HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
BỘ MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
----------
TIỂU LUẬN
MÔN HỌC: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
ĐỀ TÀI:CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA
Ở VIỆT NAM
Họ và tên
: TRẦN THỊ THU THỦY
Lớp niên chế
: CQ56.08/06
Lớp tín chỉ
: CQ56.08.3.LT2
Số thứ tự
: 36
Hà Nội – 2020
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
MỤC LỤC
MỤC LỤC....................................................................................................................2
Phần 1: Lý luận chung về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa –hiện đại hóa ở Việt Nam...................................................3
1. Các khái niệm..............................................................................................4
Công nghiệp hóa luôn gắn chặt với hiện đại hóa tất cả các mặt của đời sống kinh
tế - xã hội của một quốc gia. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển
đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh
tế, xã hội quan sát việc sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên
tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học và công
nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao....................................................4
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa hiện đại hóa được hiểu
là quá trình vận động, phát triển của các ngành kinh tế làm thay đổi trong tổng
thể, trong tỷ trọng và trong mối quan hệ của các ngành trong một nền kinh tế phù
hợp với tiến trình và mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.................4
2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế............................................5
1.2.1.1 Quy luật tiêu dùng của Engel ( nhà kinh tế học người Đức)............5
1.2.1.2 Quy luật năng suất lao động của A.Fisher(nhà kinh tế học người Mỹ)......5
Phần 2: Thực trạng về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa –hiện đại hóa ở Việt Nam...................................................6
2.1. Khái quát về cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam hiện nay........................6
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế.........................................................10
Phần 3 : Giải pháp cho vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam..................................................12
3.1. Hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển.............................................12
3.2. Phát triển khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nhằm thúc
đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế...........................................................13
3.3. Đẩy mạnh hoạt động thương mại nhằm thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành
kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế....................13
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................15
2
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Tăng tưởng GDP 10 năm gần đây của Việt Nam
Bảng 2: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo ngành kinh tế
Phần 1: Lý luận chung về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa ở Việt Nam
3
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tập hợp các bộ phận hợp thành tổng thể nền kinh tế và mối
tương quan tỷ lệ giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể
Cơ cấu kinh tế được phân thành nhiều loại: cơ cấu ngành kinh tế; cơ cấu
vùng kinh tế; cơ cấu thành phần kinh tế. Trong đó, cơ cấu ngành có vai trò quan
trọng nhất, sự biến động của nó có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển của nền
kinh tế mỗi quốc gia.
1.1.2. Cơ cấu ngành kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu kinh tế trong đó mỗi bộ phận hợp thành là một
ngành hay một nhóm ngành kinh tế
Hiện nay, khi phân tích cơ cấu ngành của một quốc gia, người ta thường phân
tích theo 3 nhóm ngành chính : Nông nghiệp (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư
nghiệp), Công nghiệp (bao gồm công nghiệp và xây dựng), Dịch vụ (bao gồm các
ngành kinh tế còn lại như : bưu điện, du lịch …).
1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự vận động phát triển của các ngành
làm thay đổi vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa chúng theo thời gian để phù
hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã
hội.
