CÂU HỎI ÔN TẬP LÝ THUYẾT KẾ TOÁN
Câu 1: Phân tích các giả thuyết hình thành quan điểm kế toán theo giá gốc? Hãy cho ví dụ, qua đó phân tích ưu điểm, nhược
điểm của kế toán giá gốc? Liên hệ với chế độ kế toán Việt Nam hiện hành?
Câu 2: Phân tích ảnh hưởng của kế toán giá gốc trong thực tiễn chế độ kế toán từ 1995 đến nay ở Việt Nam?
Câu 3: Nội dung cơ bản của kế toán mức giá chung, phân tích cơ sở thực tiễn cho việc hình thành quan điểm kế toán này?
Trình bày ưu điểm, nhược điểm kế toán theo mức giá chung? Liên hệ với chế độ kế toán Việt Nam hiện hành?
Câu 4: Trình bày nội dung, ưu điểm, nhược điểm của luận điểm kế toán theo giá hiện hành, lấy ví dụ minh hoạ và liên hệ chế
độ kế toán Việt Nam hiện hành?
Câu 5 : Trình bày nội dung, ưu điểm, nhược điểm kế toán theo giá đầu ra? Lấy ví dụ và liên hệ với chế độ kế toán Việt Nam?
Câu 6: Trình bày khái quát nội dung, ưu nhược điểm của kế toán theo giá gốc, giá chung, giá hiện hành và giá đầu ra? Cho một
ví dụ minh họa cho các loại giá trên?
Câu 7: Trình bày các quan điểm về bản chất của kế toán?
Câu 8: Phân tích các quan điểm bản chất thông tin của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn chế độ kế
toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
Câu 9: Phân tích các quan điểm bản chất kinh tế của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn chế độ kế
toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
Câu 10: Phân tích các quan điểm bản chất chính trị của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn chế độ kế
toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
Câu 11: Phân tích các quan điểm bản chất xã hội của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn chế độ kế
toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
Câu 12 : Trình bày các lý thuyết cơ bản của nghiên cứu thực chứng về sự lựa chọn chính sách kế toán?
Câu 13 : Nêu khái niệm, vai trò, tổ chức lập quy của chuẩn mực kế toán? Cơ sở pháp luật về các hệ thống Chuẩn mực kế toán
Việt Nam? Nêu khái quát hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành? Chuẩn mực kế toán Việt Nam hòa hợp với Chuẩn
mực kế toán quốc tế như thế nào?
Câu 14: Trình bày những nội dung cơ bản của khuôn mẫu lý thuyết kế toán và liên hệ thực tế chế độ kế toán Việt Nam?
Câu 15: Trình bày những nội dung cơ bản của khuôn mẫu lý thuyết kế toán - các yếu tố của báo cáo tài chính. Liên hệ thực tiễn
chế độ kế toán Việt Nam?
Câu 16: Phân biệt các thuộc tính sau đây của FASB: giá gốc, giá hiện hành, giá thị trường hiện tại, giá trị thuần có thể thực
hiện, hiện giá? Cho ví dụ minh họa?
Câu 17: Hãy trình bày những hiểu biết của anh (chị) về Chuẩn mực kế toán quốc tế? Theo anh (chị) thì sự hòa hợp của Chuẩn
mực kế toán Việt Nam với Chuẩn mực kế toán quốc tế như thế nào?
1
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Câu 1: Phân tích các giả thuyết hình thành quan điểm kế toán theo giá gốc? Hãy cho ví dụ, qua đó phân tích ưu điểm,
nhược điểm của kế toán giá gốc? Liên hệ với chế độ kế toán Việt Nam hiện hành?
TRẢ LỜI:
Kế toán giá gốc (historical cost accounting) dựa trên giá mua vào quá khứ để ghi nhận các giao dịch và lập BCTC.Đây là hệ
thống định giá truyền thống đã phát triển nhiều năm từ khi các kỹ thuật ghi sổ kép của Pacioli ra đời. Kế toán giá gốc, ghi nhận theo
giao dịch thực tế xảy ra. Do đó, cung cấp bằng chứng để đánh giá người quản lý có hoàn thành trách nhiệm một cách có hiệu quả
hay không.
Theo mô hình giá gốc tài sản và nợ phải trả được ghi nhận ban đầu theo giá gốc. Sau thời điểm ghi nhận ban đầu tài sản và nợ
phải trả vẫn được trình bày theo giá gốc. Hệ quả của việc ghi nhận theo giá gốc là trong quá trình nắm giữ tài sản và nợ phải trả kế
toán không ghi nhận sự biến động về giá thị trường, giá trị hợp lý,... của tài sản và nợ phải trả này.
a. Phân tích các giả thiết hình thành quan điểm kế toán theo giá gốc
Một số giả định cơ bản được đưa ra như những tiến đề làm cơ sở cho giá gốc, bao gồm giả định hoạt động liên tục, kỳ kế
toán và đơn vị tiền tệ.
-
Hoạt động liên tục (going concern) cho rằng nếu không có bằng chứng ngược lại, doanh nghiệp được giả định sẽ liên tục hoạt động
-
trong một thời gian không xác định. Vì vậy, trong các trường hợp thông thường, việc đánh giá có thể bán được không thích hợp. Trái
lại, giá gốc sẽ phù hợp.
Kỳ kế toán (time period) cho rằng hoạt động kinh tế của doanh nghiệp diễn ra trong thời kỳ nhất định, do đó báo cáo tài chính phải
-
trình bày các hoạt động phân biệt rõ ràng giữa các kỳ. Giả định này là nguồn gốc của nguyên tắc ghi nhận doanh thu và nguyên tắc
phù hợp của kế toán giá gốc.
Đơn vị tiền tệ (monetary unit) cho rằng BCTC được lập trên cơ sở đơn vị tiền tệ ổn định. Khi mức độ tăng giảm của giá không đáng
kể, giá gốc cung cấp thông tin hữu ích cho việc đánh giá về tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động của công ty.
b. Ví dụ:
Ngày 01/01/2015 Công ty A mua 1 chiếc ô tô để phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh. Giá mua là 850 triệu đồng (chưa có
thuế GTGT), thuế GTGT 10%. Chi phí lắp đặt, chạy thử là 33 triệu đồng (đã bao gồm thuế GTGT 10%). Nếu tính giá của tài sản
theo phương pháp khấu trừ thuế GTGT thì giá gốc của chiếc ô tô của chiếc ô tô = 850 +30 = 880 triệu đồng (tức là giá gốc không
bao gồm thuế GTGT được khấu trừ).
Đến tháng 12/12/2015, giá ngoài thị trường của chiếc ô tô tăng lên 950 triệu đồng. Tuy nhiên, theo nguyên tắc giá gốc, giá
của chiếc ô tô vẫn được ghi nhận là giá tại thời điểm Công ty A mua nó (vẫn là 880 triệu), không phụ thuộc vào biến động của thị
trường.
c. Ưu điểm và nhược điểm của kế toán giá gốc
Ưu điểm:
Giá gốc là loại giá được sử dụng phổ biến trong đo lường tài sản và nợ phải trả vì tính khách quan và xác thực của nó giữa các bên
có liên quan đến một nghiệp vụ kinh tế.
Cách tiếp cận đơn giản và đảm bảo được tính thích hợp và đáng tin cậy của thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng do có
những bằng chứng đáng tin cậy (thể hiện qua chứng từ kế toán), do vậy có ích đối với người sử dụng trong việc ra quyết định.
Nhược điểm:
Khi có sự biến động lớn của một số tài sản trên thị trường hay ở nền kinh tế có mức lạm phát cao thì việc thoát ly khá lớn giữa giá
gốc với giá thị trường đã làm cho thông tin kế toán phản ánh không thực chất tình hình tài chính ở đơn vị. Khi đó giá trị tài sản thực
tế ở đơn vị tại thời điểm lập báo cáo tài chính có thể cao hơn nhiều giá trị trên báo cáo hoặc ngược lại. Và để khắc phục nhược điểm
này, người ta sử dụng giá thay thế thay cho giá gốc.
Mô hình giá gốc thiên về cung cấp thông tin quá khứ nên không thích hợp với các quyết định kinh tế trong môi trường kinh
doanh hiện tại theo nền kinh tế thị trường.
D. Thực trạng kế toán giá gốc ở Việt Nam hiện nay
2
Luật Kế toán (2003)
“Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, bốc xếp, vận chuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên
quan trực tiếp khác đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng”. Như vậy, cơ sở giá gốc đề cập gắn liền với việc ghi nhận
giá trị tài sản được mua, nhìn chung còn đơn giản, thiếu tính hệ thống nên có thể ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của Luật do không thể
thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.
Chuẩn mực kế toán
Cơ sở giá gốc được áp dụng chính thức trong việc ghi nhận giá trị ban đầu của các đối tượng tài sản như hàng tồn kho, tài
sản cố định, bất động sản, các khoản đầu tư…Nhưng các phương pháp tính giá không được quy định đầy đủ, minh bạch làm giảm
tính chất ổn định của môi trường kế toán. Ví dụ: trong đoạn 28 của VAS 4- Tài sản cố định chỉ đề cập ngắn gọn về việc phải tuân thủ
các quy định của nhà nước về đánh giá lại giá trị tài sản mà không đưa ra các nguyên tắc, phương pháp đánh giá lại tài sản thường
rất phức tạp.
Thiếu tính chuẩn mực quan trọng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện đo lường kế toán trên cơ sở giá gốc đối với nhiều đối
tượng như: các công cụ tài chính, trợ cấp Chính phủ, tổn thất tài sản.
Chính sách cơ chế, phương pháp đo lường kế toán liên quan
Việc tồn tại chính sách hai giá khiến cho việc ghi nhận giá gốc theo biểu giá chính thức không đảm bảo yêu cầu khách
quan, hệ quả là các nội dung về chi phí, doanh thu và lãi lỗ có thể thiếu độ tin cậy, ngoài ra, còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng
khác. Ví dụ: khung giá đất hiện nay quá thấp so với giá thị trường, dẫn đến sự thất thoát rất lớn nguồn tài sản đất đai của nhà nước
khi bán ra bên ngoài, theo GS. TS Đặng Hùng Võ, các nghiên cứu cho thấy ngân sách nhà nước (NSNN) bị lãng phí, thất thoát gần
70 tỉ USD trong khoảng thời gian từ 1994- 2004 do tồn tại chính sách hai giá trong đất đai ở đô thị.
Theo quy định hiện hành, hai cơ chế định giá DN nhà nước (DNNN) được phép áp dụng là: “Thành lập Hội đồng định giá,
và thuê công ty tư vấn định giá độc lập” nhưng do mâu thuẫn lợi ích giữa các bên khi tự làm hoặc chi phí quá cao khi thuê tư vấn
nên kết quả đạt được hoặc không kịp thời hoặc không phù hợp với điều kiện thực tế. Về phương pháp định giá, Bộ Tài chính chỉ cho
phép áp dụng phương pháp so sánh và phương pháp chi phí. Điều này hạn chế việc tìm kiếm và áp dụng những phương pháp định
giá phù hợp hơn.
Vấn đề chuyển giá và chống chuyển giá.
Kế toán giá gốc cũng chịu thử thách rất lớn trong việc cung cấp thông tin trung thực, đáng tin cậy do xuất hiện các hoạt
động chuyển giá mà các tập đoàn kinh doanh đa quốc gia tìm cách áp dụng để thu được lợi nhuận tối đa về cho tập đoàn qua việc
tăng thu nhập, né thuế thu nhập hoặc được chia lợi nhuận theo tỉ lệ góp vốn cao trong các liên doanh, trên cơ sở định giá thấp hơn
giá thị trường các mặt hàng xuất khẩu từ nước chủ nhà và định giá cao hơn giá thị trường các mặt hàng nhập khẩu vào nước chủ
nhà. Điều này đồng nghĩ với việc nâng giá (gốc) đầu vào, giảm giá bán đầu ra của các yếu tố sản xuất trong các giao dịch nội bộ
giữa các thành viên của tập đoàn được đặt tại nhiều quốc gia có biểu thuế khác nhau sao cho có lợi nhất. Kĩ thuật chuyển giá ngày
càng phức tạp và mở rộng, đòi hỏi phải có cơ chế chống chuyển giá hiệu quả nhằm tránh thất thu thuế, đưa giá thành và giá bán trở
lại tương xứng với thực chất hao phí đã bỏ ra.
Các vấn đề khác.
Ngòai những nội dung trên, còn nhiều vấn đề khác liên quan đến việc áp dụng kế toán giá gốc để cung cấp thông tin hữu
ích cho người sử dụng như quan điểm về đánh giá tổn thất tài sản (impairment), chính sách tỉ giá hối đoái, trình độ quản lí kinh
doanh nội bộ, hoạt động đào tạo nhân sự kế toán-kiểm toán còn phải được giải quyết về lí luận lẫn thực hành nghề nghiệp.
3
Kết luận
Cơ sở giá gốc được xem là nền của đo lường kế toán trong nhiều năm qua, và kế toán giá gốc đã thực hiện rất tốt chức năng
cung cấp thông tin hữu ích và đáng tin cậy cho người sử dụng tại các quốc gia, tuy nhiên trong xu hướng phát triển và hội nhập toàn
cầu hiện nay, cơ sở giá gốc đã bộc lộ nhiều hạn chế. Và mặc dù chưa thể phủ nhận vai trò của giá gốc trong kế toán nhưng rất cần
xem xét lại và bổ sung bởi những cơ sở khác một cách phù hợp hơn.
Ở Việt Nam, việc ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán, các chế độ kế toán mới và các hướng dẫn tương đối phù hợp với
quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế trong thời gian qua đã chứng minh quyết tâm hội nhập của mình trong lĩnh vực
kế toán nhằm phục việc đổi mới cơ chế quản lí nền kinh tế, cung cấp thông tin tài chính kinh tế minh bạch cho các chủ thể tham gia
vào các hoạt động của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, khoảng cách về nhận thức, kinh nghiệm, kỹ thuật vẫn còn rất lớn
giữa hệ thống kế toán Việt Nam so với yêu cầu của quốc tế, đặc biệt là liên quan đến khái niệm về giá, việc tính giá, ghi nhận và
trình bày giá trị các đối tượng kế toán. Do đó, các vấn đề về kế toán trên cơ sở giá gốc tại Việt Nam cần phải được nhìn nhận, đánh
giá một cách toàn diện nhằm có thể đưa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả để đảm bảo tính hữu ích, đáng tin cậy cho thông tin
kế toán được cung cấp.
Câu 2: Phân tích ảnh hưởng của kế toán giá gốc trong thực tiễn chế độ kế toán từ 1995 đến nay ở Việt Nam?
TRẢ LỜI:
Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán trong một lĩnh vực hoặc một số công việc cụ thể do cơ quan quản lý
nhà nước về kế toán hoặc tổ chức được cơ quan quản lý nhà nước về kế toán ủy quyền ban hành.
