Chuyên đề 5. GIẢI PHÁP THỊ TRƯỜNG CHO CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH
HÀNG MÂY TRE ĐAN CỦA TỈNH THÁI BÌNH
Trần Thị Ngọc Lan, Trần Hữu Cường
5.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về giải pháp thị trường
5.1.1 Cơ sở lý luận về giải pháp thị trường
Khái niệm thị trường, thị trường quốc tế
Thị trường là một phạm trù cơ bản của nền kinh tế hàng hoá- kinh tế thị trường.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thị trường, theo quan niệm thị trường như một vị
trí địa lý: “Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu, hay nó là tập hợp những dàn xếp
mà thông qua đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch
vụ ”[4].
Theo Samueson (1948), “Thị trường là một quá trình, trong đó người mua và
người bán một thứ hàng hoá tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và lượng hàng
hoá”. Với định nghĩa này, ông đã đơn giản hoá rằng, đây là một quá trình mua bán diễn ra
trực tiếp giữa người mua và người bán mà ít bị điều khiển hoặc các yếu tố bên ngoài chi
phối tới cả quá trình.
Nhưng với David Begg (1995), thị trường được xem xét dưới nhiều khía cạnh
hơn, “Thị trường là sự biểu hiện thu gọn của quá trình mà thông qua đó, các quyết định
của các gia đình về tiêu dùng mặt hàng nào, quyết định của các công ty về sản xuất cái gì,
sản xuất như thế nào và các quyết định của người công nhân về việc làm bao lâu, cho ai
đều được dung hoà bằng sự điều chỉnh của giá cả”.
Nói tóm lại, thị trường thể hiện tổng hoà các mối quan hệ về lợi ích giữa người
mua và người bán trên một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhất định.
Vậy thị trường có một vai trò rất quan trọng:
- Thị trường là nơi quyết định giá cả của hàng hoá và dịch vụ
- Thị trường là vấn đề sống còn của DN, là nơi kiểm nghiệm, đáng giá kết quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của DN một cách chính xác nhất.
- Thị trường là nơi mà Nhà nước có thể tác động các chính sách kinh tế vĩ mô để
điều tiết, kiểm soát, bình ổn thị trường, khuyến khích cả sản xuất và tiêu dùng trong xã
hội.
Hệ thống thị trường ở Việt Nam có 5 loại cơ bản: thị trường hàng hoá và dịch vụ;
thị trường sức lao động (còn gọi là thị trường lao động); thị trường tiền tệ, thị trường
khoa học và công nghệ, thị trường đất và bất động sản.
* Thị trường mua hay gọi là thị trường đầu vào: thị trường đầu vào gồm thị
trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường nhiên liệu, thị trường
công nghệ…
* Thị trường tiêu thụ hay thị trường đầu ra: là nơi các doanh nghiệp xuất hiện với
389
tư cách người bán.
* Thị trường nội địa (thị trường trong nước) là nơi các hoạt động trao đổi mua,
bán giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng giới hạn trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia.
Thị trường này bao gồm:
+ Thị trường tại chỗ bao gồm những khách hàng ở gần doanh nghiệp
+ Thị trường vùng: khách hàng của doanh nghiệp không chỉ gồm những người
trong địa phương mà có thể còn là người ở các vùng khác, thậm chí nhiều vùng.
+ Thị trường toàn quốc: sản phẩm của doanh nghiệp có thể được tiêu thụ trong cả
nước, vì vậy mà khách hàng của doanh nghiệp có thể phân bố trên khắp đất nước.
* Thị trường quốc tế (thị trường ngoài nước): khách hàng của doanh nghiệp là
người tiêu dùng của các quốc gia khác. Hoạt động mua bán trên thị trường này chịu sự
chi phối của luật lệ buôn bán quốc tế, việc thanh toán mua, bán hàng hoá được thực hiện
bằng tiền tệ quốc tế.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế của các quốc gia, biên giới giữa thị trường trong
nước và thị trường ngoài nước đang bị “mờ dần” thì Chính phủ các nước ngày càng quan
tâm hơn để phát triển thị trường quốc tế. Thị trường quốc tế của một nước là tập hợp
những khách hàng nước ngoài tiềm năng có nhu cầu về những mặt hàng nào đó của nước
đó. Ngày nay quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của du lịch
càng tạo điều kiện thuận lợi cho sự mở rộng thị trường quốc tế của doanh nghiệp. Theo
nghĩa đó thì thị trường quốc tế của một nước chính là thị trường XK hàng hoá của nước
đó, trong đó bao hàm cả XK đi qua hải quan và XK tại chỗ.
Khái niệm về thị trường xuất khẩu hàng hoá
Thị trường xuất khẩu hàng hoá (phân biệt với thị trường xuất khẩu dịch vụ) là tập
hợp người mua và người bán có quốc tịch khác nhau, tác động với nhau để xác định giá
cả, số lượng hàng hoá mua bán, chất lượng hàng hoá và các điểu kiện mua bán khác theo
hợp đồng, thanh toán chủ yếu bằng ngoại tệ và phải làm thủ tục hải quan trừ trường hợp
khách hàng du lịch quốc tế mua hàng Việt Nam để tiêu dùng. Thị trường XK hàng hoá
bao hàm cả thị trường XK hàng hóa trực tiếp (nước tiêu thụ cuối cùng) và thị trường XK
hàng hoá gián tiếp trung gian, thị trường XK tại chỗ hàng hoá[4]. Thị trường XK hàng
hoá hiểu theo khái niệm trên được phân loại theo các tiêu chí cơ bản sau:
* Căn cứ vào vị trí địa lý, có:
- Thị trường Châu Á
- Thị trường Châu Âu
* Căn cứ vào lịch sử ngoại thương, có:
- Thị trường truyền thống
- Thị trường hiện tại (thị trường hiện có)
- Thị trường mới
- Thị trường tiềm năng
* Căn cứ vào mức độ quan tâm và tính ưu việt trong chính sách phát triển thị
trường của nước XK đối với các thị trường XK, có:
390
- Thị trường XK trọng điểm hay thị trường chính. Đối với loại thị trường này,
trong quan hệ ngoại thương, nước XK có thể chấp nhận một số thiệt thòi về lợi ích trước
mắt để thu được lợi ích lâu dài. Đây là thị trường mà một nước sẽ nhằm vào khai thác
chính và trong một tương lai lâu dài.
- Thị trường XK tương hỗ. Đối với thị trường này, nước XK duy trì quan hệ ngoại
thương dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau, nhất là trong việc
mở cửa thị trường và mở rộng thị trường.
* Căn cứ vào sức mua của thị trường, có:
- Thị trường có sức mua lớn
- Thị trường có sức mua trung bình
- Thị trường có sức mua thấp
* Căn cứ vào kim ngạch XNK và cán cân thương mại giữa nước XK với nước NK,
có:
- Thị trường xuất siêu
- Thị trường nhập siêu
* Căn cứ vào mức độ mở cửa thị trường, mức độ bảo hộ, tính chặt chẽ và khả
năng thâm nhập thị trường, có:
- Thị trường “khó tính”
- Thị trường “dễ tính”
* Căn cứ vào sức cạnh tranh của hàng hoá XK và khả năng cạnh tranh của các doanh
nghiệp của nước XK, có:
- Thị trường XK có ưu thế cạnh tranh
- Thị trường XK không có ưu thế cạnh tranh
* Căn cứ vào nhu cầu và định hướng hoạt động của các doanh nghiệp.
- Thị trường mục tiêu
- Thị trường tiềm năng
* Căn cứ vào thoả thuận thương mại cấp Chính phủ và các yêu cầu của đối tác thương
mại về việc có hạn chế hay không hạn chế định lượng NK một số mặt hàng, có:
- Thị trường XK theo hạn ngạch
- Thị trường XK không có hạn ngạch
* Căn cứ vào loại hình cạnh tranh trên thị trường, có:
- Thị trường độc quyền
+ Thị trường độc quyền là nơi mà chỉ có một hoặc vài doanh nghiệp độc chiếm
việc bán hoặc mua một hàng hoá dịch vụ nào đó.
+ Thị trường độc quyền “nhóm”
- Thị trường cạnh tranh là thị trường mà ở đó có rất nhiều doanh nghiệp cùng cung
ứng một sản phẩm hoặc dịch vụ cho khách hàng.
+ Thị trường cạnh tranh hoàn hảo
+ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Một dạng của loại hình này đã được
nhiều nước ứng dụng thành công khi tìm kiếm thị trường XK là: “thị trường ngách”. Thị
trường ngách là một khoảng trống hay những “khe nhỏ” trên thị trường, ở đó đã xuất hiện
hay tập hợp nhu cầu về một loại hàng hoá nào đó. Những nhu cầu này chưa được các nhà
kinh doanh khai thác phát hiện hoặc phát hiện ra, nhưng họ không có lợi thế hoặc không
muốn đầu tư vào để thoả mãn. Đối với nước ta, thị trường “ngách” cần được đặc biệt lưu
391
tâm nghiên cứu để XK hàng hoá vì quy mô và khối lượng XK nhiều loại hàng hoá của
nước ta phù hợp với loại thị trường này.
Căn cứ vào vị trí địa lý
- Thị trường Châu Á
- Thị trường Châu Âu,…
Căn cứ vào mức độ quan tâm
- Thị trường XK trọng điểm
- Thị trường XK tương hỗ
CÁC
LOẠI
THỊ
TRƯỜNG
Căn cứ vào thoả thuận TM cấp CP
- Thị trường XK theo hạn ngạch
- Thị trường XK không có hạn ngạch
XUẤT
KHẨU
Căn cứ vào mức độ mở
- Thị trường khó tính
- Thị trường dễ tính
Căn cứ vào hình thức
C.tranh
- Thị trường độc quyền
- Thị trường cạnh tranh
Căn cứ vào kim ngạch XK
- Thị trường xuất siêu
- Thị trường nhập siêu
HÀNG
Căn cứ vào mức độ cạnh tranh
- Thị trường có ưu thế cạnh tranh
- Thị trường không có ưu thế cạnh
tranh
HOÁ
Căn cứ vào nhu cầu của khách
hàng
- Thị trường mục tiêu
- Thị trường tiềm năng
Căn cứ vào L.sử ngoại
thương
- Thị trường truyền thống
- Thị trường hiện tại
- Thị trường mới
Căn cứ vào sức mua
- Thị trường có sức mua lớn
- Thị trường có sức mua trung
bình
- Thị trường có sức mua thấp
Hình 5-1 Các loại thị trường xuất khẩu hàng hoá
Khái niệm về thị trường hàng hoá xuất khẩu
Thị trường hàng hoá XK là thị trường tiêu thụ các sản phẩm hàng hoá của các
ngành hàng sản xuất với mục đích để XK hoặc XK ra nước ngoài là chính, một phần nhỏ
392
tiêu thụ trên thị trường nội địa[4].
Thị trường tiêu thụ hàng hoá XK bao gồm 2 phân hệ lớn là thị trường tiêu thụ
hàng hoá XK ở nước ngoài và thị trường tiêu thụ hàng hoá XK trong nước. Trong đó, khi
nói về thị trường hàng hoá XK thì trước hết và chủ yếu là nói đến thị trường XK hàng
hoá. Và do đó, nhiệm vụ của giải pháp thị trường (GPTT) hàng hoá XK cũng trước hết và
chủ yếu là giải pháp thị trường XK hàng hoá. Tuy nhiên, trên thị trường thế giới về một
loại hàng hoá XK nào đó gặp khó khăn do có sự cạnh tranh gay gắt hoặc cung vượt cầu
quá lớn, XK gặp khó khăn thì giải pháp thị trường để tiêu thụ các hàng hoá XK trong
nước trở lên đặc biệt quan trọng, giúp các ngành sản xuất hàng hoá XK tránh được nguy
cơ đình đốn hoặc phá sản.
Khái niệm GPTT cho hàng hoá XK được hiểu là một quá trình diễn ra đồng thời,
tiếp tục ở cả ba cấp độ: mở - giữ - phát triển thị trường cả về chiều sâu và chiều rộng.
Như vậy thị trường XK hàng hoá và thị trường hàng hoá XK là hai khái niệm
khác nhau. Trong đó, khái niệm thị trường hàng hoá XK có ngoại diện rộng hơn khái
niệm thị trường XK hàng hoá.
Hoạt động thị trường của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa
người sản xuất và người tiêu dùng được vận hành do sự điều tiết của quan hệ cung cầu.
Đặc trưng cơ bản nhất của cơ chế thị trường là động lực lợi nhuận, nó chỉ huy
hoạt động của các chủ thể. Trong kinh tế thị trường, đặc điểm tự do lựa chọn hình thức
sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm: “lãi hưởng lỗ chịu”, chấp nhận cạnh tranh, là
những điều kiện hoạt động của cơ chế thị trường. Sự tuân theo cơ chế thị trường là điều
không thể tránh khỏi đối với các doanh nghiệp, nếu không sẽ bị đào thải.
Vậy hoạt động thị trường được hiểu là: quá trình tương tác lẫn nhau giữa các chủ
thể (hoạt động) kinh tế trong việc hình thành giá cả, phân phối tài nguyên, xác định khối
lượng và cơ cấu sản xuất. Sự tương tác của các chủ thể tạo nên những điều kiện nhất định
để nhà sản xuất, với hành vi tối đa hóa lợi nhuận, sẽ căn cứ vào giá cả thị trường để quyết
định ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai.
a) Nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp
Nghiên cứu thị trường là một nhiệm vụ quan trọng đối với mọi doanh nghiệp để
nhằm hiểu biết quy luật vận động cuả chúng. Mỗi thị trường hàng hoá cụ thể có quy luật
vận động riêng. Quy luật đó thể hiện qua sự biến đổi về cung cầu, giá cả hàng hoá vì
trong nền kinh tế thị trường, muốn bán được hàng hoá và dịch vụ, doanh nghiệp phải
cung cấp cái mà người tiêu dùng cần chứ không phải cái mà doanh nghiệp có hoặc có khả
năng cung cấp.
Nghiên cứu thị trường thế giới không chỉ giới hạn ở lĩnh vực lưu thông mà ở cả
lĩnh vực sản xuất, phân phối hàng hoá. Các DN phải tiến hành nghiên cứu cả thị trường
trong nước và thị trường ngoài nước thông qua các hoạt động thị trường. Ở những doanh
nghiệp lớn có thể có những bộ phận chuyên nghiên cứu thị trường. Ở những doanh
nghiệp nhỏ chủ doanh nghiệp phải làm việc này. Doanh nghiệp nhỏ nếu không tự làm
được thì có thể thuê chuyên gia hoặc tổ chức tư vấn về nghiên cứu thị trường để họ tư
393
vấn cho doanh nghiệp.
Thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau, thường là đa
dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa. Các nhân tố này có thể mang tính
vĩ mô và vi mô. Một cách khái quát nhất, việc nghiên cứu thị trường quốc tế được tiến
hành theo các nhóm nhân tố ảnh hưởng sau:
- Nghiên cứu các nhân tố mang tính toàn cầu: Nhân tố thuộc về hệ thống thương
mại quốc tế. Mặc dù xu hướng chung trên thế giới là tự do hoá mậu dịch và các nỗ lực
chung để giảm bớt hàng rào ngăn cản đối với kinh doanh quốc tế, các nhà kinh doanh
nước ngoài phải đối mặt với các hạn chế thương mại khác nhau. Phổ biến nhất là thuế
quan, một loại thuế do Chính phủ nước ngoài đánh vào những sản phẩm nhập khẩu. Nhà
xuất khẩu cũng có thể phải đối mặt với hạn ngạch.
Thương mại quốc tế cũng bị ảnh hưởng bởi hạn chế do việc kiểm soát ngoại hối
và đối diện với một loạt các hàng rào phi thuế quan như giấy phép nhập khẩu, những sự
quản lý, điều tiết định hình như phân biệt đối xử với các nhà đầu tư nước ngoài, các tiêu
chuẩn sản phẩm mang tính phân biệt đối xử với hàng nước ngoài.
- Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường kinh tế: Khi xem xét các thị trường
nước ngoài, nhà kinh doanh phải nghiên cứu nền kinh tế của từng nước. Có ba đặc tính
kinh tế phản ánh sự hấp dẫn của một nước xét như một thị trường cho các doanh nghiệp
nước ngoài đó là:
+ Cấu trúc công nghiệp của nước nhập khẩu;
+ Việc phân phối thu nhập;
+ Động thái của các nền kinh tế (tốc độ tăng trưởng ảnh hưởng đến nhu cầu thị
trường và tổng mức nhập khẩu sản phẩm).
- Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường chính trị-luật pháp: Các quốc gia khác
nhau về môi trường chính trị - pháp lý. Do đó khi xem xét khả năng mở rộng hoạt động
sang một thị trường nước ngoài cần chú ý đến nhân tố cơ bản sau:
+ Thái độ đối với nhà kinh doanh nước ngoài;
+ Sự ổn định chính trị;
+ Sự điều tiết về tiền tệ;
+ Tính hiệu lực của bộ máy chính quyền.
Các qui định mang tính chất bắt buộc về pháp luật và quản lý như việc cấm đoán
hoặc kiểm soát đối với một số hàng hoá dịch vụ, cấm một số phương thức hoạt động
thương mại (trong lĩnh vực quảng cáo), các kiểu kiểm soát về giá cả, các tiêu chuẩn mang
tính bắt buộc đối với sản phẩm.
- Nghiên cứu các nhân tố thuộc môi trường văn hoá: Mỗi quốc gia đều có những
tập tục, qui tắc, bản sắc riêng. Chúng được hình thành theo truyền thống văn hoá mỗi
nước và có ảnh hưởng to lớn đến tập tính tiêu dùng của khách hàng nước đó. Tuy sự giao
lưu văn hoá giữa các nước đã làm xuất hiện khá nhiều tập tính tiêu dùng chung cho moị
dân tộc. Song những yếu tố văn hoá truyền thống vẫn còn rất bền vững và có ảnh hưởng
mạnh đến thói quen và tâm lý tiêu dùng. Sự khác biệt văn hoá ảnh hưởng tới cách thức
giao dịch được tiến hành, sản phẩm và hình thức khuyếch trương.
- Nghiên cứu về môi trường khoa học kỹ thuật: Cần phải xem xét tới khả năng phát
triển khoa học ở các thị trường tránh trường hợp đi sau hoặc phát triển ở cuối chu kỳ sống
của sản phẩm trên thị trường đó.
- Nghiên cứu về quy mô và cơ cấu thị trường, về hành vi mua sắm của khách
hàng: lượng khách hàng, doanh thu theo thời gian, không gian, phân tích về thị phần, cơ
394
cấu thị trường theo mặt hàng và theo khu vực địa lý, phân tích động cơ và thói quen khi
mua hàng của dân cư…
- Nghiên cứu nhân tố thuộc môi trường cạnh tranh: Trước hết, các nhà kinh
doanh nước ngoài phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh nội địa và các doanh nghiệp
nước ngoài đang hoạt động trên thị trường đó. Các doanh nghiệp cần chú ý tới việc
nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh của mình về số lượng, khả năng cung ứng, khả năng tài
chính, kế hoạch sản xuất, kế hoạch tiêu thụ... Cần phải nghiên cứu kỹ phản ứng của các
đối thủ cạnh tranh trước các biện pháp về giá, quảng cáo khuyến mại của công ty.
Môi trường bên ngoài cạnh tranh rất ác liệt, để phân tích áp lực cạnh tranh đó,
chúng tôi dùng mô hình năm cạnh tranh của Porter.
Theo mô hình năm cạnh tranh của Porter, doanh nghiệp luôn phải chịu năm áp lực
cạnh tranh, bao gồm: áp lực cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại trong ngành, áp lực cạnh
tranh từ các đối thủ mới, áp lực từ nhà cung cấp và áp lực từ dịch vụ hay sản phẩm thay
thế.
Đối thủ tiềm ẩn
Đe dọa của các đối thủ
chưa xuất hiện
Cạnh tranh nội bộ ngành
Nhà
cung
cấp
Quyền
lực
đàm
phán
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
đang có mặt trên thị trường
Khách
Quyền
lực
đàm
phán
hàng
Nhà
phân
phối
Thách thức của sản
phẩm, dịch vụ thay thế
Sản phẩm thay thế
Hình 5-2 Sơ đồ mô hình năm áp lực thị trường của Porter
- Nghiên cứu về sản phẩm: chủng loại, màu sắc, kích cỡ, những sản phẩm được ưa
chuộng trên thị trường, nghiên cứu về sản phẩm mới và sản phẩm của đối thủ cạnh tranh,
nghiên cứu về bao bì và mẫu mã hàng hoá, nghiên cứu về những kiến nghị của khách
hàng về sản phẩm.
- Nghiên cứu giá cả: sự biến động giá cả trên thị trường, sự thay đổi giá cả của
395
những đối thủ cạnh tranh, biến động về tỷ giá ngoại tệ…
- Nghiên cứu về phân phối: nghiên cứu điểm bán hàng, bố trí kho, nghiên cứu về
mạng phân phối của đối thủ cạnh tranh, mạng lưới đại lý và mạng lưới bán lẻ. Nhằm đáp
ứng, phục vụ khách hàng một cách tốt nhất. Bên cạnh đó công ty cần nghiên cứu tổ chức
mạng lưới tiêu thụ sao cho phù hợp với điều kiện của mình nhằm đạt hiệu quả tốt nhất.
- Nghiên cứu về quảng cáo, khuyến cáo và các hình thức bán hàng và từ các
nghiên cứu về thị trường sẽ đưa ra được những giải pháp về thị trường cho doanh nghiệp.
Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, các thông tin về các đối thủ cạnh tranh như:
chính sách giá, chính sách phân phối, chính sách sản phẩm... mà đưa ra các dự báo thị
trường gồm những nội dung như: dự báo về số lượng hành hoá cung ra thị trường, dự báo
về nhu cầu thị trường, dự báo về thay đổi thị hiếu người tiêu dùng, dự báo về giá cả…,
các doanh nghiệp nâng cao khả năng thích ứng với thị trường của các sản phẩm do mình
sản xuất ra và tiến hành tổ chức tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mà thị trường đòi hỏi.
+ Doanh nghiệp có thể dự đoán hàng hoá tiêu thụ trên thị trường.
+ Thông qua nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được đối thủ cạnh
tranh, điểm mạnh, điểm yếu của họ.
b) Khái niệm giải pháp thị trường của doanh nghiệp
Giải pháp thị trường là một chuyên ngành mới ở Việt Nam, nếu được áp dụng
thường mang lại hiệu quả thị trường khá cao. Tuy nhiên, đã nhanh chóng trở thành nhu
cầu lớn cho xã hội và không thể thiếu cho sự phát triển của doanh nghiệp.
Hộp 1
Theo ông Hoàng Hải Âu - Giám đốc Công ty Cổ phần Giải pháp thị trường Hoàng Gia - một trong
những Công ty về giải pháp thị trường cho rằng: “Hiện nay thương hiệu quyết định sự tồn tại của
một doanh nghiệp và một sản phẩm muốn đứng vững trên thị trường phải có thương hiệu”. Điều
đáng tiếc là doanh nghiệp thực hiện được việc xây dựng thương hiệu thì chưa phải là nhiều trong
số các doanh nghiệp tìm hiểu giải pháp thị trường thì có khoảng 60% là doanh nghiệp Nhà nước
và 40% là doanh nghiệp tư nhân, nhưng chỉ có khoảng 10% là thực hiện một cách bài bản.
Hoạt động thị trường trong của các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến vị
trí của doanh nghiệp trên thị trường. Bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường, lập danh mục
hàng hoá, đến thực hiện sản xuất, phân phối và khi hàng hoá được bán thì hoạt động thị
trường vẫn được tiếp tục cho đến chức năng quản trị thị trường có liên quan đến các lĩnh
vực quản trị khác trong DN và nó có vai trò định hướng, kết hợp các chức năng khác để
không chỉ nhằm lôi kéo khách hàng mà còn tìm ra các công cụ có hiệu quả để thoả mãn
nhu cầu của khách hàng, từ đó đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Khái niệm giải pháp thị trường
Thị trường thể hiện tổng hoà các mối quan hệ về lợi ích giữa người mua và người
bán trên một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhất định.
Quy luật thị trường: là quy luật mà sản phẩm nếu được thị trường chấp nhận thì
tồn tại, nếu thị trường không chấp nhận nó sẽ bị đào thải.
396
Giải pháp: là các biện pháp tác động làm sao cho hoạt động kinh tế đó tồn tại trên
thị trường và được thị trường chấp nhận.
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu: Giải pháp thị trường là tổng hợp các
yếu tố đúng và cần thiết có tính quy luật để một doanh nghiệp, một thương hiệu, một sản
phẩm thành công trên thương trường”[7].
Hay “Giải pháp thị trường là những phương pháp tác động, các mối quan hệ kinh
tế để giúp cho việc trao đổi hàng hoá trong nền kinh tế được nhanh hơn và có hiệu quả
hơn”. Vì vậy, giải pháp thị trường bao gồm: nghiên cứu, xây dựng và tổ chức các chương
trình tác động thị trường của một sản phẩm cụ thể, thẩm định hiệu quả của nó, thiết kế và
thực hiện quảng cáo…từ đó tạo nên một thương hiệu có chỗ đứng trên thị trường.
Và chức năng của phòng kinh doanh trong các doanh nghiệp có nhiệm vụ chính là
nghiên cứu và xác định các yếu tố có tính quy luật đó cho mỗi sản phẩm, mỗi doanh
nghiệp một cách chuyên nghiệp và có hệ thống để đưa ra các giải pháp thị trường.
c) Nội dung của giải pháp thị trường
Giải pháp thị trường được hiểu là các phương cách tác động, thúc đẩy, kích thích
các nhân tố khác nhau tham gia vào quá trình kiến tạo, gìn giữ, mở rộng và phát triển thị
trường tiêu thụ hàng hoá. Mỗi giải pháp cụ thể đều hướng vào giải quyết các mặt, các
khía cạnh khác nhau, các quá trình kinh tế khác nhau nhưng chúng có quan hệ hữu cơ với
nhau và cùng thực hiện mục tiêu chung là thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá.
Về mặt lý thuyết, để đạt được mục tiêu xác định, người ta thường đưa ra các giải
pháp tổng thể, để đạt được mục tiêu và giải pháp cụ thể giải quyết các khía cạnh, các mặt
khác nhau, các nhân tố khác nhau tác động đến việc đạt được mục tiêu. Vì thế có những giải
pháp ở tầm chiến lược, có những giải pháp về mặt chính sách, có những giải pháp cụ thể để
thực hiện chính sách. Thông thường các giải pháp phải linh hoạt để thích ứng với tình hình
kinh tế cụ thể.
Phát triển sản phẩm, thiết lập các kênh phân phối, định giá sản phẩm, xúc tiến bán
hàng, đóng gói sản phẩm, định vị thị trường (thâm nhập thị trường và phát triển thị
trường theo cả chiều sâu và chiều rộng), yếu tố con người là những nội dung cơ bản của
giải pháp thị trường.
Phát triển sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động
tiêu thụ sản phẩm. Trong nền kinh tế thị trường chất lượng sản phẩm là một vũ khí cạnh
tranh sắc bén có thể dễ dàng đè bẹp các đối thủ cạnh tranh cùng ngành. Vì vậy, các
chương trình quảng cáo khi nói về sản phẩm của công ty, nhiều sản phẩm đưa tiêu chuẩn
chất lượng lên hàng đầu: “Chất lượng tốt nhất”, “chất lượng vàng”, “chất lượng không
biên giới”...[7].
Chất lượng sản phẩm tốt không chỉ thu hút được khách hàng làm tăng khối lượng
sản phẩm tiêu thụ mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao uy tín cho doanh
nghiệp, đồng thời có thể nâng cao giá bán sản phẩm một cách hợp lý mà vẫn thu hút được
khách hàng. Ngược lại, chất lượng sản phẩm thấp thì việc tiêu thụ sẽ gặp khó khăn, nếu
397
chất lượng sản phẩm quá thấp thì ngay cả khi bán giá rẻ vẫn không được người tiêu dùng
chấp nhận. Đặc biệt trong ngành công nghiệp TCMN mây tre đan thì chất lượng sản
phẩm có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng sản phẩm tiêu thụ.
Việc bảo đảm chất lượng lâu dài với phương châm: “Trước sau như một” còn có ý
nghĩa là lòng tin của khách hàng đối với DN là uy tín của doanh nghiệp đối với khách
hàng. Chất lượng sản phẩm tốt sẽ như sợi dây vô hình thắt chặt khách hàng với doanh
nghiệp, tạo đà cho hoạt động tiêu thụ diễn ra thuận lợi.
Định giá sản phẩm
Giá cả là yếu tố luôn giữ vai trò quan trọng và phức tạp nhất mà một doanh
nghiệp phải đối mặt, các hiện tượng giá luôn mang ý nghĩa chung là: lợi ích kinh tế được
xác định bằng tiền. Còn đối với người mua, giá hàng hoá luôn được coi là chỉ số đầu tiên
để họ đánh giá phần “được” và chi phí phải bỏ ra để sở hữu và tiêu dùng hàng hoá.
Giá chỉ là một côg cụ thuộc marketing-mix mà doanh nghiệp dùng để đạt mục
tiêu của mình. Điều đó có nghĩa là khi ra quyết định về giá phải đảm bảo tính nhất quán
với các quyết định về sản phẩm, kênh phân phối và xúc tiến bán hàng. Các doanh nghiệp
nên thường xuyên xem xét và xem xét lại các mức giá của các sản phẩm TCMN mây tre
đan đang cung cấp để đảm bảo rằng nó luôn phù hợp với thực tế của thị trường hiện tại.
Đôi lúc các doanh nghiệp có thể cần giảm giá các sản phẩm, dịch vụ.
Nhiều doanh nghiệp thấy rằng lợi nhuận của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó không có
sự tương đồng với các công sức và nguồn lực bỏ ra để sản xuất chúng. Bằng việc nâng
giá, các doanh nghiệp có thể đánh mất một số lượng khách hàng, nhưng tỷ lệ % khách
hàng còn lại có thể sẽ phát sinh lợi nhuận trên từng giao dịch bán hàng.
Đôi lúc các doanh nghiệp cần thay đổi các điều khoản và điều kiện bán hàng. Đôi
lúc bằng việc kéo giãn mức giá của bạn trong một vài tháng hay một vài năm, bạn có thể
bán được nhiều hàng hơn.
Đôi lúc các doanh nghiệp có thể phối kết hợp nhiều sản phẩm cùng với nhau để
có các chào hàng hay các xúc tiến đặc biệt.
Đôi lúc các doanh nghiệp có thể đưa vào một hai khuyến mãi nhỏ nào đó mà ít
tốn kém chi phí song khiến mức giá của bạn hấp dẫn hơn đối với các khách hàng.
Trong kinh doanh, đúng như bản chất của nó, bất cứ khi nào doanh nghiệp thấy
được một sự kháng cự hay thất vọng đối với bất cứ phần nào của các hoạt động bán hàng
hay Marketing, hãy sẵn sàng xem xét lại bộ phận đó. Hãy sẵn sàng với khả năng rằng cấu
trúc giá cả hiện tại của doanh nghiệp có thể chưa thích hợp với thị trường trong cùng thời
điểm. Hãy sẵn sàng với nhu cầu đánh giá lại các mức giá nhằm duy trì tính cạnh tranh,
sống sót và tăng trưởng trong một thị trường thay đổi nhanh chóng.
Thiết lập hệ thống kênh phân phối
Phân phối là toàn bộ quá trình hoạt động theo không gian, thời gian, nhằm đưa
sản phẩm từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Kênh phân phối là tập hợp các cá nhân hay công ty tự gánh vác hay giúp đỡ
chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hóa cụ thể hay một dịch vụ
398
trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Hệ thống kênh phân phối là quan hệ của một nhóm các tổ chức và cá nhân tham
gia vào quá trình đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng, là một
hệ thống các mối quan hệ tồn tại giữa các tổ chức có liên quan trong quá trình mua và
bán hàng hóa.
Có nhiều cách phân loại kênh phân phối theo các tiêu thức khác nhau
- Theo tiêu thức trực tiếp, gián tiếp:
+ Kênh phân phối trực tiếp: Đây là kênh phân phối mà trong đó không tồn tại nhà
phân phối trung gian. Các nhà sản xuất bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.
Xuất khẩu trực tuyến: Thông qua thương mại điện tử rất nhiều doanh nghiệp
đã mạnh dạn chọn kênh xuất khẩu trực tuyến (một kênh giao dịch quan trọng có thị phần
cao của Mỹ và hơn 40 quốc gia khác) để mở rộng thị trường và đa dạng hóa hoạt động
kinh doanh của mình.
Xuất khẩu tại chỗ: Đây là kênh phân phối cung cấp hàng hoá cho khách
tham quan du lịch nước ngoài tại các khu du lịch.
+ Kênh phân phối gián tiếp: Đây là kênh phân phối có sử dụng các thành phần
trung gian trong quá trình lưu thông hàng hóa. Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà khách
hàng trực tiếp của nhà sản xuất có thể là nhà bán buôn, hay bán lẻ. Nhà sản xuất không
trực tiếp bán hàng cho người tiêu dùng. Trong kênh phân phối này sản phẩm có thể được
lưu thông qua nhiều nhà trung gian khác nhau mới tới tay người tiêu dùng. Khi sản phẩm
phải qua tay nhiều nhà trung gian giá cả của nó sẽ tăng lên khi đến tay người tiêu dùng.
Hộp 2
Theo anh Hoàng Long, phụ trách marketing của một công ty chuyên sản xuất đồ thủ công mỹ
nghệ: “Hiện nay, các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của các công ty có quy mô nhỏ như chúng tôi
đều hướng tới xuất khẩu, đặc biệt là tới các thị trường lớn và tiềm năng như thị trường Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, với cách làm truyền thông, chi phí để tham gia các cuộc hội chợ triển lãm quốc tế, các
hoạt động xúc tiến thương mại, giới thiệu sản phẩm là rất cao, đôi khi vượt quá khả năng của
doanh nghiệp…”.
+ Kênh phân phối hỗn hợp: Đây là kênh phân phối mà trong đó nhà sản xuất sử
dụng cả hai hình thức phân phối sản phẩm trực tiếp đến tay người sử dụng và qua trung
gian. Trong hình thức tổ chức kênh phân phối này nhà sản xuất khai thác được thế mạnh
khi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng cũng như lợi thế của các nhà trung gian.
- Theo tiêu thức độ dài kênh:
+ Kênh phân phối dài: Đây là hình thức phân phối có sự tham gia của nhiều nhà trung
gian. Trong đó hàng hóa trước khi tới tay người tiêu dùng phải trải qua nhiều nhà trung gian,
từ các nhà buôn lớn tới nhà buôn nhỏ rồi tới các nhà bán lẻ.
+ Kênh phân phối ngắn: Đây là hình thức phân phối hàng hóa trực tiếp từ nhà sản
xuất đến người sử dụng không qua trung gian hoặc có nhưng không qua nhiều nhà trung
gian. Thông thường kênh phân phối ngắn xác định trong trường hợp chỉ có một nhà trung
gian tham gia phân phối sản phẩm và đó có thể là nhà bán buôn hoặc bán lẻ.
- Theo tính chất sản phẩm của kênh:
+ Kênh phân phối sản phẩm cho tiêu dùng;
+ Kênh phân phối sản phẩm cho khách hàng công nghiệp.
399
Đối với khách hàng công nghiệp, các kênh thường ngắn hơn. Lý do là khách hàng
loại này ít hơn, tập trung hơn về mặt địa lý và số lượng mua thường lớn.
Các nhà quản trị phải nắm được ưu nhược điểm của các hình thức tổ chức kênh
phân phối, kết hợp với tình hình thực tế của đơn vị mình để lựa chọn một hình thức sao
cho hiệu quả nhất.
Kênh phân phối hoạt động được thông qua các dòng vận động (dòng chảy), các
dòng chảy này kết nối các thành viên kênh với nhau, là một quá trình vận động liên tục
không ngừng. Mỗi dòng chảy là một tập hợp các chức năng được thực hiện thường xuyên
bởi các thành viên kênh.
Dòng
Thông tin
Dòng
Thanh toán
Dòng
Đàm phán
Dòng
Sản phẩm
Dòng
Sở hữu
Dòng
Xúc tiến
Người
Sản xuất
Người
Sản xuất
Người
Sản xuất
Người
Sản xuất
Người
Sản xuất
Người
Sản xuất
Công ty
Vận tải
Đơn vị
Quản cáo
Công ty
Vận tải
Người
Bán buôn
Người
Bán buôn
Người
Bán buôn
Người
Bán buôn
Người
Bán buôn
Người
Bán buôn
Người
Bán lẻ
Người
Bán lẻ
Người
Bán lẻ
Người
Bán lẻ
Người
Bán lẻ
Người
Bán lẻ
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng
Người
tiêu dùng
Hình 5-3 Các dòng lưu chuyển trong kênh phân phối
d) Thâm nhập thị trường
Thâm nhập thị trường là việc tăng trưởng bằng việc đạt được thị phần của sản phẩm
hiện có trong thị trường hiện có. Thực hiện thông qua:
+ Quảng cáo: thu hút những người chưa sử dụng sản phẩm thì sử dụng sản phẩm,
khuyến khích những người đã sử dụng sản phẩm thì sử dụng nhiều hơn.
+ Định giá thấp: thu hút người mua từ đối thủ cạnh tranh.
400
Trong kinh doanh, khi muốn thâm thập thị trường, doanh nghiệp không thể nhằm
vào tất cả khách hàng vì thị trường rất rộng và không đồng nhất, mà tiềm lực của mỗi
doanh nghiệp lại có hạn. Doanh nghiệp nên chọn cho mình một thị trường nhỏ hơn hợp
với sức của mình, cần chia nhỏ thị trường theo phương pháp “cắt lát”. Doanh nghiệp sẽ
tập trung mọi nỗ lực vào một đoạn hay một vài đoạn thị trường thích hợp để làm thị
trường đích. Tốt nhất là doanh nghiệp nên chọn những đoạn rỗng. Đoạn thị trường rỗng
là đoạn chưa có doanh nghiệp nào cung ứng sản phẩm. Nếu chọn đoạn này thì doanh
nghiệp sẽ không phải cạnh tranh với doanh nghiệp khác, nhờ vậy mà khả năng thâm thập
vào thị trường trở nên thuận lợi hơn rất nhiều.
Về lý thuyết thì dù thị trường có phồn thịnh đến đâu vẫn tồn tại những đoạn thị
trường rỗng. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải tìm ra những đoạn thị trường rỗng này
và tìm cách để thâm nhập vào nếu nó muốn thành công.
e) Phát triển thị trường
Tăng trưởng bằng cách gia nhập thị trường mới với những sản phẩm hiện có, thực
hiện về khía cạnh mặt hàng, theo chiều sâu và chiều rộng. Khi định hướng cho phát triển
thị trường, một nước có thể phát triển theo chiều rộng hay chiều sâu hoặc cùng một lúc
phát triển theo cả 2 hướng này (tức là đồng thời phát triển theo cả 2 hướng cả về lượng và
cả về chất).
Phát triển thị trường chiều rộng là quá trình phát triển cả về số lượng khách hàng
có cùng loại nhu cầu để bán nhiều hơn một loại sản phẩm hàng hoá nào đó. Đồng thời
việc phát triển theo chiều rộng còn bao gồm cả việc phát triển về không gian thị trường
và phạm vi địa lý của thị trường tiêu thụ hàng hoá. Quá trình đó đòi hỏi phải không
ngừng nghiên cứu xu thế phát triển, biến đổi của kinh tế thế giới, các loại thị trường nước
ngoài để thâm nhập vào các thị trường đó.
Phát triển thị trường theo chiều sâu bao gồm các nội dung cơ bản sau:
+ Một là, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá và các dịch vụ kèm theo, đưa ra
thị trường những hàng hoá tinh xảo và chất xám cao.
+ Hai là, trên cùng một không gian địa lý thị trường cần đẩy mạnh sự phát triển
đồng bộ các loại thị trường như các thị trường XK hàng hoá, dịch vụ, vốn, sức lao động,
các sản phẩm trí tuệ… để bổ sung, hỗ trợ và tạo tiền đề cho nhau phát triển.
+ Ba là, xây dựng và mở rộng không ngừng mạng lưới (hệ thống) phân phối đối
với từng mặt hàng trên các thị trường.
+ Bốn là, tạo nên sự tuỳ thuộc lẫn nhau, gắn bó lẫn nhau giữa các nước XK với
nước NK thông qua gắn giải pháp thị trường XK với thị trường NK hàng hoá, góp phần
tạo nên tính ổn định của thị trường. Giải pháp thị trường có thể thực hiện theo cách cắt
lớp, phân đoạn thị trường để thoả mãn nhu cầu muôn hình muôn vẻ của khách hàng.
f) Mở rộng thị trường
Mở rộng thị trường là việc tăng trưởng bằng việc các doanh nghiệp phải tìm cho
mình những thị trường mới tiêu thụ được nhiều sản phẩm cả cũ và mới và bên cạnh đó
401
trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp phải tìm mọi cách để duy trì thị trường truyền
thống song song với việc mở rộng thị trường mới.
Mở rộng thị trường tiêu thụ và thu hút khách hàng, trong cơ chế cạnh tranh là một
vấn đề khó khăn và phức tạp, nhưng nó lại quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường. Thử hỏi một sản phẩm làm ra mà không tiêu thụ được (không có
thị trường) thì sản phẩm doanh nghiệp đó sẽ đi đến đâu. Thị trường là điểm nóng và là
trọng tâm của các doanh nghiệp; không những hiện tại mà cả trong tương lai, chỉ có làm
tốt công tác tiêu thụ mới góp phần thúc đẩy sản xuất, tạo việc làm và cải thiện đời sống
cho người lao động.
402
Vai trò của giải pháp thị trường
Thị trường là vấn đề sống còn của doanh nghiệp, nơi đó khách hàng là “vua”. Vì
vậy, để thị trường chấp nhận sản phẩm của mình DN phải “cung” cái mà thị trường cần,
khách hàng đòi hỏi chứ không phải “cung” cái mà DN có hoặc doanh nghiệp thích. Và
thành công thị trường của một sản phẩm, một thương hiệu thực chất là việc thị trường
chấp nhận mua, tiêu dùng sản phẩm mang các thương hiệu đó.
Trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các DN hoạt động sản xuất theo hệ
thống chỉ tiêu pháp lệnh, do đó hoạt động của doanh nghiệp hoàn toàn tách khỏi thị
trường và hoạt động thị trường không hề tồn tại. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, các
DN được tự do cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu của khoa học một cách tốt nhất. Kinh tế
thị trường ngày càng phát triển, mức độ cạnh tranh càng cao, cạnh tranh vừa là động lực
thúc đẩy, vừa là công cụ đào thải, chọn lựa khắt khe của thị trường đối với DN. Vì vậy
muốn tồn tại và phát triển, các DN phải hoà mình vào thị trường, làm hài lòng, thoả mãn
nhu cầu của khách hàng và giải pháp thị trường trở thành “chìa khoá vàng” của DN để đi
đến thành công.
Giải pháp thị trường là nền tảng, là xương sống của chiến lược kinh doanh của
doanh nghiệp. Trình độ sản xuất càng cao, cạnh tranh trên thị trường càng quyết liệt thì
vai trò của GPTT càng trở nên quan trọng. Chỉ khi hình thành được GPTT thì DN mới có
phương hướng để đầu tư, nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và kinh doanh. Nếu GPTT không
đảm bảo một sự tiêu dùng chắc chắn về sản phẩm thì các hoạt động của DN trở nên rất
mạo hiểm và có thể dẫn đến những thất bại nặng nề.
Giải pháp thị trường giúp cho các doanh nghiệp:
§ Đảm bảo cho hoạt động sản xuất - kinh doanh của DN được diễn ra liên tục;
§ Đảm bảo sự chấp nhận của người tiêu dùng đối với hàng hoá của doanh nghiệp;
§ Đảm bảo việc duy trì, phát triển và mở rộng thị trường tiêu thụ thông qua việc tăng
khối lượng sản phẩm tiêu thụ và đưa sản phẩm mới vào thị trường;
§ Đảm bảo sự cạnh tranh được đối với sản phẩm cùng loại trên thị trường;
§ Giải pháp thị trường còn đảm bảo sự gắn bó chặt chẽ giữa các khâu của quá trình tái
sản xuất mở rộng của DN, nhằm thực hiện các mục tiêu của chiến lược tổng thể.
Các yếu tố tác động đến giải pháp thị trường của doanh nghiệp
Các yếu tố tác động đến giải pháp thị trường tiêu thụ sản phẩm TCMN mây tre
đan của các doanh nghiệp trong tỉnh như sau:
Bất kể một doanh nghiệp hay một ngành sản xuất kinh doanh nào cũng đặt trong
một môi trường kinh doanh nhất định, bao hàm các yếu tố chủ quan (môi trường bên
trong) và các yếu tố khách quan (môi trường bên ngoài). Để phân tích các yếu tố môi
trường bên trong và bên ngoài, chúng ta có thể sử dụng các số liệu có sẵn hoặc qua khảo
sát nghiên cứu từ bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.
Đối với các DN các yếu tố nhằm thúc đẩy giải pháp thị trường để tiêu thụ sản
phẩm, bao gồm các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
DN, bao gồm các yếu tố có tác động tích cực và tiêu cực. Các yếu tố có tác động tích cực
403
chính là điểm mạnh của DN, như đội ngũ cán bộ công nhân viên giỏi, dây truyền sản xuất
hiện đại, nguồn tài chính dồi dào, thương hiệu mạnh, nổi tiếng... Các yếu tố có tác động
tiêu cực chính là điểm yếu của doanh nghiệp như dây truyền sản xuất lạc hậu, cũ kỹ, tay
nghề công nhân thấp, nguồn tài chính eo hẹp, khả năng lãnh đạo yếu kém, không có thị
trường tiêu thụ,...
Yếu tố bên trong
Yếu tố bên ngoài
-Năng lực tổ chức, quản lý
-Nguồn nguyên liệu
-Năng lực về tài chính
-Cơ sở hạ tầng (giao thông, thông tin…)
-Quy mô sản xuất, trình độ thiết bị
-Mức độ tập trung sản xuất (làng nghề)
công nghệ
-Môi trường pháp lý (vai trò của Chính phủ,
-Nguồn nhân lực (trình độ văn
vai trò của Tỉnh)
hoá, chuyên môn kỹ thuật…)
-Chính sách ưu đãi (tài chính, thương mại...)
-Chiến lược kinh doanh của doanh
-Đối thủ cạnh tranh
nghiệp
-Mức độ phát triển và hiệu quả hoạt động
-Thương hiệu của doanh nghiệp
của Hiệp hội
-Khả năng marketing và hệ thống
kênh tiêu thụ sản phẩm
Giải pháp thị trường
Hình 5-4 Các yếu tố tác động đến giải pháp thị trường thủ công mỹ nghệ mây tre
đan
Như vậy, nhóm các yếu tố bên trong, trong đó nguồn nhân lực - yếu tố đặc biệt
quan trọng đối với sự phát triển của DN và là điều kiện tiền đề tạo ra những bước phát
triển mang tính đột phá nhằm phát triển và mở rộng thị trường cho các DN.
Các yếu tố bên ngoài chính là các yếu tố khách quan, có những ảnh hưởng đến
hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, bao gồm các yếu tố có tác động tích cực và tiêu
cực. Các yếu tố tác động tích cực chính là cơ hội cho doanh nghiệp, như nhu cầu thị
trường gia tăng, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, các điều tiết vi mô của Nhà nước,…Các
yếu tố có tác động tiêu cực chính là nguy cơ đe doạ đối với doanh nghiệp, như: nhu cầu
thị trường sụt giảm, thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, giá vật tư tăng cao,…
Có thể nói, phân tích các yếu tố môi trường bên ngoài là phân tích cơ hội và nguy
cơ của DN. Phân tích cơ hội để chỉ ra những cơ hội tốt cần nắm bắt, phân tích nguy cơ
chỉ ra các yếu tố tác động xấu đến DN cần né tránh.
Đặc điểm sản xuất kinh doanh trong ngành thủ công mỹ nghệ mây tre đan
404
Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) rất đa dạng, phong phú và có hàng trăm
nghề. Theo Pierre Gourou (1936) - Nhà xã hội học người Pháp đã phân chia các nghề thủ
công thôn dã vùng đồng bằng bắc bộ thành 9 loại hình ngành nghề cơ bản: Nghề dệt,
nghề chế biến thực phẩm, nghề đan lát, nghề sản xuất vôi gạch ngói, thợ nề, nghề làm
giấy, đồ vàng mã, nghề rèn, đúc, chế tác kim loại, nghề làm nông cụ, nghề làm gốm[11].
Nhóm tác giả nghiên cứu thuộc viện khoa học xã hội và nhân văn lại chia các
ngành nghề sản xuất TCMN như: gốm sứ mỹ nghệ, sơn mài, thêu, ren, thảm, chạm khắc
gỗ, chạm khắc đá, chạm mạ vàng bạc, dệt tơ tằm thổ cẩm, mây tre đan các loại...[28].
Trong nhóm TCMN mây tre đan các loại, dựa vào nguyên liệu hoặc quy trình
công nghệ lại có thể phân thành: Nghề đan: đan mây, song, tre nứa, giang, lá, cỏ, cói…
Trong “Đề án phát triển XK giai đoạn 2006 - 2010” của Bộ Thương mại, định
hướng phát triển nhóm hàng TCMN chiếm một vị trí rất quan trọng. Đây là một trong số
ngành được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển bền vững, xuất khẩu lớn và có tỷ
suất lợi nhuận cao. Mục tiêu phấn đấu cho năm 2010 của Việt Nam phải đạt là 1,5 tỉ
USD[5].
Với việc được bạn bè thế giới ưa chuộng, Việt Nam đã nằm trong tốp 3 sau Trung
Quốc, Inđônêxia về sản phẩm tre xuất khẩu nhiều nhất, đứng thứ 2 sau Inđônêxia, đứng
trước Trung Quốc trong số 3 quốc gia dẫn đầu thị phần sản phẩm mây XK[26].
Myanma
2.42
Lào
0.02 Việt Nam
2.84
Indonexia
6.4
Lào
0.65%
T rung
Quốc
88.32
Các nước xuất khẩu sản phẩm tre chính
trên thế giới 2001 – 2005
Việt Nam
20.07%
T rung
Quốc
6.98%
Myanma
7.93%
Indonexia
6.4%
Các nước xuất khẩu sản phẩm mây chính
trên thế giới 2001 - 2005
Hình 5-5 Thị phần xuất khẩu sản phẩm tre và mây chính trên thế giới
Nguồn:
Những năm trước đây, hàng thủ công mỹ nghệ được sản xuất chủ yếu bằng
nguyên liệu sẵn có ở trong nước dựa trên cơ sở nguồn nguyên liệu thô dồi dào, phù hợp
và đa dạng, tỷ trọng vật tư nhập khẩu thường ở mức dưới 10%. Đây là một thuận lợi lớn
trong việc phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, cho nên ngoại tệ thực thu trong
xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ chiếm tỷ lệ rất cao, hơn 90%. Kế hoạch năm 2006
hàng thủ công mỹ nghệ dự kiến là 660 triệu USD, nhưng thực tế đạt được khoảng 630,4
triệu USD, tăng trưởng có 10,8% so với dự kiến là 16,3%, vì vậy những năm sau ngành
405
hàng thủ công mỹ nghệ phải phấn đấu tăng trưởng rất cao mới thực hiện được kế hoạch
đề ra. Ước đoán kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ từ năm 2006-2010.
Bảng 5-1 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam từ năm 2006-2010
Đơn vị: Triệu USD
2006
2007
2008
2009
Giai đoạn
2006-2010
2010
TH
Tăng
(%)
TH
Tăng
(%)
TH
Tăng
(%)
TH
Tăng
(%)
TH
Tăng
(%)
KN
Tăng
(%)
662
16,3
821
24,0
997
21,5
1.214
21,7
1511
24,5
5.024
21,6
Nguồn:[5]
Bảng 5-2 Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu giai đoạn 2006-2010
Thực hiện năm 2006
Nhóm hàng
Dự kiến năm 2010
Giá trị
(triệu USD)
Tỷ trọng
(%)
Giá trị
(triệu USD)
Tỷ trọng
(%)
Mây tre, cói, lá thảm
191,6
30,4%
450
30%
Gốm sứ
274,3
4,3%
660
44%
Đá, kim loại quý
164,5
26%
390
26%
Nguồn: [5]
Ngành nghề mây tre đan có đặc điểm như sau:
Xét về tổng quan phát triển ngành hàng mây tre đan của Việt Nam trong những
năm qua có thể khái quát ở một mô hình đặc trưng mang tính tổ chức không gian rõ nét.
Trước hết, đó là sự tách biệt về không gian giữa các khâu sản xuất nguyên liệu, sản xuất
sản phẩm và thương mại sản phẩm[26].
Sản xuất nguyên liệu
Địa bàn: Các tỉnh phát triển lâm nghiệp
Sản phẩm: nguyên liệu mây, tre
Chế biến mây tre đan
Địa bàn: Các tỉnh đông dân; sẵn
lao động và kỹ năng tay nghề, có
nhiều làng nghề
Sản phẩm: Sản phẩm thô/chưa
hoàn thiện
Marketing sản phẩm
Địa bàn: Các thành phố, trung
tâm thương mại
Sản phẩm: Hoàn thiện sản phẩm
(bao bì, đóng gói); thiết kết và
chào hàng sản phẩm; ký406
kết hợp
đồng xuất khẩu
Hình 5-6 Mô hình ngành nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan
Trong đó:
ü Nguồn cung nguyên liệu như mây, tre được xuất phát từ những địa bàn có rừng
như miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Sơn La…); Miền Trung (Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng
Nam…) hay Tây nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng).
ü Địa bàn sản xuất và chế biến các sản phẩm mây, tre là nơi dồi dào về lao động, có
nhiều làng nghề và nghệ nhân có tay nghề cao như Đồng bằng sông Hồng (Hà Tây, Hà
Nội, Hà Nam, Thái Bình…); Đông Nam Bộ (Đồng Nai, Bình Dương) hay Duyên hải
miền Trung (Quảng Nam, Đà Nẵng…).
ü Trung tâm tiêu thụ sản phẩm lại là các thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí
Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… nơi có những cơ sở hạ tầng thương mại tiên tiến cho việc
xuất khẩu, quảng bá sản phẩm, v.v…
Hiện tại trong các số liệu thống kê chính thức của Nhà nước cũng chưa có số liệu
riêng về các doanh nghiệp trong ngành TCMN mây tre đan mà được thống kê vào nhóm
các doanh nghiệp chế biến lâm sản (gỗ, tre, nứa, lá, rơm rạ…). Theo số liệu thống kê số
lượng doanh nghiệp này tăng lên liên tục trong những năm gần đây. Nếu như năm 2000
cả nước chỉ có 742 doanh nghiệp hoạt động trong thời gian này thì con số này đã lên tới
2030 vào năm 2009. Một điều đáng chú ý là giá trị doanh thu thuần bình quân cũng tăng
lên đáng kể từ 6 tỷ đồng năm 2000 lên 7,8 tỷ đồng năm 2006[26].
Số lượng và doanh thu của DN chế biến gỗ, tre, nứa, rơm rạ thời kỳ 2002-2006
Số DN
Doanh thu (tỷ đồng)
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Hình 5-7 Số lượng và doanh thu của các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ
Đi vào từng vấn đề cụ thể ngành nghề TCMN mây tre đan có đặc điểm như sau:
+Về quy mô
407
Ngành nghề TCMN mây tre đan là những hoạt động sản xuất phi nông nghiệp
quy mô sản xuất nhỏ, phân tán trong các hộ gia đình. Hầu như không có doanh nghiệp
nào có qui mô 5.000 người trở lên. Số doanh nghiệp qui mô trên 300 lao động chỉ ở mức
1-2%. Phổ biến các doanh nghiệp có qui mô dưới 200 lao động, trong đó qui mô dưới 50
lao động chiếm hơn 44% số doanh nghiệp hiện có[26].
Xét về vốn, các doanh nghiệp nước ta còn quá khiêm tốn. Phần lớn các doanh nghiệp
(gần ¾ số doanh nghiệp) có số vốn dưới 5 tỉ đồng. Số doanh nghiệp có vốn lớn hơn 50 tỷ đồng
mới chỉ ở mức dưới 5% số doanh nghiệp hiện tại[26].
+ Máy móc, công nghệ
Sự phát triển ngành nghề mây tre thể hiện sự gắn kết, thống nhất và hoà đồng
giữa nền công nghiệp phát triển ở thành thị với công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp ở
nông thôn. Đồng thời còn thể hiện quá trình phát triển của nền công nghiệp về mặt kỹ
thuật từ trình độ thủ công nên nửa cơ khí, tiến tới cơ khí hoá và tự động hoá.
Đầu tư công nghệ và kỹ thuật tại các cơ sở chế biến rất hạn chế, thường là thủ
công chỉ có một số khâu đòi hỏi cơ giới hoá như chẻ che, chẻ mây, sơn tĩnh điện hay sấy
lưu huỳnh chống mốc, đối với các công ty có sản lượng chế biến hàng năm lớn thường
đầu tư máy móc thiết bị tạo khuôn mẫu (dây chuyền phun sơn tĩnh điện, xưởng cơ khí tạo
khung, v.v...).…
+ Hình thức sản xuất
Sản phẩm TCMN mây tre đan có tính hàng hoá cao: trước đây sản xuất nghề
TCMN mây tre đan có tính tự sản xuất, trực tiếp phục vụ yêu cầu sản xuất và tiêu dùng của
gia đình. Tổ chức sản xuất kinh doanh tại các làng nghề chủ yếu dựa theo kinh nghiệm
truyền thống, đầu óc sáng tạo và sự khéo léo của đôi tay. Nhiều kinh nghiệm và công nghệ
sản xuất có tính gia truyền, được lưu giữ và truyền trong nội tộc, dòng họ, làng xã… từ đời
này sang đời khác[10].
Nhưng ngày nay sản phẩm mây tre đan được đem trao đổi, bán trên thị trường
trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh tổ chức sản xuất phổ biến là hộ chuyên và hộ kiêm đã
và đang hình thành nhiều cơ sở (Doanh nghiệp, HTX …) trực tiếp sản xuất và xuất khẩu
mây tre đan.
§ Các doanh nghiệp, chủ cơ sở, người lao động nhận đặt hàng gia công nhưng
không chịu trách nhiệm về khâu cung ứng nguyên liệu.
§ Các doanh nghiệp, chủ cơ sở, người lao động nhận đặt hàng gia công nhưng chịu
trách nhiệm khai thác nguyên liệu.
§ Các doanh nghiệp, chủ cơ sở, người lao động tự tổ chức sản xuất các mặt hàng
TCMN mây tre đan để bán cho người thu gom sản phẩm. Thông thường, các sản phẩm
tiêu dùng nội địa được sản xuất theo phương thức này.
+ Nguồn nguyên liệu
Trong sản xuất hàng mây tre đan, người ta sử dụng các nguyên liệu trong nước
sản xuất chính là tre, mây, song, guột,… còn sử dụng thêm một số nguyên liệu khác như
gỗ, sứ, vải và các hoá chất khác như lưu huỳnh, keo, sơn để đảm bảo thẩm mỹ và tính bền
vững của sản phẩm. Các nguyên liệu này nằm ở nhiều vùng miền khác nhau sẵn có tại
các địa phương, có thể tận dụng trồng ở mọi nơi bờ ao, bờ sông, ven làng, ven đê, dễ
trồng, chi phí chăm sóc thấp, thích ứng với mọi vùng đất từ đồng bằng, trung du và miền
núi. Khai thác lâu dài hiệu qủa vài chục năm mang tính bền vững và đặc biệt còn sử dụng
408
các nguồn phụ phẩm của sản phẩm nông nghiệp (bèo tây) được xem như là một phát kiến
mới trong điều kiện nguồn nguyên liệu mây tre trong tự nhiên đang cạn kiệt và mở ra
công ăn việc làm cho người dân trong vùng có thêm thu nhập, đem lại giá trị kinh tế
cao[20].
+Nguồn lao động
Với đặc thù là ngành sử dụng nhiều lao động thủ công nên lao động nông nghiệp
ngành nghề TCMN mây tre đan gắn kết chặt chẽ với nhau hoạt động theo cơ chế gia
công, sử dụng lao động thời vụ là chính lên có thể huy động một lúc nhiều lao động cho
những đơn hàng nhất định. Thời gian này sản xuất nông nghiệp nhưng thời gian sau lại
sản xuất mây tre đan, vì vậy rất khó tách đâu là đâu là lao động nông nghiệp và đâu là lao
động nghề mây tre đan. Trong cơ cấu lao động làm việc tại các DN khảo sát thời gian qua
cho thấy có tới 71.39% số lao động được huy động tại chỗ (tại làng nghề), 24.11% từ các
xã lân cận và chỉ có 4.5% từ các tỉnh huyện khác.
Theo số liệu điều tra của tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), với trên 1.423
triệu hộ tham gia sản xuất TCMN, ngoài lao động thường xuyên, các hộ, cơ sở ngành
nghề còn thu hút rất nhiều lao động thời vụ. Trung bình mỗi hộ thu hút từ 2-5 lao động,
và 1 cơ sở thu hút từ 8-10 lao động thời vụ. Thu nhập bình quân của thợ thủ công cao hơn
mức thu nhập bình quân của cả nước, đạt xấp xỉ 600 – 800 nghìn đồng/ người/ tháng,
mức thu nhập này cũng khá chênh lệch theo chủng loại sản phẩm và theo trình độ tay
nghề[14].
Bảng 2.3 Lao động ngành nghề thủ công mỹ nghệ mây tre đan toàn quốc năm 2008
Số lượng lao động phân theo giới
Ngành nghề
Nam
Nữ
Tổng số
TCMN mây tre
136.057
206.404
342.461
Các ngành khác
374.065
632.823
1005.888
Tổng cộng
510.122
838.227
1.348.349
Nguồn [14]
Như vậy làm nghề TCMN mây tre đan gồm 342.461 người chiếm 25,4% tổng lao
động ngành nghề nông thôn. Các lao động này đã sử dụng khéo léo của đôi bàn tay, sử
dụng những nguyên liệu sẵn có và giá trị thấp để tạo ra nhiều sản phẩm truyền thống XK
mang lại giá trị cao.
Chi phí đào tạo lao động thường nhỏ và tốn ít thời gian, mỗi khi có những mẫu
hàng mới người cán bộ kỹ thuật có thể làm mẫu hay tập huấn vài hôm thậm chí chỉ một
buổi người lao động có thể làm được rồi.
Xét về độ tuổi các chủ doanh nghiệp phần lớn đã ở mức trên 45 tuổi. Số người ở
độ tuổi từ 45 đến 60 chiếm tới 53.25% số người được hỏi, thậm chí còn tới hơn 5% số
chủ doanh nghiệp đã ở tuổi nghỉ hưu. Đây cũng là một đặc điểm của ngành mây tre đan,
yêu cầu cao về kinh nghiệm và kỹ năng, nhất là những nghệ nhân trong làng nghề. Trong
khi đó những người ở độ tuổi dưới 35 chưa tới 10%, phần nào hạn chế tính năng động và
sáng tạo trong sản xuất kinh doanh. Yếu tố tuổi tác này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến
409
tính bảo thủ trong việc thiết kế mẫu mã và kỹ thuật của ngành mây tre đan trong những
thập kỷ qua.
Khoảng 1/5 số chủ doanh nghiệp được trưởng thành từ trong thực tiễn sản xuất
kinh doanh (với qui trình cha truyền con nối). Mới chỉ có gần 15% số chủ doanh nghiệp
có kiến thức về kinh tế thương mại hay tài chính. Phần lớn (tới hơn 62% số người được
hỏi) trưởng thành không qua đào tạo chuyên môn chính qui. Phần lớn trưởng thành qua
kinh nghiệm làm việc trong ngành.
+Mẫu mã sản phẩm
Sản phẩm được sản xuất ra thường mang tính đơn chiếc và mẫu mã sản phẩm gắn
liền với bản sắc văn hoá và luôn thay đổi theo thị hiếu, nên rất khó bảo vệ bản quyền về
mẫu mã sản phẩm.
Hiện tại các DN TCMN mây tre đan có thể sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm:
từ các sản phẩm thô sơ như các vật dụng gia đình, cung cụ sản xuất (thúng, mủng, rổ
rá…) cho tới những sản phẩm mỹ nghệ tinh sảo như hàng thủ công mỹ nghệ (bình hoa,
tranh tre…) và thậm chí cả những ngôi nhà bằng tre. Chủng loại sản phẩm (thường gọi là
mã hàng) được phân biệt rất chi tiết với sự khác nhau của từng đường nét hoa văn, màu
sắc hay sự phối hợp các loại nguyên liệu.
Như vậy người có tính quyết định trong chuỗi tổ chức ngành hàng mây tre đan là
các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Họ quyết định sản xuất cái gì (đặt mẫu mã) và
bán cho ai (ký hợp đồng tiêu thụ với các đối tác nước ngoài trước khi triển khai sản xuất
tại các trung tâm làng nghề) và làng người hoàn thiện sản phẩm cuối cùng.
Hình thức tổ chức chế biến và tiêu thụ sản phẩm mây tre đan có thể được
mô phỏng qua sơ đồ sau:
Sơ chế nguyên
liệu
Người thu gom
bán thành phẩm
phẩm
Người thu gom
nguyên liệu
Người sản xuất
khai thác
nguyên liệu
Doanh nghiệp
chế biến
Hoàn thiện và
tiêu thụ sản phẩm
Hộ gia công sản
phẩm
410
Hình 5-8 Mô hình tổ chức chế biến và tiêu thụ sản phẩm mây tre đan
Doanh nghiệp tuy không chiếm nhiều trong các làng nghề nhưng là những tổ chức sản
xuất kinh doanh lớn có vai trò như là những hạt nhân trong sự phát triển của làng nghề.
Sự phát triển của làng nghề với sự khôi phục các làng nghề truyền thống trong những
năm gần đã thể hiện phần nào vai trò của các doanh nghiệp này trong việc tạo lập lại
ngành hàng, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn. Tuy nhiên, trong
quá trình phát triển của ngành mây tre đan vẫn còn những hạn chế nhất định so với các
ngành công nghiệp khác.
Quy trình sản xuất sản phẩm mây tre đan có thể được mô phỏng qua sơ đồ
sau:
Nguyên liệu
Chế biến
nhiên liệu
Phân cỡ,
phân loại
Đan hàng
thô
Nhuộm,
sấy, sơn
Hình 2.9. Quy trình sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ mây tre đan
Một số tiêu chuẩn nhập khẩu đối với hàng TCMN mây tre đan như sau:
Tiêu thụ
Đóng gói
Nghiệm thu
Hình 5-9 Quy trình sản xuất sản phẩm mây tre đan
Hiện nay thị trường này ngày càng thắt chặt hơn các quy định về tiêu chuẩn nhập
đối với các mặt hàng TCMN đến từ các nước đang phát triển như Việt Nam. Cho nên
những sản phẩm TCMN mây tre đan trước khi tiêu thụ trên thị trường đều phải khử trùng,
kiểm định theo từng lô hàng có sự kiểm soát của Hải quan Việt Nam.
- Xu thế chung là các nhà nhập khẩu đều yêu cầu nhà sản xuất sử dụng các hoá
chất thân thiện với môi trường, an toàn cho người lao động. Nhiều nhà nhập khẩu hiện
nay đều cố gắng dán nhãn sinh thái trên sản phẩm của mình, thậm chí nhiều người đang
cố gắng làm các loại tem nhãn từ chính các nan tre chứ không làm trên giấy nữa.
- Xu thế thứ hai là việc sử dụng các loại sơn gốc nước sẽ là một yếu tố bắt buộc
trong thời gian tới do những mặt tích cực của sơn gốc nước. Điển hình như IKEA,
Ekobo... hiện đang có những động thái tích cực trong việc yêu cầu nhà sản xuất chuyển
đổi sang dùng sơn gốc nước.
- Xu thế thứ ba là bộ luật Reach, đây là bộ luật mới dầy hơn 800 trang của EU
được biên soạn công phu suốt hàng chục năm qua, nó bao gồm các qui định chặt chẽ nhất
đối với hàng nhập khẩu vào EU sẽ được áp dụng vào năm 2011. Theo đó kể từ năm 2011
tất cả các hàng hoá đặc biệt là hàng thủ công mỹ nghệ khi nhập khẩu vào EU đều phải
411
thoả mãn các tiêu chuẩn của Reach. Nếu sản phẩm của bạn sử dụng bất kỳ loại hoá chất
nào được cung cấp bởi những nhà sản xuất mà không nằm trong danh mục của Reach thì
đều không được nhập khẩu vào EU.
Trong phạm vi của đề tài này chỉ dừng lại ở việc tập trung phân tích khái quát về
sản phẩm, ngành hàng chủ đạo và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp TCMN mây
tre đan lên quan đến ba vấn đề: vấn đề xử lý chống mốc mọt, vấn đề sử dụng các loại keo
ép, vấn đề sử dụng các chất sơn phủ bề mặt. Thực tế của Việt Nam hiện tại:
(1) Vấn đề mốc, mối, mọt của hàng hoá: Thông thường, các cơ sở sản xuất nhỏ
đều chủ yếu sử dụng lưu huỳnh (diêm sinh), chất Borax hoặc Oxit kẽm và một số loại
thuốc chống mốc mọt nhập khẩu về từ Trung Quốc, giá rẻ để ủ sấy mây tre, lưu huỳnh
vừa có tác dụng chống mốc, mọt vừa có tác dụng làm trắng, lên mầu vàng đẹp cho nhiều
mặt hàng mây tre, giá của lưu huỳnh rất rẻ, cách sử dụng ủ sấy cũng rất đơn giản và tiện
lợi. Hiện nay các sản phẩm đó là chất độc đã bị cấm sử dụng trong quá trình sản xuất
hàng mây tre đan xuất khẩu vào các nước Châu Âu và Bắc Mỹ vì đây là một chất độc cho
cả người sản xuất lẫn người sử dụng.
Chất Sapeco 8 của công ty Beckem, Ôxi già là những sản phẩm được khuyến cáo
dùng để ngâm hoặc phun thẳng lên nguyên liệu mây tre trong quá trình sử lý nhằm chống
lại sự xâm nhập của mốc mọt. Đây là loại hoá chất tương đối thân thiện với môi trường,
hiệu quả chống mốc mọt khá tốt và phương pháp sử dụng đơn giản, linh hoạt.
(2) Keo ép, đây cũng là một loại hoá chất nhậy cảm được nhiều nhà nhập khẩu
quan tâm đầu tiên khi họ có nhu cầu mua hàng. Theo tiêu chuẩn hiện nay, lượng
Formadehyle trung bình được chấp nhận thông thường là dưới 3.5 mg/m²h.
(3) Sơn phủ, lại là chất tiếp xúc trực tiếp với người sử dụng (bát đĩa, khay đựng
hoa qủa…) chính vì vậy tất cả các nhà nhập khẩu đều cực kỳ quan tâm đến việc nhà sản
xuất dùng chất liệu sơn phủ gì, có đảm bảo an toàn cho người sử dụng và người sản xuất
hay không.
Đặc điểm thị trường và tiêu dùng sản phẩm tiểu thủ công mỹ nghệ mây tre đan
Ngành nghề TCMN mây tre đan nước ta đang có bước phát triển ngoạn mục trong
vài thập niên qua. Doanh số xuất khẩu mây tre đan của năm 2007 là 219 triệu đô la với
mức tăng trưởng bình quân là 30%/năm. Riêng giá trị sản xuất của ngành tre nứa là 1.2 tỷ
USD Mỹ trong đó 900 triệu đô-la có tác động trực tiếp đến người nghèo. Ngành nghề này
cũng đã tạo ra gần nửa triệu việc làm thường xuyên và bán thời gian vốn có ý nghĩa rất
lớn trong việc giải quyết lao động nhàn rỗi trong nông thôn. Chính phủ đã đặt ra kế hoạch
đối với xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là 1,5 tỷ USD vào năm 2010 trong đó hàng
mây tre phải đạt con số 600 triệu USD.
412
Đặc điểm thị trường
-Tình hình sản xuất và thương mại sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây tre đan trên
thị trường thế giới.
Trên cơ sở sử dụng số liệu của UNECE và EUROSTAR, đã tính toán được doanh
số bán ra trên thị trường thế giới hiện nay là khoảng 6 tỷ đôla cho các sản phẩm thủ công
mỹ nghệ mây tre đan và trong đó sản phẩm mỹ nghệ từ tre nứa (bamboo) là 3 tỷ đôla.
- Tình hình cung cầu sản phẩm thủ công mỹ nghệ mây tre đan trong nước
Việt Nam là một trong những quốc gia có nghề mây tre đan phát triển và đa dạng
vào bậc nhất trên thế giới. Hiện có khoảng 713 làng nghề mây tre đan trong tổng số 2.017
làng nghề trên toàn quốc và hơn 1.700 doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất kinh
doanh mây tre đan.
Bảng 5-4 Phân bố các làng nghề toàn quốc năm 2008
Làng nghề
mây tre đan
% Tổng
làng nghề
thủ công
Làng nghề
giấy thủ
công
% Tổng làng
nghề thủ
công
ĐB sông Hồng
337
47,3
2
25
Đông Bắc
77
10,8
3
37,5
Tây Bắc
45
6,3
0
0
Bắc Trung bộ
121
17
3
-
Nam Trung bộ
34
4,8
0
-
Tây Nguyên
0
0
0
-
Đông Nam bộ
26
3,6
0
-
ĐB sông Cửu Long
73
10,2
0
-
713
24,0
8
0,3
Khu vực
Tổng số
Nguồn [11]
Các thị trường XK mây tre đan chính là: Nhật Bản, Đức, Đài Loan, Pháp, Mỹ…
Thị trường Nhật Bản và Đài Loan chiếm thị phần cao và ổn định, triển vọng là thị trường
tiềm năng. Những thị trường truyền thống là Liên Xô cũ và các nước XHCN Đông Âu cũ
chưa được khôi phục.
Bảng 5-5 Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mây tre đan 1999-2005
ĐVT: Triệu USD
TT
1
2
3
4
5
6
7
8
TT XK lớn nhất
Nhật Bản
Đức
Đài Loan
Pháp
Mỹ
Anh
Tây Ban Nha
Italia
1999
8,41
2,54
13,71
2,88
0,53
0,94
1,69
1,62
2000
13,00
4,72
11,89
5,30
1,69
2,71
2,39
1,89
2001
16,30
4,62
13,65
5,06
2,52
2,67
3,23
2,69
2002
27,58
7,95
10,24
6,22
4,60
3,92
3,80
3,71
2003
21,78
11,62
9,62
7,38
7,00
6,117
5,25
4,93
2004
2005
27,6
20,8
11,9
8,9
22,1
6,8
10,4
6,5
413