Tải bản đầy đủ (.pdf) (117 trang)

Thực trạng hoạt động của cán bộ y tế và kiến thức, thực hành về phòng bệnh uốn ván sơ sinh của phụ nữ có thai tại 4 xã huyện điện biên

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.36 MB, 117 trang )

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH

DƢƠNG THỊ QUỲNH CHÂU

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ Y TẾ VÀ
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH UỐN VÁN
SƠ SINH CỦA PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI 4 XÃ HUYỆN
ĐIỆN BIÊN

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

THÁI BÌNH - 2014


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI BÌNH

DƢƠNG THỊ QUỲNH CHÂU

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁN BỘ Y TẾ VÀ
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH UỐN VÁN
SƠ SINH CỦA PHỤ NỮ CÓ THAI TẠI 4 XÃ HUYỆN
ĐIỆN BIÊN
Chuyên ngành: Quản lý Y tế
Mã số: CK 62 72 76 05

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Vƣơng Thị Hoà


2. BS CKII. Đỗ Quang Hải

THÁI BÌNH - 2014


LỜI CẢM ƠN
Bằng kiến thức được trang bị từ nhà trường và từ thực tiễn công tác,
cộng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô giáo, các Nhà khoa
học đến nay tôi đã hoàn thành luận án tốt nghiệp của mình.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới Đảng ủy, Ban Giám
hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế Công cộng, toàn thể các
thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Y Dược Thái Bình, đã tạo điều kiện giúp đỡ,
góp ý kiến, để tôi hoàn thành luận án nghiên cứu của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng tới Nhà giáo ưu tú, PGS.TS
Vương Thị Hòa và BS. CKII Đỗ Quang Hải đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và hoàn thành luận án nghiên cứu, để có thể nâng cao kiến thức,
kỹ năng trong phát triển chuyên môn của mình sau này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Sở Y tế tỉnh Điện Biên, Trung tâm Y tế Dự
phòng tỉnh Điện Biên và Trung tâm Y tế huyện Điện Biên, các anh, chị đồng
nghiệp trong và ngoài Ngành, đã tạo mọi điều kiện, giúp tôi điều tra, thu thập
thông tin, xử lý số liệu kịp thời, nhanh chóng, chính xác, góp phần cho luận
án hoàn thành tốt đẹp.
Tôi luôn ghi nhớ, tri ân sâu sắc tới mọi thành viên trong gia đình,
những người thân yêu của tôi và các bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên,
giúp tôi vượt qua mọi khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn
thành Luận án này.
Trân trọng cảm ơn./.
Thái Bình, tháng 12 năm 2014
Dƣơng Thị Quỳnh Châu



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả trong Luận án này là trung thực và chưa có ai công bố trong bất
cứ công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./.
Học viên

Dƣơng Thị Quỳnh Châu


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AT

: Anti Tetanus

CSS

: Chết sơ sinh

PNCT

: Phụ nữ có thai

TC

: Tiêm chủng

TCMR


: Tiêm chủng mở rộng

UNFPA

: UN Fund for Population Activities
(Quỹ dân số liên hiệp quốc)

UNICEF

: United Nations Children's Fund
(Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc)