Hệ thống kế toán Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của nguyên tắc giá gốc. Trong Luật Kế toán của Việt Nam (2003) có
nêu: “Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, bốc xếp, vận chuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên
quan trực tiếp khác đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng”. Như vậy, cơ sở giá gốc đề cập gắn liền với việc ghi nhận
giá trị tài sản được mua, nhìn chung còn đơn giản, thiếu tính hệ thống nên có thể ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của Luật do không thể
thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.
-
Chuẩn mực kế toán VAS 01 “Chuẩn mực chung” được coi như khuôn mẫu lý thuyết xây dựng và hoàn thiện chuẩn mực, chế độ kế
toán Việt Nam – đã coi giá gốc là một trong bảy nguyên tắc kế toán cơ bản và yêu cầu “Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá
gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm
tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể”.
Cơ sở giá gốc được áp dụng chính thức trong việc ghi nhận ban đầu của các đối tượng tài sản như: Hàng tồn kho, tài sản cố
định, bất động sản, các khoản đầu tư,…cụ thể trong đoạn 04, 05 của VAS 02 - “Hàng tồn kho” thì: “Hàng tồn kho được tính theo giá
gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Giá gốc
hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến hàng tồn kho”. Nhưng các
phương pháp tính giá không được quy định đầy đủ, minh bạch làm giảm tính chất ổn định của môi trường kế toán.
-
Chuẩn mực kế toán VAS 03 “TSCĐ hữu hình” thì “TSCĐ hữu hình phải được xác định theo nguyên giá. Nguyên giá của TSCĐ là
toàn bộ các chi phí mà DN đã bỏ ra để có được TSCĐ hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào vị trí sẵn sàng sử dụng”.
-
Chuẩn mực kế toán VAS05 “Bất động sản đầu tư” thì đối với bất động sản đầu tư khi xác định giá trị ban đầu phải theo nguyên tắc
giá gốc, nghĩa là bất động sản đầu tư phải được xác định giá trị ban đầu theo nguyên giá. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao
gồm các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban đầu.
-
Chuẩn mực kế toán VAS 07 “Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết”, VAS 08 “ Thông tin tài chính về những khoản vốn
góp liên doanh” thì các khoản đầu tư vào công ty liên kết, cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát đều được ghi nhận ban đầu theo giá gốc.
Mặc dù cơ sở giá gốc được áp dụng chính thức trong việc ghi nhận ban đầu của các đối tượng tài sản như: hàng tồn kho, tài
sản cố định, bất động sản, các khoản đầu tư,.. Nhưng các phương pháp tính giá không được quy định đầy đủ, minh bạch làm giảm
tính chất ổn định của môi trường kế toán. Ví dụ trong đoạn 28 của VAS 04 “TSCĐ vô hình” chỉ đề cập ngắn gọn về việc tuân thủ
các quy định của Nhà nước về đánh giá lại giá trị tài sản mà không đưa ra các nguyên tắc, phương pháp đánh giá lại tài sản thường
rất phức tạp.
4
Việc tồn tại chính sách hai giá khiến cho việc ghi nhận giá gốc theo biểu giá chính thức không đảm bảo yêu cầu khách quan,
hệ quả là các nội dung về chi phí, doanh thu và lãi, lỗ có thể thiếu độ tin cậy, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng khác. Điển hình
khung giá đất hiện nay quá thấp so với giá thị trường, dẫn đến sự thất thoát rất lớn nguồn tài sản đất đai của Nhà nước khi bán ra bên
ngoài. Theo các nghiên cứu cho thấy Ngân sách Nhà nước bị lãng phí, thất thoát gần 150 tỉ USD trong khoảng thời gian từ 1994 –
2014, do tồn tại chính sách hai giá trong đất đai ở đô thị.
Theo quy định hiện hành, hai cơ chế định giá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được phép áp dụng là: “Thành lập Hội đồng
định giá, và thuê công ty tư vấn định giá độc lập” nhưng do mâu thuẫn lợi ích giữa các bên khi tự làm hoặc chi phí quá cao khi thuê
tư vấn nên kết quả đạt được hoặc không kịp thời hoặc không phù hợp với điều kiện thực tế. Về phương pháp định giá, Bộ Tài chính
chỉ cho phép áp dụng phương pháp so sánh và phương pháp chi phí. Điều này hạn chế việc tìm kiếm và áp dụng những phương pháp
định giá phù hợp hơn.
Kế toán giá gốc cũng chịu thử thách rất lớn trong việc cung cấp thông tin trung thực, đáng tin cậy do xuất hiện các hoạt động
chuyển giá mà các tập đoàn kinh doanh đa quốc gia tìm cách áp dụng để thu được lợi nhuận tối đa về cho tập đoàn qua việc định giá
thấp hơn giá thị trường các mặt hàng xuất khẩu từ nước chủ nhà và định giá cao hơn giá thị trường các mặt hàng nhập khẩu vào
nước chủ nhà. Điều này đồng nghĩa với việc nâng giá (gốc) đầu vào, giảm giá bán ra của các yếu tố sản xuất trong các giao dịch nội
bộ giữa các thành viên của tập đoàn được đặt tại nhiều quốc gia có biểu thuế khác nhau sao cho có lợi nhất. Ví dụ, điển hình đó là
vụ Coca Cola tại Việt Nam. Kỹ thuật chuyển giá ngày càng phức tạp và mở rộng, đòi hỏi phải có cơ chế chống chuyển giá hiệu quả
nhằm tránh thất thu thuế, đưa giá thành và giá bán trở lại tương xứng với thực chất hao phí đã bỏ ra.
Trong thời gian gần đây, kế toán theo giá gốc đã bộc lộ những hạn chế đối với việc phản ánh các khoản đầu tư tài chính. Cụ
thể như:
Thứ nhất, hạn chế trong việc ghi nhận ban đầu của các khoản đầu tư tài chính (ĐTTC) Theo quy định của chế độ kế toán
Việt Nam, các khoản ĐTTC phát sinh lần đầu tiên tại DN đều được ghi nhận theo giá gốc. Khi DN tiến hành mua cổ phiếu với mục
đích đầu tư ngắn hạn hoặc dài hạn thì giá trị của chứng khoán đầu tư sẽ được ghi sổ theo giá thực tế mua chứng khoán (giá gốc), bao
gồm: Giá mua cộng (+)các chi phí mua (nếu có) như chi phí môi giới, giao dịch, cung cấp thông tin, thuế, phí, lệ phí và phí ngân
hàng, … Với việc hạch toán cả chi phí môi giới, giao dịch, cung cấp thông tin, thuế, phí, lệ phí và phí ngân hàng, … vào giá gốc của
các khoản ĐTTC nắm giữ trong thời gian ngắn hạn, làm cho giá trị các khoản đầu tư này được phản ánh không chính xác, đẩy giá
gốc của các khoản đầu tư chứng khoán lên rất cao so với giá trị thực tế của nó đang được giao dịch trên thị trường.
Thứ hai, bất cập trong việc phản ánh và trình bày các khoản ĐTTC trên BCTC của DN. Khi kết thúc kỳ kế toán, giá trị các
khoản ĐTTC của DN trình bày trên báo BCTC mà cụ thể là bảng cân đối kế toán theo giá gốc(giá trị ban đầu). Nếu các khoản
chứng khoán của DN bị giảm giá hoặc giá trị các khoản ĐTTC bị tổn thất do tổ chức kinh tế mà DN đang đầu tư vào bị lỗ, thì DN sẽ
phải trích lập dự phòng theo quy định. Còn ngược lại, nếu giá trị các khoản ĐTTC của DN tăng lên do giá cổ phiếu tăng thì khoản
chênh lệch này lại không được phản ánh và ghi nhận.
Ngoài những nội dung trên, còn nhiều vấn đề khác liên quan đến việc áp dụng kế toán giá gốc để cung cấp thông tin hữu ích
cho người sử dụng như quan điểm về đánh giá tổn thất tài sản, chính sách tỉ giá hối đoái, trình độ quản lí kinh doanh nội bộ, hoạt
động đào tạo nhân sự kế toán-kiểm toán còn phải được giải quyết về lí luận lẫn thực hành nghề nghiệp.
Câu 3: Nội dung cơ bản của kế toán mức giá chung, phân tích cơ sở thực tiễn cho việc hình thành quan điểm kế toán
này? Trình bày ưu điểm, nhược điểm kế toán theo mức giá chung? Liên hệ với chế độ kế toán Việt Nam hiện hành?
TRẢ LỜI:
a) Nội dung cơ bản của kế toán mức giá chung là:
− Kế toán giá gốc dựa trên giả định đơn vị tiền tệ ổn định hoặc giá trị đồng tiền thay đổi không đáng kể. Trong khi đó , sức mua
chung phản ảnh khả năng của đơn vị tiền tệ trong việc mua hàng hóa và dịch vụ, khả năng này tỷ lệ nghịch với sự tăng giá của hàng
hóa, dịch vụ.
− Vì vậy, khi lạm phát, kế toán giá gốc không ghi nhận sự thay đổi của sức mua chung nên bảng cân đối kế toán (BCĐKT) sẽ phản
ảnh tài sản được mua vào những thời kỳ khác nhau với mức giá khác nhau. Kế toán mức giá chung khắc phục được điều này thông
qua điều chỉnh BCĐKT để phản ảnh sự thay đổi mức giá chung.
5
− Cơ sở điều chỉnh là chỉ số giá. Các chỉ số thường dùng là Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giảm phát (IDP), (IDP được coi là tốt
hơn CPI).
− Nghiên cứu kế toán mức giá chung dựa trên cách tiếp cận của lý thuyết chủ sở hữu (CSH), trong đó người ta quan tâm đến việc tối
đa hóa chủ sở hữu sau một chu kỳ kinh doanh.
− Phương trình kế toán: Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả
Trong đó, vốn CSH chính là giá trị tài sản thuần được tính bằng đơn vị đồng tiền danh nghĩa nên trong lợi nhuận tính ra trong kỳ
có bao hàm cả ảnh hưởng của việc thay đổi sức mua đồng tiền. Điều này chấp nhận được khi sức mua đồng tiền thay đổi không
đáng kể.
− Kế toán theo mức giá chung yêu cầu tính toán giá trị của tài sản thuần dựa trên đơn vị sức mua cố định. Phần tăng lên của giá
trị tài sản thuần của kỳ so với đầu kỳ tính trên cùng một đơn vị sức mua (sau khi loại trừ ảnh hưởng của việc góp vốn hay chia
lợi nhuận) là lợi nhuận của doanh nghiệp.
b) Cơ sở thực tiễn cho việc hình thành quan điểm kế toán theo mức giá chung là:
− Kế toán theo mức giá chung được hình thành từ khá sớm khi các nhà kế toán muốn loại trừ ảnh hưởng của lạm phát đến kế toán,
đến số liệu trong báo cáo tài chính và do kế toán theo giá gốc không ghi nhận được thay đổi quá lớn của sức mua chung.
− Mô hình sử dụng chỉ số giá chung để điều chỉnh BCTC đã được Sweeney đưa ra từ những năm 1936. Từ những năm 1950 và 1960,
các tổ chức nghề nghiệp đã quan tâm đến việc điều chỉnh lại BCTC theo mức giá chung nhưng các nghiên cứu này chưa dẫn đến các
quy định cụ thể trong thực tiễn hoạt động kế toán. Và phải đến thập niên 1970, với lạm phát cao tại nhiều quốc gia, các chuẩn mực
kế toán theo mức giá chung đã được ban hành tại nhiều nước như Hoa Kỳ (1969), Anh (1974),…
c) Ưu điểm, nhược điểm kế toán theo mức giá chung là:
Ưu điểm
Nhược điểm
Đưa các khoản mục về cùng một đơn vị tiền tệ theo sức mua
giúp tăng khả năng so sánh được giữa các BCTC của các doanh
nghiệp.
Về lý thuyết, việc sử dụng một chỉ số giá chung để điều
chỉnh là không phù hợp. Vì tài sản khác nhau có thay đổi
giá khác nhau, ngành khác nhau ảnh hưởng giá khác nhau.
So sánh doanh thu và chi phí trên cùng một cơ sở tiền tệ (mặc
dù chúng xảy ra ở những thời kỳ khác nhau).
Về kỹ thuật tính toán, phân biệt giữa khoản mục tiền tệ và
phi tiền tệ.
Các kỹ thuật để lập BCTC áp dụng khá dễ dàng.
Trong nghiên cứu thực nghiệm của Dickman (1969),
Morris(1975) cho thấy kế toán theo mức giá chung không
cung cấp thông tin kế toán thích hợp.
Cung cấp thông tin hữu ích cho việc đánh giá công việc quản lý
doanh nghiệp:
+ Lãi lỗ do tiền tệ: quản lý lạm phát
+ Khoản phi tiền tệ được điều chỉnh: sức mua cần có để tái tạo
chúng
+ Lợi nhuận đã điều chỉnh: khả năng tạo lợi nhuận.
d) Liên hệ với chế độ kế toán Việt Nam hiện hành là:
Từ những năm 1990, Luật Kế toán và các chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành đều quy định sử dụng giá gốc là cơ sở
tính giá mang tính nguyên tắc. Cụ thể:
− Trong Luật Kế toán của Việt Nam (2003) có nêu: “Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, bốc xếp, vận
6
chuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng”.
− Theo VAS 01 “Chuẩn mực chung” thì đã coi giá gốc là một trong bảy nguyên tắc kế toán cơ bản và yêu cầu “Tài sản phải được ghi
nhận theo giá gốc. Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của
tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực
kế toán cụ thể”.
− Cơ sở giá gốc được áp dụng chính thức trong việc ghi nhận ban đầu của các đối tượng tài sản như: Hàng tồn kho, tài sản cố định, bất
động sản, các khoản đầu tư, … Ví dụ:
•
VAS 02 “Hàng tồn kho” thì: “Hàng tồn kho được tính theo giá gốc. Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc
thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được. Giá gốc hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí
khác có liên quan trực tiếp đến hàng tồn kho”.
•
VAS 03 “TSCĐ hữu hình” thì: “TSCĐ hữu hình phải được xác định theo nguyên giá. Nguyên giá của TSCĐ là toàn bộ các chi phí
mà DN đã bỏ ra để có được TSCĐ hữu hình tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào vị trí sẵn sàng sử dụng”.
•
VAS 05 “Bất động sản đầu tư” thì khi xác định giá trị ban đầu phải theo nguyên tắc giá gốc, nghĩa là bất động sản đầu tư phải được
xác định giá trị ban đầu theo nguyên gía. Nguyên giá của bất động sản đầu tư bao gồm các chi phí giao dịch liên quan trực tiếp ban
đầu.
Về kế toán theo giá đầu ra (giá trị hợp lý) thì đã được đề cập đến từ hơn 15 năm qua, và được định nghĩa đầu tiên trong
Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác (được ban hành và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày
31/12/2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) với nội dung: “Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ
được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao đổi ngang giá”. Trong kế toán Việt Nam, giá trị hợp
lý được sử dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn : ghi nhận ban đầu tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận
ban đầu và báo cáo các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh…
Tóm lại, trong hệ thống kế toán Việt Nam từ trước đến nay chưa từng áp dụng mô hình kế toán theo mức giá chung. Vì
thực tiễn hiện nay chế độ kế toán Việt Nam chỉ áp dụng theo các mô hình kế toán theo giá gốc và kế toán theo giá đầu ra. Do
đó, hầu như trong Luật và các chuẩn mực Kế toán Việt Nam chỉ đề cập đến hai mô hình này.
