Tải bản đầy đủ (.docx) (14 trang)

Tiểu luận kinh tế chính trị kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (199.02 KB, 14 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
_________***_________

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Đề tài: KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Trương Mỹ Nhi
Mã sinh viên: 1815510092
Lớp: TRI103.1
Chuyên ngành: Kinh doanh quốc tế
Khoá: 57
GV hướng dẫn: ThS Đinh Thị Quỳnh Hà

Hà Nội, tháng 5 năm 2020
MỤC LỤC


2
2


LỜI MỞ ĐẦU
Qua 20 năm đổi mới, thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội và Chiến lược ổn định đất nước 10 năm
(1991-2000), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn Đảng, toàn
dân ta đã vượt qua mọi thử thách, khó khăn để đạt được những thành tích quan
trọng.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nội dung cốt lõi của
chính sách đổi mới toàn diện nền kinh tế Việt Nam được chính thức bắt đầu từ
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986. Với mục tiêu hàng đầu là giải phóng sức


lao động, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho quá trình
công nghiệp hoá – hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Phát triển
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải là “quá trình thực hiện
dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ,
nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương xoá bỏ mọi áp bức, bất công, tạo điều kiện
cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”.
Với vốn hiểu biết còn hạn chế, em mong rằng thông qua đề tài này tìm
hiểu thêm về nền kinh tế nước ta cũng như đường lối chính sách của Đảng qua
các nội dung sau:
Phần I. Cơ sở lý luận về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa
Phần II. Thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay

3
3


PHẦN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
I.1. Khái niệm kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa


Khái niệm kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường nói chung là những hình thức phát triển cao của kinh

tế hàng hoá, một hình thức mà ở đó hầu hết các quan hệ kinh tế trên diễn ra
trên thị trường, chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế vốn có của nó.
Kinh tế thị trường nói chung là kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị

trường, diễn ra trong môi trường cạnh tranh và lấy lợi nhuận làm động lực
thúc đẩy.


Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Đã có nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau xung quanh việc đưa ra một

khái niệm về kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhưng nói chung đều tập
trung làm nổi bật một số ý sau:
Đó là nền kinh tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự quản
lý của nhà nước theo định hướng XHCN.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là việc sử dụng công nghệ kinh tế
thị trường để thực hiện mục tiêu của CNXH. Là quá trình giải quyết đồng thời
hai nhiệm vụ: vừa phát triển kinh tế thị trường, vừa phải thực hiện các mục
tiêu của CNXH.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm mục đích phát
triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân.
4
4


I.2. Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường
Do kinh tế thị trường là sự phát triển cao của nền kinh tế hàng hoá và mọi
yếu tố của sản xuất đều được thị trường hoá cho nên kinh tế thị trường có
những đặc trưng chủ yếu sau:
Một là, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao, các chủ thể kinh tế tự
bù đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh
doanh của mình, được tự do liên kết, tự do kinh doanh theo luật định. Kinh tế
hàng hoá không bao dung hành vi bao cấp, đồng nghĩa với tự chủ năng động.

Hai là, hàng hoá trên thị trường rất phong phú, phản ánh trình độ cao của
năng suất lao động xã hội, trình độ phân công lao động xã hội, sự phát triển
của sản xuất và thị trường.
Ba là, giá cả được hình thành ngay trên thị trường, vừa chịu tác động của
quan hệ cạnh tranh, quan hệ cung cầu hàng hoá và dịch vụ.
Bốn là, cạnh tranh là một tất yếu của nền kinh tế thị trường, có nhiều
hình thức cạnh tranh phong phú vì mục tiêu lợi nhuận.
Năm là, kinh tế thị trường là kinh tế mở.
I.3. Những nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo
định hướng XHCN. Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có những nội
dung cơ bản sau:
-

Mục đích của nền kinh tế thị trường là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển
kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của XHCN, nâng cao đời sống
5
5


nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ
-

sản xuất phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý, phân phối.
Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định
hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống

-


nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.
Có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể trở thành
nền tảng vững chắc. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu sẽ từng bước
được xác lập và chiếm hữu tuyệt đối khi CNXH được xây dựng xong về cơ

-

bản.
Kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền kinh tế có sự quản lý của Nhà
nước XHCN bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách sử
dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý
kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy

-

mặt tích cực, hạn chế và khắc phục tiêu cực, bảo vệ lợi ích người lao động.
Thực hiện phân phối chuỷ yếu kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời
phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh

-

doanh và thông qua phúc lợi xã hội.
Tăng trưởng kinh tế gắn liền và đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội ngày càng

-

từng bước phát triển.
Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá giáo dục, xây dựng nền văn
hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của

nhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con người, xây dựng và phát
triển nguồn nhân lực của đất nước.

PHẦN II. THỰC TIỄN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH
HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
6
6


II.1. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay và vị trí, vai trò của
thành phần kinh tế Nhà nước
Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), với
nhiều hình thức sở hữu, nhiều khu vực và thành phần kinh tế là sự kế thừa
những ưu việt của kinh tế thị trường, phù hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể
của Việt Nam. Động lực chung để phát triển mô hình kinh tế này là sự kết hợp
hài hòa các lợi ích của cá nhân, tập thể và xã hội. Trong quá trình xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, những yếu tố,
phương tiện và công cụ của kinh tế thị trường đã được khai thác sử dụng, phát
triển sáng tạo cho phù hợp với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tính chất xã hội
chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ngày càng được hình thành rõ nét hơn
trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một trong những công cụ để
Nhà nước điều tiết là kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
quốc dân.
Thứ nhất, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không chỉ biểu hiện ở số
lượng doanh nghiệp nhà nước, tỷ trọng đóng góp giá trị sản lượng trong GDP,
mà trước hết là ở trình độ quản lý, điều tiết năng lực cạnh tranh và hiệu quả
phát triển, chất lượng sản phẩm. Đầu tư vào những dự án lớn, đòi hỏi vốn lớn
mà thời gian thu hồi vốn lại chậm.
Thứ hai, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, kinh tế nhà
nước phải là trụ cột để đẩy lùi các nguy cơ chệch hướng XHCN, tụt hậu xa

hơn về kinh tế, đồng thời phải là cơ sở vững chắc để khắc phục những hạn
chế, khuyết tật của cơ chế thị trường.
Thứ ba, kinh tế nhà nước phải đi đầu trong việc kết hợp với quốc phòng,
an ninh để bảo đảm hài hòa theo quan điểm phát triển và ổn định của Đảng
trong mọi hoàn cảnh, điều kiện. Đây là vai trò độc quyền, chủ đạo, kéo theo sự
tham gia của các thành phần kinh tế khác.
7
7


Thứ tư, kinh tế nhà nước là yếu tố bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền
vững, cạnh tranh lành mạnh, có trách nhiệm điều phối hoạt động của các thành
phần kinh tế khác theo đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng. Đặc biệt
trong các lĩnh vực chủ chốt, vĩ mô của nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN, như xây dựng chiến lược phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng,
dịch vụ công, tạo điều kiện kích thích các thành phần kinh tế khác cùng phát
triển.
Ở nước ta hiện nay, việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là sự
khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng XHCN với
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Tính định hướng XHCN của nền kinh tế
thị trường ở nước ta đã quyết định kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo
trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Do đó, kinh tế nhà nước cần và có thể
giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân vì những lý do sau:
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo là đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, là chế
độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hóa của lực lượng sản xuất, bảo đảm
cho nền kinh tế tránh được nguy cơ chệch hướng.
Mục tiêu vận động của nền kinh tế nước ta là đi lên chủ nghĩa xã hội, vì
vậy, vai trò của các thành phần kinh tế trong tiến trình vận động là không thể
ngang bằng nhau. Kinh tế nhà nước nắm giữ những vị trí then chốt, yết hầu,

