 – 35 tuổi
55
36,7
50
33,3
2
1,3
36 – 45 tuổi
4
2,7
6
4,0
2
1,3
31
20,7
107
71,3
12
8,0
SL (n)
TL (%)
Tổng
66
44,0
78
52,0
6
4,0
150
100,0
=14,094; P=0,007
BÀN LUẬN
Sự phân bố theo tuổi mẹ: Nhóm bà mẹ được
nghiên cứu trong độ tuổi từ 26 – 35 tuổi chiếm
tỷ lệ 71,3 %, các bà mẹ nằm trong độ tuổi sinh đẻ
chiếm tỷ lệ cao là hợp lý.
Sự phân bố theo tuổi bé: Đa số trẻ bú mẹ từ
6- 12 tháng.
Sự phân bố theo trình độ học vấn của bà mẹ:
Đa số bà mẹ có trình độ học vấn là từ trung học,
không có tỷ lệ mù chữ.
Sự phân bố theo nghề nghiệp của bà mẹ: Bà
mẹ là cán bộ công chức và nội trợ chiếm tỷ lệ đa
số.
Sự phân bố theo giới tính trẻ: Trẻ nam chiếm
tỷ lệ cao hơn trẻ nữ, 58% so với 42 %.
Lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ: các bà mẹ biết
rằng nuôi con bằng sữa mẹ đem lại lợi ích cho
con nhưng chưa hiểu rõ lắm, Đa số không biết
nuôi con bằng sữa mẹ đem lại lợi ích cho mẹ,
trong đó có 2,7 % không biết gì về lợi ích nuôi
con bằng sữa mẹ.
Nguồn kiến thức có được từ các bà mẹ:
Nguồn kiến thức có được từ các bà mẹ có được
từ phương tiện truyền thông là chủ yếu , qua đó
ta thấy dược tầm quan trọng từ phương tiện
thông tin đại chúng, cần tích cực phát huy,
truyền bá và phổ biến rộng rãi.
Kiến thức bà mẹ về thời gian cần thiết cho bé
bú hoàn toàn: Có 81% bà mẹ biết rằng cần cho
trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
Kiến thức bà mẹ về thời gian cần thiết cho bé
bú hoàn toàn: Có 81% bà mẹ biết rằng cần cho
trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
Tư thế bắt ngậm vú: Qua quan sát, có 44%
bà mẹ biết cách cho bé bắt ngậm vú đúng, 52%
các bà mẹ còn cho bé bắt ngâm vú chưa đúng
hoàn toàn, quan sát thấy các bà mẹ cho trẻ ngậm
núm vú chứ không ngậm sâu vào cả quầng vú.
Tư thế bé bú: Qua quan sát, có 37,3% bà mẹ
biết cách cho bé bú đúng tư thế, 59,3% các bà mẹ
cho bé bú đúng tư thế cho chưa đúng hoàn toàn,
quan sát thấy thường tư thế trẻ không đúng đó
là đầu, mông và thân trẻ không thẳng hàng và
toàn thân trẻ chưa áp sát vào người mẹ.
Mối tương quan giữa trình độ học vấn và
kiến thức về lợi ích sữa mẹ: Các bà mẹ có
trình độ trung học, đại học điều biết về lợi ích
nuôi con bằng sữa mẹ ,26 % bà mẹ có trình độ
tiểu học có 2,7 % bà mẹ không biết gì về lợi
ích nuôi con bằng sữa mẹ, sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê.
Mối tương quan trình độ học vấn và nguồn
gốc kiến thức: Đa số các bà mẹ có trình độ từ
trung học trở lên có được nguồn kiến thức từ
phương tiện truyền thông, trong khi đó các bà
mẹ có trình độ tiểu học có được nguồn kiến thức
từ gia đình, Điều này cho các thấy bà mẹ có
trình độ từ trung học trở lên ít ảnh hưởng từ yếu
tố gia đình, Sự khác biệt này có ý nghĩa thống
kê.
Mối tương quan giữa trình độ học vấn và tư
thế bắt ngậm vú: trong số các bà mẹ có trình độ
trung học và đại học điều có 18,7 % các bà mẹ
33
Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
biết cách cho bé bắt ngậm vú đúng , 3,6% trong
số 26 % các bà mẹ có trình độ tiểu học cho bé bắt
ngậm vú không đúng, 4% trong số các bà mẹ
cho bé bắt ngậm vú không đúng, sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê.
Mối tương quan giữa nghề nghiệp và tư thế
bắt ngậm vú: Đa số các bà mẹ là CBCC đều biết
cho bé bú đúng tư thế, các bà mẹ nội trợ, buôn
bán,công nhân, thì tư thế cho bé bú chưa đúng
hoàn toàn, Trong khi đó chỉ có các bà là nội trợ
là cho bé bú không đúng tư thế, sự khác biệt này
có ý nghĩa thống kê.