Câu 4: Trình bày nội dung, ưu điểm, nhược điểm của luận điểm kế toán theo giá hiện hành, lấy ví dụ minh hoạ và liên
hệ chế độ kế toán Việt Nam hiện hành?
TRẢ LỜI:
2.1/ Nội dung cơ bản của phương pháp giá hiện hành được trình bày thông qua 2 khái niệm chính gồm:
a/ Lợi nhuận kinh tế
Nhà quản lý thị trường phải đứng trước hai loại quyết định
- Quyết định nắm giữ: liên quan đến việc nắm giữ hay bán đi ( đối với tài sản)/ thanh toán ( đối với nợ phải trả)
- Quyết định hoạt động: liên quan đến việc sử dụng nguồn lực và tài trợ cho doanh nghiệp
Đánh giá các quyết định trên của nhà quản lý, Edward et al. đề xuất một khái niệm lợi nhuận gọi là “lợi nhuận kinh doanh”. Lợi
nhuận hiểu theo nghĩa này bao gồm hai phần:
- Lợi nhuận hoạt động kinh doanh hiện hành là phần chênh lệch giữa giá bán của đầu ra và giá hiện hành của đầu vào liên
quan (thay vì theo giá quá khứ trong hệ thống giá gốc)
- Khoản tiết kiệm chi phí có thể thực hiện là phần tăng lên của giá hiện hành của tài sản đựơc doanh nghiệp nắm giữ trong kỳ
hiện hành. Như vậy, nó chưa bao gồm cả phần thay đổi giá đã thực hiện.
Dưới đây thuật ngữ “lãi lỗ do nắm giữ” sẽ được dùng thay cho khái niệm: khoản tiết kiệm chi phí có thể thực hiện”
Thí dụ giản lược sau đây làm rõ khái niệm trên
Công ty A mua vào một lô hàng với số lượng 60 đơn vị với giá 50đồng/đơn vị. Vào cuối kỳ, công ty bán 40 đơn vị ra ngoài
với giá 70đồng/đơn vị, lúc này giá hiện hành (giá thay thế) của loại hàng này là 60 đồng/đơn vị. Giả sử không có chi phí nào khác
ngoài giá vốn hàng bán.
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh theo mô hình giá gốc sẽ là:
Doanh thu:
(40 đơn vị x 70 đồng)
Giá vốn hàng bán:
2.800
2.000
7
(40 đơn vị x 50 đồng)
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh:
800
Trong khi đó, theo mô hình giá hiện hành, lợi nhuận sẽ được tính như sau:
Doanh thu:
(40 đơn vị x 70 đồng)
Giá vốn hàng bán:
(40 đơn vị x 60 đồng)
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh:
Lợi nhuận do nắm giữ (đã thực hiện):
[40 đơn vị x (60đồng- 50đồng)]
Lợi nhuận do nắm giữ (chưa thực hiện):
[20 đơn vị x (60đồng- 50đồng)]
Tổng lợi nhuận:
2.800
2.400
400
400
200
1.000
So sánh giữa hai cách tính, lợi nhuận hoạt động kinh doanh theo giá gốc là 800 đồng bị trộn lẫn hai yếu tố là lợi nhuận thực
sự từ quyết định bán hàng là 400 (vì giá mua vào bây giờ là 60 đồng) và lãi do nắm giữ lô hàng này là 400 (mua vào khi giá 50 đồng
và giữ đến cuối năm mới bán). Ngoài ra, doanh nghiệp còn một khỏan lãi do nắm giữ chưa thực hiện là 200 đồng cho số hàng còn
tồn đến cuối năm.
Việc trình bày lợi nhuận kinh doanh theo giá hiện hành giúp đánh giá đúng hơn quyết định của nguời quản lý. Giả sử một
công ty B mới thành lập gần ngày cuối năm và mua lô hàng tương tự như công ty A nhưng với giá 60 đồng và bán cùng giá là 70
đồng. Tính theo giá gốc, công ty B có lợi nhuận hoạt động kinh doanh là 400 đồng, thấp hơn lợi nhuận hoạt động kinh doanh công
ty A tính theo giá gốc là 800 đồng. Kết quả là công ty A được đánh giá là kinh doanh có hiệu quả hơn nhờ dự trữ hàng trong quá
khứ (lợi nhuận 400 đồng chênh lệch tạo ra do quyết định nắm giữ hơn là do quyết định kinh doanh)
Hệ thống giá hiện hành của Edwards et al. đưa ra các phương pháp tính lãi/lỗ do nắm giữ của các yếu tố khác nhau như tài
sản cố định, trái phiếu phát hành… đồng thời kết hợp với điều chỉnh theo mức giá chung.
b/ Bảo toàn vốn
Hệ thống giá hiện hành dựa trên khái niệm bảo tòan năng lực vật chất của vốn. Khái niệm này khác với khái niệm bảo
tòan vốn đựơc đề cập trong kế tóan mức giá chung là bảo tồn vốn về mặt tài chính, trong đó người ta quan tâm đến sức mua của vốn
có được bảo tòan hay không. Bảo tòan vốn về mặt năng lực vật chất yêu cầu vốn phải được bảo tòan dưới góc độ tái tạo nguồn lực
cho việc tiếp tục kinh doanh.
Trở lại ví dụ trên, giả sử vốn đầu tư ban đầu của công ty A đúng bằng 3.000 đồng là số tiền mà A
bỏ ra để mua 60 đơn vị hàng hóa. Tính theo giá gốc, lợi nhuận hoạt động kinh doanh đã thực hiện trong kỳ là 800 đồng và công ty
quyết định chiacổ tức tòan bộ số lợi nhuận này. Lúc này, vốn của công ty dướ góc độ tài chính vẫn là 3.000đồng:
Tiền thu bán hàng
Chia cổ tức
Còn lại
Hàng tồn kho
Tổng cộng vốn
2.800 đồng
(800 đồng)
2.000 đồng
1.000 đồng
3.000đồng
Tuy nhiên, dưới góc độ bảo tòan vốn theo năng lực vật chất, công ty A đã bị mất vốn vì số tiền của công ty A hiện có sau
khi chia cổ tức không đủ để mua lại số hàng hóa đã bán ra. Với số tiền 2.000 đồng, công ty A chỉ mua lại đựơc 2.000/60 = 33 đơn vị
(làm tròn), hàng tồn kho sau khi mua lại chỉ là 53 đơn vị so với 60 đơn vị lúc đầu năm.
Như vậy, theo quan điểm bảo tòan vốn theo năng lực sản xuất, công ty A chỉ xác định lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh là
400 đồng, không bao gồm các khỏan lãi lỗ do nắm giữ (kể cả đã thực hiện và chưa thực hiện). Khi A chia cổ tức theo số này, A vẫn
đảm bảo mua lại hàng hóa với số lượng như đầu kỳ đã mua.
Tóm lại, thông qua sử dụng giá hiện hàng, báo cáo tài chính phân biệt lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh với lãi/lỗ do nắm
giữ; phục vụ cho quan điểm bảo tòan vốn trên phương diện năng lực vật chất.
Phương pháp giá hiện hành xuất hiện khắc phục được những hạn chế của phương pháp giá gốc để thể hiện những
ưu điểm của nó, tuy nhiên phương pháp này cũng còn tồn tại một số nhược điểm nhất định, cụ thể:
a/ Ưu điểm:
8
Trong điều kiện không tồn tại thị trường hoạt động cho tài sản và nợ phải trả hoàn toàn giống nhau tại thời điểm ghi nhận
ban đầu thì giá hiện hành nếu đảm bảo được tính tin cậy được ưu tiên sử dụng để phản ánh đúng bản chất của đối tượng kinh tế tài
chính.
Việc xác định giá trị tài sản không đòi hỏi sự chính xác mà chỉ cần thỏa mãn các yêu cầu về tính đáng tin cậy của các chuẩn
mực kế toán. Hơn nữa, giá hiện hành còn có thể xác định được giá trị của các loại hàng hóa mua từ nhiều đợt khác nhau.
Lợi nhuận theo giá hiện hành phản ánh khả năng của doanh nghiệp ttrong việc đóng góp vào nền kinh tế cũng như tính hữu
hiệu của quy trình sản xuất hiện tại. Lý do là khi lợi nhuận vượt khỏi lãi suất sinh ra bởi tài sản thuần tính theo giá hiện hành, quy
trình sản xuất hiện tại có thể xứng đáng để tiếp tục hoạt động. Do đó, lợi nhuận hoạt động kinh doanh tính theo giá hiện hành đại
diện cho khả năng tạo ra lợi nhuận dài hạn của doanh nghiệp trong quy trình sản xuất hiện tại.
Ngoài ra, kế toán theo giá hiện hành còn có ưu điểm nữa là phản ánh khả năng đóng góp của doanh nghiệp vào nền kinh tế
b/ Nhược điểm:
- Lợi nhuận từ tài sản dài hạn nắm giữ là không phù hợp, không có ý nghĩa: Như đã trình bày ở ví dụ trên, hàng hóa mà
doanh nghiệp nắm giữ đã tạo ra một khoản lãi do nắm giữ tài sản chưa thực hiện đóng góp vào lợi nhuận chung của toàn doanh
nghiệp một khoản là 200 đồng bằng phương pháp giá hiện hành. Như vậy nếu cũng bằng phương pháp giá hiện hành thì những tài
sản cố định hiện doanh nghiệp đang nắm giữ mà chưa thanh lý nếu tăng giá so với giá gốc thì nó cũng làm phát sinh một khoản lãi
do nắm giữ tài sản chưa thực hiện đóng góp vào tổng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp. Đối với nhà đầu tư thì việc đánh giá như
thế giúp họ đánh giá được khoản đầu tư của họ nhưng đối với bản thân doanh nghiệp (người quản lý, sử dụng) những tài sản này
thì việc đánh giá này lại không có ý nghĩa gì. Vì bản thân tài sản doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng chứ không để bán vì vậy khoản
lợi nhuận này được đánh giá và đưa vào tổng lợi nhuận của toàn doanh nghiệp là không phù hợp, không có ý nghĩa.
- Thiếu khách quan do giao dịch bán chưa phát sinh: Do phương pháp giá hiện hành làm phát sinh khoản lãi do nắm giữ tài
sản (bao gồm cả khoản lãi đã thực hiện và chưa thực hiện). Vì vậy đối với những tài sản chưa phát sinh giao dịch bán thì đã làm phát
sinh khoản lãi chưa thực hiện và được hạch toán lãi vào kết quả kinh doanh. Mặt khác rất khó để định giá một cách chính xác đối
với những tài sản đã qua sử dụng. Điều này thiếu khách quan và giá trị hạch toán chỉ là ước tính.
- Bỏ qua sự tiến bộ kỹ thuật (làm quy trình sản xuất lỗi thời): Quan điểm bảo vệ phương pháp giá hiện hành cho rằng giá
hiện hành phản ánh khả năng của doanh nghiệp trong việc đóng góp vào nền kinh tế cũng như tính hiện hữu của quy trình sản xuất
hiện tại. Do đó quy trình sản xuất hiện tại được xem là chấp nhận và làm cơ sở để đánh giá khả năng sinh lợi trong tương lai khi: lợi
nhuận hoạt động kinh doanh tính theo giá hiện hành vượt qua khả năng sinh lời của tài sản thuần. Tuy nhiên trên thực tế khi khoa
học kỹ thuật tiến bộ đương nhiên quy trình sản xuất cũ của Doanh nghiệp trở nên lỗi thời và do đó lợi nhuận kinh doanh tính theo
giá hiện hành không còn phản ánh đúng khả năng sinh lợi trong tương lai.
2.3/ Ví dụ:
- Công ty A mua lô hàng số lượng 80 đv, giá 35 đồng/đv. Cuối kỳ, công ty bán 40 đv ra ngoài với giá 50 đồng/đv.
- Giá hiện hành của loại hàng này là 45 đồng/đv. Công ty không còn chi phí nào ngoài giá vốn hàng bán.
Tính toán lợi nhuận theo mô hình giá gốc và mô hình giá hiện hành:
MÔ HÌNH GIÁ GỐC
Doanh thu
40 đv x 50 đồng/đv
2.000
Giá vốn hàng bán
40 đv x 35 đồng/đv
1.400
2.000 – 1.400
600
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
9
MÔ HÌNH GIÁ HIỆN HÀNH
Doanh thu
40 đv x 50 đồng/đv
2.000
Giá vốn hàng bán
40 đv x 45 đồng/đv
1.800
2.000 – 1.800
200
Lãi do nắm giữ (đá thực hiện)
40 đv x (45 đồng/đv – 35 đồng/đv)
400
Lãi do nắm giữ (chưa thực hiện)
40 đv x (45 đồng/đv – 35 đồng/đv)
400
400 + 400 + 200
1.000
Lợi nhuận hoạt động kinh doanh
Tổng lợi nhuận
2.4/ Liên hệ: giá hiện hành trong chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện nay
Theo tiêu chuẩn kế toán Việt Nam số 2 (Hàng tồn kho) thì giá hiện hành được quy định như sau:
- Giá hiện hành: Là khoản tiền phải trả để mua một loại hàng tồn kho tương tự tại ngày lập bảng cân đối kế toán.
- Việc tính giá trị hàng tồn kho được áp dụng theo một trong các phương pháp sau:
+ Phương pháp tính theo giá đích danh;
+ Phương pháp bình quân gia quyền;
+ Phương pháp nhập trước, xuất trước;
+ Phương pháp nhập sau, xuất trước.
Trường hợp doanh nghiệp tính giá trị hàng tồn kho theo phương pháp nhập sau, xuất trước thì báo cáo tài chính phải phản
ánh số chênh lệch giữa giá trị hàng tồn kho trình bày trong bảng cân đối kế toán với:
Giá trị hiện hành của hàng tồn kho cuối kỳ tại ngày lập bảng cân đối kế toán (nếu giá trị hiện hành của hàng tồn kho tại
ngày lập bảng cân đối kế toán nhỏ hơn giá trị thuần có thể thực hiện được); hoặc với giá trị thuần có thể thực hiện được (nếu giá trị
hàng tồn kho cuối kỳ tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được nhỏ hơn giá trị hàng tồn kho cuối kỳ tính theo giá trị hiện hành tại
ngày lập bảng cân đối kế toán).
Tuy nhiên, hiện nay đối với phương pháp nhập sau, xuất trước thì Chuẩn mực kế toán quốc tế không cho phép áp dụng
phương pháp này, trong khi đó Chuẩn mực kế toán Việt Nam yêu cầu khi làm phương pháp này phải trình bày so sánh với một trong
3 phương pháp còn lại, theo đó phương pháp nhập sau xuất trước hầu như không còn áp dụng trong thực tế, điều này dẫn đến giá
hiện hành cũng không được áp dụng trong kế toán hiện nay.
Câu 5: Trình bày nội dung, ưu điểm, nhược điểm kế toán theo giá đầu ra? Lấy ví dụ và liên hệ với chế độ kế toán Việt
Nam?