UV

: Uốn ván

UVSS

: Uốn ván sơ sinh

UV1

: Mũi tiêm văcxin uốn ván 1

UV2

: Mũi tiêm văcxin uốn ván 2

UV3


: Mũi tiêm văcxin uốn ván 3

UV4

: Mũi tiêm văcxin uốn ván 4

UV5

: Mũi tiêm văcxin uốn ván 5

UV2+

: Tổng các mũi tiêm UV2,UV3,UV4,UV5

UV3+

: Tổng các mũi tiêm UV3,UV4,UV5

VSDTTW

: Vệ sinh dịch tễ Trung ương

YTDP

: Y tế dự phòng

WHO

: Tổ chức y tế thế giới



MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................... 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................... 3
1.1. Vài nét về lịch sử bệnh uốn ván............................................................ 3
1.1.1. Tác nhân gây bệnh ......................................................................... 3
1.1.2. Sự lây truyền .................................................................................. 4
1.1.3. Tính cảm nhiễm và miễn dịch ........................................................ 4
1.2. Một số đặc điểm dịch tễ ....................................................................... 5
1.2.1. Tuổi mắc bệnh ............................................................................... 5
1.2.2. Giới mắc bệnh................................................................................ 6
1.2.3. Chủng tộc ...................................................................................... 6
1.2.4. Vùng địa lý .................................................................................... 6
1.3. Hoạt động phòng chống bệnh uốn ván sơ sinh ..................................... 7
1.3.1. Tiêm chủng vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai (PNCT) ............... 7
1.3.2 Thực hành đẻ sạch ........................................................................ 10
1.3.3. Hiểu biết đúng về phòng bệnh uốn ván sơ sinh ............................ 13
1.3.4. Thực hành đúng về phòng bệnh uốn ván sơ sinh .......................... 14
1.4. Một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh UVSS ................................. 14
1.5. Tình hình USVV trên thế giới và Việt Nam ...................................... 16
1.5.1. Tình hình UVSS trên thế giới....................................................... 16
1.5.2. Tình hình UVSS tại Việt Nam ..................................................... 19
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............ 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................... 25



2.1.1. Địa bàn nghiên cứu ...................................................................... 25
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu .................................................................. 28
2.1.3. Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2014. ............. 28
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................... 28
2.3. Các biến số và chỉ số .......................................................................... 31
2.4. Phương pháp thu thập thông tin trong nghiên cứu .............................. 32
2.5. Tổ chức thực hiê ̣n............................................................................... 32
2.6. Tiêu chí đánh giá sử dụng trong nghiên cứu ....................................... 33
2.7. Các biện pháp khắc phục sai số .......................................................... 35
2.8. Phương pháp xử lý số liệu .................................................................. 36
2.9. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu .................................................. 36
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................... 37
3.1. Thực trạng hoạt động phòng bệnh uốn ván sơ sinh của cán bộ y tế tại
huyện Điện Biên từ năm 2010 đến năm 2012 ............................................ 37
3.2. Đánh giá kiến thức, thực hành phòng bệnh uốn ván sơ sinh của phụ nữ
có thai tại địa bàn nghiên cứu năm 2014. .................................................. 50
Chƣơng 4: BÀN LUẬN .............................................................................. 63
4.1. Thực trạng hoạt động phòng bệnh uốn ván sơ sinh của cán bộ y tế tại
huyện Điện Biên từ năm 2010 đến năm 2012. ........................................... 63
4. 2. Kiến thức, thực hành phòng bệnh UVSS của phụ nữ có thai ............. 77
KẾT LUẬN ................................................................................................. 89
KIẾN NGHỊ ................................................................................................ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1.

Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia phòng bệnh UVSS theo dân tộc ....... 37


Bảng 3.2.

Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia phòng bệnh UVSS theo thâm niên
công tác .................................................................................... 38

Bảng 3.3.

Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia phòng bệnh UVSS theo trình độ
chuyên môn .............................................................................. 38

Bảng 3.4.

Số hoạt động mà cán bộ y tế tham gia trong công tác chăm sóc
sức khỏe bà mẹ trẻ em .............................................................. 39

Bảng 3.5.

Tỷ lệ cán bộ được đào tạo uốn ván sơ sinh .............................. 40

Bảng 3.6.

Tỷ lệ phụ nữ 15-35 tuổi được tiêm phòng uốn ván 2 mũi trở lên
trong 3 năm .............................................................................. 40

Bảng 3.7.

Tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván từ mũi 2 trở lên
trong 3 năm .............................................................................. 41


Bảng 3.8.

Thực trạng về nơi sinh con của phụ nữ có thai qua các năm ..... 41

Bảng 3.9.

