CHƯƠNG : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO HIỂM
1.
Khái niệm, đặc điểm ba hình thái phát triển của Bảo hiểm
Luật kinh doanh Bảo hiểm của Việt Nam 09/12/2000 thì kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh
nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo
hiểm, trên cơ sở mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ
hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm . Như vậy: Bảo hiểm là một sự
cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng
bảo hiểm do một rủi ro đã thỏa thuận gây ra, với một điều kiện là người được bảo hiểm đã thuê bảo hiểm cho
đối tượng bảo hiểm đó và nộp một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm.
Các hình thái bảo hiểm:
Dự trữ thuần túy: hình thức lập ra một quỹ lương thực, đồ dùng, tiền,..) nhằm phòng cho những lúc
rủi ro có thể xảy ra, hay còn gọi là hình thức tự bảo hiểm. Xuất hiện từ rất lâu và vẫn còn được sử dụng
hiện nay
Cho vay nặng lãi: Cùng với sự mở rộng thương mại và buôn bán giữa các quốc gia, các vùng, các châu
lục hệ thống cho vay bắt đầu phát triển. hệ thống vay mượn tiền đã ra đời để mua và vận chuyển hàng
hóa, nhưng với nhược điểm lớn là lãi xuất rất cao và yêu cầu trả trước, các hội tôn giáo đã ngăn chặn
hoạt động cho vay nặng lãi, nhưng nhu cầu cần tiền và cần sự đảm bảo cho việc vận chuyển hàng hóa,
nhất là khi việc mua bán ngày càng phát triển và mang lại lợi nhuận lớn, hình thái bảo hiểm thứ 3 ra
đời.
Thỏa thuận ràng buộc trách nhiệm: để giải quyết nhu cầu cần tiền và giảm thiểu thiệt hại lớn xảy ra
trong quá trình vận chuyển cho các nhà buôn, hình thức bảo hiểm ràng buộc trách nhiệm tồn tại với
hai dạng
Hình thức cổ phần:Mỗi chuyến hàng do nhiều người góp vốn và chịu trách nhiệm theo phần góp, vì vậy
nếu rủi ro xảy ra thiệt hại sẽ được chia đều cho tất cả. giảm gánh nặng tổn thất nhưng mất thời gian
kêu gọi góp cổ phần, khó khăn khi thỏa thuận chia sẽ trách nhiệm và quyền lợi.
Hình thức bảo hiểm:gắn liền với hoạt động giao lưu buôn bán hàng hóa bằng đường biển. bảo hiểm
hàng hải là loại bảo hiểm đầu tiên. Sau đó nhiều loại bảo hiểm khác lần lượt ra đời.
Ngày nay bảo hiểm gắn chặt trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội. ngành bảo hiểm thương mại đang
giữ vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nhiều quốc gia đặc biệt là những nước phát triển.
2. Bản chất của bảo hiểm
Thực chất của bảo hiểm là việc phân chia tổn thất của một hoặc một số người cho tất cả những người tham
gia bảo hiểm cùng chịu, tức là lấy số đông bù cho số ít người bị thiệt hại nhằm giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế
của từng cá nhân hay đơn vị gặp rủi ro. Là mối quan hệ giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm, giữ tổng
thể các mối quan hệ giữ người được bảo hiểm trong cộng đồng xoay quanh việc hình thành và sử dụng quỹ bảo
hiểm.
Bảo hiểm là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
dưới hình thái giá trị, nhằm hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm cho mục đích bù đắp tổn thất do rủi ro bất
ngờ xảy ra với người được bảo hiểm quá trình tái sản xuất được thường xuyên liên tục.
3. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm
Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn: Bảo hiểm sự rủi ro như tai nạn, tai họa xảy
ra 1 cách bất ngờ ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người. Không bảo hiểm một điều chắc chắn sẽ xảy ra,
đương nhiên sẽ xảy ra, nằm trong ý muốn của con người.
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: tất cả giao dịch kinh doanh đều thực hiện trên cơ sở tin cậy và trung thực,
trong bảo hiểm, điều này thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ. Mỗi bên chịu trách nhiệm về tính chính xác,
trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia. Người bảo hiểm phải công khai những điều kiện nguyên tắc, thể
lệ, giá cả,… cho người được bảo hiểm biết. Ngược lại người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết
liên quan đến đối tượng bảo hiểm, thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro và
những mối nguy hại làm tăng rủi ro mà mình biết hoặc đáng lẽ phải biết, không được trục lợi bảo hiểm.
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: (hay lợi ích bảo hiểm) lá quyền sở hữu, chiếm hữu, quyền sử
dụng, quyền tài sản: quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm. người được bảo
hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm.
Nguyên tắc bồi thường: số tiền bảo hiểm mà một công ty bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm trong một
rủi ro được bảo hiểm không vượt quá số tiền bảo hiểm và không được lớn hơn thiệt hại thực tế
Nguyên tắc thế quyền: người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt
người được bảo hiểm đòi người thứ ba có trách nhiệm bồi thường cho mình, các khoản thu bồi thường thiệt
hại đó đều thuộc về người bảo hiểm. số tiền bồi thường càng lớn thì việc áp dụng nguyên tắc thế quyền càng có
ý nghĩa và người bảo hiểm không được phép thu nhiều hơn số tiền họ đã bồi thường cho người được bảo hiểm.
Nguyên tắc số đông (nguyên tắc cơ bản nhất) quy luật số lớn là cơ sở khoa học quan trông của bảo hiểm,
quy luật này giúp các công ty bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí vả quản lý
các quỹ dự phòng chi trả
4. Các loại hình khác nhau của bảo hiểm
Căn cứ theo cơ chế hoạt động:
Bảo hiểm xã hội: bh của nhà nước, đoàn thể xã hội cấp cho viên chức, công nhân viên,… trong
trường hợp bị ốm đau, tai nạn, hưu trí. Loại hình bh ra đời sớm và thực hiện hầu hết các nước
trên TG. Có tính chất khác biệt:
o
Bắt buộc
o
Hoạt động theo quy luật chung
o
Không tính đến rủi ro cụ thể
o
Không nhằm mục đích kinh doanh
Bảo hiểm xã hội ở nước ta gồm 5 chế độ: Trợ cấp ốm đau, trợ cấp thai sản, trợ cấp tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp, trợ cấp hưu trí, trợ cấp tử tuất.
Bảo hiểm thương mại:
o
mang tính chất kinh doanh kiếm lời
o
không bắt buộc, tính đến tường đối tượng
Căn cứ theo tính chất:
Bảo hiểm nhân thọ: bh những rủi ro liên quan đến sinh mạng, cuộc sống, sức khỏe của con
người, bh cho trường hợp sống hoặc chết, bh tính mạng hay sức khỏe cho con người nhằm bù
đắp cho người dc bảo hiểm một khoản tiền khi hết thời hạn bảo hiểm hoặc khi người dc bh chết
hay bị thương. Gồm các nghiệp vụ: bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ, bảo
hiểm hỗn hợp, bảo hiểm trả tiền định kỳ.
Bảo hiểm phi nhân thọ: loại nghiệp vụ bh bảo vệ tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiệp vụ
bh khác không thuộc bh nhân thọ. Gồm: bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
đường bộ, đưởng biển/sông, đường sắt, đường không,. Bảo hiểm hàng không, xe cơ giới, bảo
hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu bay và trách nhiệm dân sự của chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm
chung, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm nông
nghiệp,…
Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm:
Bảo hiểm con người: đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn của con
người. bao gồm các loại bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn, bảo hiểm an sinh giáo
dục,…
Bảo hiểm tài sản: đối tượng bảo hiểm là tài sản cố định hoặc lưu động của người được bảo
hiểm bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá trị bằng tiền và các quyền tài sản. có ba loại bảo
hiểm tài sản là hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị, hợp đồng bảo hiểm tài sản dưới giá trị,
hợp đồng bảo hiểm trùng.
Căn cứ theo quy định của pháp luật:
Bảo hiểm bắt buộc: là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, số tiền bảo
hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ
thực hiện, chỉ áp dụng với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an
toàn xã hội.
Bảo hiểm không bắt buộc: loại không thuộc bảo hiểm bắt buộc.
5. Thị trường bảo hiểm Lloyd’soyd’s
Lloyd’s ban đầu là một quán cà phê nhỏ ở Anh, thuộc sở hữu của ông Edward Lloyd’s. Các thương
nhân, chủ tàu, nhà bảo hiểm đã chọn quán cà phê này để gặp gỡ và tìm hiểu thông tin, làm thủ tục bảo hiểm cho
các con tàu và hàng hóa của mình.
1774, các thành viên của Lloyd’s chuyển trụ sở về sở giao dịch hoàng gia.
1928-1958 Lloyd’s chuyển trụ sở về phố leadenhaLloyd’s
1958-nay Lloyd’s đóng trụ sở tại thành phố Lime. London và là một đế chế bảo hiểm hùng mạnh bao
gồm nhiều lĩnh vực như hàng hải, hàng không, thiên tai, tai nạn nghề nghiệp,… các công ty hàng đầu thế giới ở
nhiều lĩnh vực đều là khách hàng của Lloyd’s.
Lloyd’s là một thị trường bảo hiểm với các thành viên bao gồm cả pháp nhân và thể nhân của mình.
Hiệp hội thị trường Lloyd’s được thành lập năm
, các thanh viên của Lloyd’s thực hiện giao dịch
bảo hiểm thông qua 93 nghiệp đoàn. Ngoài ra còn có
công ty môi giới bảo hiểm được Lloyd’s chứng nhận,
nhiều công ty chuyên sâu về từng lĩnh vực khác nhau.
Với tổng giá trị tài sản hơn 5 tỷ doLloyd’sar hàng năm Lloyd’s nhận bảo hiểm với tổng giá trị của hợp
đồng lên tới 25 tỷ doLloyd’sar.
Ngày nay Lloyd’s đã trở thành một thị trường bảo hiểm lốn nhất thế giới và hầu như có thể bảo hiểm
mọi thứ.
Bảo hiểm hàng không của Lloyd’s
Bảo hiểm hàng không lần đầu tiên được giới thiệu trong những năm đầu của thế kỷ 20. Chính sách bảo
hiểm hàng không đầu tiên được viết bởi Lloyd's of London vào năm 1911. Chiến tranh luôn đóng một vai trò
quan trọng trong sự phát triển của bảo hiểm cũng như về tiến bộ kỹ thuật của nó. Chiến tranh thế giới thứ nhất
đẩy nhanh sự phát triển của thiết kế máy bay và xây dựng. Nhưng mãi cho đến khi kết thúc thế giới thứ hai,
ngành hàng không mới thành hiện thực.
Trong khi tổ chức hàng hải Lloyd's of London đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp và phát
triển bảo hiểm hàng không giữa các cuộc chiến tranh, việc mở rộng ngành công nghiệp hàng không với mức độ
công nghệ cao và ngày càng có nhiều tai nạn tốn kém đã dẫn đến sự xuất hiện của một thị trường chuyên về tất
cả các rủi ro hàng không, với ngoại lệ chung của hàng hoá, được bảo hiểm.
Hầu hết các chính sách được ban hành trên cơ sở "tất cả các rủi ro" bao gồm máy bay (thân tàu), trách
nhiệm của hành khách và trách nhiệm pháp lý đối với người khác, phải tuân theo những hạn chế nhất định.
Những người mua các chính sách này bao gồm từ các hãng hàng không thương mại lớn và các chủ sở hữu máy
bay công ty hoặc kinh doanh cho chủ sở hữu tư nhân và các câu lạc bộ bay.
Trách nhiệm đối với tai nạn cho hành khách được điều chỉnh bởi một số thỏa thuận quốc tế và luật pháp
quốc gia. Những điều chính là Công ước Warsaw năm
đã làm cho những người ký có thể bị buộc phải
chịu trách nhiệm với hành khách mà không có sự sơ suất nhưng phải tuân thủ một số giới hạn về tiền tệ; và,
Nghị định thư Hague
mục Chiến tranh đã đưa ra một số giới hạn này. Kể từ đó, các hiệp định quốc tế khác
đã được ký. Các luật quốc gia riêng lẻ có thể áp đặt các giới hạn cao hơn cho các chuyến bay nội địa.
Những nhóm người khác đòi hỏi phải có trách nhiệm về hàng không bao gồm các nhà sản xuất hàng không,
các nhà sản xuất máy bay và các cơ quan sân bay.
Các hiệp định quốc tế cũng đưa ra các giới hạn về trách nhiệm đối với hàng hoá vận chuyển bằng đường
hàng không. Nếu không có rủi ro đặc biệt hoặc giá trị, hàng hoá thường được bảo hiểm trong các thị trường
"tất cả rủi ro" trên biển hoặc nói chung chứ không phải trên thị trường hàng không.
Chuyến bay Hoa Kỳ năm
đã được viết tắt khi rớt xuống dòng nước Hudson
Thị trường bảo hiểm London vẫn là trung tâm bảo hiểm hàng không lớn nhất. Thị trường được làm từ tiêu
chuẩn Lloyd's of London syndicates và các thị trường bảo hiểm truyền thống đa dạng khác nhau. Trong suốt
phần còn lại của thế giới, có nhiều thị trường quốc gia được thành lập ở nhiều nước, mỗi người phụ thuộc vào
hoạt động hàng không ở mỗi quãng đường. Hoa Kỳ bao gồm một phần lớn trong đội tàu hàng không chung của
thế giới và bao gồm một thị trường lớn được thành lập. Theo báo cáo năm
của GAMA, có 362.000 máy
bay hàng không tổng hợp trên toàn thế giới, và 199.000 (hoặc khoảng 55%) chủ yếu dựa vào u. S..
Không một công ty bảo hiểm nào có các nguồn lực để duy trì một nguy cơ về quy mô của một hãng hàng
không quan trọng, hoặc thậm chí một tỷ lệ đáng kể rủi ro như vậy. Bản chất thảm khốc của bảo hiểm hàng
không sẽ được đo lường trong nhiều khoản thua lỗ mà các hãng bảo hiểm có giá trị khác nhau rất nhiều các tổn
thất khác nhau (Tai nạn hàng không và sự cố). Hầu hết các hãng hàng không đều bố trí "chính sách hạm đội" để
che đậy tất cả các nghề mà họ sở hữu hoặc vận hành.
Vụ gian lận bảo hiểm là hành động tiêu cực của hành khách tự tử để chở hàng không Pacific Air Lines 773,
Continental Airlines Flight 11 và hãng hàng không quốc gia 2511
Các tuyên bố về bảo hiểm hàng không đã tăng lên sau chuỗi thảm hoạ, theo Lloyd's
Các tổn thất của các chuyến bay Malaysia Airlines MH
tăng gấp 10 lần phí bảo hiểm
và MH
đóng góp vào các khoản bồi thường
Các công ty bảo hiểm của Lloyd đã trả tiền cho việc mất chuyến bay MH
có nhiều thảm họa hơn.
, nhưng trong
tháng qua, đã
Sự sụp đổ của chuyến bay MH370 của hãng hàng không Malays Airlines và các tổn thất khác trong năm
nay đã làm tăng yêu cầu bảo hiểm hàng không gấp 10 lần phí bảo hiểm hàng năm, Lloyd's của London cho biết.
Thị trường bảo hiểm lớn nhất thế giới cho biết, phí bảo hiểm toàn cầu để bảo vệ máy bay và các tài sản
hàng không khác khoảng 65 triệu đô la một năm nhưng những yêu cầu bồi thường có thể đã lên tới hơn
triệu đô la.
Chủ tịch Lloyd, John Nelson, và giám đốc điều hành, Inga Beale, nói trong một tuyên bố: "Các tuyên bố đáng
chú ý nhất đã xuất hiện từ tỷ lệ cao bất thường của tổn thất hàng không, bất ngờ và bi thảm.
Một chiếc Malaysia Airlines Boeing 777-200 biến mất vào tháng 3 với
người trên tàu và vẫn chưa
được tìm thấy. Các công ty bảo hiểm của Lloyd đã trả tiền cho việc mất chiếc máy bay nhưng đã có thêm thiên
tai trong sáu tháng qua.
Lloyd's cho biết thị trường thiên tai thảm khốc đã trở nên ôn hòa trong nửa đầu năm nay, giúp lợi nhuận
trong tháng đầu tháng tăng lên , tỷ bảng từ 1,38 tỷ bảng Anh một năm trước đó. Nhưng nó cho biết điều
kiện thị trường đang trở nên khó khăn hơn.
Các thảm họa hàng không trong nửa sau của năm bao gồm việc bắn hạ một máy bay khác của Malaysia
Airlines, chuyến bay MH , phía đông Ukraine vào tháng 7, các cuộc tấn công vào sân bay quốc tế Tripoli, việc
mất một chuyến bay Air Algérie tới Mali và vụ tai nạn của TransAsia Airways máy bay ở Đài Loan.
Nelson và Beale cho biết: "Trong thời kỳ mà mức phí bảo hiểm thường giảm, đặc biệt là trong không gian
tái bảo hiểm, đây là một lời nhắc nhở về lý do tại sao giá cả phải phản ánh những rủi ro cơ bản đang được viết
ra".
Họ cho biết giá bảo hiểm bị áp lực bởi vì, với lãi suất thấp, các nhà đầu tư đang đặt thêm vốn vào ngành.
Các công ty bảo hiểm của Lloyd thường chống lại sự cám dỗ viết hợp đồng bảo hiểm quá rẻ, họ nói thêm.
Lloyd cho biết: "Trong khi thị trường của Lloyd lại được hưởng lợi từ hoạt động tuyên bố chủ quyền ở mức
thấp hơn, điều này sẽ tăng cường sức ép cạnh tranh và triển vọng của một môi trường giá cả vẫn còn yếu".
Các cuộc xung đột tại Nga, đông Ukraine, Libya và Trung Đông đã không gây ra tổn thất lớn cho đến nay tại
Lloyd nhưng kinh doanh từ các khu vực này đã giảm. Các công ty ngày càng tự bảo vệ bản thân trước các cuộc
tấn công trên mạng và đang yêu cầu phạm vi rộng hơn và giới hạn lớn hơn.
Lloyd's cho biết những sự cố thời tiết bao gồm thời tiết ở Mỹ và Nhật Bản, cơn bão Ela và lũ lụt ở Anh
không gây thiệt hại lớn cho các công ty bảo hiểm.
Cấu trúc thị trường bảo hiểm Lloyd’s
Có hai nhóm khách hàng đang hoạt động tại Lloyd’s là cá nhân và công ty. Đầu tiên làcá thành viên, hoặc cá
nhàcung cấp vốn. Thứ hai là các đại lý, môi giới vàcá chuyên gia khác hỗ trợ cá thành viên, bảo đảm rủi ro và
đại diện cho khách hàng bên ngoài (vídụ nhƣ những cánhâ vàcông ty tìm kiếm bảo hiểm, hoặc cá công ty bảo
hiểm muốn tái bảo hiểm).
Phần lớn cá hoạt động kinh doanh tại Lloyd’s được thông qua cá công ty môi giới nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho quátrình chuyển đổi rủi ro giữa khách hàng vàngƣời bảo lãnh. Khách hàng cóthể thảo luận về nhu cầu
rủi ro của họ với một nhàmôi giới, một ngƣời bímật hoặc một công ty dịch vụ. Chuyên gia bảo lãnh cho mỗi
giácung cấp, bảo lãnh vàxử lýbất kỳ khiếu nại tiếp theo liên quan đến rủi ro. Kinh doanh tại Lloyd’s vẫn đƣợc
tiến hành trực tiếp, phòng bảo lãnh làtrung tâm cho sự vận hành trơn tru của thị trƣờng. Cơ cấu thị trƣờng
khuyến khích sự đổi mới, tốc độ vàgiátrị tốt hơn, làm cho nó trở nê hấp dẫn hơn đối với ngƣời mua bảo hiểm
và ngƣời tham gia bảo hiểm. Tiếp cận ngay lập tức với ngƣời ra quyết định có nghĩa là những câu trả lời về
việc liệu cóthể đặt một rủi ro đƣợc thực hiện nhanh chóng hay không, cho phé nhàmôi giới cung cấp cá giải
phá nhanh và giá trị tốt.
1.
Đại lý quản lý (Managing Agents)
Đại lý quản lý sẽ tài trợ và quản lý các nghiệp đoàn. Họ sẽ kiểm tra các thành viên về các cam kết về năng
lực, tạo ra nghiệp đoàn, thuê bảo hiểm, và giám sát tất cả các hoạt động của nhóm thành viên. Các đại lý quản lý
có thể điều hành nhiều hơn một nhóm, nhƣ đƣợc xác định trong thực tế là vào năm
,
đại lý chỉ đƣợc
điều hành bởi
đại lý quản lý.
Lloyd’s cung cấp nhiều công cụ và nguồn lực để quản lý các đại lý. Một số yếu tố hữu ích để quản lý các đại
lý làm việc trong thị trƣờng của Lloyd’s:
(i) Quản lý hiệu suất:
- Nhóm khiếu nại: Đƣợc thiết kế để làm việc trong mối quan hệ hợp tác với thị trƣờng của Lloyd’s để nâng
cao kinh nghiệm của khách hàng. Dựa trên các thế mạnh về đổi mới, chuyên môn và truyền thông của Lloyd’s,
sự hợp tác này đƣợc trang bị để đạt đƣợc mức độ yêu cầu bồi thƣờng mới.
- Nhóm lợi ích đặc biệt.
Ngoài ra còn có các công cụ đảm bảo chất lƣợng, quản lý hiệu suất yêu cầu bổ sung và hƣớng dẫn.
(ii) Tài chính và vốn:
- Nhóm vốn và kế hoạch.
- Hƣớng dẫn đánh giá nguồn vốn cá nhân.
- Hƣớng dẫn đánh giá đầu tƣ.
- Khả năng thanh toán.
- Cục thuế.
(iii) Thị trường quốc tế và giấy phép:
- Thị trƣờng thông minh.
- Giấy phép.
- Thị trƣờng.
2. Các đại lý thành viên (Members’ Agents)
Các đại lý thành viên phối hợp bảo lãnh phát hành và đóng vai trò đệm giữa Lloyd’s, các đại lý quản lý và
các thành viên. Họ đã đƣợc giới thiệu vào giữa những năm
và phát triển về số lƣợng cho đến khi nhiều
đại lý phá sản, nhiều doanh nghiệp đã sáp nhập, và hiện chỉ còn bốn đại lý.
3. Thành viên (Members)
Trong lịch sử của Lloyd’s, các cá nhân giàu có đƣợc gọi là Names đã ủng hộ chính sách đƣợc viết tại
Lloyd’s với tất cả tài sản cá nhân của họ và chịu trách nhiệm vô hạn (unlimited liability). Từ năm
, Lloyd’s
đã cho phép thành viên của công ty vào thị trƣờng, với trách nhiệm hữu hạn (limited liability). Tổn thất do
bệnh bụi phổi amiang vào đầu những năm
đã làm suy sụp tài chính của nhiều Names: 1.500 trong số
34.000 Names (4.4 %) bị tuyên bố phá sản. Điều này làm mất đi các Names tiềm năng khác. Trong năm
,
các Names riêng lẻ chỉ cung cấp % năng lực vốn cho Lloyd’s, với các công ty niêm yết tại Anh và các thành
viên khác của công ty cung cấp 30% và phần còn lại thông qua ngành bảo hiểm quốc tế.
Từ năm
, Names với trách nhiệm vô hạn mới không còn đƣợc pháp lý thừa nhận và tầm quan trọng
của các cá nhân Names tiếp tục giảm và buộc họ từ từ rút lui, chuyển đổi thƣờng thì họ sẽ trở thành các công
ty trách nhiệm hữu hạn) hoặc chấp nhận biến mất. Vào năm
, những ngƣời có trách nhiệm vô hạn còn lại
chỉ cung cấp 2% tổng công suất vốn cho Lloyd’s.
4. Chủ hợp đồng bảo hiểm
Các chủ hợp đồng bảo hiểm bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức, các công ty bảo hiểm khác và cá nhân từ
khắp nơi trên thế giới, những ngƣời tìm cách giảm nhẹ tác động của những rủi ro tiềm ẩn.
Các chủ hợp đồng có thể truy cập vào thị trƣờng của Lloyd’s thông qua một công ty môi giới, bảo hiểm
hoặc dịch vụ.
5. Coverholder của Lloyd’s
Một đại lý quản lý cũng có thể ủy quyền cho các bên thứ ba chấp nhận rủi ro bảo hiểm trực tiếp thay mặt
cho các tổ chức của nó. Các doanh nghiệp này, đƣợc gọi là các coverholder, tạo thành một kênh phân phối quan
trọng, cung cấp một tuyến đƣờng địa phƣơng để liên kết Lloyd’s ở nhiều vùng lãnh thổ trên thế giới. Vào ngày
tháng
năm
, có .
địa điểm văn phòng của coverholder đã đƣợc phê duyệt.
Một công ty dịch vụ hoạt động nhƣ một coverholder nhƣng là một chi nhánh của một đại lý quản lý hoặc
nhóm của nó. Không giống nhƣ coverholder, một công ty dịch vụ có thể ủy thác bảo lãnh phát hành lại cho bên
thuê bảo hiểm khác. Vào ngày
tháng
năm
có
công ty dịch vụ tại Lloyd’s, với đa số ở Anh và Mỹ.
6. Công ty môi giới
Phần lớn các hoạt động kinh doanh tại Lloyd’s đƣợc thực hiện thông qua các công ty môi giới nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi rủi ro giữa khách hàng và ngƣời bảo hiểm.
Môi giới – phân phối kinh doanh Lloyd’s là một thị trƣờng môi giới, trong đó các mối quan hệ mạnh mẽ,
đƣợc hỗ trợ bởi chuyên môn sâu sắc, đóng một phần quan trọng. Các công ty môi giới tạo điều kiện cho quá
trình chuyển đổi rủi ro giữa ngƣời mua bảo hiểm và ngƣời bảo hiểm. Phần lớn hoạt động kinh doanh này liên
quan đến thƣơng lƣợng mặt đối mặt giữa các nhà môi giới và ngƣời bảo lãnh. Vào 31/12/2016, có 258 công ty
môi giới tại Lloyd’s.
7. Tổng công ty Lloyd’s
Tổng công ty giám sát thị trƣờng của Lloyd’s cung cấp cơ sở hạ tầng cho thị trƣờng, bao gồm các dịch vụ
để hỗ trợ hoạt động hiệu quả của nó, và bảo vệ và duy trì danh tiếng của nó.
Vai trò của Tổng công ty bao gồm:
Quản lý và bảo vệ mạng lƣới giấy phép quốc tế của Lloyd’s.
- Phê chuẩn kế hoạch kinh doanh của các tập đoàn và đánh giá hiệu quả so với kế hoạch đó. Các tổ chức tín
dụng phải bảo lãnh theo các kế hoạch kinh doanh đã đƣợc thống nhất của họ. Nếu họ không làm nhƣ vậy,
Lloyd’s có thể có tạm dừng các hoạt động bảo lãnh.
- Theo dõi sự tuân thủ của các nhà cung cấp với các tiêu chuẩn tối thiểu của Lloyd’s.
- Tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn và hiệu suất hoạt động trên hai lĩnh vực chính:
+ Quản lý tổng thể rủi ro và hiệu suất của thị trƣờng; và
+ Duy trì và phát triển sự hấp dẫn của thị trƣờng đối với các nhà cung cấp vốn, nhà phân phối và
khách hàng, đồng thời duy trì tính đa dạng của nó.
8. An ninh tài chính
Cơ cấu vốn của Lloyd’s, thƣờng đƣợc gọi là chuỗi an ninh, cung cấp sự bảo đảm về tài chính cho ngƣời
mua bảo hiểm và hiệu quả vốn cho các thành viên. Tổng công ty có trách nhiệm thiết lập cả mức vốn thành viên
và trung tâm để đạt đƣợc mức vốn hóa mạnh mẽ và cho phép các thành viên có tiềm năng kiếm đƣợc lợi
nhuận cao.
Có ba liên kết trong chuỗi: Các khoản tiền trong liên kết thứ nhất và thứ hai đƣợc giữ trong lòng tin, chủ
yếu vì lợi ích của ngƣời mua bảo hiểm có hợp đồng đƣợc bảo lãnh bởi các thành viên có liên quan. Các thành
viên bảo lãnh cho tài khoản của mình và không chịu trách nhiệm về những mất mát của thành viên khác. Liên
kết thứ ba là quỹ trung tâm Lloyd’s, có chứa tài sản chung của Tổng công ty có sẵn, tùy thuộc vào sự chấp
thuận của Hội đồng, theo yêu cầu, để đáp ứng các khoản nợ bảo hiểm của bất kỳ thành viên nào.
Cơ cấu vốn của Lloyd’s:
- Syndicate tài sản – vốn lƣu động của thành viên – liên kết đầu tiên trong chuỗi an ninh. Tất cả các phí bảo
hiểm nhận đƣợc từ các hợp đồng đƣợc giữ trong sự tin tƣởng của các đại lý quản lý nhƣ tài nguyên đầu tiên
để trả các yêu cầu bồi thƣờng cho ngƣời mua bảo hiểm và để tài trợ các khoản tiền gửi theo quy định. Cho đến
khi tất cả các khoản nợ đã đƣợc cung cấp, không có lợi nhuận có thể đƣợc giải phóng. Hàng năm, mỗi dự trữ
của các nhà cung cấp đối với các khoản nợ phải trả trong tƣơng lai đƣợc kiểm toán độc lập và nhận đƣợc một
sự đánh giá theo luật.
- Các nguồn quỹ tại Lloyd’s – vốn của các thành viên gửi tại Lloyd’s – liên kết thứ hai trong chuỗi an ninh.
Mỗi thành viên, cho dù là doanh nghiệp hay cá nhân, đều phải cung cấp đủ vốn để hỗ trợ bảo lãnh phát hành tại
Lloyd’s. Các đại lý quản lý đƣợc yêu cầu đánh giá khả năng khoản vay (SCR) cho mỗi tổ chức mà họ quản lý.
Điều này chỉ ra bao nhiêu vốn mà hiệp hội yêu cầu để bao gồm các rủi ro kinh doanh cơ bản của nó ở mức độ
tin cậy 99,5%.
Với sự phối hợp kinh doanh của Lloyd’s, điều quan trọng là đánh giá này vƣợt quá thời hạn 12 tháng theo
yêu cầu của Solvency II và phải bao gồm rủi ro tổn thất nặng nề cho đến khi tất cả các khoản nợ đƣợc thanh
toán và mở rộng đến cơ sở cuối cùng. Tổng công ty xem xét SCR của từng nhà cung cấp để đánh giá sự phù hợp
của mức vốn đề xuất. Khi đƣợc đồng ý, mỗi SCR sẽ đƣợc nâng lên để đảm bảo có đủ vốn để hỗ trợ xếp hạng và
sức mạnh tài chính của Lloyd’s. Mức tăng áp dụng cho năm
là %. SCR nâng cao này đƣợc gọi là đánh
giá vốn kinh tế của các nhà cung cấp và thúc đẩy mức vốn của các thành viên trên tất cả các tổ hợp mà họ tham
gia theo tỷ lệ phần trăm của họ trong các tổ hợp này. Vốn của mỗi thành viên đƣợc Tổng công ty nắm giữ vì lợi
ích của ngƣời mua bảo hiểm nhƣng không có sẵn cho các khoản nợ của các thành viên khác
BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG CỦA LLOYD’S
Ngày nay, máy bay đã trở thành một phƣơng tiện giao thông vận tải dân dụng chuyên nghiệp, đƣợc nhiều
ngƣời tin dùng. Mặc dù hàng không là hình thức vận tải ra đời muộn nhất nhƣng lại có số lƣợng hàng khách
đông đảo và đa dạng do có nhiều ƣu điểm nổi trội: tốc độ vận chuyển cao nhất nên thời gian vận chuyển nhanh
nhất, an toàn, nguy cơ tai nạn thấp hơn hẳn và có các dịch vụ đi kèm chuyên nghiệp, tiêu chuẩn hơn các
phƣơng thứ vận tải khác. Điểm khác biệt lớn nhất giữa vận tải hàng không với các ngành khác là khách hàng
không thể làm chủ đƣợc số phận của mình, họ giữ vai trò thụ động trong một chuyến bay.
Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, số chuyến bay đƣợc các hãng hàng không khai thác gia tăng cũng
tỉ lệ thuận với sự tăng lên của các sự cố máy bay. Điều này đồng nghĩa với yếu tố cần đƣợc bảo vệ của con
ngƣời trở thành một trong những tiêu chí đƣợc quan tâm hàng đầu. Vì vậy, các sản phẩm bảo hiểm hàng
không ra đời nhằm đảm bảo tối đa cho sự an toàn của các hãng hàng không và hành khách. Với đội ngũ các
chuyên gia giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo hiểm hàng không, Lloyd’s cung cấp đầy đủ các sản phẩm bảo
hiểm hàng không cho các khách hàng tổ chức cũng nhƣ cá nhân.
1. Các sản phẩm bảo hiểm hàng không mà Lloyd’s đang cung cấp
Bảo hiểm thân tàu bay và bảo hiểm trách nhiệm tàu bay
Bảo hiểm thân tàu bay bao gồm các thiệt hại phát sinh từ sự phá hủy vật lý thân tàu bay do các rủi ro khác
nhau, kể cả đối với các rủi ro chiến tranh và khủng bố. Bảo hiểm trách nhiệm tàu bay bao gồm trách nhiệm của
các nhà khai thác tàu bay đối với bên thứ ba (của chủ nhà để tàu bay, công ty cung ứng xăng dầu hàng không,
công ty cung cấp dịch vụ bảo dƣỡng tàu bay, dịch vụ hàng hóa, suất ăn và các dịch vụ khác trong lĩnh vực hàng
không… .
Bảo hiểm trách nhiệm hàng không
Bảo hiểm trách nhiệm hàng không bao gồm một loạt các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến cảng hàng không
và các hoạt động khai thác hàng không khác, trừ các hoạt động khai thác tàu bay.
9. Trách nhiệm sản phẩm hàng không
Bảo hiểm trách nhiệm về sản phẩm hàng không đƣợc đƣa ra để cung cấp bảo hiểm cho các linh kiện đƣợc
sử dụng trong máy bay hoặc các sản phẩm hàng không khác.
Hàng hóa hàng không
Bảo hiểm hàng không bao gồm các khoản lỗ phát sinh từ thiệt hại vật chất đối với hàng hoá trong khi vận
chuyển bằng đƣờng hàng không và tối đa
ngày trong khi cất giữ.
Tai nạn của cá nhân phi hành đoàn
Bảo hiểm tai nạn của phi hành đoàn bao gồm các trƣờng hợp tử vong hoặc xảy ra thƣơng tích cho thành
viên của phi hành đoàn. Ngƣời đƣợc bảo hiểm thƣờng là chủ sở hữu hoặc nhà điều hành máy bay.
Trƣờng hợp chính sách đƣợc viết liên quan đến một loại máy bay cụ thể, vị trí rủi ro đƣợc xác định theo
cách tƣơng tự nhƣ trách nhiệm của máy bay.
Trƣờng hợp máy bay không xác định đƣợc, vị trí rủi ro là lãnh thổ nơi ngƣời đƣợc bảo hiểm cƣ trú hay
nơi doanh nghiệp đƣợc thành lập.
Không gian
Để xác định giới hạn lãnh thổ và thuế rủi ro, phải xem xét:
- Tính chất của bảo hiểm đƣợc cung cấp;
- Vị trí thực tế của tài sản; và
- Vị trí của cơ sở kinh doanh đƣợc bảo hiểm.
(i) Thiệt hại vật chất
Bảo hiểm thiệt hại vật chất bao gồm tổn hại vật chất, hoặc mất mát, một vật thể trong không gian trong
một trong bốn giai đoạn. Hợp đồng có thể bao gồm các đối tƣợng trong quá trình sản xuất, phóng trƣớc, phóng
và khi nó đang ở trong quỹ đạo. Ngƣời đƣợc bảo hiểm có thể là nhà sản xuất vệ tinh, nhà khai thác vệ tinh hoặc
nhà cung cấp các dịch vụ phóng. Các đối tƣợng không gian là tài sản di chuyển.
Hầu hết các lãnh thổ xem các vật thể không gian nhƣ vật chuyển động và vị trí nguy hiểm đƣợc xác định
bởi vị trí vật lý của vật. Tuy nhiên, đối với các mục đích về thuế và quy định, các quốc gia thành viên EEA xem
xét vị trí rủi ro đối với việc phóng tàu và trong quỹ đạo rủi ro là lãnh thổ nơi có trụ sở cơ sở kinh doanh đƣợc
bảo hiểm.
Vị trí rủi ro đối với các vật thể không gian đang vận chuyển hoặc lƣu trữ tạm thời đƣợc thực hiện theo các
quy tắc tƣơng ứng với hàng hóa đang vận chuyển hoặc rủi ro lƣu trữ bình thƣờng. Nếu đối tƣợng nằm trong
quỹ đạo cho toàn bộ thời gian của bảo hiểm thì rủi ro có thể không nằm trong chế độ điều tiết hoặc thuế của
bất kỳ khu vực nào.
(ii) Hậu quả mất mát về tài chính
Bảo hiểm mất mát tài chính bao gồm các sự gián đoạn dịch vụ, mất lợi nhuận, doanh thu hoặc chi phí bổ
sung có thể xảy ra nếu không thể sử dụng vật thể không gian sau khi bị hƣ hỏng về mặt vật chất. Vị trí rủi ro
thuộc lãnh thổ nơi đặt cơ sở kinh doanh của ngƣời đƣợc bảo hiểm.
(iii) Trách nhiệm của bên thứ ba
Bảo hiểm trách nhiệm đối với bên thứ ba bao gồm trách nhiệm pháp lý của ngƣời đƣợc bảo hiểm đối với
bên thứ ba về thƣơng tật hoặc thiệt hại về tài sản, khi vật thể không gian nằm trên mặt đất, trong khi phóng
hoặc trên quỹ đạo.Vị trí rủi ro là lãnh thổ nơi đặt cơ sở kinh doanh của ngƣời đƣợc bảo hiểm
2. Một số hợp đồng bảo hiểm hàng không hàng không lớn của Lloyd’s.
Sự kiện 11 tháng 9
Sự kiện 11 tháng 9 (còn gọi trong tiếng Anh là 9/11) là một loạt bốn vụ tấn công khủng bố có mục tiêu bởi
nhóm khủng bố Hồi giáo al-Qaeda chống lại Hoa Kỳ vào sáng thứ Ba, ngày
tháng năm
. Vụ tấn công
làm .
ngƣời chết, hơn .
ngƣời khác bị thƣơng, và gây ra thiệt hại về tài sản và cơ sở hạ tầng ít nhất 10
tỉ USD và gây tổn thất tổng cộng 3 nghìn tỉ USD.
Bốn chiếc máy bay dân dụng chở khách đƣợc điều hành bởi hai hãng hàng không dân dụng lớn của Hoa Kỳ
(United Airlines và American Airlines). Tất cả đều cất cánh từ các sân bay tại Đông Bắc Hoa Kỳ để đi tới
California thì bị không tặc bởi 19 tên khủng bố al-Qaeda. Hai chiếc máy bay trong số đó, chuyến bay 11 của
American Airlines và chuyến bay 175 của United Airlines, lần lƣợt đâm vào tòa tháp Bắc và Nam của khu phức
hợp Trung tâm Thƣơng mại Thế giới tại thành phố New York. Chỉ trong 1 giờ 42 phút, cả hai tòa tháp cao 110
tầng sụp đổ, mang theo mảnh vỡ và gây ra những vụ cháy khiến tất cả các tòa nhà khác trong khu phức hợp
Trung tâm Thƣơng mại Thế giới bị sụp đổ một phần hoặc hoàn toàn, bao gồm tòa tháp Trung tâm Thƣơng mại
Thế giới số 7 cao 47 tầng, cũng nhƣ gây thiệt hại đáng kể cho mƣời công trình lớn khác xung quanh. Chiếc máy
bay thứ ba, chuyến bay 77 của American Airlines, đâm vào Lầu Năm Góc trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ) tại
quận Arlington, bang Virginia, gây sụp đổ một phần mặt phía tây của tòa nhà. Chiếc máy bay thứ tƣ, chuyến
bay 93 của United Airlines, ban đầu đƣợc nhắm vào Washington, D.C., nhƣng đã rơi xuống một cánh đồng tại
xã Stonycreek gần Shanksville, Pennsylvania, sau khi các hành khách cố gắng khống chế các tên không tặc. Đây
là thảm họa chết ngƣời nhất của lực lƣợng lính cứu hỏa và lực lƣợng hành pháp trong lịch sử Hoa Kỳ, với 343
lính cứu hỏa và
sĩ quan hành pháp thiệt mạng.
Theo hồ sơ, các hãng bảo hiểm, trong đó có thị trƣờng Lloyd’s sẽ chi trả khoản tiền đền bù nói trên cho
Công ty bất động sản WTC Properties, thuộc sở hữu của ông Larry Silverstein. Sáu tuần trƣớc khi xảy ra vụ
khủng bố nhằm vào tòa tháp đôi WTC ở thành phố New York, ông Silverstein đã ký hợp đồng thuê địa điểm
này trong
năm.
Sau sự kiện / , ông Silverstein đƣợc các công ty bảo hiểm mà ông có hợp đồng chi trả tổng cộng 4,55 tỉ
USD qua nhiều năm thƣơng lƣợng. Đồng thời, ông cũng đấu tranh để đòi tiền bồi thƣờng từ hai hãng hàng
không American Airlines và United Airlines – những chiếc máy bay bị không tặc khống chế, lao vào tòa tháp
đôi thuộc hai hãng này.
Ban đầu, ông Silverstein định đòi , tỉ USD từ hai hãng hàng không Mỹ cũng nhƣ các công ty an ninh sân
bay. Sau
năm tranh chấp, ngày / /
, hai hãng hàng không American Airlines và United Airlines đã
chấp nhận bồi thƣờng 95,1 triệu USD.