TRẢ LỜI:
a. Nội dung kế toán theo giá đầu ra
Theo đóng góp của Macneal:
-
MacNeal cho rằng Kế toán theo giá gốc không còn thích hợp để cung cấp thông tin cho quyết định của nhà đầu tư nữa; vì tài sản được
ghi nhận dựa trên giá mua vào trong quá khứ tại những thời kỳ khác nhau => không biết được giá trị hiện tại của tài sản của DN.
- MacNeal đề nghị các giải pháp như sau:
+ Các tài sản có thị trường giao dịch phản ảnh theo giá trị thị trường (giá đầu ra)
+ Các tài sản không có thị trường giao dịch nhưng có thể tái xuất phản ánh theo giá thay thế (giá hiện hành)
+ Các tài sản không thuộc cả hai loại trên sẽ sử dụng giá gốc.
=> đề xuất giá đầu ra như một giải pháp ưu tiên cho kế toán nhằm giúp cho thông tin đáp ứng được nhu cầu của các cổ đông.
Theo đóng góp của Chambers:
-
Chambers đưa ra một giải pháp toàn diện cho áp dụng giá đầu ra, gọi là hệ thống “Kế toán điều chỉnh liên tục theo hiện tại” (CoCoA).
Theo CoCoA, tất cả tài sản đều được tính theo giá bán ra được trên thị trường tại thời điểm kết thúc niên độ, doanh nghiệp phải thích ứng
10
trong môi trường kinh doanh của mình để tồn tại => doanh nghiệp phải báo cáo về tình hình tài chính của mình bằng giá trị trường, được
xác định bằng giá có thể thực hiện được điều kiện giao dịch ngắn hạn bình thường, để phản ánh các dòng tiền có thể được tạo ra.
=> Chambers đưa ra cách lập luận để chứng minh rằng giá bán là giá hợp lý để phản ánh tài sản trên BCTC
- Tài sản theo giá bán là trình bày nó dưới một khoản tương đương tiền mà DN đang nắm giữ.
- Giá trị tài sản chính là chi phí cơ hội mà DN phải bỏ ra để giữ tài sản =>đo bằng giá bán là phù hợp.
Theo CoCoA tất cả khoản chênh lệch giá giữa giá trị trên sổ sách vào cuối niên độ với giá trị thường sẽ phản ánh vào báo cáo kết quả
hoạt động DN dưới hai loại:
- Lợi nhuận hoạt động từ giá đầu ra là chênh lệch do đánh giá HTK theo giá đầu ra.
- Các hoạt động đánh giá lại khác là chênh lệch đánh giá lại của các TS khác theo giá đầu ra.
Theo đóng góp của Sterling:
-
Đóng góp của Sterling là đưa ra phân tích về kinh tế học nhằm chứng minh tính ưu việt của giá đầu ra.
- Ông đã xem xét các phương pháp định giá và đo lường lợi nhuận khác nhau trên
hai tiêu chuẩn: tính thích hợp và tính xác thực. => Kết quả ông cho rằng giá đầu ra
là ưu việt nhất vì các lý do sau đây:
+Thích hợp cho tất cả các đối tượng trong việc ra quyết định; trong khi các phương
pháp định giá khác nhau chỉ thích hợp cho một hay một vài đối tượng nhất định.
+ Có thể xác định một cách đáng tin cậy
+ Có khả năng cộng hợp
+ Có tính nhất quán về mặt thời gian
b. Ưu, nhược điểm kế toán theo giá đầu ra
Ưu điểm:
-
Khả năng cộng hợp là một ưu điểm nổi trội của giá đầu ra vì nó cho phép xác định tất cả các tài sản trên cùng mặt bằng giá. Điều này có tác dụng
giúp cho khả năng cộng hợp các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính hình thành một con số có ý nghĩa.
-
Các khoản chênh lệch giữa giá gốc với giá đầu ra vào thời điểm lập Báo cáo tài chính phản ánh doanh nghiệp có tăng sức mua của tài sản thuần so
với các doanh nghiệp khác.
-
Tạo ra những nền tảng lý thuyết quan trọng cho các khái niệm tài sản, lợi nhuận của kế toán… Bổ sung hoặc thay thế cho giá gốc.
Nghiên cứu trên mẫu cho thấy giá đầu ra cho kết quả ít phân tán hơn giá gôc.
Giá trị sử dụng là một kỹ thuật mang tính chủ quan (tính NVP từ việc sử dụng tài sản) nên không hợp lý để xác định giá trị tài sản.
Đảm bảo tài sản, nợ phải trả của đơn vị được báo cáo theo mức giá phù hợp với mức giá kỳ vọng chung của thị trường, thích hợp với các quyết
định tài chính trong điều kiện thị trường chứng khoán và thị trường tài chính đang phát triển ở từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu.
Nhược điểm:
-
Bell 1971: Việc đánh giá tài sản theo giá đầu ra và ghi vào kết quả hoạt động sẽ thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đến việc tối đa hóa giá trị tương
đương tiền của tài sản trong ngắn hạn hơn là tập trung vào kinh doanh.
-
Larson 1966: Giá trị các tài sản được xác định riêng rẽ sẽ khác biệt với giá trị tài sản được bán trọn gói, xuất phát từ các yếu tố vô hình phát sinh
do sự liên kết giữa các tài sản. Cách tính của CoCoA đã bỏ qua yếu tố này và do đó tính cộng hợp có thể bị nghi ngờ.
-
Giá đầu ra nhấn mạnh đến giá trị trao đổi mà bỏ qua giá trị sử dụng, có thể có các tài sản được sử dụng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mặc dù
không có giá thị trường.
-
Giá đầu ra dựa trên giá bán thị trường của tài sản nên khó xác định một cách khách quan.
11
c. Ví dụ
d. Liên hệ thực tiễn
Giá trị hợp lý trong thông tư 200 của Bộ tài chính và Luật kế toán sửa đổi 2015
Thực ra, cho đến nay, vẫn còn không ít những tranh luận xunh quanh việc sử dụng Giá trị hợp lý (vấn đề được tranh luận nhiều nhất là
tính đáng tin cậy và phương pháp xác định Giá trị hợp lý). Tại Việt Nam, Giá trị hợp lý đã được đề cập đến từ hơn 10 năm nay, và đầu tiên được
định nghĩa trong Chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác: Giá trị hợp lý là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ
được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong trao đổi ngang giá. Trong kế toán Việt Nam, Giá trị hợp lý được sử
dụng chủ yếu trong ghi nhận ban đầu, chẳng hạn: ghi nhận ban đầu tài sản cố định, doanh thu, thu nhập khác, ghi nhận ban đầu và báo cáo các
khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, xác định giá phí hợp nhất kinh doanh.
Về phương pháp xác định Giá trị hợp lý, ngoại trừ đoạn 24 của Chuẩn mực kế toán số 4 - Tài sản cố định vô hình - có đề cập đến phương
pháp xác định Giá trị hợp lý của tài sản cố định vô hình, và thông tư 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ Tài chính có hướng dẫn việc xác
định Giá trị hợp lý trong xác định giá phí hợp nhất kinh doanh, đến nay thông tư 200/2014/TT-BTC cũng đề cập đến một số trường hợp cụ thể.
Ngoài ra Luật kế toán sửa đổi 2015 cũng đề cập rõ hơn về giá trị hợp lý.
Trong thông tư 200/2014/TT-BTC có một số quy định, cụ thể:
a. Đối với chứng khoán kinh doanh
Chứng khoán kinh doanh phải được ghi sổ kế toán theo giá gốc, bao gồm: Giá mua cộng (+) các chi phí mua (nếu có) như chi phí môi
giới, giao dịch, cung cấp thông tin, thuế, lệ phí và phí ngân hàng. Giá gốc của chứng khoán kinh doanh được xác định theo giá trị hợp lý của các
khoản thanh toán tại thời điểm giao dịch phát sinh.
Mọi trường hợp hoán đổi cổ phiếu đều phải xác định giá trị cổ phiếu theo giá trị hợp lý tại ngày trao đổi. Được thực hiện như sau:
- Đối với cổ phiếu của công ty niêm yết, giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá đóng cửa niêm yết trên thị trường chứng khoán tại ngày trao
đổi. Trường hợp tại ngày trao đổi thị trường chứng khoán không giao dịch thì giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá đóng cửa phiên giao dịch trước liền
kề với ngày trao đổi.
- Đối với cổ phiếu chưa niêm yết được giao dịch trên sàn UPCOM, giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá giao dịch đóng cửa trên sàn
UPCOM tại ngày trao đổi. Trường hợp ngày trao đổi sàn UPCOM không giao dịch thì giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá đóng cửa phiên giao dịch
trước liền kề với ngày trao đổi.
- Đối với cổ phiếu chưa niêm yết khác, giá trị hợp lý của cổ phiếu là giá do các bên thỏa thuận theo hợp đồng hoặc giá trị sổ sách tại thời
điểm trao đổi.
b. Đối với hàng tồn kho:
Theo Điều 23 Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định về Nguyên tắc kế toán Hàng tồn kho như sau: Kế toán hàng tồn kho phải được thực
hiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán “Hàng tồn kho” khi xác định giá gốc hàng tồn kho, phương pháp tính giá trị hàng tồn kho, xác định giá
trị thuần có thể thực hiện được, lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho và ghi nhận chi phí.
- Nguyên tắc xác định giá gốc hàng tồn kho được quy định cụ thể cho từng loại vật tư, hàng hoá, theo nguồn hình thành và thời điểm tính
giá.
- Khi mua hàng tồn kho nếu được nhận kèm thêm sản phẩm, hàng hóa, thiết bị, phụ tùng thay thế (phòng ngừa trường hợp hỏng hóc) thì
kế toán phải xác định và ghi nhận riêng sản phẩm, phụ tùng thiết bị thay thế theo giá trị hợp lý. Giá trị sản phẩm, hàng mua được xác định bằng
tổng giá trị của hàng được mua trừ đi giá trị sản phẩm, thiết bị, phụ tùng thay thế.
c. Đối với Tài sản cố định:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình do mua sắm bao gồm: Giá mua (trừ các khoản được chiết khấu thương mại, giảm giá), các khoản thuế
(không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí
chuẩn bị mặt bằng, chi phí vận chuyển và bốc xếp ban đầu, chi phí lắp đặt, chạy thử (trừ (-) các khoản thu hồi về sản phẩm, phế liệu do chạy thử),
chi phí chuyên gia và các chi phí liên quan trực tiếp khác. Chi phí lãi vay phát sinh khi mua sắm TSCĐ đã hoàn thiện (TSCĐ sử dụng được ngay
mà không cần qua quá trình đầu tư xây dựng) không được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐ.
12
- Trường hợp mua TSCĐ được kèm thêm thiết bị, phụ tùng thay thế thì phải xác định và ghi nhận riêng thiết bị, phụ tùng thay thế theo
giá trị hợp lý. Nguyên giá TSCĐ được mua là tổng các chi phí liên quan trực tiếp tới việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng trừ đi giá trị
thiết bị, phụ tùng thay thế.
+ Đối với các khoản đầu tư: Trường hợp giải thể công ty con và sáp nhập toàn bộ Tài sản và Nợ phải trả của công ty con vào công ty
mẹ: Phải ghi giảm giá trị ghi sổ khoản đầu tư; Ghi nhận toàn bộ tài sản, nợ phải trả của công ty con bị giải thể theo giá trị hợp lý tại ngày sáp nhập.
Phần chênh lệch giữa giá phí khoản đầu tư và giá trị hợp lý được ghi nhận vào Doanh thu tài chính hoặc Chi phí tài chính.
d. Đối với doanh thu, chi phí:
Theo TT 200: Trong phần nguyên tắc kế toán các khoản doanh thu, quy định “doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản
được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu tiền”. “Doanh thu phải được ghi nhận phù hợp với bản chất hơn là hình thức”.
Như vậy nguyên tắc kế toán doanh thu của TT 200 giống như VAS 14 và IAS 18: Doanh thu được đo lường theo giá trị hợp lý, giá trả
tiền ngay. Nghĩa là giá đã phải trừ tất cả các khoản giảm giá, chiết khấu, bao gồm cả các khoản chiết khấu thanh toán. Nó phù hợp với nguyên tắc
ghi nhận và báo cáo tài sản theo giá trị trả tiền ngay chứ không phải giá trả chậm, không bao gồm khoản chiết khấu thanh toán.
Trong luật kế toán 2015 sửa đổi, quy định:
Luật Kế toán 2015 bổ sung khái niệm giá trị hợp lý, là giá trị được xác định phù hợp với giá thị trường, có thể nhận được khi bán một tài
sản hoặc chuyển nhượng một khoản nợ phải trả tại thời điểm xác định giá trị. Sau ghi nhận ban đầu, đối với một số loại tài sản hoặc nợ phải trả mà
giá trị biến động thường xuyên theo giá thị trường và giá trị của chúng có thể xác định lại một cách đáng tin cậy thì được ghi nhận theo giá trị hợp
lý tại thời điểm cuối kỳ lập báo cáo tài chính.
Qua đó, khắc phục hạn chế của Luật Kế toán hiện hành là quy định hạch toán theo giá gốc, điều này không phản ánh được tình hình biến
động tài sản và nợ phải trả tại thời điểm lập báo cáo tài chính. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế và thông lệ phổ biến trên toàn thế giới việc hạch
toán được thực hiện theo giá trị hợp lý (giá thị trường tại thời điểm đánh giá). Điều này cũng phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế và yêu cầu
của công tác kế toán đối với một số nhóm tài sản, nợ phải trả như công cụ tài chính theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán phải ghi nhận và đánh giá
lại theo giá trị hợp lý; các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ được đánh giá theo tỷ giá giao dịch thực tế; các tài sản hoặc nợ phải trả khác có giá trị
biến động thường xuyên, theo yêu cầu của chuẩn mực kế toán phải được đánh giá lại theo giá trị hợp lý.
Do việc đánh giá giá trị tài sản và hạch toán theo giá trị hợp lý có tính kỹ thuật cao, để phù hợp với điều kiện của Việt Nam có tài sản có
thể đánh giá được theo giá trị thị trường, có tài sản chưa có điều kiện đánh giá được, Luật quy định Bộ Tài chính quy định cụ thể các tài sản và nợ
phải trả được ghi nhận và đánh giá lại theo giá trị hợp lý, phương pháp kế toán ghi nhận và đánh giá lại theo giá trị hợp lý.
Kết luận
Trước sức ép của yêu cầu hội nhập và cả sức ép của yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, trong một tương lai không xa,
Giá trị hợp lý và việc sử dụng Giá trị hợp lý ở Việt Nam đã có những bước khởi đầu nhất định song vẫn cần có một định hướng rõ ràng về việc sử
dụng Giá trị hợp lý. Bên cạnh sự chưa hoàn chỉnh các quy định và hướng dẫn về Giá trị hợp lý và sử dụng Giá trị hợp lý, thì vấn đề đang là một rào
cản ngăn cản sự phát triển và sử dụng Giá trị hợp lý chính là vấn đề về nhận thức, niềm tin vào tính đáng tin cậy của Giá trị hợp lý. Tuy nhiên, việc
tiến tới sử dụng Giá trị hợp lý như là một cơ sở định giá chủ yếu trong kế toán cần phải có lộ trình hợp lý. Hy vọng trong một tương lai không xa,
Gía trị hợp lý sẽ trở thành cơ sở định giá chủ yếu trong hệ thống kế toán Việt Nam, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập quốc tế về kinh tế và kế
toán.