Tỷ lệ trẻ mắc và chết do uốn ván sơ sinh qua các năm .............. 42

Bảng 3.10. Đặc điểm các ca bệnh uốn ván sơ sinh ...................................... 43
Bảng 3.11. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu theo tuổi và trình độ
học vấn ..................................................................................... 50
Bảng 3.13. Số lần mang thai của đối tượng nghiên cứu .............................. 52
Bảng 3.14. Tuổi thai của đối tượng tại thời điểm nghiên cứu ...................... 52
Bảng 3.15. Tỷ lệ PNCT biết tác dụng của tiêm phòng UVSS ..................... 54
Bảng 3.16. Tỷ lệ PNCT biết số mũi vaccin AT cần tiêm............................. 55
Bảng 3.17. Tỷ lệ PNCT biết thời gian tiêm vac xin AT .............................. 55
Bảng 3.18. Tỷ lệ PNCT biết nơi tiêm phòng vac xin AT ............................ 56
Bảng 3.19. Tỷ lệ PNCT biết ngày tiêm chủng ............................................. 56
Bảng 3.20. Tỷ lệ PNCT biết cơ sở nên đến để sinh con .............................. 57


Bảng 3.21. Tỷ lệ PNCT biết cách thức lây của độc tố uốn ván ................... 57
Bảng 3.22.

Tỷ lệ phụ nữ có thai được tiêm phòng uốn ván sơ sinh theo tuổi thai 58

Bảng 3.23. Người vận động PNCT đi tiêm chủng ....................................... 60
Bảng 3.24. Tỷ lệ phụ nữ có thai dự kiến nơi sinh con ................................. 60
Bảng 3.25. Dự kiến người tắm và chăm sóc rốn cho bé sau sinh................. 61



DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1.

Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia công tác tiêm phòng và hoạt động
chăm sóc SK bà mẹ trẻ em .................................................... 39

Biểu đồ 3.2.

Tỷ lệ phụ nữ có thai biết cần phải tiêm phòng uốn ván ......... 53

Biểu đồ 3.3.

Tỷ lệ PNCT biết mức độ nguy hiểm của UVSS ................... 53

Biểu đồ 3.4.

Địa điểm PNCT đến tiêm phòng uốn ván.............................. 59

Biểu đồ 3.5.

Tỷ lệ PNCT được nhận lời căn dặn của CBYT ..................... 59

Biểu đồ 3.6.

Tỷ lệ phụ nữ có thai dự kiến người đỡ đẻ.............................. 61


1


ĐẶT VẤN ĐỀ
Uốn ván là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở
nhiều nước đang phát triển thuộc Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ, đặc biệt ở
những vùng nông thôn và vùng nhiệt đới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế
giới trong những năm cuối của thể kỷ 20, ở các nước đang phát triển mỗi năm
có khoảng 500.000 trẻ bị chết vì UVSS. Tỷ lệ chết/mắc của uốn ván sơ sinh
(UVSS) rất cao, có thể tới trên 80%, nhất là ở trường hợp có thời gian ủ bệnh
ngắn. Tỷ lệ chết/mắc của uốn ván từ 10 - 90%, tỷ lệ chết cao nhất ở trẻ nhỏ và
người có tuổi. Năm 2000, tại Uganda có 3433 trường hợp uốn ván được ghi
nhận ở trẻ mới sinh, trong đó có 2.403 trẻ chết.
Bệnh UVSS hoàn toàn có thể dự phòng được bằng các biện pháp như
tiêm chủng vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai; thực hành đẻ sạch và chăm
sóc rốn sạch [6].
Năm 1980, trên thế giới ước tính có khoảng 20% trẻ em dưới 1 tuổi
được tiêm phòng vắc xin uốn ván. Tỷ lệ này đã tăng lên 83% vào tháng 7 năm
2013. Tiêm phòng uốn ván hàng năm đã cứu hàng trăm bà mẹ và trẻ sơ sinh.
Theo ước tính của WHO, năm 1998 ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong
do uốn ván sơ sinh chiếm 14% (215.000 trẻ) trong tổng số trẻ tử vong sơ sinh
thì năm 2010 số trẻ tử vong do uốn ván sơ sinh là 58.000 trẻ, giảm 93% so với
tỷ lệ tử vong do uốn ván sơ sinh cuối những năm 1980.
Tại Việt Nam, chương trình loại trừ uốn ván sơ sinh được triển khai
từ năm 1992. Trong giai đoạn 1996-2000, tỷ lệ mắc uốn ván sơ trung bình
năm của của cả nước là 0,13/1.000 trẻ đẻ sống. Từ năm 2005, Việt Nam đã
loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh theo quy mô huyện với tỷ lệ mắc dưới 1/1000
trẻ đẻ sống.


2


Giai đoạn 2009-2012, cả nước có 557 ca mắc UVSS trong đó có 382 tử vong; tại
tỉnh Điện Biên có 9 ca tử vong/11 ca mắc và tại huyện Điện Biên là 3 ca tử vong/4 ca mắc
cho thấy thực trạng mắc bệnh UVSS tỉnh Điện Biên cao so với cả nước [33], [34], [35].

Mặt khác tại Điện Biên vẫn còn tình trạng đẻ tại nhà, nhận thức của phụ
nữ và các bà mẹ có con nhỏ về phòng bệnh UVSS chưa thật tốt [32], [34], [35].
Từ những thực trạng trên chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng hoạt
động của cán bộ y tế và kiến thức, thực hành về phòng bệnh uốn ván sơ
sinh của phụ nữ có thai tại 4 xã huyện Điện Biên” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng hoạt động phòng bệnh uốn ván sơ sinh của cán
bộ y tế tại huyện Điện Biên từ năm 2010 đến năm 2012.
2. Đánh giá kiến thức, thực hành phòng bệnh uốn ván sơ sinh của
phụ nữ có thai tại địa bàn nghiên cứu năm 2014.


3

Chƣơng 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Vài nét về lịch sử bệnh uốn ván
Bệnh uốn ván được con người biết đến từ thời Hippocrate. Đến năm
1884 Carle và Rattone mô tả bệnh uốn ván điển hình ở thỏ bằng kỹ thuật do
Nicolaier thực hiện [8], [9]. Ông đưa ra giả thuyết rằng các triệu chứng quan
sát được ở con vật thí nghiệm là do một loại độc tố gây ra. Năm 1889,
Kitasato đã nuôi cấy được trực khuẩn uốn ván, xác định được độc tố và gây
bệnh thành công cho động vật thí nghiệm. Năm 1890 Behring và Kitasato tìm
ra kháng thể chống ngoại độc tố của vi khuẩn uốn ván là SAT (Serum Anti
Tetanus = huyết thanh kháng uốn ván).
Bệnh uốn ván là bệnh do độc tố uốn ván tác động vào hệ thần kinh cơ.
Sau khi người bệnh có vết thương hở tiếp xúc với nha bào uốn ván có trong đất,

môi trường xung quanh. Bệnh có thể và nguy hiểm ở trẻ sơ sinh gọi là UVSS.
Hầu hết trẻ sơ sinh mắc UVSS đều tử vong. UVSS hay gặp ở vùng nông thôn,
nơi có tỷ lệ đẻ tại nhà cao và chăm sóc rốn không đảm bảo vô trùng [15].
1.1.1. Tác nhân gây bệnh
Bệnh UVSS là một dạng của bệnh uốn ván, do độc tố của vi khuẩn
Clostridium tetani gây nên (Còn gọi trực khuẩn uốn ván). Trực khuẩn này
sống trong môi trường kỵ khí, bắt mầu Gram (+). Khi gặp điều kiện không
thuận lợi chúng có khả năng tồn tại dưới dạng nha bào, có sức đề kháng với
nhiệt độ và nhiều tác nhân hoá học khác rất khó bị tiêu diệt. Trực khuẩn thẳng
và mảnh, dài từ 3 - 4 m, rộng khoảng 0,4 m. Nha bào uốn ván hình bầu dục
ở cuối (Hình dùi trống) [9].
Trực khuẩn uốn ván có thể chết ở nhiệt độ 560C nhưng ở thể nha bào,
chúng rất bền vững như bào tử của trực khuẩn than. Dung dịch Clorua Hg 1% và


4

phenol 5% giết chúng sau từ 8-10 giờ. