ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2006
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________
NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO
KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2006
Chuyên ngành:
Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số:
62 22 03 15
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS. TRẦN KIM ĐỈNH
HÀ NỘI - 2020
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS. TS Trần Kim Đỉnh.
Các số liệu trong luận án là trung thực, bảo đảm tính khách quan. Các tài
liệu tham khảo có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Huyền Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ADB
: Ngân hàng phát triển châu Á
APEC
: Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
BCHTW
: Ban Chấp hành Trung ương
CNH
: Công nghiệp hoá
EC
: Uỷ ban châu Âu
FDI
: Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
: Tổng sản phẩm trong nước
HĐH
: Hiện đại hoá
IMF
: Quỹ tiền tệ quốc tế
KTĐN
: Kinh tế đối ngoại
NGO
: Tổ chức phi chính phủ
NXB
: Nhà xuất bản
ODA
: Viện trợ phát triển chính thức
TBCN
: Tư bản chủ nghĩa
TNHH
: Trách nhiệm hữu hạn
UBND
: Ủy ban nhân dân
UNDP
: Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc
UNESCO
: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
WB
: Ngân hàng thế giới
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................ 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................. 5
4. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu ....................... 6
5. Đóng góp khoa học của luận án ................................................................ 8
6. Kết cấu của luận án ................................................................................... 8
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ........................................................................................9
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án ........................ 9
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế đối ngoại ................... 9
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động kinh tế đối ngoại ..................................................................... 18
1.1.3. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế đối ngoại Hà Nội .... 22
1.2. Kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung giải quyết........ 30
1.2.1. Kết quả nghiên cứu ....................................................................... 30
1.2.2. Những vấn đề luận án tập trung giải quyết ................................... 31
Tiểu kết chương 1........................................................................................ 32
CHƢƠNG 2. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO HOẠT
ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 1995 .................33
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo phát triển kinh tế đối ngoại
của Đảng bộ Thành phố Hà Nội và chủ trương của Đảng bộ Thành phố
Hà Nội ......................................................................................................... 33
2.1.1. Những yếu tố ảnh hưởng ............................................................... 33
2.1.2. Chủ trương của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về kinh tế đối ngoại ... 58
2.2. Đảng bộ Thành phố Hà Nội chỉ đạo kinh tế đối ngoại từ năm 1986 đến
năm 1995 ..................................................................................................... 64
2.2.1. Chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động xuất - nhập khẩu............................. 64
2.2.2. Chỉ đạo thu hút vốn đầu tư nước ngoài ......................................... 72
2.2.3. Chỉ đạo hợp tác khoa học - kỹ thuật và chuyển giao công nghệ .. 77
2.2.4. Chỉ đạo hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ ........................................ 80
Tiểu kết chương 2........................................................................................ 87
CHƢƠNG 3. ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HÀ NỘI LÃNH ĐẠO MỞ RỘNG
VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ ĐỐI NGOẠI TỪ
NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2006 .................................................................................89
3.1. Chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại của Đảng bộ Thành
phố Hà Nội từ năm 1996 đến năm 2006 ..................................................... 89
3.1.1. Yếu tố mới tác động đến sự phát triển kinh tế đối ngoại Hà Nội . 89
3.1.2. Chủ trương đẩy mạnh kinh tế đối ngoại của Đảng bộ Thành phố
Hà Nội ..................................................................................................... 99
3.2. Sự chỉ đạo đẩy mạnh kinh tế đối ngoại của Đảng bộ Thành phố Hà Nội.. 105
3.2.1. Chỉ đạo mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động xuất - nhập khẩu 105
3.2.2. Chỉ đạo tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài .................... 112
3.2.3. Chỉ đạo đẩy mạnh hợp tác khoa học - kỹ thuật và chuyển giao
công nghệ .............................................................................................. 124
3.2.4. Chỉ đạo phát triển một số hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ .......... 127
Tiểu kết chương 3...................................................................................... 134
CHƢƠNG 4. NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM ............................................137
4.1. Một số nhận xét .................................................................................. 137
4.1.1. Ưu điểm và nguyên nhân ............................................................ 137
4.1.2. Hạn chế và nguyên nhân ............................................................ 146
4.2. Một số kinh nghiệm ........................................................................... 154
4.2.1. Nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của kinh tế đối
ngoại đối với phát triển kinh tế của Hà Nội ........................................ 154
4.2.2. Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, hiệu quả
quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh tế đối ngoại ....................... 157
4.2.3. Chú trọng phát triển kinh tế đối ngoại gắn với hội nhập kinh tế
quốc tế, kết hợp chặt chẽ thị trường trong nước với thị trường quốc tế161
4.2.4. Phát huy hiệu quả của công tác đối ngoại phục vụ hoạt động kinh
tế đối ngoại ............................................................................................ 164
4.2.5. Tăng cường các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh nhằm
thúc đẩy kinh tế đối ngoại phát triển .................................................... 166
4.2.6. Phát triển kinh tế đối ngoại phải gắn liền với nhiệm vụ đảm bảo
an ninh quốc gia và mục tiêu phát triển bền vững ............................... 169
Tiểu kết chương 4 ..................................................................................... 173
KẾT LUẬN ...........................................................................................................175
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ....................................................................................................180
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................181
PHỤ LỤC ..............................................................................................................199
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 (thế kỷ XX), cách mạng khoa học - công
nghệ trên thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ, tạo ra những bước nhảy vọt về chất,
thúc đẩy sản xuất vật chất, tạo ra nhiều ngành kinh tế mới. Nền sản xuất vật chất và
đời sống xã hội của các nước trong cộng đồng quốc tế diễn ra quá trình quốc tế hóa,
toàn cầu hóa sâu sắc. Toàn cầu hóa kinh tế nổi lên như một xu hướng định hướng,
dẫn dắt quá trình phát triển của thế giới. Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế dẫn đến xu
thế mở cửa và hội nhập của mỗi quốc gia vào cộng đồng quốc tế, đòi hỏi các quốc
gia phải cải cách thể chế và cơ cấu lại nền kinh tế để có sức mạnh trong cạnh tranh.
Đây là quá trình mang lại những cơ hội và xung lực cho phát triển, đồng thời cũng
đặt ra những thách thức gay gắt đối với nền kinh tế tất cả các nước, trước hết là các
nước đang phát triển và chậm phát triển.
Trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa đang là chủ đạo, cách mạng khoa
học - công nghệ làm thay đổi toàn bộ nền sản xuất, trở thành động lực của sự phát
triển, buộc mỗi quốc gia, dân tộc phải mở cửa, tham gia hội nhập kinh tế để phát
huy có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế của mình, tranh thủ vị trí có lợi nhất trong
phân công lao động và hợp tác quốc tế, nâng cao sức mạnh của nền kinh tế thì hoạt
động kinh tế đối ngoại (KTĐN) ngày càng trở nên vô cùng quan trọng, có những
đóng góp to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Là một tất yếu
khách quan bắt nguồn từ những khác biệt giữa các nước về điều kiện tự nhiên, về
trình độ phát triển khoa học - kỹ thuật, KTĐN đã trở thành một yếu tố không thể
thiếu trong quá trình tái sản xuất xã hội, góp phần quyết định đến nhịp độ xây dựng
và phát triển kinh tế. Vì vậy, mở rộng và phát triển các quan hệ KTĐN, nâng cao
hiệu quả của hoạt động KTĐN là những đòi hỏi khách quan của mỗi quốc gia.
Đối với Việt Nam, trên cơ sở của nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, lạc
hậu, năng suất lao động thấp, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế còn thấp, sản xuất chưa
đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội, thì việc tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài
có tầm quan trọng đặc biệt. Nhận thức được điều đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã
1
chủ trương tập trung mọi nguồn lực cho phát triển KTĐN. Nhờ đó, KTĐN đã có
bước phát triển, góp phần tích cực vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, đẩy nhanh
nhịp độ công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế - xã hội, nâng cao thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế.
Trong công cuộc đổi mới, Đảng chủ trương tập trung nhiều nguồn lực cho
việc đổi mới, mở rộng, nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN. Văn kiện Đại hội Đảng
thời kỳ đổi mới, có phần đánh giá thực tiễn trước khi xác định phương hướng,
nhiệm vụ của hoạt động KTĐN, nêu rõ những tư tưởng chỉ đạo, phương châm và
cách thức thực hiện. Thời kỳ này Đảng đã ban hành nhiều Nghị quyết có liên quan
và Nghị quyết chuyên đề về hoạt động KTĐN như: Nghị quyết số 13 - NQ/TW của
Bộ Chính trị năm 1988, Nghị quyết số 06 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương
(BCHTƯ) Đảng (khóa VI) năm 1989, Nghị quyết 03 - NQ/TW của BCHTƯ Đảng
(khóa VII) năm 1992, Nghị quyết số 01/NQ - TW của Bộ Chính trị năm 1996, Nghị
quyết số 07 - NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2001. Các Văn kiện của Đảng gắn việc
đổi mới, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động KTĐN với “chủ động và tích cực
hội nhập kinh tế quốc tế” là một bước phát triển về lý luận, vừa kế thừa những luận
điểm ở các Đại hội trước, vừa là bước hoàn thiện có tính đột phá nhằm đáp ứng đòi
hỏi của sự nghiệp cách mạng và bản thân nền kinh tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập vào kinh tế quốc tế, góp phần tích cực
thúc đẩy kinh tế - xã hội thoát ra khỏi khủng hoảng và có bước phát triển ổn định,
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), thực hiện “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Hà Nội - Thủ đô của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam, là
trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và
giao dịch quốc tế. Hà Nội có vị trí địa lý thuận lợi, nơi hội tụ nhiều tiềm năng cho sự
phát triển so với nhiều thành phố khác. Vì vậy, Nghị quyết của Bộ Chính trị (15 - 12
- 2000) về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô, giai đoạn 2001 - 2010, nhấn
mạnh: “Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung
tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế”. Lợi thế này là
2
yếu tố quan trọng thúc đẩy hoạt động KTĐN phát triển mạnh mẽ, so với các lĩnh vực
khác (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ...).
Ngay từ khi đường lối đổi mới của Đảng đi vào thực tiễn, Đảng bộ Thành
phố Hà Nội đã phát huy truyền thống năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của
người dân Hà Nội, đồng thời đẩy mạnh khai thác tiềm năng của thành phố. Sau 20
năm tiến hành đổi mới, kinh tế - xã hội Thủ đô đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần
to lớn vào sự phát triển chung của Thành phố trong nền kinh tế thị trường định
hướng XHCN; bộ mặt Thủ đô có nhiều thay đổi; đời sống của nhân dân không
ngừng nâng cao; an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Vai trò lãnh đạo
của Đảng bộ được củng cố, tăng cường, đáp ứng nhu cầu phát triển cả bề rộng lẫn
chiều sâu. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng, quán triệt quan điểm chỉ
đạo của Đảng, Hà Nội cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước đã và đang
tích cực tận dụng, phát huy mọi lợi thế để phát triển KTĐN. Phát triển KTĐN luôn
là một định hướng quan trọng trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của
Đảng bộ Thành phố Hà Nội. Trong những năm 1986 - 2006, Đảng bộ Thành phố Hà
Nội đã đề ra quan điểm, chủ trương lãnh đạo phát triển KTĐN toàn diện, có ý nghĩa
chiến lược. Bởi vậy, hoạt động KTĐN của Hà Nội đã có bước phát triển mới, đạt
được nhiều thành tựu quan trọng góp phần vào quá trình phát triển thành phố và đất
nước. Tuy nhiên, xét về tốc độ, qui mô, KTĐN của Hà Nội phát triển chưa tương
xứng với tiềm năng của Thủ đô, chưa khai thác tốt nhất các lợi thế phục vụ cho phát
triển KTĐN, phát triển còn nhiều yếu tố tự phát, thiếu bền vững. Đặc biệt, xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang đặt ra nhiều thách thức đối với quá trình lãnh đạo
phát triển KTĐN của Đảng bộ Thành phố Hà Nội.