xương sống của nền kinh tế, do đó nó có khả năng, có điều kiện chi phối hoạt
động của các thành phần kinh tế khác, quyết định phương hướng vận động
phát triển của toàn bộ nền kinh tế.
Kinh tế nhà nước là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền
kinh tế; vừa là công cụ kinh tế quan trọng nhất để củng cố và xây dựng nhà
nước XHCN ngày càng vững mạnh, từng bước hình thành trật tự kinh tế, văn
hóa xã hội theo định hướng XHCN.
8
8


Kinh tế nhà nước có thể tác động tới các thành phần kinh tế khác không
chỉ bằng các công cụ và đòn bẩy kinh tế, mà còn bằng con đường gián tiếp,
thông qua những thiết chế và hoạt động của kiến trúc thượng tầng xã hội chủ
nghĩa.
Kinh tế nhà nước là lực lượng nòng cốt hình thành các trung tâm kinh tế,
đô thị mới; là lực lượng có khả năng đầu tư vào những lĩnh vực có vị trí quan
trọng, vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng.
II.2. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay và vị trí, vai trò của
thành phần kinh tế tư nhân
Qua các kỳ Đại hội Đảng, vị trí và vai trò của khu vực kinh tế tư nhân
dần được khẳng định và nhấn mạnh. Điển hình như: Văn kiện Đại hội X của
Đảng năm 2006 với nhận định: Kinh tế tư nhân là khu vực “có vai trò quan
trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”; Nghị quyết Đại hội XI
của Đảng năm 2011 cho rằng: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển
mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”.
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng năm 2016 cũng chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ
chế chính sách để tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các
ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp (DN) nhỏ và vừa, DN

khởi nghiệp. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu
và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân là một
động lực quan trọng của nền kinh tế”.
Vai trò, vị trí của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng được nhận thức rõ hơn và
9
9


đánh giá đúng hơn. Kinh tế tư nhân ngày càng đóng góp lớn hơn trong huy
động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng
trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc
làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn
đề xã hội.
Tỷ trọng trong GDP của khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm cả kinh tế cá
thể luôn duy trì ổn định trong khoảng 39-40%. Bước đầu đã hình thành được
một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, hoạt động đa ngành, có khả
năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh
nhân ngày càng lớn mạnh. Số lượng DN của tư nhân tăng nhanh với nhiều loại
hình đa dạng; phong trào khởi nghiệp được đẩy mạnh…
Mặc dù đã khẳng được vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế, song
khu vực kinh tế tư tư nhân đã bộc lộ không ít những hạn chế, yếu kém. Tốc độ
tăng trưởng của kinh tế tư nhân có xu hướng giảm trong những năm gần đây
(Giai đoạn 2003-2010 là 11,93%/năm, thì giai đoạn 2011-2015 chỉ còn
7,54%/năm).
Xuất phát điểm phát triển và năng lực nội tại của kinh tế tư nhân nhìn
chung còn thấp; chủ yếu vẫn là kinh tế hộ, cá thể. Đáng nói hơn, có tới 97%
DN tư nhân có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, trình độ công nghệ thấp và chậm đổi
mới, năng lực tài chính, năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh còn thấp,
trình độ quản trị, tính liên kết còn yếu; khả năng tham gia chuỗi giá trị trong

nước và quốc tế còn thấp.

10
10


Để kinh tế tư nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ, đúng đắn và lành
mạnh hơn, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, cần có
sự hỗ trợ đặc biệt từ phía Nhà nước, cụ thể như:
-

Cần tiếp tục nâng cao nhận thức để tạo sự thống nhất trong thực hiện Nghị
quyết của Đảng; Khẳng định vai trò của kinh tế tư nhân là một trong những
động lực quan trọng của nền kinh tế, nhất là tạo việc làm và an sinh xã hội;
Đồng thời, chủ động khắc phục những biểu hiện tiêu cực trong phát triển kinh
tế tư nhân, nhất là ý thức chấp hành pháp luật.

-

Tiếp tục thể chế hóa một số nội dung Nghị quyết phù hợp giai đoạn 2017 –
2020, xác định rõ những nội dung tiếp tục phải được thể chế hóa và nội dung
không còn phù hợp, cần phải điều chỉnh, để tiếp tục đổi mới hơn nữa cơ chế,
chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.
Điển hình như: Đẩy mạnh thực hiện Luật DN, Luật Đầu tư, cần quy định
rõ việc thành lập và hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, các đoàn thể trong DN
tư nhân. Đồng thời, tiếp tục hỗ trợ công tác theo dõi, phân tích và cung cấp
thông tin cho hoạt động xúc tiến thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu cho kinh tế
tư nhân.

-


Thúc đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với việc cơ cấu lại các
DN, trong đó có DN tư nhân. Thực hiện đúng chính sách bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế; khuyến khích và mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết,
liên doanh giữa DN tư nhân với DN nhà nước, hợp tác xã và các DN có vốn
đầu tư nước ngoài, tạo mối quan hệ hợp tác, cạnh tranh, cùng có lợi.

-

Tiếp tục đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý nhà nước đối
với kinh tế tư nhân; kịp thời động viên, khen thưởng, tôn vinh những DN,
11
11


doanh nhân thành đạt và uốn nắn những lệch lạc, sai phạm của kinh tế tư
nhân, sớm có quy chế, tiêu chí thống nhất về xét thưởng, tôn vinh kinh tế tư
nhân…
-

Ngoài những cơ chế, chính sách của Chính phủ cần có sự vào cuộc mạnh mẽ
của các hội nghề nghiệp và nguồn vốn đầu tư của các ngân hàng. Đặc biệt, bản
thân các DN tư nhân cũng cần phải nâng cao năng lực, đẩy mạnh liên doanh
liên kết, có như vậy mới có thể nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền kinh
tế.
II.3. Nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay và vị trí, vai trò của
thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thuật ngữ chỉ các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, mới được sử dụng phổ biến trong vài thập
niên gần đây, khi làn sóng đầu tư từ quốc gia này sang quốc gia khác tăng lên

nhanh chóng.
Ở Việt Nam thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới được xác
định từ văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là thành phần kinh tế bao
gồm:
+ Các doanh nghiệp, công ty 100% vốn nước ngoài.
+ Các doanh nghiệp, công ty liên doanh
+ Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Thành phần kinh tế này không đồng nhất với các thành phần kinh tế
trong nước cả về mục tiêu và cơ chế vận hành.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm các doanh nghiệp có thể
100% vốn nước ngoài (một thành viên hoặc nhiều thành viên) có thể liên kết,
liên doanh với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân của nước ta.
12
12


Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có đóng góp rất to lớn đối với quốc gia, đặc
biệt là một nước đang có tiềm năng phát triển như nước ta. Doanh của khu vực
đầu tư nước ngoài góp phần làm tăng thêm của cải và nâng cao sức cạnh tranh
của các mặt hàng trong nước, đẩy mạnh chuyển đổi công nghệ để nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm của các cơ cấu ngành nghề trong nước, giải
quyết một số lượng lớn việc làm của người lao động trong nước.
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có vị trí quan trọng trong nền kinh tế
nước ta. Trong mười năm qua (1991-2000) các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phát triển khá nhanh. Giá trị sản xuất tăng bình quân 22% một
năm. Trong 5 năm (1996-2000) vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực
hiện khoảng 10 tỷ USD, chiếm 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành công
nghiệp, trên 22% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 10% GDP chung của
cả


nước.

Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định: “Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc
làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư nước
ngoài”.

13
13


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. “Khẳng định vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế Việt Nam” />2. “Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước

ngoài”

/>3. Tiểu luận – 123doc.net

14
14

-



×