1.1.4. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp hóa luôn gắn chặt với hiện đại hóa tất cả các mặt của đời sống
kinh tế - xã hội của một quốc gia. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình
chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản
lí kinh tế, xã hội quan sát việc sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học và
công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
1.1.5. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong công nghiệp hóa hiện đại hóa
được hiểu là quá trình vận động, phát triển của các ngành kinh tế làm thay đổi
4
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
trong tổng thể, trong tỷ trọng và trong mối quan hệ của các ngành trong một nền
kinh tế phù hợp với tiến trình và mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
2.1.1. Những cơ sở lý thuyết
1.2.1.1 Quy luật tiêu dùng của Engel ( nhà kinh tế học người Đức)
Được phát hiện từ cuối thế kỉ 19, E.Engel đã rút ra quy luật tiêu dùng cá nhân :
khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, tỷ lệ chi tiêu của hộ gia đình cho lương
thực, thực phẩm giảm. Do đó, tỷ trọng nông nghiệp cũng giảm khi thu nhập tăng lên
đến một mức nhất định vì chức năng chính của nông nghiệp là sản xuất lương thực,
thực phẩm. Đồng thời, E.Engel đã đề xướng ra đường Engel- một đường biểu thị mối
quan hệ giữa thu nhập và tiêu dùng cá nhân về một loại hàng hoá cụ thể. Đường Engel
được minh hoạ như sau:
Tiêu dùng
Thu nhập
Đường Engel
Độ dốc của đường này ở bất kì điểm nào chính là xu hướng tiêu dùng biên của
hàng hoá và cho thấy tỷ số thay đổi tiêu dùng so với thay đổi thu nhập, nó phản ánh độ
co giãn của tiêu dùng một loại hàng hoá cụ thể đối với thu nhập dân cư. Các nhà kinh
tế phân loại thành ba loại hàng hoá, trong đó nông sản là hàng thiết yếu, công nghiệp
là hàng hoá lâu bền, dịch vụ là hàng hoá cao cấp. Và như vậy có thể đưa ra kết luận là
khi thu nhập tăng thì tỷ trọng chi tiêu cho hàng hoá thiết yếu giảm, tỷ trọng chi tiêu
cho hàng hoá lâu bền tăng, tỷ trọng chi tiêu cho dịch vụ tăng.
1.2.1.2 Quy luật năng suất lao động của A.Fisher(nhà kinh tế học người Mỹ)
Trong cuốn “Các quan hệ kinh tế của tiến bộ kĩ thuật”, trên cơ sở quan niệm
nền kinh tế gồm ba khu vực: nông - lâm - ngư nghiệp - khai thác khoáng sản, các
5
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
ngành công nghiệp xây dựng chế biến và các ngành dịch vụ; A.Fisher phân tích rằng:
ngành nông nghiệp dễ có khả năng thay thế lao động nhất do sử dụng máy móc thiết bị
và phương thức canh tác mới và tỷ lệ lao động nông nghiệp trong cơ cấu ngành kinh
tế có xu hướng giảm. Trong khi đó, công nghiệp là ngành khó có khả năng thay thế lao
động hơn do tính phức tạp về công nghệ sản xuất nên khả năng thay thế lao động khó
hơn cộng với độ co dãn về cầu tiêu dùng sản phẩm công nghiệp là dương nên tỷ trọng
lao động công nghiệp có xu hướng tăng. Còn ngành dịch vụ được coi là khó thay thế
lao động nhất và có xu hướng càng tăng nhanh khi kinh tế phát triển.
2.1.2. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Từ những cơ sở lý thuyết nêu trên có thể rút ra xu hướng của sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành đối với các nước từ nền kinh tế nông nghiệp đi lên chuyển dịch theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Các ngành công nghiệp và dịch vụ có tốc độ
tăng trưởng cao hơn nông nghiệp do đó tỷ trong nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh
tế giảm dần, tỷ trọng công nghiệp dịch vụ tăng lên. Đối với các nước đã công
nghiệp hóa thành công thì xu hướng chung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là phát
triển mạnh các ngành dịch vụ.Do đó dần dần tỷ trọng nông nghiệp và công nghiệp
giảm dần, tỷ trọng dịch vụ tăng lên. Có thể nói những kết luận của E.Engel và
A.Fisher đã gợi ra những nội dung khá rõ ró nét về xu thế chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế trong quá trình phát triển.
Phần 2: Thực trạng về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa ở Việt Nam
2.1. Khái quát về cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam hiện nay
Tăng trưởng và phát triển kinh tế vĩ mô của mỗi quốc gia thường đi liền với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành kinh tế (các cơ cấu kinh tế bao
gồm: Cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế vùng/lãnh thổ, cơ cấu thành phần kinh tế...) Trong
những năm qua, cơ cấu kinh tế của nước ta chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa giảm tỷ trọng ngành Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản, tăng tỷ trọng ngành
Công nghiệp và Dịch vụ, phát huy lợi thế so sánh ngành và vùng lãnh thổ .Nhờ đó, sau
hơn 30 năm đổi mới, kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng. Từ
một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, Việt Nam đã
xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội, từng bước đáp ứng
6
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã
hội cho phát triển dài hạn và bền vững.
2.1.1.Thực trạng của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong giai
đoạn tính đến cuối 2019
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa đã được
Đảng và Nhà nước ta xác định là con đường tất yếu để Việt Nam nhanh chóng thoát
khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại.
Theo định hướng đó, việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước ta đã đạt được
những thành tựu đáng kể, tuy nhiên bên cạnh đó cũng vẫn còn tồn tại một số hạn chế
cần được khắc phục trong thời gian tới.
2.1.2 Những thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
* Kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định
Năm
2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Tốc độ tăng 6.78
5.89
5.03
5.42
5.98
6.68
6.21
6.81
7.08
2019
7.02
(%) GDP
Bảng 1. Tăng tưởng GDP 10 năm gần đây của Việt Nam
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2019 đạt kết quả ấn tượng với tốc độ
tăng 7,02% vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra từ 6,6%-6,8% .Đây là năm thứ hai liên
tiếp tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt trên 7% kể từ năm 2011. Kết quả này cho thấy
Việt Nam đã bước vào thời kỳ tăng trưởng nhanh và ổn định,
* Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nă
m
Cơ cấu GDP(%)
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch vụ
2010
20.58
41.09
38.33
2011
22.01
40.23
37.76
7
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
2012
19.67
38.63
41.7
2013
18.38
38.31
43.31
2014
17.70
33.21
39.40
2015
17
33.25
39.73
2016
16.32
32.72
40.92
2017
15.34
33.34
41.32
2018
14.57
34.28
41.17
2019
13.96
34.49
41.64
Bảng 2: Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo ngành
kinh tế
(Nguồn: nhap.htm)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo hướng
công nghiệp hóa hiện đại hóa. Trên thực tế, đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích
cực: tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 20.58% năm 2010
xuống còn 13.96% năm 2019. Tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên. Cơ
cấu GDP tính theo giá thực tế năm 2019 như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ
sản chiếm 14% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34%; khu vực dịch vụ
chiếm 42%.
* Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế, phát huy các lợi thế so sánh
Đầu tiên phải kể đến xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ
trọng sản xuất hàng hoá, hướng về xuất khẩu .Tính chung năm 2019, kim ngạch hàng
hóa nhập khẩu ước tính đạt 253,51 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2018, trong đó khu
vực kinh tế trong nước đạt 108,01 tỷ USD, tăng 13,8%; khu vực có vốn đầu tư nước
ngoài đạt 145,50 tỷ USD, tăng 2,5%. Trong năm 2019 có 37 mặt hàng nhập khẩu đạt
kim ngạch trên 1 tỷ USD, chiếm tới 90,6% tổng kim ngạch nhập khẩu Các hoạt động
khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) cũng đều tăng trưởng khả quan.Năm
2010 , vốn FDI vào Việt Nam là 19.764 triệu USD; 2018: 35.884 triệu USD; 2019 là
38.02 triệu USD. Nhiều sản phẩm cuả Việt Nam như : Gạo, cao su , may mặc, giày dép
, hải sản ….. có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.
8
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
Những năm gần đây, đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài có xu hướng
ngày càng tăng. Đây là hoạt động có tiềm năng, không chỉ giúp cho các doanh nghiệp
mở rộng thị trường đóng góp cho sự phát triển đất nước, mà còn góp phần nâng cao vị
thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như : Tập đoàn TH và
Matxcơva (Liên bang Nga) với thỏa thuận hợp tác để triển khai Dự án Chăn nuôi bò
sữa và chế biến sữa tập trung quy mô công nghiệp công nghệ cao, vốn đầu tư 2,7 tỷ
USD ; Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel: với các dự án phát triển mạng viễn thông
ở Campuchia, Lào; Công ty sữa Vinamilk chuyên bán buôn nguyên liệu nông nghiệp
cũng như bán buôn bán lẻ sữa, các chế phẩm từ sữa…
2.1.3.Những hạn chế chủ yếu của quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế
* Sự chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế theo chiến lược CNH-HĐH và tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực còn rất chậm, cả về tỷ trọng lần chất lượng.
Theo quy luật chuyển đổi cơ cấu ngành trong tiến trình CNH-HĐH thì tỷ trọng
trong GDP của công nghiệp và dịch vụ phải tăng lên, nông nghiệp giảm xuống. Tỷ
trọng trong GDP của ngành công nghiệp tăng và nông nghiệp giảm là phù hợp, nhưng
tốc độ chuyển dịch còn chậm.
Bên cạnh đó, chất lượng chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế cũng như trong
nội bộ các ngành chưa cao. Yếu tố hiện đại trong toàn ngành công nghiệp chưa được
quan tâm đúng mức, trình độ kỹ thuật công nghệ vẫn ở mức trung bình. Những ngành
dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị gia tăng cao như dịch vụ tài chính - tín dụng,
dịch vụ tư vấn chậm phát triển. Quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành cũng chưa tạo được
sự gắn kết chặt chẽ giữa các ngành công, nông nghiệp và dịch vụ, và giữa các phân
nhánh ngành của nội bộ các ngành đó.
* Xu hướng cơ cấu ngành nghiêng về hướng nội thay thế nhập khẩu, chưa triệt
để tuân theo chiến lược tăng trưởng hướng vào xuất khẩu.
Trong cơ cấu công nghiệp, phát triển các ngành nghiêng về hướng nội, sử dụng
nhiều vốn, ít lao động, không tạo điều kiện nhảy vọt cơ cấu và thực hiện công nghiệp
hóa hiện đại hóa.Các ngành mũi nhọn phát triển, có hàm lượng công nghệ - kỹ thuật và
lao động cao như điện tử và một số ngành chế tạo ô tô, xe máy thì còn non trẻ, vẫn còn
ở trình độ lắp ráp, chưa đủ sức cạnh tranh quốc tế.
9
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
Trong cơ cấu nông nghiệp, tuy đã có nhiều sản phẩm hướng vào xuất khẩu như
gạo, cà phê, chè, hạt tiêu, các sản phẩm thủy sản… nhưng những ngành mới thay thế
ngành sản xuất khai thác lợi thế sẵn có chưa nhiều.
Ở khu vực dịch vụ, loại hình dịch vụ chất lượng cao hướng tới xuất khẩu như
tài chính - ngân hàng, viễn thông, tư vấn, du lịch ... còn chiếm tỷ trọng nhỏ, các ngành
dịch vụ xuất khẩu tại chỗ, dịch vụ cho nền kinh tế hiện đại để hội nhập sâu vào kinh tế
khu vực và quốc tế còn chưa phát triển mạnh.
* Hình thành một cơ cấu ngành khai thác nguồn lực kém hiệu quả, năng lực
cạnh tranh kinh tế thấp cả trên thị trường trong nước và nước ngoài.
Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2010-2019 chưa sử dụng hết các
nguồn lực, thậm chí còn gây lãng phí. Việc giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông
nghiệp để di chuyển sang các ngành công nghiệp và dịch vụ diễn ra rất chậm. Việc
nâng cao trình độ tay nghề của đội ngũ lao động trong từng ngành cũng còn rất chậm
chạp và tình trạng dư thừa lao động đang là sức ép lớn.
Nhiều sản phẩm như xi măng, đường, giấy… giá bán trong nước còn cao hơn
giá nhập khẩu các sản phẩm đó. Ngoài ra, các sản phẩm còn có chất lượng thấp,
thương hiệu sản phẩm chưa được chú trọng, dịch vụ sau bán chưa tốt... làm cho khả
năng cạnh tranh của các sản phẩm thấp, khó tiêu thụ trong nước và xuất khẩu
2.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Bên cạnh các chủ trương, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng đắn, góp
phần thu hút đáng kể vốn đầu tư trong và ngoài nước, cả trực tiếp và gián tiếp vào kinh
tế, nhờ đó đạt được những thành tựu nổi bật… quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
của Việt Nam cũng không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế.
2.2.1. Chiến lược, quy hoạch cơ cấu ngành ổn định, dài hạn được đưa ra chậm
và thực hiện chưa nghiêm ngặt.
Trên thực tế chuyển dịch cơ cấu ngành ở Việt Nam vẫn bị định hướng bởi quy
hoạch mang tính cục bộ, từng ngành, địa phương nhằm phục vụ lợi ích cục bộ và ngắn
hạn, bỏ qua lợi ích quốc gia dài hạn. Kế hoạch tổng thể vì thế mà thường xuyên bị điều
chỉnh, thậm chí là phá vỡ. Kết quả là dù khẩu hiệu đưa ra là đẩy mạnh chiến lược phát
triển hướng về xuất khẩu nhưng tăng trưởng vẫn có xu hướng nghiêng về phát triển
các ngành hướng nội. Việc chậm trễ đưa ra danh mục sản phẩm mũi nhọn, then chốt
của đất nước kéo theo chậm trễ trong việc lựa chọn các ngành mũi nhọn, hệ quả là sự
10
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
lúng túng trong việc phân bổ các nguồn lực, xác định cơ cấu lao động, vốn và lên kế
hoạch thu hút vốn đầu tư.
2.2.2. Cơ cấu ngành được nhấn mạnh chuyển đổi mặt lượng, chưa chú trọng
đúng mức chuyển đổi mặt chất.
Dù đã đạt được một số thành tựu nhất định nhưng cơ cấu ngành vẫn thiên về
chuyển đổi theo chiều rộng, thay đổi tỷ trọng trên cơ sở mở rộng vốn đầu tư và tiêu
dùng chứ chưa chú trọng nhiều đến chuyển đổi chiều sâu dựa vào tăng năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm và đổi mới công nghệ. Năng suất lao động chưa cao, chi
phí đầu tư lớn kết hợp với việc tiêu hao nhiều vật chất đầu vào đã làm giảm đi đáng kể
lợi thế cạnh tranh của Việt Nam với các nước khác trên thế giới.
Trong khi cơ cấu ngành đạt được những bước tiến nhất định thì phân công lao
động xã hội lại chậm thay đổi. Công nghiệp mở rộng, đầu tư và tăng trưởng kĩ thuật
cao nhưng thu hút lao động không tăng tương ứng, chất lượng lao động cũng chưa
theo kịp tiến bộ công nghệ. Sự mất cân đối này dẫn đến giảm hiệu quả đầu tư, xa hơn
là giảm hiệu quả chuyển đổi cơ cấu ngành
2.2.3. Chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa chuyển đổi cơ cấu ngành với chuyển
đổi cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.
Tình trạng phân bổ các ngành và khu vực công nghiệp chưa hợp lý giữa các
vùng, miền còn khá phổ biến. FDI chủ yếu tập trung ở các tỉnh thành phố lớn như Hà
Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… chứ chưa mở rộng đến các tỉnh vùng sâu vùng xa. Đầu
tư cho những vùng này mới chỉ dừng lại ở việc đảm bảo sinh tồn và xoá đói giảm
nghèo chứ chưa giúp họ khai thác được tiềm năng sẵn có, phát huy những nguồn lực
xuất khẩu.
Nhìn chung, cơ cấu ngành kinh tế của nước ta đã bước đầu chuyển dịch theo định
hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng và Nhà nước. Cùng với tốc độ tăng cao
liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo
hướng tích cực với sự tăng lên của tỷ trọng công nghiệp và giảm dần của tỷ trọng nông
nghiệp trong GDP. Cơ cấu ngành của nền kinh tế cũng đã chuyển dịch theo hướng mở
cửa, hội nhập với kinh tế toàn cầu. Sản xuất hàng hoá đã tập trung về các mặt hàng có lợi
thế so sánh theo hướng xuất khẩu ra thế giới. Mặc dù đã có sự chuyển dịch đúng hướng
nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế do nguyên nhân khách quan và chủ quan. Đặc biệt
là tiến độ thực hiện còn chậm và chất lượng chưa cao so với mục tiêu đề ra. Trong bối
11
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái hiện nay, việc đề ra các giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ hơn
nữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở nước ta là nhiệm vụ rất cần thiết.
Phần 3 : Giải pháp cho vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa- hiện đại hóa ở Việt Nam.
3.1. Hoàn thiện chính sách đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là một trong những nhân tố quan trọng tạo nên tăng trưởng kinh tế
và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
*Về định hướng thu hút vốn đầu tư
Vốn đầu tư gồm hai nguồn chính: vốn trong nước và vốn nước ngoài. Bên cạnh việc
thu hút vốn nước ngoài, chúng ta cần phải thu hút hơn nữa nguồn vốn từ tiết kiệm
trong nước vì đây được coi là nguồn chính đảm bảo cho sự tăng trưởng dài hạn của
một quốc gia. Các biện pháp thu hút vốn trong nước bao gồm: phát triển và ổn định
các kênh huy động vốn; bảo vệ và khuyến khích đầu tư từ khu vực tư nhân, đối xử
bình đẳng về mọi mặt: vay vốn, hỗ trợ ưu tiên của Nhà nước…
* Về định hướng cơ cấu đầu tư
Tập trung vốn đầu tư cho các ngành trọng điểm; các vùng kinh tế trọng điểm, các
khu công nghiệp, khu công nghệ cao; khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, phân tán,
kém hiệu quả góp phần hình thành các ngành ,các vùng sản xuất , xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam.
* Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
- Thứ nhất, đối với đầu tư công, cần tăng cường khả năng tổ chức, quản lý, tăng tính
minh bạch trong các dự án và việc sử dụng nguồn vốn nói chung nhằm chống thất
thoát, lãng phí; rút vốn khỏi những lĩnh vực không cần thiết. Với các doanh nghiệp
Nhà nước, cần kiên quyết xử lý: bán, sáp nhập, cho phá sản những doanh nghiệp Nhà
nước hoạt động kém hiệu quả; ngăn chặn việc biến độc quyền Nhà nước thành độc
quyền của doanh nghiệp Nhà nước; kiểm soát việc đầu tư của các tập đoàn kinh tế Nhà
nước vào các lĩnh vực không cần thiết…
- Thứ hai, khu vực kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi
khổng lồ từ dân và cũng là khu vực đầu tư hoạt động hiệu quả trong nền kinh tế. Do
đó, Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích, hỗ trợ đối với đầu tư tư nhân.
12
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
3.2. Phát triển khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nhằm thúc đẩy
chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế
*Phát triển khoa học – công nghệ
Ngày nay, KHCN ngày càng khẳng định vai trò động lực cho phát triển kinh tế bền
vững nói chung và cho tiến trình CNH – HĐH, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành nói
riêng. Đầu tư đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với định hướng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Đây là yêu cầu cần thiết để không ngừng nâng cao năng lực
cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của các ngành.
*Đào tạo nguồn nhân lực
Đào tạo nguồn nhân lực được coi là khâu quyết định trong quá trình chuyển đổi cơ
cấu ngành trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Để có được nguồn nhân lực như
vậy, cần phải phát triển nguồn nhân lực theo các hướng sau:
- Thứ nhất, mở rộng quy mô đào tạo. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo còn chiểm
phấn lớn trong tổng số lao động ở nước ta. Các giải pháp lớn cho vấn đề này là tăng
đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, đẩy mạnh hợp tác
quốc tế về giáo dục và đào tạo
-Thứ hai, điều chỉnh cơ cấu đào tạo theo hướng phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ
cấu ngành. Theo hướng chuyển đổi cơ cấu ngành, cơ cấu lao động xã hội cũng phải
dịch chuyển theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong các ngành nông nghiệp, tăng tỷ
trọng lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ.
3.3. Đẩy mạnh hoạt động thương mại nhằm thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành
kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.
Thương mại vừa là một phân ngành trong khu vực dịch vụ của cơ cấu kinh tế, sự
tăng trưởng của nó làm thay đổi cơ cấu ngành. Đồng thời thương mại là khâu trung
gian nối liền sản xuất với tiêu dùng, có vai trò quan trọng giải quyết đầu ra của sản
xuất, vì vậy, hoạt động thương mại có tác động lớn tới chuyển đổi cơ cấu ngành, tới
các cân đối giữa sản xuất – lưu thông, thị trường trong và ngoài nước.Hội nhập kinh tế
toàn cầu đem lại cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức. Để nâng
cao năng lực hoạt động của thương mại nhằm thúc đẩy chuyển đổi nhanh cơ cấu ngành
nói riêng và phát triển kinh tế nói chung, cần thực hiện các giải pháp chủ yếu sau:
13
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
* Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách, cơ chế quản lý thương mại thích ứng
với quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành
-Thứ nhất: thực hiện đa dạng hóa hình thức tổ chức kinh doanh
-Thứ hai: coi trọng cả thị trường trong nước và nước ngoài
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cần:
+Kích cầu trong nước (cầu tiêu dùng và cầu đầu tư) để gia tăng sức mua, tiêu thụ sản
phẩm, tạo đầu ra cho sản xuất đang có chiều hướng trì trệ hiện nay.
+Xây dựng các trung tâm thương mại, trung tâm thông tin, trung tâm kiểm tra chất
lượng, chợ buôn bán nông sản để tiêu thụ hàng hóa. Các trung tâm này là đầu mối tíến
hành các thương vụ buôn bán nông sản trong nước cũng như xuất khẩu nông sản, có
đầy đủ các hạ tầng cơ sở tốt.
+Coi xuất khẩu là mũi nhọn để phát triển sản xuất hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Mở rộng thị trường nước ngoài cần theo hướng đa phương hóa để giảm bớt rủi
ro trong phát triển sản xuất xuất khẩu
* Chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu
Chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa, không tập trung vào
một mặt hàng, vừa đẩy mạnh xuất khẩu, vừa tránh rủi ro. Chuyển đổi cơ cấu mặt hàng
xuất nhập khẩu phải phù hợp với quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế. Cụ thể:
+Gia tăng tỷ trọng hàng xuất khẩu qua chế biến.
+Trong cơ cấu hàng nhập khẩu, hạn chế hàng tiêu dùng trong nước có thể sản xuất
được, chú trọng thiết bị máy móc công nghệ cao.
+Chú trọng hơn nữa tới các hoạt động như du lịch, viễn thông, ngân hàng, hàng
hải… dần dần đưa lên thành các lĩnh vực xuất khẩu quan trọng.
14
36-56.08.03LT2
SV:Trần Thị Thu Thủy
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Kinh tế phát triển. Đồng chủ biên: TS.Đinh Văn Hải – TS.Lương
Thu Thủy – Nhà xuất bản Tài chính-2014
2. Niên giám thống kê các năm từ 2010-2019
3. Website:
/> /> /> /> nhap.htm
15