Như vậy, để thực hiện mục tiêu xây dựng Hà Nội trở thành một trong những
thành phố phát triển mạnh về KTĐN của cả nước, việc tái hiện, tổng kết, đánh giá một
cách hệ thống, toàn diện quá trình lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong phát
triển KTĐN trong thời gian qua, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, nghiêm túc tìm ra
nguyên nhân, từ đó rút kinh nghiệm làm căn cứ khoa học cho sự điều chỉnh, bổ sung
hoàn thiện chủ trương, chính sách phát triển KTĐNh trong giai đoạn hiện nay là một
3
vấn đề hết sức cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn. Với những lý do đó tôi lựa
chọn vấn đề “Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo kinh tế đối ngoại từ năm 1986
đến năm 2006” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo hoạt động
KTĐN từ năm 1986 đến năm 2006; chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân
thành công và nguyên nhân hạn chế trong sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố; trên
cơ sở đó, đúc rút một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với các thành phố
khác trong cả nước khi lãnh đạo KTĐN.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án giải quyết những nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, phân tích và làm rõ tiềm năng, lợi thế so sánh của Thành phố Hà
Nội đối với việc phát triển KTĐN và những yếu tố tác động đến phát triển KTĐN
của Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến năm 2006.
Thứ hai, hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương về KTĐN của Đảng bộ
Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến năm 2006, từ đó làm rõ quá trình nhận thức và
đổi mới chủ trương về KTĐN của Đảng bộ Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến
năm 2006.
Thứ ba, làm rõ quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội chỉ đạo phát triển
KTĐN trong những năm 1986 - 2006 trên bốn lĩnh vực (i) hoạt động xuất - nhập
khẩu, (ii) thu hút vốn đầu tư nước ngoài, (iii) hợp tác khoa học - kỹ thuật và chuyển
giao công nghệ và (iv) hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ.
Thứ tư, nhận xét những ưu điểm và một số hạn chế trong quá trình lãnh
đạo KTĐN của Đảng bộ Thành phố Hà Nội, đồng thời chỉ rõ nguyên nhân của
những ưu điểm và hạn chế; từ đó, đúc rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu từ thực
tiễn quá trình lãnh đạo KTĐN của Đảng bộ Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến
năm 2006.
4
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo
của Đảng bộ Thành phố Hà Nội đối với KTĐN, bao gồm những quan điểm, chủ
trương về KTĐN và những chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong quá trình
thực hiện quan điểm, chủ trương về KTĐN.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung khoa học:
KTĐN gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, tiêu biểu là: 1. Hoạt động ngoại
thương (xuất - nhập khẩu hàng hóa hữu hình và vô hình; gia công cho nước ngoài
và thuê nước ngoài gia công; tái xuất khẩu; xuất khẩu tại chỗ); 2. Hợp tác về kinh tế
và khoa học công nghệ với nước ngoài (chuyên môn hóa và hợp tác hóa trong sản
xuất; hợp tác và chuyển giao khoa học và công nghệ); 3. Xuất khẩu và nhập khẩu
sức lao động; 4. Hợp tác đầu tư quốc tế (đưa vốn ra nước ngoài; thu hút vốn đầu tư
nước ngoài); 5. Các dịch vụ thu ngoại tệ (du lịch quốc tế, giao thông vận tải quốc tế,
thông tin liên lạc quốc tế...) [82, tr. 22].
Luận án nghiên cứu những điều kiện khách quan, chủ quan chi phối sự lãnh
đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội về KTĐN; nghiên cứu sự thực thi của các đoàn
thể chính quyền về hoạt động KTĐN; nghiên cứu sự tác động của hoạt động KTĐN
đối với mọi mặt đời sống. Trong phạm vi khoa học, luận án chỉ tập trung nghiên
cứu chủ trương và sự chỉ đạo phát triển KTĐN của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trên
các lĩnh vực: 1. Hoạt động xuất - nhập khẩu; 2. Hoạt động hợp tác kinh tế, thu hút
đầu tư nước ngoài; 3. Các hoạt động hợp tác, chuyển giao công nghệ với nước
ngoài; 4. Các hoạt động dịch vụ thu ngoại tệ.
Về không gian: Luận án nghiên cứu trong phạm vi Thành phố Hà Nội.
Về thời gian: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội
lãnh đạo KTĐN trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 2006. Sở dĩ chọn
năm 1986 là mốc thời gian bắt đầu nghiên cứu là vì đây năm diễn ra Đại hội Đảng
bộ Thành phố Hà Nội lần thứ X, mở ra thời kỳ đổi mới địa phương, trước hết là
đổi mới về tư duy kinh tế. Chọn thời gian kết thúc nghiên cứu là năm 2006 vì đây
là năm diễn ra Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XIV, tổng kết 20 năm đổi mới
5
của Thành phố Hà Nội, tạo tiền đề quan trọng để Hà Nội bước vào giai đoạn mới giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, nhất là năm 2007, Việt Nam nói
chung, Hà Nội nói riêng tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tuy
nhiên, trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận án có mở rộng thời gian nghiên
cứu trước năm 1986.
Thời kỳ 20 năm (1986 - 2006) nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố
Hà Nội đối với KTĐN được phân chia thành 2 giai đoạn tương thích với các nhiệm kỳ
Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội; đồng thời, phù hợp với sự phát triển KTĐN
dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong các khoảng thời gian đó. Cụ thể
như sau: Giai đoạn 1986 - 1995 là giai đoạn Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát
triển KTĐN trong lúc Hà Nội bị bao vây, cấm vận, kinh tế - xã hội vẫn còn khủng hoảng.
Giai đoạn 1996 - 2006, Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo KTĐN trong lúc Hà Nội
thoát khỏi bao vây, cấm vận, ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tích cực và chủ động
hội nhập quốc tế. Sở dĩ có sự khác nhau giữa hai giai đoạn này là do bối cảnh lịch sử tác
động. Trong đó, giai đoạn 1986 - 1995, Việt Nam bị Mỹ và các nước khác bao vây, cấm
vận, tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn; giai đoạn 1996 - 2006, Việt Nam
thoát khỏi bao vây cấm vận, gia nhập nhiều tổ chức kinh tế của khu vực và quốc tế như:
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 1995, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (1996), Diễn
đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (1998)… Hà Nội là Thủ đô của Việt
Nam, do đó mọi hoạt động trên của Việt Nam đều liên quan mật thiết đến sự phát triển
kinh tế của Thủ đô Hà Nội. Đây là cơ sở chính dẫn đến sự phân chia thành hai giai đoạn:
1986 - 1995 và 1996 - 2006.
4. Cơ sở lý luận, phƣơng pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam về KTĐN là cơ sở lý luận và phương pháp luận để giải quyết đề tài luận án.
h4.2. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận chung của chủ nghĩa Mác - Lênin, để hoàn thành mục
đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng rộng rãi các phương pháp phổ quát của
6
khoa học lịch sử như: phương pháp lịch sử, phương pháp logic và kết hợp chặt chẽ hai
phương pháp đó, đồng thời còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp
phân tích, tổng hợp, đối chiếu, thống kê, phương pháp chuyên gia... cụ thể:
Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và chương 3,
dùng trong phân kỳ các giai đoạn lịch sử 1986 - 1995; 1996 - 2006, quá trình hệ
thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, Đảng bộ Thành phố Hà Nội theo
tiến trình lịch sử trong từng chương, tiết để thấy rõ sự hình thành và phát triển
đường lối, chủ trương phát triển KTĐN; dùng trong chứng minh các nhận định và
khái quát lịch sử.
Phương pháp logic được sử dụng trong cả 4 chương của luận án: trong
chương 2 và chương 3 dùng để xâu chuỗi các sự kiện chủ yếu và khái quát lịch sử,
nêu bật những nội dung trọng tâm trong từng văn kiện, nghị quyết và liên kết các
nội dung đó để thấy được quá trình nhận thức, phát triển đường lối, chủ trương của
Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong lãnh đạo phát triển KTĐN; sử dụng trong khái
quát tiến trình chỉ đạo thực hiện chủ trương phát triển KTĐN của Đảng bộ Thành
phố Hà Nội trong từng chương, tiết. Đặc biệt được sử dụng chủ yếu trong chương 4
để khái quát, tổng kết lịch sử về ưu điểm, hạn chế và những kinh nghiệm rút ra từ
quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo phát triển KTĐN từ năm 1986 đến
năm 2006.
Bên cạnh đó, các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh…
được kết hợp sử dụng ở các chương để làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo phát triển
KTĐN của Đảng bộ thành phố trong từng giai đoạn lịch sử; những thành tựu đạt
được, những hạn chế, yếu kém cần khắc phục, nguyên nhân hạn chế và rút ra những
kinh nghiệm lịch sử trong quá trình Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo, chỉ đạo
phát triển KTĐN từ năm 1986 đến năm 2006.
4.3. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho tính khả thi của một luận
án. Để thực hiện luận án, tác giả dựa vào các nguồn tư liệu chủ yếu sau:
Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện của Đảng bộ Thành
phố Hà Nội về kinh tế, KTĐN.
7
Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập
hoặc liên quan đến đề tài được đăng tải trên sách, báo, tạp chí.
Một nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng trong quá trình nghiên cứu là các
Nghị quyết, Chỉ thị, Kế hoạch của Đảng bộ Thành phố Hà Nội trong lãnh đạo phát
triển KTĐN.
Báo cáo tổng kết của các cơ quan, sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố về
kinh tế, kinh tế - xã hội, KTĐN được lưu trữ ở Văn phòng Thành uỷ, Uỷ ban nhân
dân thành phố.
Kết quả nghiên cứu, tổng hợp của các đề tài khoa học có liên quan đã được
xã hội hóa.
Niên giám thống kê hàng năm.
5. Đóng góp khoa học của luận án
Một là, hệ thống hóa, phân tích, làm rõ những quan điểm, chủ trương và quá
trình chỉ đạo KTĐN của Đảng bộ Thành phố Hà Nội từ năm 1986 đến năm 2006;
qua đó, dựng lại một cách khách quan, khoa học bức tranh về KTĐN Hà Nội từ khi
bắt đầu đổi mới đến năm 2006.
Hai là, đúc rút những kinh nghiệm về sự lãnh đạo của Đảng bộ Thành phố
Hà Nội trong lãnh đạo KTĐN trên cơ sở những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân
hạn chế từ thực tiễn 20 năm lãnh đạo KTĐN.
Ba là, luận án có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ nghiên cứu những vấn đề
có liên quan.
6. Kết cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
án được kết cấu thành 4 chương, 8 tiết.
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo hoạt động kinh tế đối ngoại
từ năm 1986 đến năm 1995
Chương 3: Đảng bộ Thành phố Hà Nội lãnh đạo mở rộng và nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh tế đối ngoại từ năm 1996 đến năm 2006
Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm
8
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Trong tiến trình đổi mới đất nước, hoạt động KTĐN là một trong những yếu
tố quan trọng để đưa nền kinh tế Việt Nam phát triển, giúp Việt Nam hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế của thế giới. Do đó, KTĐN nói chung và KTĐN của Hà Nội
nói riêng đã trở thành một trong những chủ đề thu hút được sự quan tâm của đông
đảo các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu. Tổng quan các công trình nghiên cứu có
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đề tài, các công trình nghiên cứu về KTĐN
nói chung và KTĐN Hà Nội nói riêng được chia thành các nhóm tư liệu như sau:
1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh tế đối ngoại
Đối với nghiên cứu KTĐN về Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong nước và
quốc tế đã có các cuốn sách, bài báo viết về toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế
quốc tế và các hoạt động KTĐN:
Công trình “Kinh tế đối ngoại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Pháp, năm 1990 [97]. Tác giả đã làm rõ một số điều kiện của
môi trường kinh tế thế giới đối với KTĐN XHCN và điều kiện, khả năng của Việt
Nam để phát triển KTĐN. Tác giả làm rõ những hình thức hoạt động của KTĐN:
ngoại thương, hợp tác sản xuất quốc tế, hợp tác đầu tư nước ngoài, hợp tác khoa
học - kỹ thuật, du lịch, hợp tác tín dụng quốc tế, hợp tác lao động... Ngoài ra, tác
giả còn đề cập đến vấn đề thị trường và giá cả, vấn đề quản lý các hình thức hoạt
động của KTĐN.
