Tải bản đầy đủ (.pdf) (192 trang)

Giáo trình sáng tác tranh khắc gỗ đen trắng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (26.53 MB, 192 trang )

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH

SÁNG TÁC TRANH KHẮC GỖ ĐEN TRẮNG

HÀ NỘI 2018


VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Chủ biên PGS.TS Hoàng Minh Phúc
Thực hiện: ThS Vương Quốc Chính

GIÁO TRÌNH

SÁNG TÁC TRANH KHẮC GỖ ĐEN TRẮNG

LƯU HÀNH NỘI BỘ

2


LỜI GIỚI THIỆU
Trong lịch sử phát triển của mỹ thuật Việt Nam, nghệ thuật in khắc gỗ là
phương tiện cổ xưa nhất của nhân loại. Từ phương Tây đến phương Đông hầu
hết các ấn loát cổ đều bằng in khắc gỗ, đến khi người phương Tây phát minh ra
các kỹ thuật in ấn khác thì ở phương Đông vẫn duy trì in khắc gỗ cho đến thế kỷ
19, 20. Riêng ở Việt Nam, ấn loát bằng in khắc gỗ phục vụ đời sống xã hội như
minh hoạ sách tôn giáo, văn chương, báo chí còn phổ biến đến thập niên 60 của
thế kỷ 20. Với những đặc tính ưu việt của mình, từ đầu thế kỷ 20 đến nay khắc


gỗ dần trở thành một chất liệu gần gũi trong sáng tác của các hoạ sĩ.
Trong chương trình đào tạo cử nhân chuyên ngành mỹ thuật, tranh khắc
gỗ là một trong những môn học cần thiết giúp sinh viên trang bị những kiến thức
chuyên ngành và là cơ sở để thực hành sáng tác. Trên cơ sở đó, nội dung giáo
trình Sáng tác tranh khắc gỗ đen trắng được trình bày gồm những chương mục
sau đây:
Chương 1: Khái quát về tranh khắc gỗ đen trắng
Chương 2: Tranh khắc gỗ đen trắng hiện đại Việt Nam
Chương 3: Kỹ thuật và chất liệu khắc gỗ
Chương 4: Thực hành sáng tác tranh khắc gỗ đen trắng
Chương 5: Nghiên cứu và học tập kinh nghiệm sáng tác từ các hoạ sĩ Việt Nam
tiêu biểu thực hành sáng tác tranh khắc gỗ đen trắng
Mặc dù đã rất nỗ lực trong quá trình biên soạn, song tài liệu khó tránh
khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những góp ý của bạn đọc để tài liệu
ngày càng hoàn thiện hơn.
Trân trọng cảm ơn!
Tác giả

3


MỤC LỤC

Trang
Lời nói đầu…………………………………………………………….

1

Mục lục………………………………………………………………...


2

Danh mục chữ viết tắt………………………………………………..

4

Chương 1: Khái quát về tranh khắc gỗ đen trắng………………….

5

Mục tiêu bài học……………………………………………………….

5

1.1. Khái niệm về tranh khắc gỗ đen trắng…………………………….

5

1.2. Lược sử phát triển của tranh khắc gỗ……………………………...

6

1.3. Lịch sử hình thành và phát triển của tranh khắc gỗ đen trắng Việt Nam...

20

1.4. Ngôn ngữ biểu đạt trong tranh khắc gỗ…………………………….

35


Câu hỏi ôn tập…….……………………………………………………

44

Chương 2: Tranh khắc gỗ đen trắng hiện đại Việt Nam…………...

46

Mục tiêu bài học……………………………………………………….

46

2.1. Tranh in khắc đen trắng giai đoạn 1925 - 1954…………………...

46

2.2. Tranh in khắc đen trắng giai đoạn 1954 - 1975…………………...

50

2.3. Tranh in khắc đen trắng giai đoạn 1975 - 1985……………….…..

71

2.4. Tranh in khắc đen trắng giai đoạn 1986 - nay…………………….

82

Câu hỏi ôn tập………………………………………………………….


100

Chương 3: Kỹ thuật và chất liệu khắc gỗ…………………………...

101

Mục tiêu bài học……………………………………………………….

101

3.1. Chất liệu và dụng cụ khắc…………………………………………

101

3.2. Kỹ thuật tạo bản in………………………………………………...

114

3.3. Kỹ thuật in tranh…………………………………………………..

140

Câu hỏi ôn tập………………………………………………………….

142

Chương 4: Thực hành sáng tác tranh khắc gỗ đen trắng………….

143


Mục tiêu bài học……………………………………………………….

143

4.1. Yêu cầu bài tập……………………………………………………

143

4


4.2. Thực hiện phác thảo……………………………………………….

143

4.3. Khắc tranh…………………………………………………………

145

4.4. In tranh…………………………………………………………….

148

4.5. Tiêu chí đánh giá tác phẩm………………………………………..

149

Câu hỏi ôn tập………………………………………………………….

158


Chương 5: Nghiên cứu và học tập kinh nghiệm sáng tác từ các

159

hoạ sĩ Việt Nam tiêu biểu thực hành sáng tác tranh khắc gỗ đen
trắng…………………………………………………………………...
Mục tiêu bài học……………………………………………………….

159

Thuật ngữ đồ hoạ tranh in…………………………………………...

188

Phụ lục………………………………………………………………...

