Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

SKKN VAI TRÒ của LÃNH tụ NGUYỄN ái QUỐC hồ CHÍ MINH đối với THẮNG lợi của CÁCH MẠNG THÁNG tám năm 1945

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (141.56 KB, 15 trang )

SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI THCS
MÔN: LỊCH SỬ

VAI TRÒ CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ
CHÍ MINH ĐỐI VỚI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG
THÁNG TÁM NĂM 1945

Giáo viên: Nguyễn Thị Minh Hải
Trường THPT Chuyên Vĩnh Phúc

1
BDHSG Lịch sử


Vĩnh Yên, tháng 3 năm 2013
VAI TRÒ CỦA LÃNH TỤ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI
THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mỗi bước đi và thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với tên tuổi và sự
nghiệp của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sau nhiều năm bôn ba tìm đường
cứu nước, Người đã tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc. Đầu năm 1941, Người về
nước, cùng với Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo quá trình chuẩn bị, tiến lên tổng khởi
nghĩa giành chính quyền tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Trong chương trình dạy học sinh giỏi lịch sử THCS, phần vai trò của Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với Cách mạng tháng Tám là phần nâng cao. Giáo
viên cần xác định, phân tích rõ cho học sinh hiểu những đóng góp to lớn của Người đối
với Cách mạng Việt Nam. Qua đó kích thích tư duy sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện
để các em có thể viết bài đạt kết quả cao nhất.


II. NỘI DUNG
1. Tìm ra con đường cứu nước, sáng lập Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nguyễn Ái Quốc sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, trên quê
hương giàu truyền thống cách mạng. Lớn lên trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, lại
được chứng kiến các cuộc đấu tranh của các bậc tiền bối bị thất bại. Tất cả đã hun đúc
trong lòng Nguyễn Ái Quốc lòng yêu nước nồng nàn và quyết tâm ra đi tìm cứu nước,
cứu dân. Qua nhiều năm bôn ba ở hải ngoại để tìm đường cứu nước, cứu dân. Đầu tiên,
Người đến nước Pháp rồi đi các nước Á, Phi, Mĩ Latinh. Đến năm 1917, khi Cách mạng
tháng Mười Nga thắng lợi, Người từ Luân Đôn (Anh) về Pari (Pháp) để nghiên cứu, học
tập Cách mạng tháng Mười Nga.
Rồi đến ngày 18/6/1919 các nước đế quốc thắng trận họp Hội nghị Vécxai để chia
nhau thị trường thế giới. Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị này Bản yêu sách gồm 8
điểm đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Tuy không được chấp nhận
nhưng những yêu sách này được báo chí tiến bộ Pháp công bố rộng rãi. Nhờ đó nhân dân
2
BDHSG Lịch sử


Pháp thấy được bộ mặt thật của thực dân Pháp ở Đông Dương, hiểu được nỗi bất hạnh và
niềm khát vọng của nhân dân Việt Nam. Qua thực tiễn này Nguyễn Ái Quốc khẳng định
rằng, muốn giải phóng dân tộc thì không thể bị động hoặc trông chờ vào sự giúp đỡ bên
ngoài mà trước hết phải dựa vào sức mạnh của chính dân tộc mình.
Năm 1920, Người đọc Sơ thảo luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
Lênin. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo Lênin, dứt khoát đứng về Quốc tế thứ ba, khẳng
định muốn cứu nước và giải phóng dân tộc là phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
Tại Đại hội của Đảng Xã hội Pháp họp ở Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành
Quốc tế thứ ba và lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Sau đó Người đã tham gia Đảng Cộng sản
Pháp - và là người cộng sản Việt Nam đầu tiên đánh dấu bước ngoặt trong hoạt động
Nguyễn Ái Quốc. Qua thực tiễn cách mạng năm 1924, Người chỉ ra rằng: "Cuộc đấu
tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây… Chính vì thế, Người không rập

khuôn máy móc học thuyết về đấu tranh giai cấp mà đã áp dụng một cách linh hoạt vào
điều kiện lịch sử cụ thể ở thuộc địa. Năm 1925 tại Quảng Châu Trung Quốc, Người sáng
lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, là tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt
Nam. Dưới tác động của Hội phong trào cách mạng Việt Nam ngày càng phát triển, kết
thành một làn sóng dân tộc dân chủ mạnh mẽ.
Cuối năm 1929 sự ra đời liên tiếp của các tổ chức cộng sản trong nước: Đông
Dương Cộng sản đảng (6/1929), An Nam Cộng sản Đảng (8/1929) và Đông Dương
Cộng sản liên đoàn (9/1929), là xu thế khách quan của cuộc vận động giải phóng dân
tộc ở Việt Nam theo khuynh hướng cách mạng vô sản. Tuy nhiên sự ra đời và cùng hoạt
động không tránh khỏi sự riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng của nhau, cách mạng trong
nước đứng trước nguy cơ chia rẽ lớn. Được sự ủy nhiệm của Quốc tế Cộng sản cùng với
uy tín của Nguyễn Ái Quốc, Người đã triệu tập Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Tại Hội nghị Người đã thông qua Chính cương vắn
tắt, Điều lệ vắn tắt… coi như Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, có giá trị thực tiễn
và lâu dài đối với cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh chính trị nhấn mạnh nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam là
chống đế quốc, giành độc lập dân tộc: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong
kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công nông binh và
tổ chức quân đội công nông; tịch thu toàn bộ các sản nghiệp lớn của bọn đế quốc giao
3
BDHSG Lịch sử


cho Chính phủ công nông binh; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia
cho dân cày nghèo.
2. Xác định đường lối giải phóng dân tộc và chủ trương khởi nghĩa vũ trang
Tháng 5-1941, Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung
ương Đảng. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, phân tích thái độ
chính trị của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam, Hội nghị nêu rõ ở nước ta
mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách là mâu thuẫn giữa dân tộc ta

với bọn đế quốc phát xít Pháp-Nhật, bởi vì dưới hai tầng áp bức Nhật – Pháp, “quyền lợi
của tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mệnh dân tộc nguy vong không lúc nào bằng”.
“Pháp – Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông” mà là kẻ thù chung của
cả dân tộc.
Hội nghị khẳng định: "Cần phải thay đổi chiến lược. Sự thay đổi về kinh tế, chính
trị Đông Dương, lực lượng giai cấp Đông Dương, buộc Đảng ta phải thay đổi chính sách
cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân Đông
Dương…"Nhiệm vụ đánh Pháp đuổi Nhật không phải riêng của của giai cấp vô sản và
dân cày, mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương". Hội nghị chủ
trương: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn
vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề giải
phóng dân tộc, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn
thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp
đến vạn năm cũng không đòi lại được". Vì vậy, phải tạm gác khẩu hiệu "đánh đổ địa
chủ, chia ruộng đất cho dân cày". Quyền lợi của nông dân được giải quyết ở một mức độ
thích hợp bằng việc thực hiện các khẩu hiệu: tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt
gian chia cho dân cày nghèo, chia lại ruộng đất công cho công bằng, giảm tô, giảm tức.
Hội nghị chủ trương gải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông
Dương, nhằm thực hiện chính sách “dân tộc tự quyết”. “Các dân tộc sống trên cõi Đông
Dương sẽ tùy theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng
thành thành một dân tộc quốc gia tùy ý”. Cách giải quyết đó có tác dụng phát huy sức
mạnh của mỗi dân tộc trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, đập tan những luận điệu
xuyên tạc của kẻ thù về vấn đề dân tộc, đồng thời tạo điều kiện đoàn kết ba dân tộc Việt
Nam, Lào, Campuchia trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung.
4
BDHSG Lịch sử


Về phương pháp cách mạng, Hội nghị đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, nhấn
mạnh đây là nhiệm vụ trung tâm của Đảng và của nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại.

Nghị quyết hội nghị ghi rõ: "Phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào
cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù…". Trong những hoàn cảnh nhất định
"với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa
phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to
lớn.
Vận dụng “phương pháp làm việc biện chứng” của C. Mác, Hồ Chí Minh đã phân
tích thực tiễn xã hội Việt Nam thuộc địa, không máy móc, coi vấn đề dân tộc thuộc địa
thực chất là vấn đề nông dân, cũng không xem quyền lợi cơ bản của nông dân là vấn đề
ruộng đất. Người nhấn mạnh yêu cầu khách quan của lịch sử cách mạng ở thuộc địa là
giành độc lập dân tộc. Chủ trương giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc và quan điểm
khởi nghĩa dân tộc là sự chuẩn bị về đường lối và phương pháp cho thắng lợi của Cách
mạng tháng Tám sau này.
3. Sáng lập mặt trận Việt Minh và chuẩn bị lực lượng chính trị
Sự nghiệp giải phóng dân tộc bị áp bức trước hết phải dựa vào sức mạnh bên
trong của mỗi dân tộc. Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Người cho rằng: "Cách mệnh
là việc chung của cả dân chúng", lực lượng của cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm
cả dân tộc: “dân tộc cách mệnh chưa phân giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều
nhất trí chống lại cường quyền”, trong đó “công nông là gốc cách mệnh”, là “chủ cách
mệnh”, còn “học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ... là bầu bạn cách mệnh”. Mọi giới
đồng bào đều phải đoàn kết dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng cách mạng để chống lại kẻ
thù của dân tộc.
Hội nghị thành lập Đảng do Nguyễn Ái Quốc chủ trì thông qua Cương lĩnh chính
trị đầu tiên, nêu rõ: Đảng phải thu phục đại bộ phận công nhân, nông dân, đoàn kết với
tiểu tư sản, trí thức, trung nông, tranh thủ hoặc trung lập phú nông, trung tiểu địa chủ và
tư sản Việt Nam...; đồng thời thông qua chủ trương thành lập Hội phản đế đồng minh.
Chủ trương tập hợp lực lượng cách mạng rộng rãi thể hiện tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
của Hồ Chí Minh.

5
BDHSG Lịch sử



Xây dựng lực lượng chính trị là mối quan tâm hàng đầu của Người vì đó vừa là cơ
sở cho việc xây dựng lực lượng vũ trang, là cơ sở cho đấu tranh quân sự, vừa là lực
lượng trực tiếp đánh địch, đấu tranh từ hình thức thấp đến cao.
Lực lượng chính trị là đạo quân cách mạng vô cùng đông đảo, bao gồm tất cả
quần chúng được giác ngộ và tổ chức. "Muốn có đội quân vũ trang phải có đội quân
tuyên truyền vận động, đội quân chính trị trước đã, nên phải làm ngay, sao cho đội quân
chính trị ngày càng đông. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị tự nguyện cầm súng thì
mới thắng được".
Từ đầu năm 1941, Hồ Chí Minh chỉ đạo xây dựng thí điểm mặt trận Việt Minh ở
Cao Bằng nhằm rút kinh nghiệm cho phong trào cả nước. Hội nghị lần thứ tám của Ban
chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) do Người chủ trì xác định chiến thuật hiện tại của
Đảng ta là phải vận dụng “một phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh
thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân”. Vì thế mặt trận của ta hiện tại
“không thể gọi như trước là mặt trận thống nhất dân tộc phản đề Đông Dương, mà phải
đổi ra cái tên khác cho có tính chất dân tộc hơn”, đó là Việt Nam độc lập đồng minh, gọi
tắt là Việt Minh. Các đoàn thể trong Việt Minh đều mang tên Cứu quốc nhằm đoàn kết
mọi người Việt Nam có lòng yêu nước thương nòi.
Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian để cứu giống nòi
ra khỏi nước sôi lửa nóng”. “Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều
phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp
của, người có tài năng góp tài năng”.
Hồ Chí Minh kêu gọi quần chúng tham gia Việt Minh nhằm:
“Quyết làm cho nước non này,
Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền”.
Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22/12/1944)
Người khẳng định: Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, phải động
viên toàn dân, vũ trang toàn dân. Khởi nghĩa vũ trang không phải là một cuộc đấu tranh
quân sự thuần túy.

Việt Minh là khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, tập hợp đông đảo các tầng lớp
nhân dân, các đảng phái chính trị và tôn giáo yêu nước, có tác dụng cô lập cao độ kẻ thù
6
BDHSG Lịch sử


là đế quốc và tay sai để chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng. Đó là nơi tổ chức, giác ngộ
và rèn luyện lực lượng chính trị cho cách mạng, một lực lượng cơ bản và có ý nghĩa
quyết định trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
4. Chuẩn bị lực lượng vũ trang và xây dựng căn cứ địa cách mạng
Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đào tạo
cán bộ quân sự, nghiên cứu lý luận quân sự, đặt nền móng cho sự ra đời lực lượng vũ
trang cách mạng Việt Nam.
Là một nhà hoạt động quốc tế, Hồ Chí Minh nghiên cứu nhiều vấn đề quân sự ở
các nước trên thế giới, tiếp thu có chọn lọc những nội dung tích cực, phù hợp của tinh
hoa quân sự thế giới. Nghiên cứu về quân đội ở Trung Quốc, Người ghi chép Những
hiểu bết cơ bản về quân sự. Người cũng quan tâm nghiên cứu, phổ biến kinh nghiệm tổ
chức, xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang ở cơ sở... Cách mạng phải có nơi
đứng chân để giải quyết vấn đề tiềm lực. Đầu năm 1941, khi mới về nước Người chọn
Cao Bằng làm nơi đứng chân đầu tiên vì đó là nơi "có phong trào tốt từ trước", "có hàng
rào quần chúng bảo vệ", lại là nơi có địa thế hiểm yếu, “tiến có thể đánh, lui có thể giữ”,
nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về xuôi thì cách mạng mới thắng lợi. Trong thời
kỳ kháng Nhật cứu nước, khi vùng giải phóng ở Việt Bắc được mở rộng, bao gồm các
tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Hồ Chí
Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng và củng cố thành căn cứ địa cách mạng cho cả
nước.
Trên cơ sở lực lượng chính trị phát triển mạnh ở Cao Bằng, các đội tự vệ cứu
quốc ra đời. Cuối năm 1944, Người ra Chỉ thị thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân, xác định nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động và phương châm tác
chiến của lực lượng vũ trang. Đó là Cương lĩnh quân sự đầu tiên của Đảng. Chấp hành

chỉ thị này, ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân được thành lập, lúc đầu có 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp
chỉ huy. Ba ngày sau, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đánh thắng hai trận
liên tiếp ở Phai Khắt và Nà Ngần. Đó là đội quân đàn anh. “Tuy lúc đầu quy mô của nó
còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có
thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”.

7
BDHSG Lịch sử


Thực hiện tư tưởng vũ trang quần chúng cách mạng, xây dựng quân đội nhân dân
của Hồ Chí Minh, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân được
thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân (5/1945), đồng thời lực lượng bán vũ trang
gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu được xây dựng ngày càng rộng khắp.
Quá trình chuẩn bị lực lượng là một quá trình kết hợp tổ chức và đấu tranh, thông
qua đấu tranh để rèn luyện lực lượng và củng cố tổ chức. Cả hai lực lượng chính trị và
vũ trang đều là chỗ dựa của bạo lực cách mạng, là điều kiện để kết hợp đấu tranh chính
trị với đấu tranh vũ trang.
5. Xác định đúng thời cơ, kiên quyết phát động tổng khởi nghĩa
Để tiến hành khởi nghĩa thắng lợi phải có đủ điều kiện chủ quan, khách quan và
phải nổ ra đúng thời cơ. Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, Hồ Chí Minh và
Trung ương Đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. Khi nghe tin về cuộc khởi
nghĩa Nam Kỳ, Người nói: Tình hình chung trên thế giới ngày càng có lợi cho ta, nhưng
thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay khởi nghĩa đã nổ ra rồi, thì cần
rút lui cho khéo để duy trì phong trào. Là bậc thầy về tạo lực, lập thế, tranh thời, Hồ Chí
Minh nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề thời cơ. Trong bài thơ Học đánh cờ,
Người viết: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời, một tốt cũng thành công”.
Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng (5/1941) khẳng định:

“Cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Chúng ta
phải “luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà
đánh lại quân thù”. Hồ Chí Minh nêu ba điều kiện của thời cơ khởi nghĩa:
Một là, chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bối rối đến cao độ, chúng đã
cảm thấy không thể ngồi yên nắm giữ địa vị của chúng như trước.
Hai là, quần chúng đói khổ đã căm thù thực dân đế quốc đến cực điểm, đã thấy
cần phải đồng tâm hiệp lực, nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân, vì mọi
người hiểu rằng nếu ngồi yên cũng chết.
Ba là, đã có một chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức, lãnh đạo quần chúng nổi
dậy khởi nghĩa theo một đường lối đúng đắn, một kế hoạch phù hợp, đảm bảo giành
thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa.
8
BDHSG Lịch sử


Hội nghị lần thứ tám của Ban chấp hành Trung ương Đảng nêu rõ muốn gây cuộc
khởi nghĩa bằng võ trang phải nhằm vào các điều kiện chủ quan:
“1- Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc.
2- Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp – Nhật, mà đã
sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa.
3- Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực
điểm về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.
4- Những điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như
quân Tàu đại thắng quân Nhật, Cách mạng Pháp hay Cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân
chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các thuộc địa Pháp,
Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh – Mỹ tràn vào Đông Dương”.
Đảng và Hồ Chí Minh luôn dự đoán thời cơ, đánh giá chính xác xu thế phát triển
của thời cuộc. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng
minh không điều kiện, hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm;
quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ. “Những điều

kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi”. “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền
độc lập đã tới”.
Tuy nhiên thời cơ này không tồn tại vĩnh viễn. Nó sẽ biến mất khi quân Đồng
minh vào nước ta để tước vũ khí phát xít Nhật. Với bản chất thực dân đế quốc, chúng có
thể dựng ra một chính quyền tay sai trái với ý chí và nguyện vọng của dân tộc ta. Đế
quốc Pháp đang lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương. Bọn phản động trong
nước cũng đang tìm cách thay thầy đổi chủ. Thời cơ cách mạng chỉ tồn tại trong khoảng
thời gian từ khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh đến trước khi quân Đồng minh vào
nước ta. Đó là lúc kẻ thù cũ đã ngã gục, nhưng kẻ thù mới chưa kịp đến, so sánh lực
lượng có lợi nhất đối với cách mạng.
Ngày 16-8-1945 Hồ Chí Minh kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta
đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta… Chúng ta
không thể chậm trễ".
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam nhất tề nổi dậy
với tinh thần: dù hy sinh tới đâu, dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên
9
BDHSG Lịch sử


quyết giành cho được độc lập. Cách mạng Việt Nam tiến đến bước nhảy vọt vĩ đại:
nhanh chóng chuyển từ khởi nghĩa từng phần trong cao trào kháng Nhật cứu nước lên
tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, cách mạng tháng
Tám đã giành được thắng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”. Đó là một điển hình thành công
về nghệ thuật tạo thời cơ, dự đoán thời cơ, nhận định chính xác thời cơ, đồng thời kiên
quyết chớp thời cơ phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
6. Sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh
làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao
cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần,

thế dân chúng mới được hạnh phúc”.
Người đã xem xét các mô hình nhà nước ở Mĩ, Pháp, Liên Xô, Người chủ trương
“dựng ra chính phủ công nông binh”. Đó là chính quyền nhà nước của quảng đại quần
chúng lao động. Đến năm 1941, Người chủ trương thay hình thức chính quyền công
nông bằng hình thức dân cộng hòa dân chủ. “Chính quyền cách mạng của của nước dân
chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn
thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp – Nhật và những bọn phản quốc,
những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt
Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ
lấy và bảo vệ chính quyền ấy”. “Không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền
Xô viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hoà”.
“Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập chính phủ nhân dân của Việt
Nam Dân chủ Cộng hoà... Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra".
Từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểu
cho khối đoàn kết dân tộc là một quyết định sáng suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh được
nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với sự thay đổi chiến lược và sách lược của
cách mạng Việt Nam.
Khi Chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh. Quốc
dân đại hội họp tại Tân trào (16 và 17-8-1945) đã cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng (tức
Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Cách mạng tháng Tám 1945 thành
10
BDHSG Lịch sử


công. Ngày 2-9-1945, Lễ Độc lập được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình.
Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân. Thay mặt Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đọc
Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của nhân
dân, do nhân dân và vì nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945 là thắng lợi của đường lối giải phóng
dân tộc đúng đắn của Đảng và tư tưởng độc lập tự do của Hồ Chí Minh. "Chủ tịch Hồ Chí

Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời
mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu
tranh chung của các dân tộc vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".
III. MỘT SỐ DẠNG CÂU HỎI
Câu 1: (2 điểm)
Nguyên nhân thành công của Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
(1/1930)? Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong Hội nghị đó như thế nào?
1. Nguyên nhân thành công của hội nghị thành lập Đảng
- Giữa các đại biểu các tổ chức cộng sản không có mâu thuẫn về ý thức hệ, đều có
xu hướng vô sản, đều tuân theo điều lệ của Quốc tế Cộng sản. Đáp ứng đúng nhu cầu
thực tiễn của Cách mạng Việt Nam lúc đó.
- Do được sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản và uy tín cao của lãnh tụ Nguyễn Ái
Quốc.
2. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong hội nghị
- Trước yêu cầu thống nhất các tổ chức cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động
đứng ra triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản. Người chủ trì Hội nghị, chính uy
tín năng lực của Người đóng vai trò quan trọng đưa đến sự hợp nhất các tổ chức cộng sản
để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Người biên soạn Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt được Hội nghị thông
qua, văn kiện đó trở thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, có giá trị thực tiễn và
lâu dài.
Câu 2: (2 điểm)

11
BDHSG Lịch sử


Trình bày khái quát những sự kiện lịch sử liên quan đến lãnh tụ Hồ Chí Minh
trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ năm 1941 đến năm 1945.
- Ngày 28/01/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước triệu tập Hội nghị Trung ương

lần thứ VIII (10/5/1941) và thành lập Mặt trận Việt Minh (19/5/1941), trực tiếp lãnh
đạo cuộc vận động cho Cách mạng tháng Tám.
- Ngày 22/12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân.
- Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Pác Bó (Cao Bằng) về Tuyên Quang, xây dựng
Tân Trào thành trung tâm chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước.
- Ngày 4/6/1945, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc.
- Ngày 16 đến 17 tháng 8/1945, Hồ Chí Minh triệu tập Đại hội quốc dân ở Tân
Trào và được cử làm Chủ tịch Uỷ ban Dân Tộc Giải Phóng Việt Nam.
- Ngày 25/8/1945, Hồ Chí Minh từ Tân Trào về Hà Nội.
- Ngày 28/8/1945, Hồ Chí Minh cải tổ Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam thành
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong những ngày này, Hồ Chí
Minh soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập.
- Ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa.
Câu 3: (2 điểm).
Nêu vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5 - 1941).
- Sau hơn 30 năm bôn ba ở hải ngoại, ngày 28 - 1 - 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
trở về nước, cùng với Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Người vận động
quần chúng các dân tộc ở Cao Bằng tham gia cách mạng, mở nhiều khóa huấn luyện
chính trị và quân sự cho các bộ và nhân dân; dịch và viết sách về quân sự, chính trị để
làm tài liệu học tập và tuyên truyền; chuẩn bị tiến tới Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Đông Dương.

12
BDHSG Lịch sử


- Người tổ chức và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở

Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày 10 đến 19 - 5 - 1941. Hội nghị đã hoàn chỉnh việc chủ
trương lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong tình hình mới đã được đề ra ở Hội nghị Trung
ương Đảng lần 6 (11-1939) là: Giương cao hơn nữa ngọn cờ độc lập dân tộc, đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở
Đông Dương, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất …
- Vai trò:
+ Là người trực tiếp chủ trì Hội nghị trung ương Đảng lần VIII, Nguyễn Ái Quốc
cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng có những quyết định đúng đắn, sáng suốt.
+ Khẳng định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là giải phóng dân tộc. Đề xuất việc
chuẩn bị về lực lượng chính trị: thành lập Mặt trận Việt Minh, đoàn kết toàn dân tiến
hành đấu tranh chống Pháp - Nhật giành độc lập tự do.
+ Xác định hình thái của khởi nghĩa là đi từ khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi
nghĩa nên phải chuẩn bị lực lượng vũ trang.
- Những quyết định của Hội nghị có tác dụng quan trọng trong việc vận động toàn
Đảng, toàn dân chuẩn bị tiến tới Cách mạng tháng Tám 1945.
Câu 4: (2 điểm)
Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc từ năm 1941 đến năm 1945, hãy làm
sáng tỏ vai trò của Hồ Chí Minh đối với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám 1945.
- Xác định đường lối và phương pháp cách mạng: Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội
nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5 - 1941), giương cao hơn nữa ngọn
cờ giải phóng dân tộc, đồng thời đề ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang.
- Sáng lập Mặt trận Việt Minh (19/5/1941), với các hội "cứu quốc", xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc; tập hợp và rèn luyện lực lượng chính trị quần chúng.
- Xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng: Chỉ thị thành lập Đội Việt
Nam tuyên truyền giải phóng quân (22/12/1944); chọn Cao Bằng để xây dựng căn cứ địa, chỉ
thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc (6/1945).

13
BDHSG Lịch sử



- Cùng với Trung ương Đảng đánh giá chính xác thời cơ, chớp đúng thời cơ, kiên
quyết phát động và lãnh đạo toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng
lợi; lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (2 - 9 - 1945).
Câu 5:
Chứng minh sự lãnh đạo kịp thời và sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông
Dương và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong Cách mạng tháng Tám (1945).
a) Xác định thời cơ của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945:
- Đến đầu tháng 8/1945, sau khi trải qua một thời gian trực tiếp chuẩn bị chu đáo
về tất cả các mặt từ 1939 - 1945, những điều kiện chủ quan của một cuộc tổng khởi
nghĩa giành chính quyền đã chín muồi.
- Cao trào kháng Nhật cứu nước phát triển đến đỉnh cao, chiến tranh du kích kết
hợp khởi nghĩa từng phần và đấu tranh chính trị diễn ra sôi nổi ở nông thôn và thành thị.
Tháng 8/1945 không khí cách mạng đã tràn ngập trong cả nước,quân chúng nhân dân sôi
sục chuẩn bị khởi nghĩa, và sẵn sàng đứng lên Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi có
lệnh của Đảng.
- Trưa 15/8/1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng phe Đồng minh. Điều kiện khách
quan cho Tổng khởi nghĩa đã đến. Quân đội Nhật ở Đông Dương rệu rã. Chính phủ thân
Nhật Trần Trọng Kim hoang mang, tê liệt. Lực lượng trung gian đã ngả hẳn về phía cách
mạng. Những sự kiện trên làm cho những điều kiện (thời cơ) của cuộc Tổng khởi nghĩa
chín muồi trong toàn quốc.
b. Chỉ đạo kịp thời để giành thắng lợi:
- Ngay từ ngày 13/8/1945, khi được những thông tin về việc Nhật sắp đầu hàng,
Trung ương Đảng và Tổng bộ Việt Minh lập tức thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc.
23 giờ cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc ra “Quân lệnh số 1”, chính thức phát
động Tổng khởi nghĩa trong cả nước.
- Tiếp đó, ngày 14 và 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng đã thông qua kế
hoạch lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Từ ngày 16 đến 17/8/1945,
Quốc dân Đại hội được triệu tập tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của
Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng

Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
14
BDHSG Lịch sử


- Từ ngày 14 đến ngày 28 tháng 8/1945, Tổng khởi nghĩa thắng lợi trong toàn quốc.
Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời phát động toàn dân Tổng khởi
nghĩa giành chính quyền đồng thời đề ra nhiều chủ trương, biện pháp đúng đắn và sáng
tạo. Nhờ đó, cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 đã giành được thắng lợi nhanh chóng
trong 15 ngày.
- Theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam cải tổ thành
Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (28/8/1945). Trong những ngày
lịch sử đó Người đã soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập. Ngày 2/9/1945 tại quảng trường
Ba Đình Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

15
BDHSG Lịch sử



×