Câu 6: Trình bày khái quát nội dung, ưu nhược điểm của kế toán theo giá gốc, giá chung, giá hiện hành và giá đầu ra?
Cho một ví dụ minh họa cho các loại giá trên?
TRẢ LỜI: Câu 6 là lấy lý thuyết câu 1, câu 3, câu 4, câu 5 hoặc sách từ trang 30-73
Giá gốc
Nội dung:
Là số tiền hoặc tương đương tiền đã
trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hơp
lý của tài sản đó vào thời điểm TS
Giá chung
Là phản ánh giá trị TS thuần theo giá gốc
đã điều chỉnh theo mức giá chung.
Cơ sở điều chỉnh mức giá chung:
Giá hiện hành
Giá đầu ra
là mức giá kinh tế nhất mà
doanh ghiệp phải trả hoặc chi phí
hợp lý nhất phải bỏ ra để có được
13
được ghi nhận. Những tiền đề làm cơ
sở cho kế toán theo giá gốc:
-
Hoạt động liên tục
Ưu điểm:
-
Nhược điểm :
-
Kỳ kế toán
Đơn vị tiền tệ
Nguyên tắc ghi nhận
doanh thu.
-
Nguyên tắc phù hợp
Phù hợp cho việc ra quyết định
của nhà quản lý
Có tính khách quan
Sự thay đồi của giá gốc có thể
thuyết minh
Chưa có bằng chứng cho thấy
phải thể thay thế giá gốc
-
tài sản thay thế với công suất và
năng lực hoạt động tương đương
với tài sản hiện có. Giá hiện hành
có thể xác định theo cách tiếp cận
từ bên trong doanh nghiệp (còn gọi
là giá thành sản xuất thay thế) hoặc
với cách tiếp cận bên ngoài doanh
nghiệp (được gọi là giá mua thay
thế).
Chi số giá tiêu dùng
Chỉ số giảm phát ngầm
Giá trị điều chỉnh
Giá gốc
Tiền, khoản phải thu, nợ phải
trả
Các khoản mục phi tiền tệ
Lợi nhuận
Tăng khả năng so sánh BCTC giữa các
doanh nghiệp
Thự hiện so sánh được DT và CP trên
cùng 1 cơ sở tiền tệ
Kỹ thuật áp dụng dễ dàng
-
Lợi nhuận theo giá hiện hành là một
hiện thực
Thỏa mãn yêu cầu đáng tin cậy
Phản ánh khả năng đóng góp của
DN vào nền kinh tế
Lợi nhuận phản ánh DN có tăng sức
mua với doanh nghiệp khác hay
không.
Cho phép xác định TS trên cùng
mặt bằng giá
Nhấn mạnh giá trị trao đổi bỏ qua
giá tị sử dụng.
Cung cấp thông tin hữu ích
Các nghiên cứu thực nghiệm
chứn tỏ tính hợp lý khi sử dụng
giá gốc
Giá gốc không phản ánh giá trị khoản
đầu tư ( TS thuần) vào thời điểm hiện
tại.
Trong thời kỳ giá cả tăng do lạm phát
thì: LN tính theo giá gốc cao hơn LN
tính theo giá hiện hành dẫn đến chia
cổ tức vượt lợi nhuận thực. Chi phí sản
xuất (CP nguyên vật liệu)là chi phí cơ
hội vì thay đổi giá bán ra vào thời điểm
xuất dùng.
Các tiền đề là phi hiện thực: nguyên
tắc hoạt động liêm tục , nguyên tắc phù
hợp.
Mô hình giá gốc phải sử dụng pp điều
chỉnh(lập dự phòng). Giá gôc là phái
thứ sinh của nguyên tắc thận trọng.
-
khó phân biệt tiền tệ và phi tiền tệ
-
không cho thông tin thích hợp
sử dụng 1 chỉ số giá chung điều chỉnh là
không phù hợp. vì TS khác nhau có
thay đổi giá khác nhau , ngành khác
nhau ảnh hưởng giá khac nhau.
-
Lợi nhuận từ TS dài
hạn nắm giữ không phù
hợp, không ý nghĩa.
Thiếu khách quan do
giao dịch bán chưa phát
sinh.
Bỏ qua sự tiền bộ kỹ
thuật (làm quy trình sản
xuất lỗi thời)
Làm cho DN tập trung vào tối đa
hóa giá trị tương đương tiền của TS
hơn là tập trung vào kinh doanh.
Nghi ngờ khả năng tất cả TS đều
tính trên một mặt bằng giá
Giá trị sử dụng có ý nghĩa hơn giá
trị trao đổi
Chị Dương Diệu
Thảo làm
14
Câu 7: Trình bày các quan điểm về bản chất của kế toán?
TRẢ LỜI: sách trang 9-14
a> Kế toán là một ngôn ngữ
Kế toán được nhận thức là một ngôn ngữ kinh doanh. Đó là một phương tiện truyền đạt thông tin về một doanh nghiệp.
Nhận thức kế toán là một ngôn ngữ kinh doanh, vì kế toán có rất nhiều thứ phù hợp với ngôn ngữ. Các hoạt động kinh
doanh khác nhau của một doanh nghiệp được báo cáo trên các baó cáo kế toán bằng ngôn ngữ kế toán, cũng giống như tin tức được
đọc báo cáo trên các tờ báo chí và các phương tiện truyền tin khác
Tính có thể so sánh được của báo cáo cần thiết, cho việc thực thi hữu hiệu loại ngôn ngữ đó dù nó bằng thứ tiếng việt hay
kế toán. Đồng thời, ngôn ngữ phải linh hoạt để thích ứng với môi trường đang biến động.
Nhận thức kế toán là một ngôn ngữ đã được hội nghế nghiệp về kế toán của nhiều nước thừa nhận. Bởi vì giữa ngôn ngữ và
kế toán có nhiều điểm tương đồng tiềm ẩn. Ngôn ngữ của kế toán được chuyển thể từ ngôn ngữ chung, thành những ký hiệu của kế
toán, sắp xếp theo một hệ thống có căn cứ và mô phỏng theo một nguyên tắc nhất định. Sự sắp xếp này của các ký hiệu được gọi là
ngôn ngữ, và các nguyên tắc tác động đến kiểu mẫu và công dụng các ký hiệu đó hình thành văn phạm của ngôn ngữ đó.
Cấu trúc văn phạm của ngôn ngữ kế toán gồm 2 yếu tố:
– Các ký hiệu hay đặc điểm từ vựng của một ngôn ngữ là các đơn vị “có ý nghĩa” hay các từ có thể nhận diện ở mọi ngôn
ngữ, được dùng nhận diện các khái niệm cá biệt và trình bày bằng ký hiệu mà kế toán sử dụng.
– Các nguyên tắc văn phạm của một ngôn ngữ, ở đây ám chỉ, những cách sắp xếp về cú pháp của mọi ngôn ngữ. Trong kế
toán, các nguyên tắc văn phạm, nhằm chỉ các, thủ tục, phải tuân thủ khi xây dựng xây tất cả các số liệu về tài chính của doanh
nghiệp.
– Với sự hiện diện của các yếu tố cấu thành này các ký hiệu và các nguyên tắc kế toán, kế toán có thể được định nghĩa là
một ngôn ngữ.
b> Kế toán là một hệ thống thông tin
Kế toán luôn luôn được xem là một hệ thống thông tin. Nó được cho là quá trình kết nối một nguồn thông tin, một kênh
thông tin (thường do kế toán viên thực hiện) với tập hợp những nguồn nhận thông tin (những người sử dụng). Theo quan điểm kế
toán là một hệ thống thông tin, kế toán có thể hiểu là: “Quá trình mã hóa các quan sát theo ngôn ngữ của kế toán, thành các ký hiệu
qua các báo cáo của hệ thống đó và giải mã chúng để truyền đạt các kết quả đó”
Quan điểm này nhấn mạnh đến việc nhận thức và truyền đạt thông tin kế toán. Trước hết, giả thuyết kế toán là một hệ
thống đo lường chính thức duy nhất trong một tổ chức. Sau đó, nó nâng cáo khả năng thiết thiết kế một hệ thống kế toán tùy ý, đủ
khả năng để cung cấp các thông tin hữu ích cho nguồn cần sử dụng thông tin.
c> Kế toán là một hồ sơ lịch sử
Nhìn chung, kế toán được xem là phương tiện cung cấp thông tin lịch sử của một tổ chức và các giao dịch của nó với các
môi trường xung quanh nó. Đối với người chủ sở hữu hay đối với các cổ đông của một doanh nghiệp, các hồ sơ kế toán cung cấp
lịch sử về trách nhiệm quản lý các nguồn lực của chũ sỡ hữu. Kế toán là hệ thống thông tin hoạt động qua 3 giai đoạn:
15
– Giai đoạn thu thập và ghi nhận
– Giai đoạn đánh giá kết quả và hiệu quả
– Giai đoạn cung cấp thông tin cho hoạch định.
d> Kế toán là một hàng hóa
Kế toán cũng được xem là hàng hóa sinh ra từ một hoạt động kinh tế. Bởi vì, kế toán cung cấp những thông tin hữu ích cho
các đối tượng cần sử dụng thông tin khác nhau. Người nhận thông tin có thể ra quyết định sáng suốt và hiệu quả hơn, Thay vì nếu
không có thông tin, muốn có được các thông tin cần có chi phí bỏ ra, nguời sử dụng thông tin này phải nhận diện được kết quả của
thông tin làm thay đổi các quyết định so với chi phí để có được thông tin.
Sự lựa chọn thông tin kế toán và các kỹ thuật kế toán có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các nhóm người khác nhau trong xã hội. Kết
quả là có một thị trường thông tin kế toán với cung và cầu xác định có thể không giống nhau. Quan điểm kế toán là một hàng hóa
đang và sẽ tiếp tục có ảnh hưởng sâu sắc đến cách nghĩ về kế toán và nghiên cứu kế toán.
e> Kế toán phản ánh thực trạng kinh tế hiện hành
Kế toán cũng được xem xét như là một phương tiện phản ánh thực trạng kinh tế hiện hành theo quan điểm này thì cả bảng
CĐKT và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đều phải dựa trên cơ sở đánh giá nào, phản ánh nhiều nhất thực trạng kinh tế thay
vì chi phí lịch sử.
Phương pháp được xem là phản ánh nhất thực trạng kinh tế nhấn mạnh vào giá hiện hành và giá tương lai hơn là giá lịch sử. Mục
tiêu chính của quan điểm này của kế toán là để xác định thu nhập thực sự, là quan điểm phản ánh sự thay đổi về của cải của doanh
nghiệp theo thời gian. Sử dụng phương pháp nào đó để đo lường tốt nhất các giá trị tài sản, công nợ và thu nhập liên quan? Để trả
lời câu hỏi này có nhiều phương pháp đánh giá tài sản được đề nghị đưa ra. Xong cũng không ít quan điểm tranh luận khác nhau về
vấn đề này.
Sau khi phân tích các khái niệm kế toán, xác định rõ vai trò và bản chất của kế toán, theo quan điểm của tôi, trong điều kiện
nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, kế toán có thể được định nghĩa như sau:
“Kế toán là một khoa học liên quan đến việc thu thập, đo lường, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính
hữu ích của một tổ chức đến các đối tượng sử dụng để trên cơ sở đó đế ra các quyết định hợp lý.”
Câu 8: Phân tích các quan điểm bản chất thông tin của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn chế
độ kế toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
TRẢ LỜI:
a. Phân tích các quan điểm bản chất thông tin của kế toán (từ trang 10-12 sách)
- Kế toán ghi chép quá khứ
- Kế toán phản ánh thực tại kinh tế
- Kế toán là hệ thống thông tin
- Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh
b. Liên hệ thực tiễn chế độ kế toán Việt Nam từ năm 1995 đến nay
Do thực tế khách quan thay đổi nên giai đoạn từ năm 1995 đến nay chính là thời gian mà hệ thống kế toán tài chính nước ta
có những bước phát triển cao nhất và hoàn thiện nhất. Đặc biệt là từ năm 1995 đến nay hệ thống kế toán toán tài chính nước ta đã
16
hình thành và phát triển lĩnh vực kiểm toán. Sự phát triển vượt bậc này được đánh dấu bởi sự ra đời của Luật kế toán Việt Nam do
quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua cũng như các chuẩn mực về kế toán tài chính riêng của Việt Nam đã được ban hành.
Chế độ kế toán của giai đoạn này là Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ban hành ngày 01/11/1995. Đây là chế độ Kế toán
doanh nghiệp áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. Hệ thống Chế độ Kế toán doanh
nghiệp gồm:
- Hệ thống tài khoản kế toán và giải thích nội dung, kết cấu phương pháp ghi chép các tài khoản kế toán.
- Hệ thống BCTC và các quy định về nội dung, phương pháp lập BTCT.
- Chế độ sổ kế toán.
- Chế độ chứng từ kế toán doanh nghiệp.
Quyết định 1141-TC/QĐ/CĐKT có vai trò nền tảng vô cùng quan trọng của trong việc hình thành chế độ kế toán Việt Nam
hiện hành. Sự ra đời và đi vào cuộc sống của Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT đã chính thức mở ra một trang sử mới cho nghề kế
toán Việt Nam, khẳng định quyết tâm hội nhập kinh tế thị trường của kế toán Việt Nam từ hơn 20 năm trước.
Tuy nhiên sau hơn 10 năm, Quyết định 1141- TC/QĐ/CĐKT đã không còn phù hợp với tình hình phát triển thực tế. Để cập
nhật những biến động từng ngày, theo kịp đà phát triển của nền kinh tế trong nước, khu vực và tiến tới hội nhập quốc tế, Bộ Tài
chính đã phải liên tiếp ban hành nhiều quyết định, thông tư và văn bản hướng dẫn, sửa đổi bổ sung Quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT
này.
Điều này đến một lúc nào đó, sẽ làm phức tạp hóa về mặt hình thức công tác pháp chế về chế độ kế toán Việt Nam. Đã đến
lúc cần có một động thái tổng hợp. Vì thế, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC tuy không hàm chứa nhiều yếu tố mới mẽ, nhưng xét ở
khía cạnh nào đó, đã giúp cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thuộc mọi lĩnh vực hoạt động có thể đơn giản hoá
công tác nghiên cứu và tuân thủ chế độ kế toán, nhất thể hoá công tác kế toán, tiến tới nâng cao tính minh bạch trong kế toán, tài
chính doanh nghiệp, đảm bảo tính có thể so sánh được về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh giữa các doanh nghiệp trong nền
kinh tế quốc dân Việt Nam nói riêng và trên bình diện hội nhập toàn cầu nói chung.