Mối tương quan giữa nghề nghiệp và kiến
thức về thời gian cần thiết cho bé bú đúng: Đa
số các bà mẹ là CBCC và nội trợ đều biết thời
gian cho bé bú hoàn toàn là 6 tháng, sự khác biệt
này có ý nghĩa thống kê.
Ở các tỉnh: Đồng Nai 16%, Bình Dương
16%, Vũng Tàu 14%.
46,7% trẻ được quan sát cho bú có độ tuổi từ
6- 12 tháng.
Trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ, 58% > 42%.
Đa số các bà mẹ điều biết được lợi ích nuôi
con bằng sữa mẹ, như phòng tránh nhiễm
khuẩn , dễ tiêu hóa, trẻ thông minh biết >= 3 là
43,3%.
Nguồn kiến thức có được từ bà mẹ thông
qua phương tiện thông tin đại chúng là 60,7%.
81,3% các bà mẹ biết thời gian cho bé bú mẹ
hoàn toàn trong 6 tháng đầu.
44% bà mẹ biết cách cho bé bắt ngậm vú
đúng, 52% các bà mẹ còn cho bé bắt ngâm vú
chưa đúng hoàn toàn.
Mối tương quan giữa trình độ học vấn và tư
thế bé bú: Trong số các bà mẹ có trình độ trung
học và đại học điều biết cách cho bé bú đúng tư
thế, 2,7% trong số 26 % các bà mẹ có trình độ
tiểu học cho bé bú tư thế không đúng, sự khác
biệt này có ý nghĩa thống kê.
37,3% bà mẹ biết cách cho bé bú đúng tư thế,
59,3% các bà mẹ cho bé bú đúng tư thế cho chưa
đúng hoàn toàn.
Mối tương quan giữa tuổi mẹ và tư thế bắt
ngậm vú: 50 % các bà mẹ trong độ tuổi sinh sản
(26- 35 tuổi) cho bé bắt ngậm vú đúng và 50 %
các bà mẹ trong độ tuổi sinh sản (26- 35 tuổi)
cho bé bắt ngậm vú không đúng hoàn toàn, và
đa số 36 – 45 tuổi, 26 – 35 tuổi cho bé bắt ngậm
vú không đúng hoàn toàn, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê.
32% bà mẹ có trình độ từ trung học có được
nguồn kiến thức từ phương tiện truyền thông.
Các bà mẹ có trình độ trung học 12%, đại
học 16% điều biết về lợi ích nuôi con bằng sữa
mẹ.
18,7% các bà mẹ có trình độ trung học và đại
học điều biết cách cho bé bắt ngậm vú đúng.
16,7% bà mẹ có trình độ trung học và 15,3 %
bà mẹ có trình độ đại học điều biết cách cho bé
bú đúng tư thế.
KẾT LUẬN
32% bà mẹ là CBCC và nội trợ đều biết thời
gian cho bé bú hoàn toàn là 6 tháng.
Qua đợt điều tra, tìm hiểu về đánh giá kiến
thức về lợi ích & thực hành nuôi con bằng sữa
mẹ tại khoa Dịch Vụ 1 – bệnh viện Nhi Đồng 2
chúng tôi rút ra những nhận xét như sau:
50% các bà mẹ trong độ tuổi sinh sản (26- 35
tuổi) cho bé bắt ngậm vú đúng và 50% các bà mẹ
trong độ tuổi sinh sản (26- 35 tuổi) cho bé bắt
ngậm vú không đúng hoàn toàn.
Nhóm tuổi các bà mẹ được điều tra từ 26-35
tuổi chiếm 71,3%, đa số các bà mẹ có trình độ
học vấn từ trung học là 50%, đại học là 24%,
42,7% các bà mẹ là CBCC, 39,3% các bà mẹ là nội
trợ.
KIẾN NGHỊ
Thành phố Hồ Chí Minh là 47,3%, nội thành
44,3%.
34
Qua nghiên cứu trên chúng tôi nhận thấy
cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục
sức khỏe, cung cấp thông tin về những lợi ích và
nuôi con bằng sữa mẹ. Bên cạnh những thông
tin truyền thông đại chúng, cán bộ y tế tại khoa
phòng cần tích cực tuyên truyền khuyến khích,
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 4 * 2012
hỗ trợ bà mẹ cách chăm sóc, nuôi con bằng sữa
mẹ một cách thường xuyên và liên tục, cần tập
huấn về phương pháp bú mẹ và để đảm bảo trẻ
có quyền được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng
đầu đời, gia đình và xã hội cần tạo điêu kiện tích
cực hổ trợ bà mẹ và trẻ em, để trẻ được tận
hưởng những lợi ích từ sữa mẹ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
Chuyên Đề Điều Dưỡng Nhi Khoa
Nghiên cứu Y học
Lữ Thị Trúc Mai. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ.
/>Lwarence . R. (2004). Breastfeeding, a guide for the medical
profession.4th ed 2004 . Mosby st, Louis.
35