Năm 1991, Hà Huy Toàn bảo vệ thành công Luận án Phó Tiến sĩ Kinh tế về
“Vai trò của kinh tế đối ngoại trong chiến lược phát triển kinh tế theo quan điểm hệ
thống” [181]. Trên cơ sở sử ,dụng cách tiếp cận hệ thống, tác giả đã làm sáng tỏ
chiến lược phát triển kinh tế của đất nước một cách tổng thể từ cơ cấu, đầu ra, đầu
vào, đến cơ chế và môi trường tồn tại. Bên cạnh đó, tác giả còn chứng minh: “Kinh
tế đối ngoại đóng vai trò mũi nhọn của phát triển kinh tế” [181, tr. 2]. Từ đó, tác giả
9
nhấn mạnh: KTĐN là “con đường chủ yếu để đưa đất nước thoát khỏi bế tắt và tiến
lên nhanh chóng, vững chắc” [181, tr. 2]. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những kiến
nghị và giải pháp để thực hiện đổi mới cơ chế quản lý KTĐN, nhằm đưa KTĐN
thực sự đóng vai trò mũi nhọn trong bối cảnh đổi mới đất nước.
Cũng trong năm 1991, tác giả Nguyễn Trần Quế biên soạn cuốn sách “Kinh
tế đối ngoại Việt Nam - Thực tiễn và chính sách” [108]. Tác giả đã khái quát sự
phát triển của KTĐN Việt Nam qua hai giai đoạn: trước 1976 và 1976 - 1991; phân
tích các nguồn lực phát triển KTĐN (dân số và lao động, cơ sở vật chất và kỹ thuật,
tài nguyên thiên nhiên...); bối cảnh quốc tế và kinh nghiệm của một số nước trên thế
giới; tập trung phân tích chính sách KTĐN Việt Nam với mục đích “tìm hiểu tình
hình phát triển kinh tế đối ngoại nước ta và những vấn đề liên quan đến cơ sở khoa
học và thực tiễn của hoạt động kinh tế đối ngoại, quản lý và hoạch định chính sách
kinh tế đối ngoại” [108, tr. 5].
Cuốn sách “Đổi mới hoạt động kinh tế đối ngoại Việt Nam” do Nguyễn Thế
Uẩn làm chủ biên, năm 1991 [187]. Cuốn sách đã đề cập đến thực trạng KTĐN Việt
Nam từ năm 1986 đến năm 1991; đổi mới hoạt động KTĐN Việt Nam; xác định
những phương hướng phát triển KTĐN trong thời kỳ đổi mới đất nước. Nhóm tác
giả cuốn sách đã chứng minh: “Trong thời đại ngày nay, khi mà trình độ quốc tế hóa
đời sống kinh tế ngày càng cao, thì không một quốc gia nào có thể tồn tại, chứ không
nói đến phát triển, nếu như thực hiện đường lối “đóng cửa”, không giao lưu kinh tế
với nước ngoài” [187, tr. 3].
Năm 1993, NXB Khoa học Xã hội xuất bản cuốn sách “Kinh tế đối ngoại:
Nghiên cứu so sánh các nước đang phát triển châu Á - Thái Bình Dương và Việt
Nam” của tác giả Đỗ Đức Định [54]. Trên cơ sở phân tích “ba mô hình, ba chiến
lược, bốn mức độ mở cửa” dựa trên sự tham khảo hoạt động KTĐN của ba nước
điển hình Hàn Quốc, Ấn Độ và Mianma, so sánh KTĐN Việt Nam với các nước
đang phát triển trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, tác giả đã đưa ra các
nhiệm vụ, chính sách và biện pháp phát triển KTĐN Việt Nam. Tác giả khẳng định:
“Muốn phát triển kinh tế nhanh, nền kinh tế cần phải có đầu tàu. Xét theo ngành,
kinh tế đối ngoại là đầu tàu. Xét theo vùng, một số tỉnh miền Nam, các thành phố
10
lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng và vùng ven biển là đầu tàu cả
nước” [54, tr. 131]; đồng thời, tác giả nhấn mạnh: “Để kinh doanh có hiệu quả, phải
phát triển kinh tế thị trường. Muốn có một nền kinh tế thị trường phát triển, phải mở
cửa và mở cửa mạnh. Để mở cửa được thông suốt, mang lại hiệu quả cao, nhưng
tránh không gây lộn xộn hoặc không bị ách tắc, cần tránh hai thái cực: tự do thương
mại và bảo hộ mậu dịch ở mức cao” [54, tr. 131].
Công trình “Đổi mới kinh tế Việt Nam và chính sách kinh tế đối ngoại” của
nhóm tác giả Viện Kinh tế Thế giới, do Võ Đại Lược làm chủ biên, năm 1995 [91].
Nhóm tác giả phác họa bức tranh tổng quát về quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam
từ những năm 80 của thế kỷ XX đến năm 1995; phân tích các kế hoạch phát triển
kinh tế (các kế hoạch 5 năm) từ năm 1981 đến năm 2000, chiến lược ổn định, phát
triển kinh tế - xã hội từ năm 1991 đến năm 2010 và chiến lược phát triển các vùng
kinh tế đến năm 2010; phân tích các khu vực sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
chế biến; phân tích vai trò viện trợ nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế Việt
Nam; phân tích vai trò của FDI đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam; phân tích
quan hệ thương mại Việt Nam với khu vực châu Á - Thái Bình Dương; lập pháp
trong chính sách đổi mới.
Chính sách KTĐN của các nước phát triển trên thế giới tác động mạnh mẽ
đến chính sách KTĐN của Việt Nam. Luận điểm này thể hiện rõ thông qua cuốn
sách “Chính sách kinh tế đối ngoại - Lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế” do tác giả
Tô Xuân Dần làm chủ biên, năm 1998 [33]. Nhóm tác giả đã trình bày tổng quan về
chính sách KTĐN của các quốc gia (cơ sở của chính sách, nguyên tắc, xu hướng cơ
bản của KTĐN); chính sách KTĐN của nhóm NICs, Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn
Độ, Mỹ và một số nước châu Âu; làm rõ sự hình thành, phát triển của chính sách
KTĐN, những đặc điểm trong chính sách KTĐN ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, nhóm
tác giả đã đưa ra những kinh nghiệm vận dụng để hoàn thiện chính sách KTĐN của
Việt Nam.
Thông qua công trình “Quản lý kinh tế đối ngoại của Việt Nam” được xuất
bản năm 2001 [51], tác giả Thế Đạt đã lý giải những nguyên nhân dẫn đến kinh tế
quốc dân của từng nước phải tham gia lĩnh vực KTĐN. Bên cạnh đó, tác giả còn đề
11
cập đến hai lĩnh vực quan trọng trong KTĐN (thương mại và đầu tư quốc tế) về chức
năng, hoạt động, thành tựu và hạn chế; sự quản lý nhà nước đối với KTĐN trên lĩnh
vực thương mại và lĩnh vực hợp tác quốc tế về đầu tư sản xuất và dịch vụ.
Đề cập đến tác động của xu thế toàn cầu hóa đối với KTĐN, năm 2002, tác
giả Lê Thanh Bình có biên soạn cuốn sách “Kinh tế đối ngoại trong bối cảnh toàn
cầu hoá” [25]. Tác giả đã tập trung trình bày tác động của xu thế toàn cầu hóa trong
các vấn đề: Đầu tư nước ngoài; tự do hóa thương mại và phát triển ngoại thương;
mở rộng hợp tác và chuyển giao khoa học công nghệ; các hoạt động phát triển du
lịch... Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra một số nhân tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển
KTĐN dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa như: Sức ép chính trị đòi hỏi mức
sống cao hơn; sự cải cách những chính sách kinh tế vĩ mô; buôn bán và đầu tư ngày
càng tăng; sự bùng nổ của côrghfng nghệ thông tin; khu vực kinh tế tư nhân ngày
càng năng động.k
Năm 2003, tác giả Đỗ Đức Định làm chủ biên của cuốn sách với nhan đề
“Kinh tế đối ngoại: Xu hướng điều chỉnh chính sách ở một số nước châu Á trong bối
cảnh toàn cầu hóa và tự do hoá” [55]. Tập thể tác giả cuốn sách đã tập trung phân
tích quá trình hình thành, phát triển và những nội dung quan trọng về KTĐN, chủ yếu
của ba loại quan điểm và lý thuyết về cấu trúc luận, thuyết tự do mới và toàn cầu hoá;
đưa ra những xu hướng và nội dung chủ yếu của sự chuyển đổi chính sách KTĐN ở
một số quốc gia hoặc vùng lãnh thổ như: Hàn Quốc, Đài Loan, Philippin, Malaysia,
Ấn Độ và Thái Lan; phân tích những điều chỉnh chính sách KTĐN phù hợp với việc
điều chỉnh chiến lược CNH theo hướng phát huy lợi thế so sánh động. Trên cơ sở đó,
các tác giả nhấn mạnh: “Xu hướng toàn cầu hóa ngày nay đã kéo theo sự tham gia
của hầu hết các nền kinh tế mở. Trong xu thế đó, nếu các quốc gia không tự điều
chỉnh chính mình, thực hiện chính sách thương mại hợp lý, chủ động đưa ra những
chiến lược hội nhập phù hợp để tiến hành hội nhập toàn cầu thì khó có thể hạn chế
được những tác động tiêu cực và phát huy được những tác động tích cực của quá trình
toàn cầu hóa của chính mình” [55, tr. 375].
Năm 2005, NXB Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách “Đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Trần Xuân Tùng
12
[185]. Tác giả đã đề cập đến vai trò, vị trí khách quan của FDI đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội ở Việt Nam; làm nổi bật những thành công, cũng như hạn chế chủ
yếu trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất
một số giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy thu hút mạnh hơn và sử dụng hiệu quả hơn
nguồn vốn này như: Rà soát toàn bộ chủ trương, chính sách, danh mục dự án kêu
gọi FDI giai đoạn 2001 - 2005; cải tiến thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu tư
nước ngoài; thực hiện lộ trình giảm chi phí đầu tư; đa dạng hóa các hình thức đầu tư
tích cực thí điểm các hình thức mới; đẩy mạnh hoạt động vận động, xúc tiến đầu tư
cả trong nước và ở ngoài nước; giải quyết giữa nhận thức và điều hành của cán bộ
nhằm tạo ra lòng tin, uy tín với các nhà đầu tư nước ngoài [185, tr. 251 - 255].
Trong cuốn sách “Kinh tế đối ngoại Việt Nam” [59], năm 2007, tác giả Phan
Huy Đường đã đề cập đến quan hệ KTĐN trong nền kinh tế thế giới; tóm tắt sự phát
triển của KTĐN Việt Nam qua các giai đoạn: trước - 1986, 1986 - 1992, 1992 2007, từ đó đưa ra những thành tựu và hạn chế trong phát triển KTĐN; xác định
những định hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm mở rộng, phát triển KTĐN
Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá “Kinh tế đối ngoại đóng vai trò hết sức
quan trọng trong sự phát triển kinh tế, khoa học công nghệ và tham gia tích cực vào
phân công lao động, nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn lực của mỗi quốc gia,
góp phần phát triển kinh tế - xã hội và sự tiến bộ của mỗi nước” [59, tr. 9]. Tác giả
nhấn mạnh vai trò của Nhà nước trong việc nhận thức đúng đắn về vai trò của
KTĐN và kịp thời có những chính sách phù hợp, dựa trên nguyên tắc tôn trọng,
bình đẳng, cùng có lợi, làm hoạt động KTĐN đạt được những thành tựu to lớn thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động xuất nhập khẩu, hợp tác chuyển giao công
nghệ, du lịch, dịch vụ... đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng kinh tế nhanh, cải
thiện đời sống nhân dân, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và không ngừng
củng cố vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế [59, tr. 9].
Cuốn sách “Kinh tế đối ngoại - Những nguyên lý và vận dụng tại Việt Nam”
của tác giả Hà Thị Ngọc Oanh, năm 2007 [96] đã đề cập đến những vấn đề chung
của KTĐN (khái niệm một số lĩnh vực cơ bản của KTĐN, nguyên nhân phải phát
triển KTĐN, tình hình kinh tế ở một số khu vực trên thế giới, vị trí của KTĐN
13
trong công cuộc phát triển kinh tế ở Việt Nam); làm sáng tỏ những nguyên lý và
kinh nghiệm của một số nước, tổ chức kinh tế quốc tế về hoạt động thương mại,
đầu tư quốc tế trong phát triển kinh tế. Về hoạt động thương mại, tác giả đã đề cập
đến những học thuyết thương mại quốc tế, chính sách ngoại thương và các biện
pháp thực hiện, liên kết kinh tế quốc tế, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam,
Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, thương mại dịch vụ... Về đầu tư quốc tế, tác giả
đề cập đến môi trường đầu tư, nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế, các hình
thức đầu tư quốc tế, các khu kinh tế có liên quan đến đầu tư quốc tế, viện trợ quốc
tế và tình hình đầu tư quốc tế ở Việt Nam.
Công trình nghiên cứu về KTĐN rất đa dạng, phong phú, không chỉ thể hiện
qua các công trình in thành sách, công trình luận án, mà còn thể hiện qua nhiều bài
viết tiêu biểu đăng trên các bài báo, tạp chí khoa học.
Năm 2005, tác giả Nguyễn Dy Niên có bài viết “Ngoại giao Việt Nam trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” [95]. Tác giả đã làm rõ những chủ trương và
chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế; vai trò của ngoại giao
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế đất nước; phục dựng lại
những nét cơ bản về hoạt động ngoại giao phục vụ cho phát triển kinh tế (thành tựu
và thách thức) của Nhà nước; đưa ra những phương hướng ngoại giao phù hợp, đúng
đắn đẩy mạnh hoạt động ngoại giao phục vụ cho kinh tế. Tác giả nhấn mạnh: Hoạt
động ngoại giao của mọi quốc gia luôn nhằm ba mục tiêu cơ bản là “bảo vệ độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; tranh thủ và tạo những điều kiện quốc tế thuận lợi
để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế.
Ba mục tiêu này liên quan mật thiết với nhau, tác động qua lại, tạo nên một thể thống
nhất nhằm phát triển đất nước, trong đó phát triển kinh tế là nhiệm vụ đóng vai trò
hết sức quan trọng” [95, tr. 12]. Chính vì thế, ngoại giao đã trở thành “tuyến đầu”
trong sự phát triển kinh tế đất nước nói chung, KTĐN nói riêng [95, tr. 17].
Trong bài viết “Kinh tế Việt Nam trong xu thế phát triển của kinh tế khu vực
và thế giới” [186] được công bố năm 2005, tác giả Trần Nguyễn Tuyên đã xác định
những yếu tố thuận lợi và khó khăn đối với hoạt động KTĐN. Trong đó, tác giả
nhấn mạnh: Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế “đã làm tăng thêm
14
cơ hội phát triển cho các quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển. Bên cạnh
đó, quá trình này cũng làm tăng thêm độ không ổn định và dễ bị tổn thương của các
nền kinh tế ở các nước đang phát triển trước sức ép của quá trình toàn cầu hóa kinh
tế” [186, tr. 2]. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy yếu
tố thuận lợi và hạn chế yếu tố khó khăn. Một là, gắn quá trình hội nhập với cải cách
về thể chế, xây dựng môi trường pháp lý, chính sách minh bạch, công khai, dễ thực
hiện. Hai là, cải thiện nhanh môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư để thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài, thống nhất quy định pháp lý giữa đầu tư trong nước và
đầu tư nước ngoài... Ba là, phối hợp hành động giữa các nước đang phát triển trên
cơ sở thống nhất lợi ích trong các vòng đàm phán thương mại quốc tế với các nước
phát triển... [186, tr. 5].
Trong bài viết “Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam thời kỳ đổi mới
1988 - 2005”, năm 2007 [106], tác giả Từ Quang Phương đã xác định vai trò, vị trí
của đầu tư trực tiếp nước ngoài là một “nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư
phát triển”, “giữ vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia
trong điều kiện toàn cầu hoá” [106, tr. 5]. Bên cạnh đó, tác giả còn đánh giá thực
trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ 1988 - 2005. Trên cơ sở đó, tác
giả nêu ra những thành công và hạn chế chủ yếu trong thu hút nguồn vốn đầu tư nước
ngoài, từ đó rút ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả
nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Năm 2007, Tạp chí Kinh tế và Phát triển đã đăng tải bài viết “Phát triển lĩnh
vực kinh tế đối ngoại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả
Nguyễn Thường Lạng [79]. Tác giả đã đưa ra một số quan niệm về lĩnh vực KTĐN.
Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh: Lĩnh vực KTĐN là “một lĩnh vực hết sức đa dạng,
thường xuyên biến động và là động lực quan trọng hàng đầu thúc đẩy nền kinh tế
Việt Nam theo hướng hội nhập hiện nay” [79, tr. 3]. Ngoài ra, tác giả còn đánh giá
vai trò, vị trí của lĩnh vực KTĐN. “Sự phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại thúc đẩy
kinh tế trong nước phát triển và sự phát triển các quan hệ kinh tế trong nước tạo đà
cho sự phát triển của lĩnh vực kinh tế đối ngoại. Việc phát triển mạnh của lĩnh vực
kinh tế đối ngoại làm cho nền kinh tế đất nước trở thành một mắt khâu quan trọng
15
trong chuỗi giá trị toàn cầu và do đó, sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu làm tăng giá trị
nền kinh tế” [79, tr. 3]. Tác giả đã tóm tắt tình hình phát triển KTĐN Việt Nam về
hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài và chuyển giao khoa học công nghệ,
xuất - nhập khẩu lao động, các dịch vụ thu ngoại tệ và tổ chức bộ máy quản lý từ
năm 1986 đến năm 2006. Từ đó, tác giả đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm
phát triển KTĐN Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế: Một là, khẩn
trương xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển KTĐN phù hợp với những cam
kết quốc tế; hai là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách và pháp luật điều chỉnh
quan hệ KTĐN Việt Nam tương thích với thông lệ quốc tế, triệt để tôn trong các
nguyên tắc tự do hóa, minh bạch và công bằng trong quan hệ KTĐN; ba là, tiến
hành nâng cấp cơ sở hạ tầng nền kinh tế phục vụ cho các giao dịch đối ngoại, đặc
biệt là hệ thống sân bay, bến cảng, đường giao thông...; bốn là, cần đẩy mạnh công
cuộc cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hiệu lực bộ máy quản lý với cơ cấu
gọn nhẹ, cơ chế năng động và đội ngũ công chức có đủ phẩm chất, năng lực cần
thiết [79, tr. 6].
Bài viết “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Phan Hồng Giang, năm 2007
[61] đã đề cập đến những thành công và hạn chế xúc tiến thương mại; đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại do Chính phủ
và các tổ chức xúc tiến thương mại phi Chính phủ thực hiện. Trong đó, tác giả tập
trung đến một số giải pháp về hoàn thiện khung khổ pháp lý về xúc tiến thương mại
và giải pháp về đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động xúc tiến thương
mại, hoàn thiện hệ thống xúc tiến thương mại và tạo lập nguồn ngân sách cho hoạt
động xúc tiến thương mại [61, tr. 4 - 7].
Đề cập xung quanh đến vấn đề vàng và kiều hối, năm 2007, tác giả Hoàng
Xuân Quế có bài viết “Vai trò của vàng và kiều hối trong điều hành chính sách
tiền tệ ở nước ta hiện nay” [109]. Tác giả nhấn mạnh: “Trong những năm gần đây,
lượng vàng và kiều hối trong nước tăng nhanh, buộc các nhà hoạch định chính
sách, đặc biệt là chính sách tiền tệ phải có cái nhìn toàn diện hơn, lượng hóa các
tác động trực tiếp và gián tiếp của chúng để có các quyết định phù hợp hơn” [109,
16
tr. 11]. Bằng phương pháp thống kê, so sánh và logic, tác giả đã làm rõ sự phát
triển của lượng vàng và kiều hối ở Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2006; giải
thích xu hướng tăng nhanh lượng vàng và kiều hối tại Việt Nam; trình bày những
cơ hội và thách thức, khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội do lượng vàng và
kiều hối tăng nhanh.
Khi đề cập đến vấn đề xuất nhập khẩu trong KTĐN, trong bài viết “Tác động
của hội nhập quốc tế vào hoạt động xuất khẩu của Việt Nam: Phân tích mô hình sức
hút”, năm 2007 [94], tác giả Phan Thị Nhiệm đã phân tích “mô hình sức hút”
(gravity model), làm sáng tỏ những nhân tố tác động đến các mặt hàng xuất khẩu;
mức độ ảnh hưởng của các hàng rào thương mại của các nước nhập khẩu tới các
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam; đưa ra cách nhìn khoa học về tác động của Hiệp
định thương mại Việt Mỹ và Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
đến các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Đề cập đến sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, năm 2007, tác
giả Từ Quang Phương có bài viết “Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA) tại Việt Nam” [105]. Bài viết đã đánh giá: ODA “là
nguồn lực rất quan trọng để đầu tư phát triển kinh tế xã hội” [105, tr. 6]. Bên cạnh
đề cập đến những thành tựu, tác giả đã đề cập những hạn chế trong sử dụng vốn
ODA ở Việt Nam trong những năm 1993 - 2005. Đó là: Khuôn khổ pháp lý về quản
lý và sử dụng ODA còn nhiều bất cập; công tác giám sát, đánh giá, rút kinh nghiệm
còn một cách tổng thể, đo lường hiệu quả sử dụng và công tác xác định nguồn trả
nợ chưa được quan tâm đúng mức mà mới chủ yếu tập trung thu hút ODA; công tác
tổ chức quản lý ODA, năng lực cán bộ còn nhiều yếu kém; nhận thức của một bộ
phận cán bộ chưa đúng về nguồn vốn ODA... [105, tr. 7]. Từ đó, tác giả đã rút ra
một số giải pháp tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay ODA từ
năm 2006 đến năm 2010: cần thống nhất và nâng cao nhận thức về bản chất của
nguồn vốn ODA; tăng cường vận động nhằm thu hút nguồn vốn ODA phải gắn liền,
chặt chẽ với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn; nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn vốn ODA cần gắn liền và phục vụ chiến lược tăng trưởng và phát triển bền
vững; xây dựng kế hoạch, chủ động giảm dần vay ODA, trước hết là bộ phận vốn
17
vay gắn với các điều kiện ràng buộc; tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách
quản lý nhà nước đối với nguồn vốn ODA; tổ chức ban quản lý dự án có hiệu quả...
Đề cập đến vấn đề thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, năm 2008, tác giả
Phương Ngọc Hà có bài viết “Thu hút đầu tư của Nhật Bản vào nước ta và giải pháp
phát triển công nghiệp phụ trợ” [62]. Tác giả đã đề cập đến thực trạng thu hút đầu tư
của Nhật Bản vào Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2007 về địa bàn đầu tư, quy mô đầu
tư, cơ cấu đầu tư và hình thức đầu tư. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp
nhằm phát triển công nghiệp phụ trợ. Trong đó, một giải pháp cơ bản và quyết định là
“Việt Nam cần giải quyết sớm bài toán phát triển công nghiệp phụ trợ cùng với việc
tháo gỡ các vướng mắc khác tồn tại trong ngành này” [62, tr. 40].
Những công trình liên quan đến KTĐN Việt Nam rất đa dạng phong phú.
Các công trình trên đã phân tích với nhiều khía cạnh của KTĐN (thương mại, hợp tác
đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ, dịch vụ, du lịch...), với những góc độ nghiên
cứu khác nhau (khoa học quản lý, lịch sử, kinh tế học...), trên hai phương diện chính
cái chung (Chính sách kinh tế ở tầm vĩ mô) và cái riêng (chính sách KTĐN). Bên cạnh
đó, các công trình trên còn đề cập đến thực trạng hoạt động KTĐN, thành tựu và hạn
chế trong hoạt động KTĐN của Nhà nước, đề ra những biện pháp và chính sách phát
triển KTĐN; vận dụng những kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chính sách phát triển
KTĐN của nhiều nước trên thế giới (Mỹ, các nước châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái
Lan...); làm rõ những nhân tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách KTĐN. Đặc biệt,
hầu như tất cả các công trình đều đề cập đến vai trò, vị trí của KTĐN đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội, là yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia, bảo vệ
độc lập, chủ quyền của quốc gia. Các công trình nghiên cứu trên đã luôn nhấn mạnh
tính tất yếu phải phát triển KTĐN trong quá trình hội nhập quốc tế và công cuộc CNH,
HĐH đất nước của Việt Nam.
1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động kinh tế đối ngoại
Trong công trình “Kinh tế đối ngoại Việt Nam” [142], năm 1994, tác giả Vũ
Phạm Quyết Thắng đã làm rõ một số tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Đảng trong
chính sách KTĐN của Việt Nam (tư duy về KTĐN, quan điểm “vừa sức” trong quá
18