Ngày 20/3/2006, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ra Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC “về việc ban hành Chế độ kế toán doanh
nghiệp áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”. Chế độ kế toán mới ban hành đã cập nhật các
nội dung quy định trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam và Luật kế toán Việt Nam, gồm 4 phần:
Hệ thống tài khoản kế toán.
Hệ thống báo cáo tài chính.
Chế độ chứng từ kế toán.
Chế độ sổ kế toán.
Quyết định số 15/2006/QĐ-BTCcủa bộ tài chính về kế toán được ban hành đánh dấu bước tổng hợp và hoàn thiện Chế độ
kế toán doanh nghiệp Việt Nam từ xuất phát điểm là QĐ số 1141-TC/QĐ/CĐKT sau đó là tiến trình tăng tốc hết sức ấn tượng bởi sự
ra đời của hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) cùng hàng loạt các Thông tư hướng dẫn và đặc biệt là Luật Kế toán. Về cơ
bản, các nội dung trong Quyết định 15/2006/QĐ-BTC không thay đổi gì nhiều so với các quyết định trước đây. Tuy nhiên, về mặt
chi tiết, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC đã tổng hợp những sửa đổi, bổ sung được Bộ Tài chính ban hành riêng rẽ lâu nay, cũng như
phần nào kết hợp được những quy định của hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam được ban hành liên tục trong suốt 5 năm qua
(2001-2005).
Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC đến nay đã trải qua 9 năm thực hiện và đã bộc lộ
nhiều điểm chưa phù hợp với Thông lệ và Chuẩn mực kế toán quốc tế cũng như thực tiễn tại Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu quản lý
kinh tế trong giai đoạn mới, thúc đẩy môi trường đầu tư kinh doanh và hội nhập quốc tế, ngày 22/12/2014 Bộ Tài chính đã ban hành
Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán doanh nghiệp thay thế Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và Thông tư
202/2014/TT-BTC. Một số điểm mới trong 2 Thông tư như sau:
- Về nguyên tắc xây dựng Chế độ kế toán doanh nghiệp
- Phục vụ tối đa cho yêu cầu quản lý, bao quát được hoạt động của các lĩnh vực, có tính khả thi cao.
- Cập nhật tối đa các thông lệ quốc tế hiện hành, phù hợp với đặc điểm của Việt Nam, vì vậy chế độ kế toán doanh nghiệp
lần này có tính phù hợp với các thông lệ quốc tế cao.
- Xác định rõ các nguyên tắc có tính bắt buộc và những nội dung mang tính hướng dẫn.
- Tôn trọng bản chất của giao dịch kinh tế hơn là hình thức thể hiện.
17
- Tách biệt giữa kỹ thuật ghi sổ kế toán và yêu cầu lập trình bày BCTC.
- Đảm bảo tính rõ ràng, minh bạch, dễ hiểu và dễ làm, tiết kiệm chi phí kế toán.
- Về hệ thống chứng từ kế toán:
Tất cả các loại chứng từ đều mang tính hướng dẫn; Doanh nghiệp được tự thiết kế biểu mẫu riêng phù hợp với yêu cầu
quản lý và đặc điểm hoạt động của minh. Doanh nghiệp nào không tự xây dựng được thì vận dụng mẫu sổ theo Quyết định
15/2006/QĐ-BTC.
- Về hình thức sổ kế toán:
Doanh nghiệp không bắt buộc phải áp dụng mẫu sổ kế toán như trước mà được tự thiết kế, xây dựng riêng phù hợp với yêu
cầu quản lý và đặc điểm hoạt động kinh doanh của mình. Doanh nghiệp nào không tự xây dựng được thì vận dụng mẫu sổ theo
Quyết định 15/2006/QĐ-BTC; Không bắt buộc áp dụng 4 hình thức sổ kế toán (Nhật ký chung, Nhật ký sổ Cái, Nhật ký chứng từ
và Chứng từ ghi sổ). Các doanh nghiệp áp dụng theo hình thức của phần mềm kế toán mà doanh nghiệp đang sử dụng.
- Về hệ thống tài khoản kế toán:
Không phân biệt ngắn hạn và dài hạn trên tài khoản mà chỉ phân biệt ngắn hạn, dài hạn trên BCĐKT cụ thể:
+ Không sử dụng TK 142 mà sử dụng TK 242, TK 242 đổi tên thành "Chi phí trả trước" so với Quyết định 15/2006/QĐBTC thì tài khoản này đã bỏ 2 chữ "dài hạn"
+ Không sử dụng TK 311, 315, 342 mà sử dụng chung là TK 341. TK 341 được đổi tên thành "Vay và nợ thuê tài chính"
+ Không sử dụng TK 129, 139, 159 mà sử dụng chung vào TK 229. TK 229 được đổi tên thành "Dự phòng tổn thất tài sản"
trong đó có 4 tài khoản cấp 2:
. TK 2291: Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh
. TK 2292: Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác
. TK 2293: Dự phòng phải thu khó đòi
. TK 2294: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho
+ TK 144 không còn được sử dụng mà dùng chung vào TK 244. TK 244 được đổi tên thành "Cầm cố, thế chấp, ký quỹ, ký
cược"
+ Hạch toán trích trước chi phí sửa chữa lớn Tài sản cố định không đưa vào TK 335- Chi phí phải trả mà được hạch toán vào
TK 352- Dự phòng phải trả.
+ TK 531, TK 532 không còn được sdụng mà được hạch toán vào TK 521. TK 521 được đổi tên thành "Các khoản giảm trừ
doanh thu". TK 521 được chia thành 3 tài khoản cấp 2:
. TK 5211: Chiết khấu thương mại
. TK 5212: Hàng bán bị trả lại
. TK 5213: Giảm giá hàng bán
+ TK 223 không còn được sử dụng mà được hạch toán vào TK 222. TK 222 đổi tên thành "Đầu tư vào công ty liên doanh,
liên kết".
+ Đổi tên một số tài khoản như: TK 121- Chứng khoán kinh doanh, TK 128- Đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn, TK 344Nhận ký quỹ, ký cược, TK 421- Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối….
Bổ sung thêm một số tài khoản như:
+ TK 1534 - Thiết bị, phụ tùng thay thế: Phản ánh trị giá hiện có và tình hình biến động các loại thiết bị, phụ tùng thay thế
không đủ tiêu chuẩn của TSCĐ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
+ TK 1557 - Thành phẩm Bất động sản: Phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động của thành phẩm bất động sản của
doanh nghiệp.
Thành phẩm bất động sản gồm: Quyền sử dụng đất; nhà; hoặc nhà và quyền sử dụng đất; cơ sở hạ tầng do doanh nghiệp đầu
tư xây dựng để bán trong kỳ hoạt động kinh doanh bình thường.
+ TK 357- Quỹ bình ổn giá: Tài khoản này dùng để phản ánh tình hình biến động và giá trị Quỹ bình ổn giá tại thời điểm
báo cáo của doanh nghiệp được phép trích lập Quỹ bình ổn giá tính vào chi phí sản xuất kinh doanh (TK 632) theo quy định của
pháp luật.
+ TK 4113- Quyền chọn chuyển đổi trái phiếu: Tài khoản này chỉ sử dụng tại bên phát hành trái phiếu chuyển đổi, dùng để
phản ánh cấu phần vốn (quyền chọn cổ phiếu) của trái phiếu chuyển đổi tại thời điểm báo cáo.
18
- Về Phương pháp tính giá:
Thì ở TT200/2014 không sử dụng phương pháp xuất kho nhập sau, xuất trước (LiFo) mà chỉ sử dụng 3 phương pháp: Đơn
giá bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước và đơn giá thực tế đích danh.
- Về Báo cáo tài chính:
+ Bổ sung, sửa đổi nhiều chỉ tiêu của BCĐKT; Bổ sung chỉ tiêu Lãi suy giảm trên cổ phiếu của Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh; Bổ sung sửa đổi một số chỉ tiêu của Báo có lưu chuyển tiền tệ
+ Đặc biệt nhất trong hệ thống Báo cáo tài chính là phần thuyết minh Báo cáo tài chính hầu như mới toàn bộ, xây dựng trên
nguyên tắc minh bạch, công khai, linh hoạt; Yêu cầu thuyết minh chi tiết về thông tin các bên liên quan đối với nhiều chỉ tiêu để góp
phần chống chuyển giá; Thuyết minh về nợ xấu và nợ phải trả chậm thanh toán,..
+ Lần đầu tiên xây dựng nguyên kế toán và Báo cáo tài chính cho doanh nghiệp không đáp ứng giả định hoạt động liên
tục theo hướng tái phân loại toàn bộ tài sản dài hạn thành ngắn hạn; Đánh giá lại toàn bộ nợ phải trả theo giá trị có thể thu hồi.
+ Báo cáo tài chính hợp nhất tập đoàn sẽ là một phần không tách rời của Chế độ kế toán doanh nghiệp.
Kế toán tài chính tại Việt Nam không còn phát triển một cách đơn lẻ tự phát nội bộ mà đã có hệ thống và liên kết với thế
giới. Đánh dấu bước phát triển quan trọng này là vào năm 1996 Hội kế toán Việt Nam (VAA) ra đời và trở thành thành viên của Liên
đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng như là thành viên của Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA). Có thể nói, đến nay, hệ thống
văn bản pháp luật về kế toán Việt Nam khá đầy đủ, phù hợp và cập nhật với thông lệ và chuẩn mực quốc tế; Phù hợp với đặc thù nền
kinh tế và chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam; Làm cơ sở thực hành công việc kế toán, lập báo cáo tài chính và thực hành
kiểm tra, giám sát, kiểm toán báo cáo tài chính trong lĩnh vực doanh nghiệp cũng như Nhà nước; Là cơ sở nâng cao độ tin cậy của
nhà đầu tư và xã hội vào sự công khai, minh bạch của thị trường tài chính Việt Nam.
Sự thay đổi của chế độ kế toán với việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào cai
Song hành cùng với con đường của chế độ kế toán doanh nghiệp ở Việt Nam việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại bộ
môn kế toán nói riêng và Trường Cao đẳng Cộng đồng Lào Cai nói chung cũng có nhiều thay đổi. Với hơn 500 trang của Thông tư
200/2014/TT-BTC, giảng viên Khoa Kinh tế phải bỏ nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, đơn giản hóa, cụ thể hóa những quy
định mới giúp cho bài giảng dễ hiểu, dễ làm, dễ vận dụng vào thực tế. Với tinh thần “tất cả vì học sinh thân yêu”, giảng viên Khoa
Kinh tế luôn nỗ lực hết mình để học sinh - sinh viên khi ra trường phần lớn đáp ứng được yêu cầu công việc và có thể bắt tay ngay
vào thực tế công việc đáp ứng được nhu cầu của các nhà tuyển dụng.
Câu 9: Phân tích các quan điểm bản chất kinh tế của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn chế
độ kế toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
TRẢ LỜI:
a. Phân tích các quan điểm bản chất kinh tế của kế toán
(Sách trang 12)
b. Liên hệ thực tiễn từ năm 1995 đến nay
(Chép câu 8)
Câu 10: Phân tích các quan điểm bản chất chính trị của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn
chế độ kế toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
TRẢ LỜI:
a. Phân tích các quan điểm bản chất chính trị của kế toán
(Sách trang 13)
b. Liên hệ thực tiễn từ năm 1995 đến nay
(Chép câu 8)
Câu 11: Phân tích các quan điểm bản chất xã hội của kế toán và cho biết quan điểm của anh, chị. Liên hệ thực tiễn chế
độ kế toán Việt Nam từ 1995 đến nay?
TRẢ LỜI:
a. Phân tích các quan điểm bản chất xã hội của kế toán
b.
(Sách trang 13-14)
Liên hệ thực tiễn Việt Nam từ 1995 đến nay
(Chép câu 8)
19
Câu 12: Trình bày các lý thuyết cơ bản của nghiên cứu thực chứng về sự lựa chọn chính sách kế toán?
TRẢ LỜI: (Sách trang 92-100)
-
-
-
-
Các lý thuyết cơ bản
Lý thuyết hợp đồng (chép hết)/92
Lý thuyết ủy nhiệm
+ Lý thuyết ủy nhiệm cho rằng… chi phí khác / 93
+ Chi phí giám sát… mà họ bỏ ra/94
+ Chi phí liên kết… mà họ đang chịu/ 94 đầu 95
+ Các chi phí khác… xem là chi phí khác/ 95
Tuy nhiên…một phần hay toàn bộ/cuối 95 đầu 96
Quan hệ nhà quản lý – cổ đông
+ Quan hệ này xuất hiện khi…vấn đề sau/96
+ Né tránh rủi ro, Cổ tức, Tầm nhìn…Giảm lợi ích cổ đông/96,97
+ (nếu có thời gian thì ghi thêm đoạn sau/97,98)
Quan hệ cổ đông và chủ nợ
+ Trong hợp đồng vay…tối đa hóa lợi ích của mình / 98
+ Smith et al… chia cổ tức nhiều hơn, đầu tư vào các dự án, khi tình hình tài chính khó khăn, pha loãng nợ (ghi 1 2 ý thôi)
+ Để giảm chi phí ủy nhiệm…vấn đề này/99-100
Hợp đồng hiệu quả/ 100
Câu 13: Nêu khái niệm, vai trò, tổ chức lập quy của chuẩn mực kế toán? Cơ sở pháp luật về các hệ thống Chuẩn mực kế
toán Việt Nam? Nêu khái quát hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành? Chuẩn mực kế toán Việt Nam hòa hợp
với Chuẩn mực kế toán quốc tế như thế nào?
TRẢ LỜI:
a. Khái niệm, vai trò, tổ chức lập quy của chuẩn mực kế toán
- Khái niệm chuẩn mực kế toán:/120 (từ chuẩn mực kế toán…nêu trên)
Khái niệm chuẩn mực kế toán: là những quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, nội dung, phương pháp và thủ tục kế toán cơ bản, chung nhất, làm cơ sở ghi
chép kế toán và lập BCTC nhằm đạt được sự đánh giá trung thực, hợp lý, khách quan về thực trạng tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Vai trò của chuẩn mực kế toán:/ 120, 121 (từ chuẩn mực kế toán được xem là có những vai trò… thông tin kế toán)
+ Trước hết, chuẩn mực kế toán là những nguyên tắc và chỉ dẫn cho kế toán viên để tổ chức công việc kế toán đạt chất lượng và hiệu quả. Với ý
nghĩa này, chuẩn mực kế toán vừa có tính bắt buộc, vừa có tính hỗ trợ, hướng dẫn cho người làm công tác kế toán.
+ Thứ hai, chuẩn mực kế toán được sử dụng làm thước đo chung để đánh giá chất lượng công việc mà kế toán viên đã thực hiện trong quá trình
thực hiện công việc kế toán.
+ Thứ ba, chuẩn mực kế toán là căn cứ để các bên có liên quan phối hợp thực hiện trong quá trình thực hiện công việc kế toán, xử lý các tranh
chấp, kiện tụng về quá trình và kết quả của kế toán...
-
Tổ chức lập quy:
+ Tổ chức nghề nghiệp:/121
+ Nhà Nước:/ 121, 122
+ Ủy ban độc lập:/ 122, 123
Của chị Dương Diệu Thảo
Tổ chức lập quy :
Chuẩn mực kế toán quốc tế
- Tổ chức Ủy ban chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS Foundation)
– Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế
– Hội đồng Tư vấn chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
– Ủy ban Hướng dẫn chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế
Chuẩn mực kế toán Việt Nam
-
Bộ tài chính
Hội đồng quốc gia về kế toán
Vụ chế độ kiểm toán và kế toán
Hội kế toán và kiểm toán Việt Nam ( VAA)
20
Tổ chức lập quy của Việt Nam Tổ chức lập quy của Việt Nam do Bộ Tài chính là cơ quan của nhà nước có trách nhiệm trong việc ban hành
chuẩn mực kế toán (CMKT). Bên cạnh Bộ Tài chính còn có sự tham gia của các tổ chức trong tổ chức lập quy gồm Hội đồng Quốc gia về kế toán (NCA),
Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA).
Hội đồng Quốc gia về kế toán: Theo Quyết định 276/2000 QĐ-BTC, Hội đồng Quốc gia về kế toán có chức năng tư vấn về chiến lược, chính
sách phát triển và các vấn đề có liên quan đến kế toán và kiểm toán. Cơ cấu nhân sự của tổ chức này bao gồmBan Tư vấn kế toán, Ban Tư vấn kiểm
toán, Ủy ban Điều hành và Ban thư ký (Bộ Tài chính, 2000a). Theo Quyết định 489/2000 QĐ-BTC về quy trình xây dựng CMKT, Hội đồng Quốc gia về kế
toán sẽ tham gia thảo luận và có ý kiến đóng góp trong quá trình xây dựng CMKT và sau khi có ý kiến tham gia của Hội đồng Quốc gia về kế toán,
hoàn thiện trình bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, công bố (Bộ Tài chính, 2000b).
Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán: là đơn vị thuộc bộ máy quản lý nhà nước của Bộ Tài chính, có chức năng giúp bộ trưởng thực hiện thống
nhất quản lý nhà nước về kế toán, kiểm toán độc lập, kiểm toán nội bộ. Nhiệm vụ của Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán cơ bản gồm: xây dựng chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch, biện pháp hoàn thiện, đổi mới hệ thống pháp luật về kế toán và kiểm toán cũng như các dự án, dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật về kế toán và kiểm toán; hướng dẫn thực hiện nguyên tắc, chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán, chế độ kế toán, quy trình, phương
pháp chuyên môn nghiệp vụ về kế toán và kiểm toán; tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về tài chính, thuế có liên quan đến kế toán
và kiểm toán; hướng dẫn hội nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán trong việc triển khai các hoạt động thuộc lĩnh vực kế toán và kiểm toán theo quy
định của pháp luật; quản lý, giám sát hoạt động của hội nghề nghiệp về kế toán và kiểm toán; tổ chức thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế và hội nhập
quốc tế thuộc lĩnh vực kế toán kiểm cũng như tham gia đàm phán về các hoạt động hành nghề kế toán và kiểm toán trong khu vực và trên thế giới. Cơ
cấu tổ chức nhân sự của tổ chức này gồm Phòng Chế độ kế toán nhà nước, Phòng Chế độ kế toán doanh nghiệp,Phòng Chế độ kế toán Ngân hàng và
các tổ chức tài chính, Phòng Chế độ kiểm toán, Phòng Tổng hợp - Kiểm tra (Bộ Tài chính, 2015).
Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) quản lý hành nghề kế toán, kiểm toán đối với các cá nhân, tổ chức hoạt động trong lĩnh vực cung
cấp dịch vụ kế toán và kiểm toán. Theo Quyết định 47/2005 QĐ- BTC Hội Kế toán và Kiểm toán được cử cán bộ chuyên môn tham gia Hội đồng Quốc
gia về kế toán, các ban soạn thảo chuẩn mực kế toán, chuẩn mực kiểm toán hoặc soạn thảo chế độ kế toán khi có yêu cầu của Bộ Tài chính. Hội Kế
toán và Kiểm toán cũng được cử đại diện trong thành phần hội đồng thi tuyển kế toán viên hành nghề cấp Nhà nước (Bộ Tài chính, 2005). Cơ cấu tổ
chức của Hội Kế toán Kiểm toán gồm VAA trung tâm, chi nhánh của VAA ở các tỉnh thành, các cơ sở của VAA ở một số trường đại học, doanh nghiệp
(VAA, 2015).
b. Cơ sở pháp luật về các hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam
- Căn cứ Luật Kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003;
- Nghị định 128/2004/NĐ-CP Nghị định của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật kế toán áp
-
dụng trong lĩnh vực kế toán nhà nước ngày 31/05/2004
Nghị định số 129/2004/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kế toán áp dụng trong hoạt
-
động kinh doanh(ngày 31 tháng 5 năm 2004 )
Nghị định số 185/2004/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán
Thông tư số 120/2004/TT-BTC ngày 15 tháng 12 năm 2004 Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
-
185/2004/NĐ-CP ngày 04 tháng 11 năm 2004 của chính phủ về sử phạt vi phạm trong lĩnh vực kế toán
Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 VỀ VIỆC BAN HÀNH VÀ CÔNG BỐ BỐN (04) CHUẨN MỰC KẾ
-
TOÁN VIỆT NAM (ĐỢT 1) và thông tư số 161/2007/TT-BTC ngày 31/12/2007 của Bộ trưởng BTC Hướng dẫn thực
hiện mười sáu (16) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001, Quyết định
số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 và Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính.
Quyết định số 165/ 2002/ QĐ-BTC ngày 31/12/2002 VỀ VIỆC BAN HÀNH VÀ CÔNG BỐ SÁU (06) CHUẨN MỰC KẾ
-
TOÁN VIỆT NAM (ĐỢT 2)
Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính VỀ VIỆC BAN HÀNH VÀ CÔNG
-
BỐ SÁU (06) CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM (ĐỢT 3)
Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 VỀ VIỆC BAN HÀNH VÀ CÔNG BỐ SÁU (06) CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT
NAM (ĐỢT 4)
và thông tư số 20/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của bộ trưởng BTC HƯỚNG DẪN KẾ TOÁN THỰC HIỆN SÁU
(06) CHUẨN MỰC KẾ TOÁN BAN HÀNH THEO QUYẾT ĐỊNH SỐ 12/2005/QĐ-BTC NGÀY 15/02/2005 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH.
-
Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005
VỀ VIỆC BAN HÀNH VÀ CÔNG BỐBỐN (04) CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT
và TT số 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 của bộ trưởng BTC Hướng dẫn kế toán thực hiện bốn (04)
chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28 tháng 12 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính.
Nêu khái quát hệ thống 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam hiện hành
NAM (ĐỢT 5)
c.
Đợt 1
1- Chuẩn mực số 02 - Hàng tồn kho
2- Chuẩn mực số 03 - Tài sản cố định hữu hình
3- Chuẩn mực số 04 - Tài sản cố định vô hình
4- Chuẩn mực số 14 - Doanh thu và thu nhập khác
Đợt 2
5- Chuẩn mực số 01 - Chuẩn mực chung;
6- Chuẩn mực số 06 - Thuê tài sản;
7- Chuẩn mực số 10 - ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối
đoái;
21
8- Chuẩn mực số 15 - Hợp đồng xây dựng;
các ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự;
9- Chuẩn mực số 16 - Chi phí đi vay;
19- Chuẩn mực số 23 - Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc
10- Chuẩn mực số 24 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
kỳ kế toán năm;
Đợt 3
20- Chuẩn mực số 27 - Báo cáo tài chính giữa niên độ;
11- Chuẩn mực số 05 - Bất động sản đầu tư;
21- Chuẩn mực số 28 - Báo cáo bộ phận;
12- Chuẩn mực số 07 - Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết;
22- Chuẩn mực số 29 - Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế
13- Chuẩn mực số 08 - Thông tin t.chính về những khoản vốn góp LD
toán và các sai sót.
14- Chuẩn mực số 21 - Trình bày báo cáo tài chính;
Đợt 5
15- Chuẩn mực số 25 - BCTC hợp nhất và k.toán khoản ĐT vào cty23- Chuẩn mực số 11 - Hợp nhất kinh doanh;
con;
24- Chuẩn mực số 18 - Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm
16- Chuẩn mực số 26 - Thông tin về các bên liên quan.
tàng;
Đợt 4
25- Chuẩn mực số 19 - Hợp đồng bảo hiểm;
17- Chuẩn mực số 17 - Thuế thu nhập doanh nghiệp;
26- Chuẩn mực số 30 - Lãi trên cổ phiếu.
18- Chuẩn mực số 22 - Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của
d.
Của chị Dương Diệu Thảo
e.
Chuẩn mực 1: Chuẩn mực chung
r.
Chuẩn mực 14: Thuế thu nhập doanh nghiệp
f.
Chuẩn mực 2: Hàng tồn kho
s.
Chuẩn mực 15: Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng
g.
Chuẩn mực 3: Tài sản cố định hữu hình
t.
Chuẩn mực 16: Hợp đồng bảo hiểm
h.
Chuẩn mực 4: Tài sản cố định vô hình
u.
Chuẩn mực 17: Trình bày báo cáo tài chính
i.
Chuẩn mực 5: Bất động sản đầu tư
v.
j.
Chuẩn mực 6: Thuê tài ản
k.
Chuẩn mực 7: Kế toán các khoản đầu tư vào công ty
l.
Chuẩn mực 8: Thông tin tài chính về những khoản góp vốn liên
doanh
m.
Chuẩn mực 9: Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
n.
Chuẩn mực 10: Hợp nhất kinh doanh
o.
Chuẩn mực 11: Doanh thu và thu nhập khác
p.
Chuẩn mực 12: Hợp đồng xây dựng
q.
Chuẩn mực 13: Chi phí đi vay
w.
x.
y.
Chuẩn mực 18: Trình bày bổ sung báo cáo tài chính của các
ngân hàng và tổ chức tài chính tương tự
Chuẩn mực 19: Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế
toán năm
Chuẩn mực 20: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Chuẩn mực 21: Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản
đầu tư và công ty con
z.
Chuẩn mực 22: Thông tin về các bên liên quan
aa.
Chuẩn mực 23: Báo cáo tài chính giữa niên độ
ab.
Chuẩn mực 24: Báo cáo bộ phận
ac.
ad.
Chuẩn mực 25: Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và
các sai sót
Chuẩn mực 26: Lãi trên cổ phiếu.
ae.
af. Chuẩn mực kế toán Việt Nam hòa hợp với Chuẩn mực kế toán quốc tế
ag.
Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được xây dựng dựa trên các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS) từ những
năm 2000 đến 2005 theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế và trình độ quản lý
của doanh nghiệp Việt Nam tại thời điểm ban hành chuẩn mực.
ah.
Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và ban hành được 26 chuẩn mực kế toán. Việc được xây dựng dựa trên các chuẩn
mực kế toán quốc tế là nhằm đảm bảo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch trong
22
báo cáo tài chính (BCTC) của các doanh nghiệp, phản ánh được các giao dịch của nền kinh tế thị trường, đáp ứng yêu cầu hội nhập
quốc tế. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, VAS hiện mới chỉ là sự vận dụng đơn giản IAS/IFRS trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam,
thực tế VAS chưa hòa hợp với IAS/IFRS và chưa cập nhật theo những thay đổi của IAS/IFRS những năm gần đây.
ai.
1. Thực trạng về sự hòa hợp giữa Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) với Chuẩn mực kế toán quốc tế ( IAS/IFRS)
aj.
Khi xây dựng các các chuẩn mực kế toán, quan điểm xuyên suốt của Việt Nam là tuân thủ hệ thống chuẩn mực kế
toán quốc tế. VAS cơ bản đã được xây dựng dựa trên IAS/IFRS, theo nguyên tắc vận dụng có chọn lọc thông lệ quốc tế, phù hợp với
đặc điểm nền kinh tế và trình độ quản lý của doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy, VAS đã cơ bản tiếp cận với IAS/IFRS, phản ánh được
phần lớn các giao dịch của nền kinh tế thị trường, nâng cao tính công khai, minh bạch thông tin về BCTC của các doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, VAS hiện nay vẫn bộc lộ nhiều điểm khác biệt với IAS/IFRS. Điều này thể hiện qua một số biểu hiện chủ yếu sau:
ak.
- Khác biệt cơ bản nhất là VAS chưa có quy định cho phép đánh giá lại tài sản và nợ phải trả theo giá trị hợp lý
tại thời điểm báo cáo. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc kế toán các tài sản và nợ phải trả được phân loại là công cụ tài chính, làm
suy giảm tính trung thực, hợp lý của BCTC và chưa phù hợp với IAS/IFRS;
al.
- VAS 21 không quy định trình bày Báo cáo biến động vốn chủ sở hữu thành một báo cáo riêng biệt như IAS 1,
mà chỉ yêu cầu trình bày trong thuyết minh BCTC. Ngoài ra, chế độ kế toán Việt Nam quy định mẫu biểu báo cáo một cách cứng
nhắc, làm triệt tiêu tính linh hoạt và đa dạng của hệ thống BCTC, trong khi IAS/IFRS không đưa ra mẫu biểu cụ thể của báo cáo;
am.
- Theo VAS 21, doanh thu và chi phí tài chính được tính vào lãi/lỗ hoạt động kinh doanh trên báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh là không phù hợp với thông lệ quốc tế, khi các khoản lãi/lỗ bán cổ phiếu vốn không phải của hoạt động mang tính
thường xuyên của doanh nghiệp lại được hiểu là kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu;
an.
- IAS 2 cho phép sử dụng các phương pháp ước tính giá trị hàng tồn kho như phương pháp chi phí định mức hoặc
phương pháp giá bán lẻ, nhưng vấn đề này không được đề cập ở VAS 2. VAS 2 cho phép áp dụng phương pháp “Nhập sau - Xuất
trước” (LIFO) trong khi IAS/ IFRS không cho phép áp dụng phương pháp này;
ao.
- VAS 3 chỉ cho phép đánh giá lại tài sản cố định là bất động sản, nhà xưởng và thiết bị trong trường hợp có quyết
định của Nhà nước, đưa tài sản đi góp vốn liên doanh, liên kết, chia tách, sáp nhập doanh nghiệp và không được ghi nhận phần tổn
thất tài sản hàng năm. Trong khi đó, theo IAS 16, doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá thị trường và được xác định
phần tổn thất tài sản hàng năm, đồng thời được ghi nhận phần tổn thất này theo quy định tại IAS 36;
ap.
- VAS 11 quy định lợi thế thương mại được phân bổ dần trong thời gian không quá 10 năm kể từ ngày mua trong
giao dịch hợp nhất kinh doanh. Trong khi đó, IFRS 3 quy định doanh nghiệp phải đánh giá giá trị lợi thế thương mại tổn thất;
aq.
- VAS hiện thiếu một số chuẩn mực liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh như: thanh toán bằng cổ
phiếu (IFRS 02); công cụ tài chính (IFRS 9); tổn thất tài sản (IAS 19) các khoản tài trợ của Chính phủ (IAS 20); nông nghiệp (IAS
41); phúc lợi của nhân viên ( IAS 36)…
ar.
Gần đây, có một số nghiên cứu được tiến hành nhằm xác định mức độ hòa hợp giữa chuẩn mực kế toán
Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế. Kết quả của một nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ hòa hợp của VAS với IAS/IFRS
liên quan đến 10 chuẩn mực được chọn nghiên cứu ở mức bình quân là 68%. Theo đó, các chuẩn mực về doanh thu và chi
phí có mức độ hòa hợp cao hơn các chuẩn mực về tài sản. Mức độ hòa hợp về đo lường (81,2%) cao hơn nhiều so với mức độ
hài hòa về khai báo thông tin (57%) [5; tr159].
as.
Như vậy, mức độ hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 90%, theo phát biểu của
ông Bùi Văn Mai – nguyên Vụ trưởng Vụ chế độ kế toán - Bộ Tài chính trong một phỏng vấn của báo Vnexpress, nghĩa là tồn tại
một khoảng cách đáng kể giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế. Trong một chừng mực nào đó, rõ
ràng những khác biệt này có ảnh hưởng đến quá trình hội nhập quốc tế về kế toán của Việt Nam, dù rằng, không phải là
không có những nguyên nhân khách quan của nó.
at.
au.
2. Nguyên nhân tồn tại những khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế toán quốc tế
av.
Có nhiều lý do để giải thích cho sự chưa hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS, trong đó có những nguyên nhân trực
tiếp và những nguyên nhân thuộc về môi trường kế toán.
aw.
Nguyên nhân trực tiếp
ax.
- VAS về cơ bản được soạn thảo dựa trên các IAS/IFRS tương ứng được ban hành đến cuối năm 2003, nhưng sau
đó không được cập nhật những sửa đổi của IAS liên quan và IFRS mới được ban hành sau năm 2003;
23
ay.
- IAS/IFRS ngày càng hướng tới đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị hợp lý nhằm đảm bảo tính ‘liên quan’ của
thông tin kế toán đối với các đối tượng sử dụng, trong khi đó giá gốc vẫn là cơ sở đo lường chủ yếu được qui định bởi VAS
az.
- IAS/IFRS cho phép sử dụng xét đoán và ước tính nhiều hơn so với VAS, dẫn đến IAS/IFRS yêu cầu khai báo
thông tin liên quan đến sử dụng xét đoán và ước tính nhiều hơn.
ba.
Nguyên nhân thuộc về môi trường kế toán
bb.
- Thứ nhất, văn hoá của người Việt Nam là tránh rủi ro và sự không chắc chắn . Áp dụng IAS/IFRS, sự không
chắc chắn là rất cao bởi vì BCTC theo IAS/IFRS sử dụng nhiều ước tính kế toán, ví dụ như giá trị hợp lý. VAS với các ước tính kế
toán ít hơn và thận trọng hơn làm hạn chế những yếu tố không chắc chắn, tuy nhiên, điều này cũng giảm nhiều sự phù hợp của thông
tin trên BCTC. Đặc điểm văn hoá này là yếu tố ảnh hưởng gián tiếp và rất quan trọng đến việc VAS chưa áp dụng hoàn toàn
IAS/IFRS.
bc.
- Thứ hai, nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn khá non trẻ, Việt Nam mới phát triển kinh tế thị trường từ những
năm cuối của thế kỷ 20, thị trường vốn của Việt Nam là một trong những thị trường non trẻ nhất trên thế giới, mới được hình thành
hơn mười năm nay. Đến nay, nó vẫn chưa thể hiện rõ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, mới chỉ trong phạm vi quốc gia, chưa liên
thông với thị trường vốn trên thế giới. Trong khi đó, định hướng của IAS/IFRS là xây dựng hệ thống các chuẩn mực kế toán hoàn
toàn thị trường và hỗ trợ thị trường vốn, một hệ thống chuẩn mực kế toán phục vụ cho lợi ích chung, chất lượng cao, dễ hiểu và có
thể áp dụng trên toàn thế giới, nhằm giúp những người tham gia vào các thị trường vốn khác nhau trên thế giới ra quyết định kinh
tế. Do vậy, định hướng phát triển của VAS để phục vụ cho các nhà đầu tư trên thị trường vốn không mạnh như IAS/IFRS; nhu cầu
của Việt Nam về một hệ thống kế toán phức tạp và hợp lý như IAS/IFRS để phục vụ thị trường vốn là chưa cấp bách. Ngoài ra, ở
Việt Nam hiện nay, nhiều đối tượng sử dụng BCTC chưa có nhu cầu thực sự đối vối thông tin tài chính chất lượng cao vì thông tin
tài chính chỉ đóng vai trò thứ yếu trong việc ra quyết định của họ.
bd.
- Thứ ba, Việt Nam là một nước theo hướng điển chế luật (code law) hay luật thành văn (civil law), khác với các
nước theo hướng thông luật (common law). Trong các nước theo hướng điển chế luật, nhìn chung, sự bảo vệ quyền cổ đông và yêu
cầu về tính minh bạch của thông tin thấp hơn trong các nước theo hướng thông luật. VAS được xây dựng phù hợp với đặc điểm hệ
thống luật của một nước theo hướng điển chế luật trong khi IAS/IFRS được phát triển phù hợp với hệ thống luật của các nước theo
hướng thông luật. Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia mà cơ sở, nguyên tắc kế toán được quy chiếu vào chế độ kế toán quốc gia. Theo
đó, Nhà nước có vai trò kiểm soát kế toán về phương pháp đo lường, đánh giá, soạn thảo và trình bày báo cáo; việc soạn thảo, ban
hành các chuẩn mực kế toán và các hướng dẫn thực hiện phải do các cơ quan nhà nước thực hiện và được đặt trong các bộ luật hoặc
các văn bản pháp lý dưới luật. Trong khi đó, tại các quốc gia phát triển IAS/IFRS, các cơ sở, nguyên tắc kế toán không quy chiếu
vào chế độ kế toán quốc gia; việc kiểm soát của Nhà nước được thực hiện thông qua việc giải thích mục tiêu, nguyên tắc kế toán,
phương pháp đo lường, đánh giá, soạn thảo và trình bày BCTC; chuẩn mực, nguyên tắc kế toán thường được thiết lập bởi các tổ
chức tư nhân chuyên nghiệp, điều đó cho phép chúng trở nên dễ thích ứng với thực tiễn và sáng tạo hơn, và phần lớn các nguyên
tắc này không được quy định trực tiếp trong các văn bản luật.
be.
bf.
3. Định hướng phát triển chuẩn mực kế toán Việt Nam hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế
bg.
Có thể nói rằng, việc áp dụng IAS/IFRS đã mở ra một thời kỳ mới làm thay đổi cách thức ghi nhận, đo lường và
trình bày các yếu tố của BCTC, loại trừ sự khác biệt trong chuẩn mực kế toán, là điều kiện để đảm bảo các doanh nghiệp và tổ chức
trên toàn thế giới áp dụng các nguyên tắc kế toán một cách thống nhất trong lập và trình bày BCTC. IAS/IFRS được chấp nhận như
chuẩn mực lập BCTC cho các công ty tìm kiếm sự thừa nhận trên thị trường chứng khoán thế giới. Việc sử dụng IAS/IFRS mang lại
những lợi ích khá rõ, như : tiết kiệm chi phí soạn thảo chuẩn mực và nhanh chóng hòa nhập vào chuẩn mực kế toán quốc tế được
chấp nhận; sự hội nhập về kế toán giúp cho các công ty huy động vốn trên thị trường quốc tế. Đến nay, đã có hơn 119 quốc gia trên
thế giới thực hiện việc yêu cầu (bắt buộc) hoặc cho phép (không bắt buộc) các công ty niêm yết trên thị truờng chứng khoán của họ
sử dụng IAS/IFRS khi lập và trình bày BCTC.
bh.
Tuy nhiên, việc áp dụng IAS/IFRS không phải là hoàn toàn dễ dàng đối với các doanh nghiệp ở các quốc gia. Một
trong những thách thức đó là phải có đội ngũ nhân viên kế toán và chi phí. Điều này không đơn giản vì IAS/IFRS được xem là khá
phức tạp ngay cả đối với các nước phát triển. Để áp dụng IAS/IFRS đơn vị phải bỏ ra chi phí ban đầu khá lớn, xây dựng lại hệ thống
thu thập, xử lý và trình bày các thông tin tài chính. Ngoài ra, phương pháp xây dựng IAS/IFRS về cơ bản là theo mô hình AngloAmerica, do đó có thể không phù hợp với các nước đang phát triển vì có sự khác biệt lớn về văn hóa và môi trường kinh tế giữa các
nước phát triển và các nước đang phát triển (Prather-Kinsey, 2006). Theo Carmona and Trombetta (2008), IAS/IFRS dựa trên
24
nguyên tắc (principle-based IAS/IFRS) có tính linh hoạt cao nên có thể khó vận dụng vào hoàn cảnh các nước đang phát triển, vốn
thiếu một thị trường phát triển để có thể áp dụng phương pháp dựa trên thị trường (market-base) để ước tính giá trị hợp lý
bi.
Từ các nguyên nhân của sự chưa hòa hợp giữa VAS với IAS/IFRS và những phân tích nêu trên, có thể thấy, việc
Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán cho mình
là một sự lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên, trong thời gian sắp tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập về kế toán
nói riêng, một số giải pháp mang tính định hướng cần được xem xét một cách tích cực, như sau:
bj.
Thứ nhất, như đã phân tích ở trên, trong IAS/IFRS, giá trị hợp lý được sử dụng ngày càng nhiều trong đo
lường và ghi nhận các yếu tố của BCTC. Cuộc họp tháng 09/2009 tại Mỹ, nhóm các nước G-20 đã xác nhận lại cam kết thúc đẩy
việc hội tụ hệ thống chuẩn mực BCTC quốc tế ( IFRS) trong đó có đề cập đến việc sử dụng giá trị hợp lý như một cơ sở đo lường
chủ yếu nhằm tăng cường tính thích hợp của thông tin trình bày trên BCTC. Cũng trong năm 2009, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc
tế (IASB) công bố dự thảo “Các quy định về đo lường giá trị hợp lý’, trong đó, thống nhất giá trị hợp lý là “ giá trị đầu ra” của tài
sản hay nợ phải trả. Trong khi đó, VAS1 hầu như chỉ đưa ra nguyên tắc giá gốc. Việc sử dụng giá gốc làm cơ sở đo lường chủ yếu có
thể đạt được độ ‘tin cậy’ nhưng làm giảm tính ‘liên quan’ của thông tin được cung cấp bởi BCTC. Do vậy, trong một tương lai
không xa, việc nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận và điều kiện, phương pháp vận dụng “Nguyên tắc giá trị hợp lý” trở thành một
vấn đề cần được Việt Nam xem xét và thực hiện một cách nghiêm túc;
bk.
Thứ hai, cần khẩn trương đánh giá, sửa đổi, bổ sung cập nhật 26 chuẩn mực đã ban hành cho phù hợp với
những thay đổi của IAS/IFRS và thực tiễn hoạt động kinh doanh tại Việt Nam;
bl.
Thứ ba, nhằm đáp ứng kịp thời sự đổi mới và phát triển của nền kinh tế, cần sớm ban hành 5 chuẩn mực kế toán
liên quan đến các đối tượng và giao dịch đã phát sinh trong đời sống kinh tế, bao gồm: Thanh toán bằng cổ phiếu (IFRS 02); Tìm
kiếm, thăm dò và xác định giá trị các nguồn tài nguyên khoáng sản (IFRS 06); Công cụ tài chính (IFRS 7; IFRS 9); Các khỏan tài
trợ của Chính phủ (IAS 20): Tổn thất tài sản (IAS 36). Một số chuẩn mực cũng cần có bước chuẩn bị để ban hành trong thời gian
tiếp theo như: Tài sản nắm giữ để bán và hoạt động kinh doanh không liên tục; Phúc lợi của nhân viên; Nông nghiệp;
bm. Thứ tư, Việt Nam cần từng bước tiếp tục hoàn thiện môi trường kinh tế và luật pháp phù hợp với yêu cầu của
IAS/IFRS. Chẳng hạn như thị trường giao dịch tài sản cần phải ‘minh bạch’ và ‘hoạt động’ để có thể sử dụng giá trị hợp lý làm cơ sở
đo lường giá trị tài sản…
bn.
Kết luận
bo.
Hiện nay, chuẩn mực kế toán Việt Nam vẫn chưa hòa hợp hoàn toàn với chuẩn mực kế toán quốc tế. Sự khác biệt
chủ yếu giữa VAS và IAS/IFRS là khác biệt về cơ sở đo lường tài sản dựa trên cơ sở giá trị hợp lý và vấn đề khai báo thông tin. Sự
chưa hòa hợp giữa VAS và IAS/IFRS có những nguyên nhân trực tiếp và những nguyên nhân thuộc về yếu tố xã hội, kinh tế và pháp
luật. Nhìn chung, việc Việt Nam lựa chọn mô hình vận dụng có chọn lọc IAS/IFRS làm cơ sở chủ yếu để xây dựng hệ thống chuẩn
mực kế toán cho mình là một sự lựa chọn hợp lý. Trong thời gian tới, để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế về kế toán, phù hợp quá
trình hội nhập kinh tế của đất nước, Việt Nam cần tiến hành một số giải pháp vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, bao
gồm cả giải pháp trực tiếp đối với hệ thống chuẩn mực kế toán và giải pháp thuộc về môi trường kinh tế, pháp luật./.
bp. Câu 14: Trình bày những nội dung cơ bản của khuôn mẫu lý thuyết kế toán và liên hệ thực tế chế độ kế toán Việt
Nam?
bq. TRẢ LỜI: (Của Dương Diệu Thảo)
br. Khuôn mẫu lý thuyết kế toán (IAS Framework) là lý thuyết cấu trúc của kế toán. Nó được xem như các khái niệm cơ bản
nhất của báo cáo tài chính, làm cơ sở cho các chuẩn mực kế toán, bảo đảm rằng các chuẩn mực này nhất quán với nhau. Đặc điểm
của khuôn mẫu lý thuyết kế toán (KMLTKT) là các vấn đề được trình bày thành một hệ thống các khái niệm và nguyên tắc quan hệ
hữu cơ với nhau và mang tính lý luận cao, thể hiện một tầm nhìn bao quát với toàn bộ một hệ thống kế toán. KMLTKT chính thức
được đưa ra trong các năm 1978-1985 do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa Kỳ (FASB) dưới tên gọi là các Công bố về
Lý thuyết Kế toán Tài chính (Statement on Financial Accounting Concepts- viết tắt SFAC). Đến năm 1989 KMLTKT được chuẩn
hoá thành IAS Framework. Từ đây, Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế sử dụng IAS Framework làm cơ sở để điều chỉnh lại các
chuẩn mực kế toán quốc tế đã ban hành trước khi IAS Framework ra đời, đồng thời làm cơ sở để ban hành các chuẩn mực kế toán
mới sau này.
bs.
Đặc điểm của khuôn mẫu ký thuyết kế toán:
25