MH370/MAS370
Chuyến bay 370 của Malaysia Airlines (MH370/MAS370) là một chuyến bay thƣờng lệ của Malaysia
Airlines từ Kuala Lumpur đi Bắc Kinh, là chuyến bay liên danh với China Southern Airlines. Khởi hành từ Kuala
Lumpur vào ngày tháng năm
bằng máy bay Boeing 777-200ER với
hành khách, trong đó có hai
trẻ sơ sinh, cùng với
thành viên phi hành đoàn. Máy bay đã mất liên lạc phút trƣớc khi vào Vùng thông
báo bay thành phố Hồ Chí Minh thuộc không phận Việt Nam. Chiếc máy bay chƣa đƣợc tìm thấy, và chỉ có bằng
chứng chắc chắn từ máy bay phản lực đó là một bộ phận cánh đã tràn vào bờ vào tháng Bảy trên đảo Reunion
ngoài khơi bờ biển Australia. Công ƣớc Montreal quốc tế đã hạn chế khoản thanh toán trách nhiệm pháp lý từ
các hãng hàng không với giá 175.000 USD cho mỗi hành khách bất kể hãng hàng không có lỗi hay không. Các
công ty bảo hiểm của hãng hàng không Malaysia Airlines – Allianz Global Corporate & Speciality và đơn vị
Atria của Lloyd’s of London – đã trả hơn
triệu USD cho các yêu cầu liên quan đến vụ tai nạn.
MH17/MAS17
Chuyến bay 17 của Malaysia Airlines (MH17/MAS17) là chuyến bay quốc tế thƣờng lệ từ Amsterdam đến
Kuala Lumpur bị bắn rơi vào ngày
tháng năm
, sau đó đã đâm xuống biên giới Ukraina – Nga. Các báo
cáo tình báo của Mỹ chỉ ra rằng chiếc máy bay đã bị bắn hạ bởi tên lửa đất đối không bắn ra khỏi lãnh thổ do
những ngƣời ly khai ủng hộ Nga. Có
hành khách và phi hành đoàn trên máy bay, phần lớn là công dân của
Hà Lan. Không còn ai sống sót sau khi máy bay rơi. Tổng tổn thất bảo hiểm bao gồm các yêu cầu trách nhiệm
bồi thƣờng cho hành khách và thiệt hại vật chất cho máy bay. Theo báo cáo vào năm
thì chiếc máy bay có
giá trị khoảng 97 triệu USD. Theo Công ƣớc Montreal, hãng Malaysia Airlines phải bồi thƣờng 145.000USD cho
mỗi nạn nhân, không cần biết đến nguyên nhân tai nạn và khoản bồi thƣờng chính xác có thể cao hơn tùy
thuộc vào nguyên nhân tai nạn. Tuy nhiên cho đến hiện nay thì vẫn chƣa xác định đƣợc quốc gia đã bắn tên lửa
đất đối không gây ra tai nạn này nên vẫn chƣa có đƣợc một con số chính xác cho tổng tổn thất bảo hiểm từ thị
trƣờng Lloyd’s và các công ty bảo hiểm/tái bảo hiểm có liên quan.
Các nguyên tắc bảo hiểm
Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo
hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên
cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng
hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.
Bảo hiểm là 1 chế độ cam kết bồi thường bằng tiền về kinh tế, trong đó người được bảo hiểm phải đóng
khoản gọi là phí bảo hiểm cho người bảo hiểm theo các điều khoản quy định, còn người bảo hiểm có trách
nhiệm bồi thường cho đối tượng bảo hiểm do các rủi ro đã bảo hiểm gây ra. Tuy với nhiều hình thức kinh
doanh, nhiều cách hoạt động, nhưng bảo hiểm vẫn luôn duy trì sự linh hoạt của mình thông qua những nguyên
tắc cơ bản gồm:
Nguyên tắc Bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm
Nguyên tắc bồi thường
Nguyên tắc thế quyền
Nguyên tắc quy luật số đông.
Tất cả những nguyên tắc này xây dựng một hệ thống vững chắc và bổ trợ cho nhau, bài tiểu luận ngắn gọn
này sẽ xoay quanh vấn đề nội dung của những nguyên tắc và giải thích với các ví dụ thực tiễn dễ hiểu.
1. Bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn
Nội dung:
Nguyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm chỉ bảo hiểm một rủi ro, tức là bảo hiểm một sự cố, một tai nạn,
tai hoạ, xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc
chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra, cũng như chỉ bồi thường những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra chứ không
bồi thường cho những thiệt hại chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra. Vì đương nhiên hay chắn chắn xảy ra là
không có yếu tổ rủi ro mà là tất yếu, không có rủi ro sẽ không có bảo hiểm.
Ý nghĩa
Nhằm bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm và tránh tình trạng trục lợi bất chính từ bên mua bảo
hiểm.
Một rủi ro có thể được bảo hiểm phải hội đủ những đặc tính sau đây:
Tổn thất phải mang tính chất ngẫu nhiên
Một sự kiện có thể được bảo hiểm phải là hoàn toàn ngẫu nhiên đứng trên góc độ của người được bảo
hiểm. Không thể nào bảo hiểm một sự kiện chắc chắn sẽ xảy ra bởi vì nó không mang tính chất ngẫu nhiên và
do đó việc chuyển giao rủi ro sẽ không xảy ra. Có một điểm nằm ngoài quy tắc này, đó là rủi ro chết. Rủi ro này
chắc chắn sẽ xảy ra nhưng vẫn là rủi ro có thể được bảo hiểm. Tuy nhiên thời điểm xảy ra cái chết phải là bất
ngờ.
Phải đo được, định lượng được về tài chính
Ý nghĩa của bảo hiểm chính là ở chỗ nó phát huy tác dụng như một cơ chế chuyển giao rủi ro và bù đắp về
tài chính cho những rủi ro xảy ra. Bảo hiểm không thể loại bỏ được rủi ro, nhưng nó có trách nhiệm bảo vệ về
mặt tài chính để đối phó với hậu quả của những tổn thất xảy ra. Nếu như vậy thì rủi ro được bảo hiểm phải có
thể dẫn đến một tổn thất có thể đo được bằng các công cụ tài chính (tiền . Điều đó có thể dễ thấy trong các
trường hợp tổn thất tài sản. Giá trị chính xác của tổn thất sẽ không thể biết được ngay từ đầu khi ký hợp đồng
bảo hiểm, nhưng sẽ xác định được sau khi tổn thất đã xảy ra.
Không trái với chuẩn mực đạo đức của xã hội
Nguyên tắc không trái với chuẩn mực đạo đức cũng được áp dụng với các hợp đồng bảo hiểm. Không thể
chấp nhận các hợp đồng cố ý huỷ hoại hoặc lấy cắp tài sản của người khác. Không thể chấp nhận bảo hiểm rủi
ro của một vụ phạm pháp không thành. Một người có thể lái xe vào đường cấm và bị phạt. Người đó đúng là có
quan hệ tài chính với khoản tiền phạt và lập luận rằng tổn thất này cũng là bất ngờ đối với anh ta. Tuy nhiên xã
hội không thể chấp nhận một người tránh được hình phạt bằng cách ký hợp đồng bảo hiểm.
Ví dụ:
Hãng hàng không quốc gia Hà Lan KLM - thảm họa sân bay Tenerife
Ngày / /
được coi là một trong những ngày đen tối nhất trong lịch sử hàng không thế giới. Tại
sân bay Tenerife (Tây Ban Nha), hai chiếc Boeing
KLM Flight
và Pan Am Flight
đã lao vào nhau
trên đường băng tại sân bay này trong màn sương mù dày đặc.
Hậu quả là
người tử nạn ngay lập tức, hai chiếc máy bay hư hại hoàn toàn và đây trở thành một trong
những tai nạn thảm khốc nhất trong lịch sử hàng không.
Qua quá trình điều tra, người ta kết luận lỗi chính thuộc về cơ trưởng của chuyến bay KLM đã điều khiển
máy bay cất cánh khi chưa được sự cho phép của đài kiểm soát không lưu.
Giới chức Hà Lan sau đó cũng đã thừa nhận trách nhiệm của KLM trong vụ tai nạn này. KLM đã bồi thường
cho nạn nhân hoặc gia đình họ các khoản phí từ 58.000 - 600.000 USD (khoảng 1,2 - 12,6 tỷ VND). Toàn bộ chi
phí cho hàng hóa và hư hại gây ra ước tính 110 triệu USD tương đương .
tỷ VND), tức là trung bình mỗi
nạn nhân được hưởng 189.000 USD (khoảng 3,96 tỷ đồng)
6. Nguyên tắc trung thực tuyệt đối
Đặc thù của các sản phẩm bảo hiểm, lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm đòi hỏi các bên phải có độ trung thực,
tín nhiệm cao trong ký kết hợp đồng. Hợp đồng chỉ có giá trị pháp lý khi việc xác lập được tiến hành trên cơ sở
các thông tin trung thực của các bên. Cả người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đều phải trung thực
trong tất cả các vấn đề. Hợp đồng bảo hiểm buộc phải chấm dứt vì những hành vi gian lận, ý đồ trục lợi từ các
bên trong hợp đồng bảo hiểm.
Nội dung:
Người bảo hiểm phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả bảo hiểm… cho người
được bảo hiểm biết. Khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm cung cấp đầy đủ
thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo
hiểm. Người bảo hiểm cũng không được nhận bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đã đến nơi an toàn.
Người được bảo hiểm phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng bảo hiểm. Họ cũng phải
thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng bảo hiểm, về rủi ro, về những mối đe dọa nguy hiểm hay làm
tăng thêm rủi ro…mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết. Người được bảo hiểm cũng không được mua bảo
hiểm cho đối tượng bảo hiểm khi biết đối tượng bảo hiểm đó đã bị tổn thất.
Ý nghĩa
Nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bởi thông tin được cung cấp chính
xác, trung thực thì khi xảy ra sự kiện bảo hiểm bên mua bảo hiểm sẽ được trả tiền bảo hiểm hoặc được
bồi thường theo quy định của pháp luật.
Bên mua bảo hiểm là bên yếu thế trong quan hệ bảo hiểm về cả địa vị cũng như hiểu biết về bảo hiểm
so với doanh nghiệp bảo hiểm. Vì vậy, pháp luật quy định doanh nghiệp bảo hiểm phải trung thực
tuyệt đối để tránh các doanh nghiệp bảo hiểm vì mục đích lợi nhuận mà xâm phạm quyền của bên mua
bảo hiểm.
Đảm bảo cho doanh nghiệp bảo hiểm không bị xâm phạm quyền lợi trên thực tế khi có trường hợp bên
mua lợi dụng sơ hở của pháp luật để gian dối nhằm trục lợi.
Đảm bảo hạn chế tranh chấp phát sinh của các bên trong hợp đồng bảo hiểm và đảm bảo an toàn, trật
tự xã hội được đảm bảo
Ví dụ:
Một người mua bảo hiểm thiệt hại do hoả hoạn, lụt lội, trộm cắp cho một ngôi nhà và biết rằng vùng đó
thưòng có nguy cơ xảy ra bão lụt nhưng khi mua bảo hiểm lại không khai báo gì về điều đó. Khi bão
đến gây ra thiệt hại cho ngôi nhà, người đó cũng không được bảo hiểm bồi thường.
Khi tàu, xe đã gặp tai nạn, chủ tàu, chủ xe mới tham gia bảo hiểm để được bồi thường, bằng cách mua
bảo hiểm ghi lùi lại ngày tháng trước tai nạn, hoặc tìm cách để có hồ sơ tai nạn ghi ngày tháng xảy ra
sau ngày mua bảo hiểm. Trong trường hợp đó, người bảo hiểm sau khi biết người được bảo hiểm
không khai báo thật, có quyền huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hoặc không bồi thường tổn thất xảy ra.
Theo quy định chung, khi tham gia bảo hiểm, người tham gia có bổn phận khai báo đầy đủ và chính xác
tất cả các yếu tố quan trọng có liên quan, dù được yêu cầu hay không được yêu cầu khai báo.Yếu tố
quan trọng cần phải khai báo trong bảo hiểm nhân thọ: tiền sử bệnh tật của người được bảo hiểm, hồ
sơ sức khoẻ của người trong gia đình…Thời gian khai báo:Thông thường, Người yêu cầu bảo hiểm
phải khai báo các yếu tố quan trọng khi có yêu cầu bảo hiểm. Việc khai báo phải hoàn thành trước khi
hợp đồng bảo hiểm được ký kết. Ngược lại, các công ty bảo hiểm đều phải công khai những thông tin
liên quan đến phạm vi hoạt động, điều khoản và khả năng tài chính của đơn vị mình
7. Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm
Nội dung
Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự
an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn
mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có
trong đối tượng bảo hiểm. Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
tài sản; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm.. Người nào có quyền lợi có
thể được bảo hiểm ở một đối tượng bảo hiểm nào đó có nghĩa là quyền lợi của người đó sẽ được đảm bảo nếu
đối tượng đó được an toàn, và ngược lại, quyền lợi của người đó sẽ bị phương hại nếu đối tượng bảo hiểm đó
gặp rủi ro. Nói khác đi, người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người bị thiệt hại về tài chính khi đối tượng
bảo hiểm gặp rủi ro. Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm là người có một số quan hệ với đối tượng bảo
hiểm được pháp luật công nhận. Đó có thể là người chủ sở hữu của đối tượng bảo hiểm đó, người chịu trách
nhiệm quản lý tài sản hoặc người nhận cầm cố tài sản. Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn
trong bảo hiểm, có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm. Khi xảy ra tổn thất,
người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể được bảo hiểm rồi mới được bồi thường. Cụ thể:
Đối với bảo hiểm phi nhân thọ:
- Trong bảo hiểm tài sản, Người mua bảo hiểm có một số liên hệ với đối tượng bảo hiểm được pháp luật
công nhận. Mối liên hệ đầu tiên được pháp luật công nhận là: chủ sở hữu. Mối liên hệ thứ hai là quyền lợi và
trách nhiệm trước tài sản đó. Ví dụ, một người có quyền lợi bảo hiểm đối với đồ vật người đó mượn bởi vì nếu
chúng bị mất hoặc bị hư hại, người đó sẽ phải thực hiện thay thế, sửa chữa, đền tiền hay khôi phục lại.
- Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự: quyền lợi bảo hiểm phải căn cứ theo quy định của luật pháp về
ràng buộc trách nhiệm dân sự.
Đối với bảo hiểm nhân thọ:
Theo quan điểm mới về quyền lợi có thể được bảo hiểm trong bảo hiểm nhân thọ, có thể hiểu một cách
chung nhất: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là mối quan hệ giữa bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm.
Trong đó, rủi ro xảy ra với người được bảo hiểm sẽ gây tổn thất, thiệt hại về tài chính hoặc tinh thần đối với
bên mua bảo hiểm. Theo đó có thể thấy: Mọi cá nhân đều có quyền lợi bảo hiểm không giới hạn đối với tính
mạng của chính mình, do vậy họ có thể bảo hiểm tính mạng của mình với bất cứ giá trị nào mong muốn, miễn
là có đủ tiền đóng phí bảo hiểm. Quyền lợi bảo hiểm cũng tồn tại đối với cha/mẹ, vợ/chồng, con cái,
anh/chị/em của người đó hoặc những người có trách nhiệm nuôi dưỡng hoặc giám hộ hợp pháp của người đó.
Quyền lợi có thể được bảo hiểm cũng tồn tại đối với Bên mua bảo hiểm là tổ chức trong các trường hợp: Một tổ
chức mua bảo hiểm cho người lao động đang làm việc cho tổ chức đó; các tổ chức tín dụng, ngân hàng mua bảo
hiểm cho những khách hàng vay tiền của ngân hàng, tổ chức tín dụng đó.
Để đảm bảo nguyên tắc này, trước khi phát hành hợp đồng bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải kiểm tra giữa
người tham gia bảo hiểm và đối tượng bảo hiểm có tồn tại quyền lợi có thể được bảo hiểm theo nguyên tắc và
theo quy định của hợp đồng bảo hiểm đó hay không.
Ý nghĩa
Quyền lợi có thể được bảo hiểm có ý nghĩa rất to lớn trong bảo hiểm,có quyền lợi có thể được bảo hiểm thì
mới được ký kết hợp đồng bảo hiểm.Khi xảy ra tổnn thất,người được bảo hiểm đã phải có quyền lợi có thể
được bảo hiểm rồi mới được bồi thường.
Nguyên tắc này chỉ ra rằng, người bảo hiểm muốn mua phải có lợi ích bảohiểm.Quyền lợi có thể được bảo
hiểm là quyền đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm.Trong bro bhieerm hàng hải,quyền này không nhất
thiết phải có trong ký kết hợp đồng,nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất.
Ví dụ
Từng có trường hợp một phụ nữ ở Phú Thọ biết chồng bị bệnh khó qua khỏi liền mua bảo hiểm của 5 công
ty bảo hiểm khác nhau, chỉ tháng sau đó, người chồng qua đời thì người vợ liền tới các công ty bảo hiểm đòi
tiền bồi thường.
Trong quá khứ, ở Vũng Tàu từng có chuyện người nhà của một người bảo hiểm đã mất yêu cầu công ty bảo
hiểm xử lý bồi thường, thời gian tử vong xảy ra sau đúng tuần tham gia hợp đồng. Vụ việc chỉ được làm sáng
tỏ khi nhân viên công ty bảo hiểm đến tận nghĩa trang để tìm đọc thông tin trên ngôi mộ xác minh ngày giờ mất
và phát hiện gia đình người đã mất móc nối với chính quyền địa phương đẩy lùi ngày làm giấy chứng tử, rồi
tiền hành mua bảo hiểm cho người đã chết.Thậm chí, khoảng
năm trước cũng từng có vụ trục lợi bảo hiểm
dưới dạng cấu kết với chính quyền xã cung cấp giấy chứng tử cho người thân bị mất tích, rồi làm đám ma, làm
mồ giả. Qua đó cho thấy, trục lợi bảo hiểm diễn ra phổ biến và chỉ là 1 trong hàng nghìn vụ việc mỗi năm.
Tại AIA, các nhân viên và khách hàng thường được nghe tới một trường hợp điển hình: Khách hàng P tham
gia bảo hiểm. Căn cứ vào các thông tin mà khách hàng cung cấp trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, doanh nghiệp bảo
hiểm đã chấp thuận bảo hiểm cho khách hàng này theo đúng trình tự thủ tục.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có hiệu lực thì khách hàng yêu cầu thanh toán
quyền lợi bảo hiểm bênh hiểm nghèo – bệnh phổi mạn tính. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp bảo hiểm tìm hiểu
thêm thông tin và thu thập được bằng chứng: trước khi tham gia bảo hiểm khoảng tháng, khách hàng đã
nhập viện với chẩn đoán viêm phổi/hở van 2 lá , trong tiền sử bệnh có ghi đã điều trị lao phổi cách đây
năm . Trường hợp này bị từ chối chi trả quyền lợi bảo hiểm.
8. Nguyên tắc bồi thường
Nội dung
Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để
đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tái chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém.
Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục lại một
phần hoặc toàn bộ tình trạng tài chính như trước khi xảy ra tổn thất cho người được bảo hiểm. Nguyên tắc bồi
thường đảm bảo người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền chi trả nhiều hơn giá trị tổn thất mà họ
gánh chịu. Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm cũng chỉ phát sinh khi có thiệt hại do rủi ro được bảo
hiểm gây ra. Nguyên tắc bồi thường chỉ áp dụng cho hai loại bảo hiểm là bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách
nhiệm dân sự, không áp dụng cho bảo hiểm nhân thọ và các nghiệp vụ bảo hiểm con người.
Một số trường hợp cần lưu ý:
- Theo nguyên tắc này, trong trường hợp người được bảo hiểm được nhận tiền bồi thường từ nhiều hợp
đồng bảo hiểm khác nhau, có thể từ các công ty bảo hiểm khác nhau hoặc của cùng một công ty bảo hiểm, tổng
số tiền bồi thường của tất cả các hợp đồng bảo hiểm sẽ không vượt quá giá trị tổn thất.
- Trường hợp người được bảo hiểm cũng được một bên thứ ba có trách nhiệm chi trả thiệt hại. Ví dụ như
nhận tiền bồi thường từ người điều khiển ô tô đã đâm phải mình. Khi đó, tổng số tiền bồi thường của bên thứ
ba và công ty bảo hiểm cũng không vượt quá giá trị tổn thất mà người được bảo hiểm phải gánh chịu. Nếu
người được bảo hiểm đã nhận tiền bồi thường của công ty bảo hiểm, người được bảo hiểm phải có trách nhiệm
bảo lưu và chuyển quyền đòi bồi thường người thứ ba cho công ty bảo hiểm.
Ý NGHĨA:
•
•
Ví dụ
Bù đắp một phần chi phí,tổn thất cho người nhận được bảo hiểm
Nói tới bảo bảo hiểm là nói tới chia sẻ lợi ích của cộng đồng vì một người(một phần nhỏ trong cộng
đồng).
•
Năm
, Anh và nhiều nước khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cuộc khủnghoảng tài chính. Hậu
quả, nhiều công ty phá sản, đẩy tỷ lệ thất nghiệp lên mức cao. Khủng hoảng cũng khiến các công ty bảo hiểm
điêu đứng. Họ bị buộc phải bồi thường bảo hiểm lên tới khoảng 14.000 tỷ bảng.
•
chuyến bay Air France 447 gặp nạn ngoài khơi Đại Tây Dương ngày -6, tòa án Pháp đã buộc
hãng hàng không phải trả 126.000 euro cho mỗi gia đình nạn nhân trên chuyến bay có 216 hành khách (và
thành viên phi hành đoàn …….bù đắp tổn thất tinh thần cho gia đình nạn nhân
9. Thế quyền
Nội dung
Đây là một nguyên tắc trong bảo hiểm mà người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có
quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ 3 có trách nhiệm bồi thường cho mình.
Để thực hiện nguyên tắc này, người được bảo hiểm phải cung cấp các biên bản, giấy tờ, chứng từ, thư từ,..
cần thiết cho người bảo hiểm.
Đôi khi người được bảo hiểm có thể được bồi thường từ một nguồn khác ngoài nguồn bồi thường từ công
ty bảo hiểm nhưng trong trường hợp đó, bất cứ số tiền nào mà người đưọc bảo hiểm thu được cũng phải đặt
dưới danh nghĩa của công ty bảo hiểm đã thực hiện bồi thường.
Do mối quan hệ chặt chẽ giữa thế quyền và bồi thường, một công ty bảo hiểm không được phép thu nhiều
hơn số tiền họ đã bồi thường. Điều này cũng có nghĩa là không chỉ người được bảo hiểm mà cả công ty bảo
hiểm đều không được phép thu lời từ việc thực hiện quyền của mình
Ý nghĩa
Nguyên tắc thế quyền chỉ được áp dụng khi nguyên nhân được xác định có người thứ 3 chịu trách nhiệm
thiệt hại
Công ty bảo hiểm chỉ nhận tương đương số tiền đã hoặc sẽ bồi thường cho người được bồi thường, đặc
biệt là không được thu lợi cho bản thân.
Ưu điểm: Giảm số lượng các vụ kiện ( vì người được bảo hiểm đã được bồi thường và giảm mong muốn đi
kiện) explain help gà
Nhược điểm: Khi người thứ 3 không có khả năng trả , người bảo hiểm hoặc công ty bảo hiểm sẽ chịu lỗ.
Người được bảo hiểm chỉ được đòi bồi thường trong giới hạn quyền lợi của của người được bảo hiểm.
Nguyên tắc này chỉ vận dụng trong bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự.
Ví dụ
Ô tô du lịch 4 chỗ được bảo hiểm đúng giá trị, bị xe tải đâm va gây thiệt hại phải sửa chữa, thay thế như
trước lúc xảy ra tai nạn và được công ty bảo hiểm bồi thường với số tiền bảo hiểm .
.
đồng. Lỗi cảnh
sát giao thông xác định xe tải 70%, xe con 30%. Ở đây, công ty bảo hiểm đã hoàn thành cam kết của mình với
người được bảo hiểm là bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo
hiểm phải bảo lưu quyền đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba (ở ví dụ trên là phía xe tải) cho công ty bảo
hiểm.
Vụ cháy một tòa nhà văn phòng đã làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của HĐBH TNDS của chủ sử dụng
lao động (doanh nghiệp X đối với người lao động (một số nhân viên của doanh nghiệp X bị thương trong vụ
cháy). Xác định được lỗi của vụ cháy thuộc về một chủ xưởng hàn. Trong trường hợp này sau khi bồi thường
cho doanh nghiệp X theo thỏa thuận của HĐBH trách nhiệm dân sự của chủ sử dụng lao động, DNBH sẽ thế
quyền doanh nghiệp X để đòi chủ xưởng hàn một phần hoặc toàn bộ số tiền mà chủ xưởng hàn phải bồi thường
theo quy định về trách nhiệm dân sự của pháp luật.
10. Quy luật số lớn
Nội dung
Mục đích hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh. Muốn
đạt được mục tiêu này thì doanh nghiệp bảo hiểm phải lập cho được quỹ bảo hiểm từ phí bảo hiểm và chỉ chi
trả trong phạm vi quỹ bảo hiểm, tức quỹ bảo hiểm bao giờ cũng phải lớn hơn số tiền bảo hiểm mà doanh
nghiệp phải chi trả
Quy luật số lớn cho rằng: Khi ta chọn ngẫu nhiên các giá trị (mẫu thử) trong một dãy các giá trị (quần thể),
kích thước dãy mẫu thử càng lớn thì các đặc trưng thống kê trung bình, phương sai,... của mẫu thử càng "gần"
với các đặc trưng thống kê của quần thể
Chỉ áp dụng được quy luật số lớn khi:
Số lượng lớn các rủi ro và tổn thất tương tự: Việc quan sát phải tiến hành trên một số lượng lớn,
đồng thời phải trên cơ sở phân nhóm rủi ro, phân nhóm đối tượng bảo hiểm theo những tiêu thức thích hợp. Ví
dụ: để tính toán thiệt hại về thương tật thân thể con người do tai nạn, người ta quan sát trên một số lượng lớn
các vụ tai nạn xảy ra, gây thiệt hại cho sức khoẻ con người và trong một khoảng thời gian thường là một năm
Các rủi ro tổn thất phải độc lập: Việc xảy ra hay không xảy ra của một biến cố không làm thay đổi
khả năng xảy ra của biến cố khác
Ý nghĩa
Quy luật này giúp các Công ty bảo hiểm ước tính xác suất rủi ro nhận bảo hiểm, nhằm giúp tính phí và
quản lý các quỹ dự phòng chi trả, bởi: Công ty bảo hiểm chỉ bảo đảm cho các sự cố ngẫu nhiên, nếu tính riêng
từng trường hợp đơn lẻ, việc bảo hiểm có thể giống như một trò chơi may rủi; Song tính trên một số lớn đối
tượng được bảo hiểm, Công ty bảo hiểm có thể dự đoán được về khả năng xảy ra sự cố ở mức độ tương đối
chính xác có thể chấp nhận được.
Ví dụ
A và B đều có thể bị tai nạn trong năm với xác suất là
Như vậy,
Tổn thất kì vọng mỗi người là:
%, tương ứng thiệt hại là 5 triệu đồng mỗi người.
= 20% x 5 + 80% x 0 = 1 (triệu đồng)
=√
Độ lệch chuẩntổn thất (mức độ phân tán của tổn thất kì vọng) của mỗi người là:
% -1)^2+20%(5-1)^2 ) =
Nếu hai người tham gia chung vào một quỹ bảo hiểm thì:
Tình huống
Tổn thất
(triệu đồng)
Xác suất
Cả 2 không bị
0
người gánh chịu
0
0.8x0.8= 64%
A bị, B không bị 5
2.5
0.2x0.8= 16%
A không bị, B bị 5
2.5
0.8x0.2=16%
Cả hai đều bị
5
0.2x0.2=4%
10
Như vậy, việc tham gia vào quỹ và chia sẻ đã làm thay đổi tổn thất mà mỗi người gánh chịu
Tổn thất kì vọng mỗi người vẫn là 1 triệu đồng:
64% x 0 + 2x16%x2.5+4%x5 = 1 (triệu đồng)
=√
Độ lệch chuẩn tổn thất của mỗi người là:
% -1)^2+2x16%(2.5-1)^2+4%ࠟ(5-1)ࠠ^2 )=1.414< 2
Càng nhiều người tham gia vào quỹ này thì độ lệch chuẩn tổn thất của mỗi người sẽ càng tiến về
tổn thất trung bình của mỗi người sẽ càng tiến đến giá trị tổn thất kì vọng là 1 triệu đồng.
Kết luận: Việc tham gia vào quỹ bảo hiểm sẽ:
như vậy
Tính bấp bênh trong dự báo tổn thất của mỗi thành viên không còn lớn nữa
Thông qua Quỹ, mỗi thành viên không chỉ chia sẻ tổn thất với nhau mà rủi rui (tổn thất) của từng
thành viên cũng giảm đi.
CHƯƠNG : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG
1. Bảo hiểm hàng không là gì? Vì sao trong ngành hàng không lại cần bảo
hiểm?
Bảo hiểm hàng không là biện pháp chia sẻ bớt rủi ro, tổn thất cho người chuyên chở/nhà vận chuyển hành
khách/ hành lý và hàng hóa bằng đường hàng không.
Trong những năm gần đây, các sự cố tàu bay xảy ra nhiều ở mọi nơi, những sự cố, rủi ro, thiệt hại, tổn thất
nghiêm trọng liên tục xảy ra, khiến nhiều nhà điều hành của các nhà vận chuyển, nhà chuyên chở phải cùng
ngồi lại, bàn bạc về những phương pháp bảo hiểm tốt hơn cho từng loại dịch vụ của họ, ở Việt Nam hiện nay có
các công ty bảo hiểm cung ứng dịch vụ bảo hiểm hàng không như:
o
o
o
o
o
o
Tổng công ty bảo hiểm Bảo Việt
Tổng công ty bảo hiểm dầu khí PVI
Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện PTI
Tổng công ty bảo hiểm Toàn cầu GIC
Tổng công ty bảo hiểm BIDV
Tổng công ty bảo hiểm quân đội
Đối tượng bảo hiểm trong bảo hiểm hàng không bao gồm cả tài sản và sinh mạng của con người và cung
cấp bảo hiểm cho các hãng hàng không, hãng sản xuất tàu bay, các sân bay, đơn vị cung ứng xăng dầu, đơn vị
cung cấp các sản phẩm dùng trong ngành hàng không, bảo hiểm vệ tinh… và có các loại hình bảo hiểm đặc thù
áp dụng cho mỗi đơn vị mua bảo hiểm như trên.
Đặc điểm ưu việt của ngành hàng không là tốc độ và an toàn, tuy nhiên khi xảy ra tai nạn hàng không thì
kết quả lại vô cùng khốc liệt. thiệt hại về tài sản và con người là vô cùng lớn, vẫn thường xảy ra mà con người
không thể tiên liệu được. đền bù cho những tổn thất này thuộc về trách nhiệm của nhà vận chuyển. để đảm bảo
cho hãng hàng không được bình thường khi rủi ro xảy ra và bù đắp phần nào cho hành khách gặp nạn, người
chuyên chở/hãng vận chuyển bắt buộc phải mua bảo hiểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại với bên thứ , đối
với tính mạng, sức khỏe của hành khách, cũng như việc mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hàng hóa, hành lý của hành
khách hoặc thực hiện các biện pháp bảo đảm khác đến mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
người vận chuyển quy định. Bảo hiểm bắt buộc này bảo vệ quyền lợi cho cả người vận chuyển hàng không và
hành khách cũng như các bên liên quan khác.
Tổng lượng đền bù tổn thất rất là lớn, chính vì vậy để chia sẻ bớt rủi ro cũng như tổn thất cho hoạt động
hàng không, hoạt động bảo hiểm hàng không là rất cần thiết, điều đó xuất phát từ những nguyên nhân sau:
o
o
o
Giá trị bảo hiểm của các đối tuộng trong ngành hàng không là rất lớn
Đảm bảo an toàn xã hội
Đảm bảo ổn định kinh doanh của hãng hàng không
2. Các đối tượng chính của Bảo hiểm hàng không
Đối tượng của ngành hàng không là tàu bay; cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hàng không; hành khách, hàng
hóa; nhân viên tổ bay.
Tàu bay: từ loại tàu bay có động cơ, chỉ chở tối đa
hành khách với những cự li ngắn đã thay thế
bằng các loại tàu bay bốn động cơ, tùa bay phản lực và các loại tàu bay phản lực khổng lồ với tốc độ
siêu âm chuyên chở hàng trăm khách. Chẳng hạn như tàu bay B
hay A
. Giá tàu bay cũng tăng
lên không ngừng, các hãng hàng không cần một lượng vốn rất lớn để đầu tư mua, thuê tàu bay.
Cơ sở hạ tầng và trang thiết bị: đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ, thiết bị phục vụ cất hạ cánh, thiết
bị đảm bảo an toàn của sân bay, hệ thống điều hành chỉ huy bay, hệ thống cung cấp nhiên liệu cho tàu
bay, hệ thống kho tàng cung cấp phụ tùng cho tàu bay… những cơ sở hạ tầng và các trang thiết bị này
cần đầu tư một lượng tiền rất lớn.
Hành khách: mức bồi thường cho hành khách phụ thuộc vào nhiều yếu tố: quy định trong hệ thống
luật có liên quan, nhân thân, quốc tịch hành khách, mức độ lỗi của hãng hàng không,… hệ thống pháp
luật quy định các mức giới hạn bồi thường càng ngày càng tăng thể hiện chi phí bồi thường càng ngày
càng tăng thể hiện chi phí bồi thường hành khách ngày càng lớn của các hãng
Do giá trị bảo hiểm của các đối tuông trong ngành hàng không lớn như vậy, năng lực tài chính của một
công ty bảo hiểm duy nhất khó có thể đủ để thanh toán, bồi thường trong trường hợp xảy ra tổn thất. vì lý do
này, các công ty kinh doanh bảo hiểm hàng không thường phải sử dụng đến biện pháp tái bảo hiệm để tăng
năng lực nhận bảo hiểm của mình và đảm bảo khả năng thanh toán trong trường hợp xày ra sự cố lớn.
3. Những quy định để tiết chế bảo hiểm hàng không.
Các quy định của Việt Nam
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000
Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 đc bổ sung chỉnh sửa năm
có những quy định chung về quản lý
nhà nước trong kinh doanh bảo hiểm. tóm tắt những nội dung chính các quy định như sau:
Luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật có liên quan, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế
Tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên lãnh thổ CHXHCNVN phải tuân thủ những quy định của
luật này và các quy định khách của pháp luật có liên quan. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCNVN
ký kết hoặc tham gia có quy định khác với quy định của luật này thì áp dụng điều ước quốc tế đó. Các bên tham
gia bảo hiểm có thể thỏa thuận áp dụng tập quán quốc tế, nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam
Các loại nghiệp vụ bảo hiểm
Bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm phi nhân thọ
Bảo hiểm sức khỏe
Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do chính phủ quy định
Bột tài chính quy định danh mục sản phẩm bảo hiểm
Cơ quan quản lý nhà nước
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
Bộ tài chính chịu trách nhiệm trước chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi quyền hạn và nhiệm vụ của mình thực hiện QLNN về kinh doanh
bảo hiểm tại địa phương theo quy định của pháp luật
Luật hàng không dân dụng Việt Nam (2006)
Chương VII luật HKDDVN
quy định trách nhiệm dân sự của người vận chuyển với các nội dung về:
Quyền và trách nhiệm dân sự của người vận chuyển
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với người thứ ba ở mặt đất
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tàu bay va chạm hoặc gây cản trở lẫn nhau
Các quy định quốc tế về trách nhiệm của nhà vận chuyển trong hoạt động hàng không
Tính chất quốc tế của ngành vận chuyển hàng không ->xây dựng 1 hệ thống các quy tắc thống nhất cho
việc vận chuyển hk quốc tế.
Thuyết chủ quyền quốc gia được ghi nhận vào công ước Paris về việc quy định giao thông hàng không
(13/10/1919) sau Thế chiến I
Thế chiến II sắp kết thúc, sự phát triển của ngành hàng không dân dụng quốc tế có thể giúp cho việc gìn
giữ tình hữu nghị và giao lưu giữa các quốc gia, song việc lạm dụng có thể trở thành mối đe dọa an ninh chung,
công ước Chicago 1944 về ngành HKDD ra đời. hệ thống công ước Warsaw ra đời bao gồm các điều ước quốc
tế bổ sung cho nhau trên cơ sở cái sau bổ sung cho cái trước trên nền tảng công ước Warsaw
. Đưa ra các
quy tắc, quy định thống nhất mang tính chất quốc tế về quyền hạn và trách nhiệm của các bên trong việc khai
thác vận chuyển hành khách, hành lý và hàng hóa bằng đường hàng không.
Công ước Warsaw 1929
Công ước Rome 1952
Nghị định thư Hangue năm
Thỏa ước Montreal năm
Nghị định thư Guatemala năm
Các nghị định thư Montreal năm
Công ước Montreal 1999
CHƯƠNG : CÁC LOẠI BẢO HIỂM CỦA NHÀ VC HK
1. Bảo hiểm thân tàu bay
Đối tượng bảo hiểm
Người sở hữu/điều hành tàu bay mua bảo hiểm thân tàu bay là để bồi thường tổn thất hoặc thiệt hại đối
với thân tàu bay do tai nạn bất ngờ gây nên.
Tùy vào yêu cầu của người tham gia bảo hiểm, các nhà bảo hiểm cam kết bồi thường, thay thế hay sửa
chữa tổn thất hoặc thiệt hại do các rủi ro được bảo hiểm gây nên cho tàu bay của khi nó đang bay, lăn/đỗ trên
mặt đất. (sở dĩ có sự tách biệt theo các pha hoạt động là do có một số những loại trừ bảo hiểm và mức miễn
thường được áp dụng khi tàu bay đang bay, đang chạy/ đậu trên mặt đất là khác nhau).
Giá trị và miễn thường bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là giá trị thực tế của chiếc tàu bay tại thời điểm ký kết hợp đồng bảo hiểm. người mua bảo
hiểm tự quyết định giá mua bảo hiểm thân tàu bay với giá trị bao nhiêu căn cứ vào nhiều yếu tố (giá trị
trước/sau khấu hao, giá trị để đủ chi phí mua 1 chiếc tb mới, giá tàu mua mới cộng thêm %,… công ty bảo
hiểm xét bồi thường theo giá trị được mua bảo hiểm.
Người bảo hiểm có quyền lựa chọn chi trả hoặc thay thế tàu bay trong trường hợp tổn thất và quyền lựa
chọn này được thể hiện trong đơn bảo hiểm. trên cơ sở này nếu tàu bay bị tổn thất toàn bộ thực tế hoặc tổn
thất toàn bộ ước tính, người bảo hiểm có quyền thanh toán số tiền được bảo hiểm nêu trong đơn bảo hiểm
hoặc cung cấp cho người được bảo hiểm một tàu bay thay thế miễn là tau bay thay thế có thể được mua với số
tiền không vượt quá giá trị được bảo hiểm. trong một số trường hợp do việc s73 dụng tàu bay mới nên chi phí
để sửa chữa các bộ phận bị hư hại của tàu cũ có thể cao hơn nhiều do việc khó tìm bộ phận thay thế.
Thuật ngữ miễn thường trong bảo hiểm có nghịa là người được bảo hiểm phải tự chịu số tiền tổn thất đầu
tiên hoặc một phần của khiếu nại bồi thường. hiện nay mức miễn thường của tàu bay thân rộng là 1.000.000$
cho một tai nạn, tàu bay thân hẹp là 500.000$ cho một tai nạn.
Phí bảo hiểm
Phương pháp tính phí:
Đối với bảo hiểm thân (loại hình bảo hiểm tài sản) từ trước đến nay cách tính là % giá trị tài sản, được xác
định bằng tỷ lệ phần trăm của giá trị được bảo hiểm của động cơ và tỷ lệ phó tahy đổi theo tuyến đường bay,
kinh nghiệm trong quá khứ.
Hoạt động trong môi trường cạnh tranh nên các công ty bảo hiểm thường áp dụng các điều khoản ưu đãi,
biện pháp giảm phí để thu hút và giữ khách hàng.
Người được bảo hiểm có thể được giảm phí thông qua việc dc hoàn lại 1 phần phí bảo hiểm đã
đóng nếu họ không có khiếu nại trong thời hạn của bảo hiểm
Hoàn phí kinh nghiệm tốt: một hình thức giảm phí khác, mức hoàn phí cố định X sẽ được thực
hiện nếu tổng khiếu nại theo một đơn nhỏ hơn Y % của phí bảo hiểm thường Y=50%)
Giảm phí đôi khi lại dưới dạng không khiếu nại: tức là thưởng khi không có khiếu nại trong thời
gian bảo hiểm
Hoa hồng lợi nhuận: tính trên cơ sở dư giữa phí bảo hiểm và số tiền khiếu nại
2. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hàng hóa, hành khách và bên thứ 3
Đối tượng và phạm vi của bảo hiểm trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển
Loại hình bảo hiểm trách nhiệm pháp lý=> người được bảo hiểm teho hdbh là người vận chuyển người có
trách nhiệm đóng phí bh cho ctbh
Đối tượng được bảo hiểm chính là trách nhiệm pháp lý theo luật định của người dc bh, có thể là:
Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển đối với hành khách, hành lý và hàng hóa
Trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển đối với bên thứ ba
Hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp này là hợp đồng bảo hiểm giới hạn mức trách nhiệm.
Phạm vi bảo hiểm:
Thiệt hại trong tai nạn hàng không:
Thiệt hại về vật chất tàu bay
Thiệt hại về hành lý, hàng hóa
Thương tổn cho hành khách được vận chuyển và người thứ 3 trên mặt đất
Bảo hiểm trách nhiệm của người vận chuyển đối với hành khách, hành lý, hàng hóa.
Người bảo hiểm thay mặt nhà vận chuyển ng đc bh thanh toán số tiền mà nhà vc có trách nhiệm bồi
thường thiệt hai khi:
Thương tật về con người (chết hoặc bị thương khi đang ở trong tb hoặc lên xuống tb)
Mất hoặc hư hỏng hành lý kí gửi, hàng hóa trong quá trình vc, bảo quản theo phiếu hành lý hoặc không
vận đơn
Mất hoặc hư hỏng tư trang, hành lý xách tay do hành khách tự bảo quản trong quá trình vc (trong
trường hợp tàu bay bị tổn thất toàn bộ)
Ngoài ra
Án phí và chi phí khác như thỏa thuận
Chỉ bồ thường đến mức giới hạn trách nhiệm đã quy định trong hdbh sau khi trừ mức miễn thường
Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm với:
Tổn thất về người và tài sản hoặc đối tác kinh doanh của người được bảo hiểm
Nhân viên của người dcbh khi đối tượng này đang thực hiện nhiệm vụ
Trách nhiệm phát sinh từ việc hoạt động tổ chức du lịch, khách sạn, nơi giải trí, các hoạt động phạm
pháp và phạm tội.
Tổn thất về người và tài sản của nhân viên tổ lái khi họ đang làm nhiệm vụ
Bảo hiểm trách nhiệm của người vận chuyển đối với bên thứ 3
Trong phạm vi bảo hiểm về trách nhiệm pháp lý của người vận chuyển đối với người thứ 3, bảo hiểm sẽ
bồi thường các thiệt hại về trách nhiệm pháp lý phát sinh do:
Thương tật về con người (chết hoặc bị thương của ng thứ 3
Hư hỏng, thiệt hại tài sản của ng thứ 3 do tàu bay hoặc bất kỳ một người hoặc một vật thể nào từ tàu
bay rơi xuống gây ra
Ngoài ra
Án phí dân sự và các chi phí khác đã được thỏa thuận
Trách nhiệm bồi thường của người bh sẽ không phát sinh trong các trường hợp sau:
Tổn thất về người và tài sản xảy ra đói vs người đc bảo hiểm hoặc bên cùng tham gia kinh doanh vs ng
dc bảo hiểm khi người này đang làm nhiệm vụ của họ đối vs ng dc bảo hiểm
Tổn thất về ng và tài sản xảy ra đối với hành khách khi họ đang ở trong tàu bay hoặc đang lên xuống
tàu bay
Tổn thất về người và tài sản thuộc quyền quản lý và sở hữu của người dc bảo hiểm
Ngoài ra người bảo hiểm cũng không có trách nhiệm bồi thường với các khiếu nại phát sinh trực tiếp hoặc
gián tiếp do:
Chiến tranh, không tặc
Tiếng ồn, ô nhiêm
Rủi ro hạt nhân
Các rủi ro tương tự
Mức giới hạn trách nhiệm bảo hiểm:
Căn cứ vào giới hạn trách nhiệm theo các công ước quốc tế mà các nước tham gia ký kết công ước phải
thực hiện, theo hợp đồng thương mại giữa hãng hàng không và các đối tác như hd thuê mua tàu bay, hd khia
thác thương mại giữa các hãng hàng không) và các yêu cầu của nhà chức trách địa phương mà hãng hàng
không đó đang khai thác.
thể.
Tuy nhiên công ty bảo hiểm thường giới hạn mức trách nhiệm tối đa của mình trong từng đơn bảo hiểm cụ
Ngoài các mức giới hạn trách nhiệm, ng bh còn quy định mức giới hạn tổng cộng cho một vụ sự cố. các mức
giới hạn tổng cộng này có thể khác nhau đối với mỗi loại tàu bay.
Thời hạn bảo hiểm
Thường rất ngắn. tuy nhiên hiện nay do sự biến động của thị trường hàng không cũng như thị trường bảo
hiểm hàng không, các hợp đồng bảo hiểm thường có thời hạn
năm.
3. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với tổ bay
Nhân viên tổ bay bao gồm: (được ng khai thác bay chỉ định để thực hiện nhiệm vụ trong chuyến bay)
Tổ lái
Tiếp viên hàng không
Các nhân viên hàng không khác theo yêu cầu thực hiện chuyến bay
Có nghĩa vụ tuân thủ mệnh lệnh của ng chỉ huy tàu bay và không dc rời tàu bay khi chưa có lệnh của
người chỉ huy tb
Là loại bảo hiểm tay nạn tự nguyện đối với đối tượng là nhân viên tổ bay.
Thường được kí kết trực tiếp giữa người dc bảo hiểm vs công ty bảo hiểm hoặc ký kết thông qua cơ quan
chủ qau3n hoặc cơ quan vận chuyển trong đó thỏa thuận số tiền bảo hiểm
Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho người dc bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm trong trường hợp chết và
bồi thường theo tỷ lệ thương tật và các chi phí khác trong trường hợp bị thương.
BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM HÀNG KHÔNG
BẢO HIỂM TAI NẠN NHÂN VIÊN TỔ LÁI
1.
Khái niệm về Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ lái
Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ lái là bảo hiểm tai nạn đối với hành khách hoặc nhân viên tổ bay. Đây là bảo
hiểm tự nguyện, ký trực tiếp giữa người được bảo hiểm được công ty bảo hiểm hoặc ký thông qua cơ quan chủ
quản hoặc cơ quan vận chuyển có thỏa thuận số tiền bảo hiểm. Công ty bảo hiểm sẽ bồi thường toàn bộ số tiền
bảo hiểm trong trường hợp chết và theo tỉ lệ thương tật cùng các chi phí khác trong trường hợp bị thương.
2.
Ví dụ về Bảo hiểm tai nạn nhân viên tổ lái
Ngày 28/10, một hãng bảo hiểm của Việt Nam đã hoàn tất các thủ tục giải quyết bồi thường bảo hiểm tổn
thất toàn bộ thân máy bay cho máy bay trực thăng EC
T số đăng ký VN-8632 bị tai nạn trong quá trình
bay tập tại Vũng Tàu vào ngày / /
vừa qua, với số tiền bồi thường 3,5 triệu đô la Mỹ.
Máy bay trực thăng của Trung tâm Huấn luyện bay (Công ty Trực thăng Miền Nam) thuộc Tổng công ty
trực thăng Việt Nam (VNH) bị rơi tại núi Dinh, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sau khoảng 15 phút bay huấn luyện. Tại
thời điểm xảy ra sự cố, trên máy bay có 3 phi công gồm 1 phi công giáo viên và 2 học viên.Ngày 19/10/2016,
xác chiếc máy bay bị rơi và phi công hy sinh đã được tìm thấy. Máy bay gặp sự cố là loại máy bay EC 130T2
sản xuất tại Pháp năm
, được sử dụng cho nhiều mục đích như huấn luyện, chở khách du lịch, tham quan
từ trên cao, bay thám sát địa bàn, khảo sát các chương trình kinh tế, tìm kiếm cứu nạn với tầm bay xa nhất 606
km.
Bảo hiểm PVI là nhà bảo hiểm gốc cho toàn bộ đội bay của VNH từ năm
bao gồm các loại hình bảo
hiểm thân máy bay, trách nhiệm đối với người ngồi trên máy bay và phi hành đoàn. Trong ngày xảy ra tổn thất,
hãng bảo hiểm này đã thành lập Tổ giải quyết sự cố khẩn cấp có mặt tại Vũng Tàu phối hợp với Công ty Trực
thăng Miền Nam và các cơ quan chức năng tham gia công tác tìm kiếm cứu nạn, giám định sự cố cũng như tư
vấn cho khách hàng các vấn đề liên quan đến bảo hiểm. Hãng đã tiến hành tạm ứng hỗ trợ cho VNH số tiền 500
triệu đồng/gia đình phi công hy sinh.
BẢO HIỂM RỦI RO CHIẾN TRANH
1.
Khái niệm về Bảo hiểm rủi ro chiến tranh – War Risk Insurance
Bảo hiểm rủi ro chiến tranh là một loại hình bảo hiểm khi xảy ra các thiệt hại nguyên nhân từ chiến tranh.
Bảo hiểm rủi ro chiến tranh thường được sử dụng trong ngành công nghiệp vận tải và hàng không.
Mức phí bảo hiểm thay đổi dựa trên sự ổn định mong đợi của các quốc gia mà máy bay đi qua trong hành
trình.
2.
Đối tượng bảo hiểm:
Bảo hiểm rủi ro chiến tranh có hai thành phần:
-
Rủi ro hàng hoá và con người, bao gồm mọi người và vật dụng bên trong;
Rủi ro Thân tàu, bao gồm các thành phần và chi tiết cấu tạo nên thân tàu.
Giá trị bảo hiểm được xác định dựa trên giá trị ước tính cho mỗi thành phần được bên thứ Ba thẩm định và
đánh giá.
3.
bởi:
Phạm vi bảo hiểm
Bảo hiểm rủi ro chiến tranh bảo hiểm cho các tổn thất và thiệt hại xảy ra cho đối tượng bảo hiểm gây ra
•
Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổi loạn khởi nghĩa hoặc xung đột dân sự phát sinh từ những
biến cố đó, hoặc, bất kỳ hành động thù địch nào gây ra bởi hoặc chống lại một thế lực tham chiến.
•
mà có.
•
•
4.
Chiếm, bắt giữ, kiềm chế hay cầm giữ và hậu quả của những việc đó hoặc bất kỳ mưu toan nào vì thế
Mìn, thuỷ lôi, bom trôi dạt hoặc những vũ khí chiến tranh trôi dạt khác.
Một số chính sách tại các quốc gia cũng bao gồm thiệt hại do vũ khí gây hủy diệt hàng loạt.
Thực tiễn về Bảo hiểm rủi ro chiến tranh
Vụ tai nạn máy bay mang số hiệu MH17 – Malaysia Airlines
Ngày 17/7/2014, máy bay mang số hiệu MH17 của hãng hàng không Malaysia Airlines bị tên lửa đất đối
không bắn rơi khi đang trên hành trình từ Amsterdam tới Kuala Lumpur.
Tất cả
hành khách và
thành viên phi hành đoàn trên máy bay đều thiệt mạng. Việc xác định trách
nhiệm pháp lý rất căng thẳng và có thể kéo dài, nhưng Căn cứ vào thỏa thuận về hàng không quốc tế thuộc
Công ước Montreal, Malaysia Airlines phải có trách nhiệm chi trả những khoản tiền bồi thường ban đầu cho gia
đình các nạn nhân, cho dù tai nạn có thuộc lỗi của họ hay không. Mức chi trả tối đa khoảng 170.000 USD/hành
khách.
BẢO HIỂM RỦI RO BẮT CÓC VÀ CHIẾM ĐOẠT
1.
Khái niệm về Bảo hiểm rủi ro bắt cóc và chiếm đoạt
Cũng như rủi ro chiến tranh ,rủi ro bắt cóc và chiếm đoạt máy bay cũng bị loại trừ ra khỏi hợp đồng bảo
hiểm thông thường và được bảo hiểm riêng với điều kiện đặc biệt. Hợp đồng này chỉ hiệu lực trong một
khoảng thời gian nhất định có thể khẳng định rằng : máy bay sẽ không được hoàn trả cho người được bảo
hiểm.
Ví dụ : Bảo hiểm trong trường hợp Không tặc với công ty BH PVI
Trong trường hợp người được bảo hiểm, trong suốt chuyến đi và đang trên máy bay, là nạn nhân của một
vụ không tặc, và vụ không tặc này diễn ra trong khoảng thời gian là số giờ liên tục được quy định tại Bảng tóm
tắt quyền lợi bảo hiểm, Bảo hiểm PVI sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm một khoản tiền cho mỗi khoảng
thời gian là số giờ liên tục được nêu trên và lên đến hạn mức tối đa quy định tại Bảng tóm tắt quyền lợi bảo
hiểm
2.
Đối tượng của bảo hiểm rủi ro bắt cóc chiếm đoạt
Người bảo hiểm : Công ty bảo hiểm
Người được bảo hiểm : Hãng HàngKhông
Đối tượng bảo hiểm : những tổn thất do bắt cóc , cưỡng đoạt ,khống chế,…
3.
Ví dụ của Bảo hiểm rủi ro bắt cóc chiếm đoạt
Từng có giả thiết cho rằng sự mất tích của máy bay MH370 của hãng hàng không Malaysia Airlines là do bị
bắt cóc.
Hình ảnh đường bay trước khi mất tích của MH370
Trong trường hợp đó ,công ty bảo hiểm sẽ tiêu tốn một số tiền không nhỏ để bồi thường. Chi phí bồi
thường trung bình là 2,13 triệu USD cho mỗi hành khách. Do hầu hết cách hành khách người TQ trên máy bay
có mua bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm nhân thọ. Cả Malaysia và Trung Quốc có nhiều công dân nhất trên chuyến
bay đều là những nước đã kí hiệp định về thống nhất các luật lệ cho việc vận tải quốc tế bằng hàng không .
CÁC LOẠI HÌNH BẢO HIỂM KHÁC
1. Bảo hiểm mất khả năng sử dụng.
Công ty Bảo hiểm sẽ bồi thường cho Hãng Hàng Không một khoản thu nhập bị mất thường là 1 phần nhỏ
khoản thu nhập bị mất) do máy bay bị tai nạn bất ngờ phải dừng hoạt động để sửa chữa. Loại bảo hiểm này chỉ
áp dụng với trường hợp máy bay bị tổn thất bộ phận. Bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian nhất
định (10-15 tuần). Công ty bảo hiểm sẽ thanh toán mọi chi phí liên quan đến việc bảo dưỡng máy bay trừ
những khoản buộc phải chi trong mọi trường hợp. Theo nguyên tắc bảo hiểm này, số tiền bảo hiểm có thể gần
đủ để thuê một tàu bay khác trong ngắn hạn.
Ví dụ: Ngày 1-10-2017, chuyến bay AF066 của Air France đi từ Paris, Pháp đến Los Angeles, Mỹ đã phải
chuyển hướng, hạ cánh xuống sân bay Goose Bay, Canada sau khi " trong động cơ bị hư hỏng nghiêm trọng".
Hàng trăm hành khách trên máy bay Airbus A
vô cùng hoảng sợ khi động cơ của nó "tróc vỏ", phát ra âm
thanh lớn và rung lắc. Nguyên nhân chính của sự cố hiện chưa được tiết lộ. Theo trang airfleets.net, chiếc A380
của Air France vận hành đã được năm; các động cơ của nó được sản xuất bởi Engine Alliance - một liên
doanh của General Electric Corp và bộ phận Pratt & Whitney của United Technologies Corp. Air France hiện
đang vận hành đội bay 10 chiếc A380 - máy bay chở khách lớn nhất thế giới do Airbus sản xuất.
Sự cố liên quan tới chiếc A380 của Air France đã nhắc lại một sự kiện tương tự khác xảy ra cách đây năm.
Một chiếc A380 của hãng Qantas khi đó đã bị hư động cơ nghiêm trọng sau khi cất cánh từ Singapore. Sau sự
cố, phía Qantas đã phải ngừng bay toàn bộ 6 chiếc A
đang có vào thời điểm đó trong vòng tuần. Được
biết, chiếc Airbus A380 nêu trên sử dụng động cơ GP
do hãng Engine Alliance sản xuất. Theo Engine
Alliance, động cơ GP
"được sản xuất nhằm mang lại độ tin cậy cao hơn với chi phí bảo trì ít tốn kém hơn.
2. Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm.
Hợp đồng này thường được ký với các nhà sản xuất máy bay ( chẳng hạn như nhà sản xuất máy bay Boeing
hoặc Airbus để bảo vệ cho những rủi ro do lỗi của người được bảo hiểm trong quá trình thiết kế, sửa chữa,
thay thế phụ tùng sản xuất gây ra. Vậy công ty bảo hiểm có trách nhiệm phải trả do hậu quả của lỗi tay nghề
hoặc lỗi của nhà sản xuất gây ra: Chết hoặc bị thương đối với hành khách, thiệt hại về người và tài sản đối với
người/bên thứ ba và mất khả năng sử dụng máy. Ví dụ: Chiếc máy bay Boeing 777 của hãng hàng không Asiana
Airlines (Hàn Quốc) gặp tai nạn khi hạ cánh tại sân bay San Francisco (Hoa Kỳ) vừa qua được bảo hiểm trị giá
2,3 tỷ USD. Tin tức cập nhật cho biết đến nay đã có hành khách bị chết và hơn
người bị thương. Theo
hãng tin Bloomberg, AIG là nhà bảo hiểm chính trong vụ tai nạn nói trên. Cụ thể hơn, tạp chí Canadian
Underwriter cho biết 10 hãng bảo hiểm của Hàn Quốc đồng bảo hiểm 4% giá trị hợp đồng, phần trách nhiệm
bảo hiểm còn lại thuộc về 30 công ty bảo hiểm nước ngoài. Đồng thời, một nguồn tin giấu tên tiết lộ với
Bloomberg rằng Willis là nhà môi giới chính trong giao dịch bảo hiểm này. Mặc dù vậy, AIG từ chối bình luận
do các quy định trong chính sách khách hàng của hãng còn Willis chưa đưa ra nhận xét gì. Đại diện của một
công ty bảo hiểm Hàn Quốc cho biết giá trị bảo hiểm nói trên (2,3 tỷ USD) là mức bồi thường tối đa căn cứ vào
các điều khoản trong hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên sẽ cần tới vài tháng để có thể tính toán chính xác số tiền
bồi thường .
3. Bảo hiểm rủi ro vỏ tàu trong khi chuyển động
Bảo hiểm này tương tự như bảo hiểm rủi ro thân tàu tại mặt đất khi không chuyển động, nhưng cung cấp
phạm vi bảo hiểm trong khi máy bay đang lăn bánh, nhưng không phải trong khi cất cánh hoặc hạ cánh. Thông
thường, phạm vi bảo hiểm sẽ dừng lại ở đầu cuộn cất cánh và chỉ có hiệu lực khi máy bay đã hoàn thành hạ
cánh tiếp theo. Do tranh chấp giữa các chủ sở hữu máy bay và các công ty bảo hiểm về việc liệu máy bay tai
nạn đang bay hoặc cố gắng cất cánh, loại bảo hiểm này đã bị ngắt bởi nhiều công ty bảo hiểm.
CHƯƠNG 4: TÁI BẢO HIỂM HÀNG KHÔNG
1. Tái bảo hiểm là gì? Tầm quan trọng của tái bảo hiểm đối với công ty bảo
hiểm và với người chuyên chở/nhà vận chuyển 97
Tái bào hiểm là sự bảo hiểm cho những rủi ro mà công ty bảo hiểm này gánh chịu cho công ty bảo hiểm
khác, là một phương thức mà trong đó các công ty bảo hiểm (cty bảo hiểm gốc) chuyển một hoặc nhiều phần
rủi ro cho một hoặc nhiều công ty bảo hiểm khác (cty bảo hiểm nhận tái bảo hiểm).
Tái bảo hiểm hay nói cách khác chính là sự phân tán rủi ro và giảm trách nhiệm bồi thường của các cty bảo
hiểm gốc trong trường hợp có tổn thất xảy ra trong quá trình hoạt động gây ra, đảm bảo số tiền bồi thường
không vượt quá khả năng tài chính cảu công ty bảo hiểm. chính vì thế ta nói tái bảo hiểm là bảo hiểm lại cho
nhà bảo hiểm, nhận tái bảo hiểm là nhận lại một phần hoặc toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm
khác đã nhận bảo hiểm.
Mỗi công ty bảo hiểm khi thành lập đều có một số vốn nhất định, do vậy khả năng nhận bảo hiểm cho một
rủi ro nào đó hoàn toàn bị giới hạn trong số vốn của công ty. Nhưng trong quá trình hoạt động kinh doanh,
công ty có thể nhận được những yêu cầu bảo hiểm lớn hơn khả năng tài chính của mình. Nếu công ty từ chối
nhận bảo hiểm thì sẽ mất khách hàng cũng như cơ hội kinh doanh để phát triển doanh nghiệp của mình trong
tương lai. Chính vì thế tái bảo hiểm là công cụ đắc lực trợ giúp công ty bảo hiểm có thể nhận được những yêu
cầu dịch vụ bảo hiểm vượt quá khả năng tài chính của của mình, đồng thời lại phát triển/khai thác những lĩnh
vực mới.
Đặc trung của nghiệp vụ bảo hiểm hàng không là các đối tượng được bảo hiểm thường có giá trị rất lớn,
vượt quá khả năng tài chính của các công ty bảo hiểm gốc. Chính vì cậy tái bảo hiểm chính là một công cụ đắc
lực giúp người chuyên chở, nhà vận chuyển cũng như các công ty bảo hiểm tránh được nguy cơ phá sản trước
những rủi ro hay tổn thất có thể xảy ra. Một đặc điểm nữa của bảo hiểm hàng không dẫn đến việc cần thiết phải
tái bảo hiểm là đối tượng tham gia bảo hiểm rất khác nhau, chẳng hạn như đối tượng bảo hiểm có thể là thân
tàu bay, con người, hàng hóa, vì vậy định phí không chính xác sẽ dẫn đến việc thu không bù được chi.
2. Ba hình thức của tái bảo hiểm, đặc điểm 104
Ba hình thức của tái bảo hiểm:
Tái bảo hiểm tự nguyện (tái bảo hiểm nhiệm ý): là hình thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất.
công ty nhượng toàn bộ quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm v
công ty nhận (nhà tái bảo hiểm) có quyền nhận hay từ chối rủi ro.
Ưu điểm: Giúp công ty nhượng có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro mà có giá trị
bảo hiểm lớn, vượt quá khả năng tài chính thông thường của mình bằng việc sử dụng chuyên môn và khả năng
của thị trường tái bảo hiểm quốc tế, có thể loại bỏ được những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi
tổn thất thuộc đơn vị rủi ro này xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mình
Nhược điểm: Công ty nhượng phải thông báo đầy đủ chi tiết của nghiệp vụ bảo hiểm gốc, không đảm bảo
thời gian tính trong việc phân tán rủi ro tái bảo hiểm, tức là công ty nhượng không có sự đảm bảo chắc chắn
của thị trường tái bảo hiểm khi họ nhận bảo hiểm một rủi ro nào đó, Chi phí hành chính, thủ tục giấy tờ tốn
kém làm giảm thu nhập kinh doanh, ít lãi. Thường xuyên phải đàm phán tái lập hợp đồng tái bảo hiểm trước
khi ký kết bảo hiểm gốc với khách hàng
Tái bảo hiểm bắt buộc (tái bảo hiểm khế ước): là sự thỏa thuận giữa công ty nhượng và nhà tái bảo
hiểm trong đó
Công ty nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm mà hai
bên đã thỏa thuận từ trước
Nhà tái bảo hiểm cũng bắt buộc chấp nhận toàn bộ rủi ro này.
Công ty nhượng toàn quyền trong việc chấp nhận bảo hiểm gốc, định phí mà không phải tham khảo
ý kiến của nhà tái bảo hiểm. công ty nhượng cũng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất có liên
quan đến rủi ro được bảo hiểm với mục đích bảo vệ quyền lợi chung của công ty nhượng và nhà tái
bảo hiểm.
Ngược lại nhà tái bảo hiểm sẽ phải chia sẻ những vận may rủi với công ty nhượng và sẽ chấp nhận
thanh toán tổn thất thược phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm để thỏa thuận.
Ưu điểm:
Giúp công ty nhượng chủ động chấp nhận, định phí bảo hiểm cho rủi ro bảo hiểm gốc mà không phải
mất thời gian tham khảo ý kiến của của nhà tái bảo hiểm, do đó hợp đồng bảo hiểm sẽ nhanh chóng
được ký kết .
Công ty nhượng được nhà tái bảo hiểm bảo vệ cho mọi rủi ro thuộc phạm vi hợp đồng, do đó khả
năng an toàn của công ty bảo hiểm được đảm bảo.
Việc nhận tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cho phép công ty tái bảo hiểm nhận được nhiều dịch
vụ hơn so với việc nhận từng hợp đồng tạm thời đơn lẻ. Nhà tái bảo hiểm có điều kiện thu được phí
lớn, phù hợp với nguyên tắc "quy luật số đông" giúp nhà tái bảo hiểm có điều kiện đẩy mạnh tiến bộ
kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc chấp nhận rủi ro mới.
Nhược điểm:
Thông thường nó có tính ổn định cho một giai đoạn nhất định, do đó thiếu tính linh hoạt trước
những thay đổi của công ty chuyển nhượng.
Vì mọi rủi ro phải đem tái đi cho nên đứng về phía công ty nhượng những đơn vị rủi ro có số tiền
bảo hiểm nhỏ vẫn phải đem tái đi trong khi khả năng tài chính của họ vẫn có khả năng đảm đương
được.
Nếu công ty nhượng thiếu kinh nghiệm, đặc biệt sơ suất việc ký kết hợp đồng bảo hiểm gốc thì hậu
quả đối với các nhà tái bảo hiểm rất khó lường trước được.
Với hình thức này, nhà tái bảo hiểm có điều kiện thu được số phí lớn nhất, phù hợp với nguyên tắc Quy
luật số đông (law of large numbers) giúp cho nhà tái bảo hiểm thực hiện được tốt vai trò kinh tế quốc dân của
họ về đẩy mạnh những tiến bộ kỹ thuật của ngành bảo hiểm bằng việc chấp nhận những rủi ro mới và các dạng
bảo hiểm mới.
Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn và bắt buộc kết hợp (tái bảo hiểm mở sẵn):
công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả các rủi ro bảo hiểm đã nhận
ngược lại nhà tái bảo hiểm ở buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng chuyển giao. Nhà
tái bảo hiểm ở hình thức này bất lợi hơn so với hình thức tùy ý lựa chọn (tự nguyện) vì không có
quyền từ chối những rủi ro mà công ty nhượng đưa ra dù họ không muốn)
Ưu điểm:
Công ty nhượng tái bảo hiểm không bắt buộc phải nhượng tất cả những dịch vụ mà mình nhận bảo
hiểm. Họ có lựa chọn dịch vụ để chào tái bảo hiểm từng phần trách nhiệm vượt quá khả năng giữ lại
của mình cho một hoặc một số nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn, thay vì đem phân chia toàn bộ các
phần vượt quá khả năng ấy cho các nhà tái bảo hiểm.
Tuy nhiên, công ty nhượng không được lợi dụng hình thức tái bảo hiểm này để lựa chọn những rủi
ro xảy ra tổn thất đưa vào hợp đồng và giữ lại những rủi ro có độ an toàn cao hơn. Để phòng ngừa
trường hợp này xảy ra, nhà tái bảo hiểm phải nắm được ý đồ của công ty nhượng, xem xét kỹ các rủi
ro mà công ty nhượng đem tái bảo hiểm và thường xuyên canh chừng diễn biến của thoả ước mà
mình đã ký kết.
Người nhận tái bảo hiểm có điều kiện thu được một nguồn phí tái bảo hiểm lớn hơn và có phần
thăng bằng hơn so với các hình thức tái bảo hiểm tạm thời.
Công ty nhượng tái bảo hiểm có điều kiện đem chào tái bảo hiểm bảo hiểm từng phần trách nhiệm
thặng dư so với khả năng tự giữ lại của mình cho một nhà tái bảo hiểm duy nhất hay cho một số nhà
tái bảo hiểm mà họ lựa chọn thay cho việc phải đem phân chia tất cả phần thặng dư so với khả năng
tự giữ lại của mình cho các nhà tái bảo hiểm. Tuy nhiên, cách tái bảo hiểm như thế này thường chỉ có
thể thực hiện được bằng cách chào cho các nhà tái bảo hiểm có tiềm lực thật lớn vì chỉ có họ mới có
thể nhận các giá trị bảo hiểm cao.
Nhược điểm:
Nhà tái bảo hiểm không có quyền từ chối nhưng rủi ro mà người tái bảo hiểm chuyển cho họ. Tuy
nhiên, những rủi ro đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã quy ước trong hợp đồng tái bảo
hiểm cố định.
Hình thức này không thuận lợi lắm cho các nhà tái bảo hiểm, bởi vì nguồn dịch vụ đưa vào hợp đồng
này không thường xuyên và tổn thất gây ra rất thất thường. Các bên tham gia hợp đồng cần phải có
sự trung thực tuyệt đối để đảm bảo cho các nhà tái bảo hiểm nhận được các dịch vụ hợp lý.