193

Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………...

216

5


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT VỀ TRANH KHẮC GỖ ĐEN TRẮNG

Mục tiêu bài học

- Giúp sinh viên nắm được những khái niệm cơ bản về tranh khắc gỗ và
tranh khắc gỗ đen trắng.
- Lịch sử phát triển của tranh khắc gỗ.
- Lịch sử hình thành và phát triển của tranh khắc gỗ đen trắng.
- Ngôn ngữ biểu đạt của tranh khắc gỗ đen trắng.
1.1. Khái niệm về tranh khắc gỗ đen trắng
Theo Từ điển mỹ thuật phổ thông “đồ họa tạo hình bao gồm đồ họa giá vẽ và
đồ họa ấn loát trong đó đồ họa ấn loát gồm các thể loại như tranh in lõm (tranh
khắc kim loại, khắc mika), tranh in nổi (tranh khắc gỗ, khắc thạch cao, khắc cao
su, bìa giấy), tranh in phẳng (in đá và các kỹ thuật phái sinh từ in đá), tranh in
xuyên (in lưới, in trổ khuôn), tranh in độc bản”1…. và “Khắc gỗ là một kỹ thuật
in đồ họa sử dụng một bản in bằng gỗ có hình nổi”2. Để tạo ra một bản in khắc
gỗ, đầu tiên:
các họa sĩ vẽ hình ảnh trên bề mặt nhẵn và bằng phẳng của một khối
gỗ rồi dùng dao và đục máng cắt bỏ phần phải có màu trắng trên hình
in, để cho hình vẽ nổi lên như phù điêu. Sau khi bôi mực bề mặt khối
gỗ, họa sĩ đặt lên đó một tờ giấy rồi chà mạnh lên lưng giấy bằng tay
hoặc máy in, hình ảnh trên bản gỗ sẽ chuyển qua mặt giấy một hình
ảnh ngược với mặt vẽ3.
Đó là cách in tranh một màu, với tranh in nhiều màu được thực hiện bằng
cách khắc một bản khắc riêng cho mỗi màu và lần lượt in các bản màu đó trên
cùng một tờ giấy. Các bản gỗ có thể được lưu trữ để in sao lại. Vì có khuôn in,
1

Đặng Bích Ngân (chủ biên) (2002), Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông, Nxb Giáo dục, Hà Nội,
tr.54.
2
Nguyễn Xuân Tiên (2009), Mỹ thuật học, Nxb Trường Đại học Mỹ thuật Tp.Hồ Chí Minh, tr.195.
3
Lê Thanh Lộc (1997), Từ điển Mỹ Thuật, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.1165.


6


nên tác phẩm in gỗ thường có nhiều bản sao tùy ý họa sĩ, đôi khi lên đến hàng
ngàn bản và có thể được in sao cho đến khi các mộc bản đã trở nên quá mòn.
Tranh in khắc gỗ thuộc loại tranh in nổi, “đặc điểm của nó là sự đậm đà, đơn
giản và đường nét lởm chởm, tất cả các đặc điểm là do bản chất của gỗ và dụng
cụ dùng để khắc”4. Trong tranh khắc gỗ truyền thống không gian, hình tượng
thường được diễn đạt ở dạng hai chiều, thiên về tính trang trí hơn tả thực.
Tranh khắc gỗ thuộc phương pháp in nổi, đây là phương pháp in có tuổi
đời lâu nhất trong nghệ thuật tranh in, xuất hiện từ thế kỷ VI ở phương Đông.
Nguyên lý đặc thù của phương pháp in nổi là các phần tử được in luôn nằm cao
hơn so với phần không được in và sử dụng trên các chất liệu như gỗ, in cao su,
bìa, ván ép (MDF). Hiệu quả thẩm mỹ và thị giác của hỉnh ảnh mà phương pháp
in này đem lại thường mang nhiều tính trang trí, đơn giản, khỏe khoắn, cô đọng.
Tranh in thực hiện theo phương pháp này được gọi là tranh in nổi.
1.2. Lược sử phát triển của tranh khắc gỗ
Trong tất cả các thể loại tranh in đồ họa, tranh khắc gỗ là loại tranh in cổ
xưa nhất. Kỹ thuật in khắc gỗ có nguồn gốc từ Trung Quốc, các nhà nghiên cứu
cho rằng tranh in khắc gỗ xuất hiện đầu tiên vào khoảng giữa thế kỷ VI đến cuối
thế kỷ IX, được các Phật tử dùng để in kinh truyền bá giáo lý Phật pháp. Bản in
khắc gỗ đầu tiên trên thế giới đã được tìm thấy trong các hang động ở Đôn
Hoàng, Trung Quốc đó là bản in kinh Kim Cương (Hình 1.1). Bản kinh này
được in vào năm 868 thời nhà Đường (618-907). Hầu hết các bản in gỗ của thời
nhà Đường đều chủ yếu phục vụ tôn giáo như in kinh Phật, bùa hộ mệnh... Từ
triều đại nhà Tống (960-1278) trở đi in khắc

4


Lê Thanh Lộc (1997), Từ điển Mỹ Thuật, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.1165.

7


gỗ
ngà
y
một
trở
nên
phổ
biến
rộn
g
rãi
tron
g xã
hội
Hình 1.1 Kinh Kim Cương, In năm 868, Khắc gỗ đen trắng

Tru
ng

Quốc, in khắc gỗ được mở rộng hơn như in sách với hình minh họa, các giấy tờ
đất, giấy thuế… Nhiều xưởng khắc gỗ đã được mở ra hoạt động sôi nổi “Tuy
nhiên, do nhiều giới hạn nhất định, kỹ thuật in khắc gỗ truyền thống đều in đơn
sắc (monochrome), không gian phẳng, không thể hiện luật viễn cận
(perspective) nên hình ảnh gần giống như tranh thủy mặc thời Bắc Tống”5. Đến
thời nhà Minh (1368-1644) kỹ thuật khắc gỗ lần đầu tiên được sử dụng cho mục

đích nghệ thuật như khắc lại những bức tranh vẽ tay, tranh in có chữ hay những
bài thơ kèm theo. Về kỹ thuật in khắc gỗ thời nhà Minh cũng đã trở nên tiến bộ,
tranh in không chỉ sử dụng đơn giản mực đen như trước mà bắt đầu sử dụng
nhiều màu, mỗi bản khắc in một màu. Kỹ thuật in chuyển màu (color gradation)
được cho là phát minh của Hu Cheng Yen (1582-1672), một danh họa của triều
La Toàn Vinh (01/2009), “Tranh khắc gỗ”, Thông tin Mỹ thuật- Trường Đại học Mỹ thuật Tp.Hồ Chí
Minh, số 25-26, tr.54.
5

8


đình Trung Hoa. Khắc gỗ màu thời Minh ngày càng đạt đến trình độ hoàn hảo,
nhiều tác phẩm nghệ thuật đã được tạo ra với chất lượng tuyệt vời.
Kỹ thuật khắc gỗ đến Nhật Bản từ Trung Quốc vào khoảng thế kỷ VIII
bởi các nhà sư phật giáo. Chủ đề chính của tranh khắc gỗ Nhật Bản lúc này cũng
chỉ trong phạm vi phục vụ tôn giáo như in những cuốn kinh Phật và in hình các
vị Phật lên những tấm bùa may mắn… Vào thời đó có khoảng một triệu cuốn
sách kinh Phật đã được in theo lệnh Hoàng hậu Shotoku. Có thể thấy rõ ràng
khắc gỗ Nhật Bản bị ảnh hưởng mạnh mẽ từ Trung Quốc. Đến giữa thế kỷ IX
các họa sĩ Nhật Bản nhất quyết không đi theo phong cách truyền thống của tranh
Trung Quốc thường là những hình ảnh của những bậc cao nhân đang suy tư,
hình ảnh con người thường nhỏ bé giữa cảnh quan bao la rộng lớn, núi non hùng
vĩ. Thay vào đó các họa sĩ Nhật đã miêu tả những câu chuyện bình dị hàng ngày,
gần gũi với đời sống Nhật Bản. Thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX là thời kỳ khắc gỗ
phát triển cực thịnh ở Nhật Bản. Các họa sĩ Nhật đã sáng tạo ra một dòng tranh
in khắc gỗ riêng biệt được gọi là ukiyo-e. Ukiyo-e nghĩa là “tranh của thế giới
phù du”. Đó là thế giới của những thú vui hưởng lạc, cuộc sống đầy lạc thú phù
du và hão huyền. Các thương gia thuộc tầng lớp giàu có ở các thành phố lớn
Nhật Bản giải thích nghĩa của ukiyo là hưởng thụ. Vậy nên đề tài của dòng tranh

này thường là hình ảnh về nhà hát, quán ăn, phòng trà, những kỹ nữ và những
nhân vật hư cấu trong các tác phẩm văn chương… Ngoài ra ukiyo-e cũng có
những đề tài về phong cảnh, những cảnh sinh hoạt bình dị thường ngày. Nổi
tiếng là loạt tranh phong cảnh tuyệt đẹp của hai họa sĩ Katsushika Hokusai,
Ando Hiroshige như tác phẩm “Under the wave off Kanagawa” (Vượt sóng ra
khỏi Kanagawa) (Hình1.2) của họa sĩ Katsushika Hokusai rất nổi tiếng trên thế
giới. Lúc đầu các họa sĩ Nhật chỉ in tranh với mực đen, về sau kỹ thuật in màu
được phát triển các bức tranh trở nên phức tạp hơn, do đó kỹ thuật in khắc cũng
được cải cách tân tiến hơn. Ukiyo-e được in hàng loạt và bán rộng rãi trên thị
trường bấy giờ, có thể nói đây là hình thức nghệ thuật của giới bình dân.

9


Hình 1.2 Katsushika Hokusai, Under the wave off Kanagawa

1830-1832, Khắc gỗ màu, 25,4x38cm

Hình 1.3 Nghề làm giấy và in tranh ở Nhật Bản

Tranh k
dịu

dàng mới lạ, mặc dù không đúng tỷ lệ nhưng nhìn rất có duyên. Màu sắc chuẩn
không pha trộn được sắp xếp cạnh nhau tạo nên sự đẹp mắt. Những học giả,
những nhà nghiên cứu nghệ thuật Tây phương đã để mắt đến và tìm hiểu về
tranh khắc gỗ Nhật Bản nhiều bài viết giới thiệu và sách ca ngợi không tiếc lời.
Cũng nhờ thế mà thế giới đã biết đến loại tranh khắc gỗ tuyệt vời của người
10



Nhật. Và phong cách ukiyo-e đã tạo nên một ảnh hưởng lớn đến các họa sĩ ấn
tượng từ Vincent Van Gogh, Claude Monet, đến Edgar Degas…
Xuất hiện ở phương Đông từ rất sớm nhưng đến những năm đầu thế kỷ
XIV kỹ thuật khắc gỗ mới bắt đầu mở ra ở phương Tây. Thời kỳ đầu bản khắc
gỗ được dùng để in các hình trang trí trên vải. Với sự phát triển của ngành công
nghiệp giấy tinh vi nhiều chủng loại và sản xuất số lượng lớn ở Pháp, Ý, Đức đã
khiến kỹ thuật khắc gỗ phát triển rộng mở. Tại miền Nam nước Đức tranh khắc
gỗ bắt đầu với hình ảnh của các vị Thánh. Hình ảnh chúa Kitô hay Đức mẹ đồng
trinh Maria đã được in dán vào những tấm thẻ đeo ở cổ hoặc khâu vào quần áo
của những tín đồ hành hương với niềm tin bảo vệ họ khỏi ma quỷ hoặc kẻ xấu.
Năm 1430 đã xuất hiện loại sách in từ bản khắc gỗ, mỗi trang sách được in bằng
một bản in khắc gỗ bao gồm cả chữ viết lẫn hình ảnh. Việc sử dụng các bản
khắc gỗ để minh họa trong sách càng được phổ biến từ khi Johannes
Guntenberg phát triển kỹ thuật in sách. Vào thế kỷ XV tranh in gỗ bắt đầu phát
triển lên một thể loại cao hơn. Cuối thế kỷ XV các họa sĩ lớn thời kỳ này như
Albrecht Dürer và Hans Holbein ở Đức, Lucas von Leyden ở Hà Lan, Titian ở
Ý… đã đưa kỹ thuật khắc gỗ lên một tầm cao mới trở thành một loại hình nghệ
thuật có giá trị thẩm mỹ qua các tác phẩm tuyệt vời của mình. Đặc biệt là
Albrecht Dürer ông đã đưa khắc gỗ ra khỏi tính năng chỉ để in minh họa sách,
ông đã xuất sắc thay đổi diện mạo của tranh khắc gỗ với tác phẩm Samson
Killing the Lion (Samson đang giết Sư tử) (Hình 1.4). Tác phẩm này được thực
hiện với một kỹ thuật khắc điêu luyện với những nhát khắc tự tin, dứt khoát giúp
ông đạt được những hiệu ứng nổi bật. Toàn thể tranh là những nét khắc nhỏ chi
tiết mật độ lúc dày lúc thưa tạo hiệu ứng sáng tối rõ rệt. Dürer không sử dụng
phương pháp in màu mà chọn in đen trắng, nhờ vậy tác phẩm có độ tương phản
sáng tối mạnh cùng với cách đan cài nét vừa phải thông minh đã góp phần đem
đến thành công rực rỡ cho tác phẩm.
Ở Ý, tranh in gỗ lúc đầu được dùng in hình ảnh minh họa cho sách, thời
hoàng kim của tranh khắc gỗ minh họa cho sách bắt đầu từ cuối XIV và kéo dài

khoảng 100 năm. Tranh in minh họa cho sách là một trong những bản in đẹp
11


nhất của thời kỳ Phục hưng Ý. Tờ báo in đã được đưa vào Italy bởi hai người
Đức là Conrad Sweynheym và Arnold Pannartz. Năm 1464 họ thành lập một tờ
báo tại tu viện Benedictine ở Subiaco, có lẽ theo lời mời của Đức Hồng Y
Turrecremata. Cuốn Meditationes de vita Christi (Suy ngẫm về cuộc đời của
Chúa Kitô) được xuất bản tại Rome vào năm 1467 (cũng có tài liệu cho rằng nó
được xuất bản năm 1478) bởi nhà xuất bản Ulrich Han Vienna, trong sách có
khoảng ba mươi tranh khắc minh họa. Cuốn sách tiếp theo De Re Militari (Bàn
về quân sự) được xuất bản ở Verona năm 1472 chứa nhiều hình ảnh minh họa
mô tả của pháo đài và máy móc dùng trong chiến tranh, những bản in này đều
được in bằng tay. Khi Venice trở thành trung tâm xuất bản sách quốc tế, nội
dung của sách rất đa dạng bao gồm không chỉ là các tác phẩm kinh điển bằng
tiếng Latin và tiếng Hy Lạp mà còn các văn án cho tất cả các đối tượng và các
bài viết dành cho người mộ đạo.

12


Hình 1.4 Albrecht Durer, Samson Killing the Lion

1498, Khắc gỗ, 40,6x30,2cm

Hình 1.5 Titian, St.Jerome in the Wilderness

Khắc gỗ, 38,8x54,1cm
Tranh
13



in gỗ không chỉ phát triển trong lĩnh vực minh họa sách, mà dần trở thành nghệ
thuật đạt tính thẩm mỹ cao qua đôi tay tài ba hoạ sĩ lớn ở Ý họa sĩ Tiziano
Vecellio (Titian). Trong tác phẩm St.Jerome in the Wilderness (Thánh Jerome ở
nơi hoang vu) (Hình 1.5), nét khắc lưu loát và mạnh mẽ cho thấy sự thống nhất
với hình tượng được thể hiện trên bề mặt bản vẽ. Titian đã vẽ trực tiếp trên bản
gỗ, và khắc theo nét vẽ của mình về đề tài Thánh Jerome là một chủ đề được yêu
thích nhất trong nghệ thuật Venice từ thế kỷ XV và thường được miêu tả trong
những tác phẩm của Titian. Trong tác phẩm St.Jerome in the Wilderness là hình
ảnh rất nhỏ của vị thánh trong một cảnh quan hoang dã rộng lớn để ẩn tu và cầu
nguyện. Sự hùng vĩ, sống động của phong cảnh đều được tạo ra bởi những
đường nét, mặc dù được khắc trên gỗ. Thông qua tác phẩm này Titian đã giới
thiệu tranh in khắc gỗ đề tài phong cảnh như là một chủ đề độc lập của nghệ
thuật Ý.
Giữa thế kỷ XVI tranh in khắc gỗ đã bắt đầu giảm tầm quan trọng bởi sự
phong phú của những dòng tranh khắc khác như khắc kẽm, khắc đồng… đã thu
hút hầu hết các nghệ sĩ lớn đang làm việc với dòng tranh in. Mãi cho đến cuối
thế kỷ XIX tranh in khắc gỗ mới lấy lại vị trí của nó như là một thể loại sáng tác
chủ yếu.
“Tại Việt Nam, ngành in hình thành và phát triển khá muộn hơn so với
thế giới. Thời nhà Lý, nhà sư Tín Học là người đã in các loại sách cho các chùa
chiền bằng nghề in khắc gỗ”6. Không có một tài liệu chính xác và rõ ràng về
thời gian tranh in khắc gỗ xuất hiện ở Việt Nam. Nhưng thông qua nhiều tài liệu
có thể thấy kỹ thuật in khắc gỗ thời kỳ đầu xuất hiện vẫn không nằm ngoài phục
vụ tôn giáo. Phật giáo phát triển cực thịnh vào thời Lý và tiếp theo là thời Trần
vì vậy có rất nhiều sách kinh được ấn loát.
Trong khi khắc kinh Đại Tạng, các tác phẩm Thiền lâm “Thuyết Chủy
ngữ lục”, “Trúc lâm hậu lục”, Đại hương hải ấn thi tập”, “Thạch thất
mị ngữ”, và “Tăng Già toái sự” của Trần Nhân Tông, và có thể “Khóa

La Toàn Vinh (07/2012), “Lịch sử phát triển của nghệ thuật đồ họa”, Thông tin Mỹ thuật- Trường
Đại học Mỹ thuật TP.Hồ Chí Minh, số 1, tr.23.
6

14


hư lục”, “Thiền tông chỉ nam”, “Kim cương Tam muội kinh”, “Lục thì
sám hối khóa nghi” của Trần Thái Tông, “Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ
lục” của Tuệ Trung Thượng Sĩ cũng được san khắc… Năm 1332 thì
Pháp Loa cho in khắc bộ giới “Tứ phần luật” 5.000 cuốn phát cho tăng
chúng và trong khoảng thời gian nào đó là cuốn “Tam tổ thực lục”.
Như vậy sự thịnh đạt của Phật giáo, nghề in khắc thời Trần được hình
dung rất phát đạt7…
Năm 1396 Hồ Quý Ly cải cách tiền tệ cho phát hành tiền giấy, loại tiền
này có tên “thông bảo hội sao”. Tiền in hình rồng, lân, rùa, chim, phượng, sóng
nước, rong, cho thấy kỹ thuật in ấn đã đạt trình độ cao. Khi nhà Hồ sụp đổ, dưới
sự thống trị của nhà Minh văn hóa của người Việt hầu như bị hủy diệt. Năm
Thái Hòa thứ nhất (1443), đời vua Lê Nhân Tông Lương Như Học (Bách khoa
toàn thư Việt Nam gọi là Lương Nhữ Hộc) khi đang là Ngự tiền học sinh cục
trưởng ông được cử đi sứ sang nhà Minh lần đầu tiên. Năm Thiên Hưng thứ nhất
(1459) ông được cử sang nhà Minh lần hai. Nhờ hai lần đi sứ sang Trung Quốc,
ông học được nghề in mộc bản ở đây. Khi về nước:
…ông đã truyền nghề cho hai làng Liễu Chàng, Hồng Lục ở Hải
Dương. Khoảng năm 1470 thì nghề in khắc đã rất phát triển ở Lục
Liễu… Từ đầu thế kỷ thứ XV đến thế kỷ XIX Liễu Chàng là nghề
khắc ván duy nhất và là trung tâm in sách, in tranh đồ họa cho cả
nước. Vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697) dưới triều Lê, thợ Hồng Lục
Liễu Chàng đã khắc ván in bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bộ lịch sử quan
trọng bậc nhất nước ta8.

Các nghệ nhân ở đây không chỉ khắc chữ mà còn khắc tranh, trong đó có
Bộ Đại bách khoa toàn thư bằng tranh do Henri Oger tổ chức thực hiện vào đầu
thế kỷ thứ XX (Hình 1.6). Nghề in mộc bản chuyển dần sang khắc dấu đồng,
dấu gỗ. Nhưng lịch sử đất nước ghi nhận công lao to lớn của những người thợ
Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược (2001), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà
Nội, tr.21.
8
Đỗ Quốc Vị (2003), “Ông tổ nghề khắc gỗ - in tranh Lương Nhữ Học (1420-1501)”, Tạp chí Nghiên
cứu Mỹ thuật, số 2 (06/2003), tr.60.
7

15


khắc ván in Liễu Chàng, Hồng Lục trong sự nghiệp phát triển văn hóa của dân
tộc.
Việt Nam với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên nhân hoá các hiện tượng thiên
nhiên thành các vị thần nên dòng tranh thờ, tranh Tết ra đời phục vụ đời sống
tinh thần cho người dân thời bấy giờ.
Bia đình làng Đông Hồ có tên là “Đông Hồ tự bi” năm 1680, với hình
khắc đôi chuột giã gạo, rất giống hình trong tranh “Đám cưới chuột”,
gia phả dòng họ Nguyên Đăng ở Đông Hồ đã ghi được chừng 300
năm, phần nào khẳng định cái nguồn gốc trước thế kỷ XVII của Đông
Hồ9.
Tranh dân gian phát triển hưng thịnh, kéo dài từ thế kỷ XVII đến nửa thế
kỷ XIX trải dài khắp cả nước. Dựa theo phong cách nghệ thuật, kỹ thuật in và
nguyên vật liệu làm tranh, có thể quy về một số dòng tranh gọi theo tên những
địa danh sản xuất.
Ở Việt Nam có thể chia ra mấy dòng tranh khắc gỗ như sau:
1. Dòng in khắc Phật giáo, từ thế kỷ XI - XIX.

2. Dòng in khắc tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh) phát triển từ thế kỷ XVI.
3. Dòng in khắc tranh dân gian Hàng Trống (Hà Nội) ra đời từ thế kỷ XVII.
BỘ TRANH KỸ THUẬT CỦA NGƯỜI AN NAM CỦA HENRI OGER

Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược (2001), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà
Nội, tr.24.
9

16


Hình 1.6 Thợ khắc ván, in tranh trong cuốn sách Kỹ thuật của người An
Nam
Tác giả Henri Oger - Sáng tác năm 1908-1909

4. Dòng in khắc tranh Kim Hoàng (Hà Tây, Hà Nội ngày nay) từ thế kỷ XVIIIXIX (dòng tranh này hiện nay đã thất truyền).
5. Dòng in khắc tranh dân gian làng Sình (Huế) ra đời từ thế kỷ XVIII.
6. Dòng tranh thờ miền núi ở các dân tộc phía Bắc như Tày, Nùng, Dao…
7. Dòng tranh Đồ Thế Nam Bộ10.
Mỗi dòng tranh có một phong cách riêng, song tất cả đều được dựng hình
theo kiểu “đơn tuyến bình đồ” dùng nét khoanh lấy các mảng màu và bao lại
toàn hình. Song song với tranh in dân gian sách và tranh in minh họa sách cũng
phát triển mạnh.
10

Hoàng Minh Phúc (2015), Đồ họa in khắc gỗ hiện đại Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.5.

17



Năm 1925 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương được thành lập tạo
điều kiện cho mỹ thuật Việt Nam bước sang một trang mới tiếp cận với mỹ thuật
hiện đại thế giới. Kế thừa vẻ đẹp độc đáo của mỹ thuật truyền thống đồng thời
tiếp thu nét tạo hình mới từ phương Tây các họa sĩ đã tạo nên những tác phẩm
tranh in gỗ có giá trị thẩm mỹ cao. “Tranh khắc gỗ Việt Nam, dù đổi mới tân kỳ
đến đâu chăng nữa thì cũng vẫn là tạo hình Việt, cảnh sắc Việt, hòa sắc
Việt…”11. Với tài năng và sự sáng tạo các họa sĩ đã cho ra đời nhiều tác phẩm
sinh động, màu sắc tươi mới nhưng vẫn đậm đà tính dân tộc như tác phẩm Gội
đầu (Hình 1.7) của Trần Văn Cẩn, Ngày chủ nhật (Hình 1.8), Chợ Nhông (Hình
1.9) của Nguyễn Tiến Chung, Mấy phút nghỉ tay (Hình 1.10) của Tôn Đức
Lượng… Các tranh khắc gỗ này mang đậm đà nét truyền thống Á Đông.
Qua lược sử phát triển của nghệ thuật tranh khắc gỗ có thể thấy bề dày
lịch sử của loại hình tranh in này. Trải qua hàng nghìn năm với nhiều biến đổi
không ngừng tranh khắc gỗ vẫn luôn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn
hóa, văn minh của nhân loại.

Hình 1.7 Trần Văn Cẩn, Gội

đầu
1943, Khắc gỗ màu

11

Nguyễn Đức Hòa, “Tranh khắc gỗ Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại”, Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp
ảnh và Triển lãm - Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm, Hà Nội, số 36 (6/2015), tr.8.

18
Hình 1.8 Nguyễn Tiến Chung, Ngày Chủ nhật

1960, Khắc gỗ màu, 32,2x46,6cm



Hình 1.9 Nguyễn Tiến Chung, Chợ Nhông

1958, Khắc gỗ màu, 55x54cm

19


Hình 1.10 Tôn Đức Lượng, Mấy phút nghỉ tay

1.3.
thành

1971, Khắc gỗ màu, 31x41cm

Lịch sử hình
và phát triển

của tranh khắc gỗ đen trắng Việt Nam
Lịch sử tranh khắc gỗ đen trắng Việt Nam được tính từ nghệ thuật in khắc
sách Phật giáo. Trong nhiều thế kỷ ra đời và phát triển, tranh in khắc sách Phật
giáo được nhìn nhận từ nghệ thuật minh hoạ sách.
Nghề in khắc gỗ ra đời ở Việt Nam gắn liền với nhu cầu phổ biến kiến
thức trong xã hội. Đầu tiên là những văn bia chạm khắc trên đá, rồi sách chép
tay, nhưng cách thức này cũng rất hạn chế do không thể lưu hành rộng rãi trong
nhân dân được. Trong khi đó việc chép tay không tránh khỏi quá trình tam sao
thất bản, mặt khác thời gian để chép lại một cuốn sách đòi hỏi rất nhiều công
sức. Trong điều kiện như vậy nghề in khắc gỗ ra đời dù chưa phải là một lối in
tiên tiến nhưng cũng phần nào khắc phục tình trạng trên. Từ những công việc

thiết thực phục vụ cuộc sống việc in khắc gỗ đã gắn liền với kỹ thuật ấn loát,
nghề in và công việc minh họa sách, sau đó phát triển trở thành một loại hình
nghệ thuật đồ họa độc lập với ngôn ngữ riêng của mình.
20


Năm 1861, người Pháp du nhập kỹ thuật in typo vào Sài Gòn đến đầu thế
kỷ XX mở rộng ra miền Bắc đặc biệt là Hà Nội. Tuy nhiên nghề in khắc gỗ vẫn
tiếp tục được sử dụng vì bấy giờ chữ quốc ngữ chưa phổ biến rộng rãi như cuốn
Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu in chữ Nôm bằng ván gỗ năm 1865 tại
Sài Gòn, một trong số những cuốn sách cuối cùng in bằng bản gỗ.
Tính từ cuối thế kỷ XIX trở về trước người Việt chỉ biết đến một phương
pháp in ấn phổ biến nhất đó là khắc gỗ. Việc in ấn này ban đầu chủ yếu phục vụ
in kinh Phật lưu hành trong nhà chùa, in sách cho triều đình, in truyện, thơ cho
các văn sỹ hay in tranh dân gian phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Vì thế ngày nay với những ván in gỗ còn lưu giữ được đó là những dẫn chứng
cụ thể để chúng ta nhìn nhận về một quá trình phát triển đầy thăng trầm của
nghệ thuật khắc gỗ Việt Nam nói riêng, nghệ thuật Đông Nam Á và Đông Á nói
chung.
Ở Việt Nam trong lịch sử nghệ thuật đồ hoạ đã có những dòng tranh sau:
tranh in khắc Phật giáo, tranh dân gian Đông Hồ (Bắc Ninh), tranh dân gian Hàng
Trống (Hà Nội), tranh dân gian Kim Hoàng (Hà Tây, Hà Nội ngày nay) (hiện
nay đã thất truyền), tranh dân gian làng Sình (Huế), tranh thờ các dân tộc miền núi
phía Bắc, tranh dân gian Nam Bộ.
Trong số các dòng tranh in khắc nêu trên, dòng tranh in khắc Phật giáo là
dòng đồ họa lớn nhất, ra đời từ thế kỷ XI-XIX, trên thực tế còn sớm hơn nữa,
nhưng do chúng ta không tìm thấy bản khắc nào để chứng minh thời điểm ra đời
của dòng tranh này.
Trong giai đoạn Bắc thuộc từ năm 111 trước công nguyên đến thế
kỷ X, không có một di vật ấn loát nào, dù chữ Hán đã được truyền

bá từ thời Sỹ Nhiếp ở vùng Luy Lâu (Dâu Keo ngày nay). Các
Thiền sư Ấn Độ đã đem sang Việt Nam những bản kinh chữ Phạn.
Các Thiền sư Trung Hoa đem sang những bản kinh chữ Hán. Sự
gặp gỡ giữa Hán văn và Phạn văn tại Luy Lâu khá thú vị, mà dấu

21


tích của hai ngôn ngữ đó còn tồn tại đến ngày nay trong các bản
khắc ở các vùng Dâu Keo, Thuận Thành12.
Tranh khắc gỗ giai đoạn này chủ yếu để in sách cho triều đình phong kiến,
cho nhu cầu cá nhân và xã hội nói chung. Dòng tranh khắc gỗ Phật giáo thường
thuê các phường thợ in khắc Hồng Lục, Liễu Chàng - Hải Dương và Nhị Khê Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), họ sử dụng lối khắc vuông, lối khắc này rất phù hợp
với sự biến điệu của chữ Hán và gắn với mỹ cảm ngay ngắn “chữ vuông như
hòm” 13 của kinh Phật. Vào nửa sau của thiên niên kỷ thứ nhất trước Công
nguyên cho đến thế kỷ thứ X, chúng ta không tìm được một bản khắc nào, dù
chữ Hán đã được truyền bá vào Việt Nam. Cho đến tận thế kỷ XI khi triều Lý
thành lập, sử sách có xác nhận việc tồn tại một nghề in khắc gỗ nhưng chúng ta
cũng không tìm thấy ván in để chứng minh cho sự phát triển của nghề in khắc
gỗ Việt Nam trong giai đoạn này. Sách Thiền uyển tập anh ghi: “Một thiền sư
tên là Tín Học (mất năm 1190) có nghề gia truyền in khắc ván kinh. Ông họ Tô,
quê ở hương Chu Minh, phủ Thiên Đức, tu ở chùa Quán Đỉnh, núi Không Lộ,
thuộc trường phái Vô ngôn thông”14 cũng là một chứng cứ quan trọng để xác
nhận công việc in ấn, khắc gỗ đã có từ thế kỷ XII, gắn liền với tên tuổi của thiền
sư Tín Học, không rõ năm sinh nhưng mất năm 1190, đã xuất thân trong một gia
đình chuyên khắc ván in kinh Phật. Maurice Durand có viết trong cuốn Tranh
dân gian Việt Nam như sau:
Nếu căn cứ vào truyền thống của một số làng làm tranh, thì kỹ thuật
in tranh được du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XV, do một nhà
nho nổi tiếng là Lương Nhữ Hộc, thi đỗ năm Đại Bảo thứ 3, đời Lê

(1442). Quả thật ông ta được thờ làm tổ sư nghề làm tranh của làng
Đông Hồ. Lương Nhữ Hộc quê ở làng Hồng Liễu, huyện Trường

12

Phan Cẩm Thượng, Cung Khắc Lược, Lê Quốc Việt (2000), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật,
Hà Nội, tr.15.
13
Sđd, Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr.12.
14
Sđd, Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr.16.

22


Tồn, phủ Hạ Hồng, nay là làng Thanh Liễu, huyện Gia Lộc, tỉnh
Hải Dương15.
Ở Việt Nam tìm được cội nguồn của nghệ thuật đồ họa Việt Nam là điều
hết sức khó khăn. Tất cả các hiện vật, di tích và cả thư tịch cũng rất ít và không
đầy đủ vì vậy việc xác định cội nguồn còn phải tiếp tục sưu tầm. Cho đến nay
chưa có một tài liệu nào công bố chính thức và rõ ràng, tất cả chỉ là phán đoán,
suy luận. Nhiều nhà nghiên cứu đã đi theo nhiều hướng nghiên cứu song chưa
có kết quả thỏa đáng. Có chăng chỉ là những nghiên cứu những hình khắc trên
vách hang Đồng Nội, những hoa văn trên trống đồng Đông Sơn hay trên các sản
phẩm gốm của Việt Nam. Mà những hình khắc này cũng chỉ gọi là “tiền thân
của nghệ thuật đồ họa”16, chứ không phải là phần khắc để in trên ván gỗ.
Nhiều học giả cũng căn cứ vào các thư tịch cổ hoặc các bản in khắc chữ
Hán đó là các bộ Kinh, các bài thuốc truyền thống và thơ ca thời Lý để xác định
nguồn gốc. Tuy nhiên căn cứ vào một số tư liệu chính sử, các nhà nghiên cứu
cho rằng, trước khi tồn tại một dòng tranh Tết đã tồn tại một dòng tranh khắc gỗ

khác.
Trong suốt thời Lý (1010-1225), Đại Việt sử ký toàn thư nhiều lần
nhắc đến việc triều đình cho người sang Trung Quốc thỉnh kinh
sách, đón sư tăng sang truyền đạo, dựng các kho Đại Hưng, Trùng
Hưng và vài chùa khác để chứa kinh. Khánh hạ kinh Phật với sự
chứng giám của cao tăng và vài vua chúa thường được cử hành rất
long trọng, sau đó mới đến việc chép ra nhiều bản, hoặc cho in
khắc gỗ. Mặc dù sử sách đã xác nhận có nghề in khắc gỗ, nhưng vật
chứng không còn, và không có gì đảm bảo rằng trong thời kỳ này in
khắc gỗ là một phương tiện rộng rãi17.
Việc in khắc bản kinh rộng rãi có lẽ đến thời nhà Trần mới được biết rõ
ràng hơn bởi việc in khắc bộ kinh Đại Tạng do Pháp Loa điều hành chứng tỏ
Maurice Durand (Đào Hùng dịch) (1960), Tranh dân gian Việt Nam, tr.6.
Nguyễn Trân (1995), Nghệ thuật Đồ họa, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội, tr.45.
17
Phan Cẩm Thượng, Cung Khắc Lược, Lê Quốc Việt (1999), Đồ họa cổ Việt Nam, Nxb Mỹ thuật, Hà
Nội, tr.16.
15
16

23


nghề in khắc thời Trần được hình dung rất phát đạt “Là một triều đại thượng võ,
có tổ chức hoàn chỉnh nhà Trần đã lãnh đạo dân tộc ba lần chiến thắng quân
xâm lược Nguyên Mông, tất yếu chú ý đến học hành, hành chính, tổ chức các
thông tin xã hội ngay trong thời chiến, mà đồ họa ấn loát là phương tiện không thể
thiếu được khi cần phổ cập các vấn đề của quốc gia”18.

Hình 1.11 Ván in kinh kinh Phật


18

1.12HàBản
sách
Sđd, Đồ họa cổ Việt Nam, NxbHình
Mỹ thuật,
Nội, in
tr.16.
24

kinh Phật


Hình 1.13. Bản in kinh Thích Ca Như Lai và Luân
quán

Hình 1.14. Bản in kinh Tam thập pháp giới đồ
25


×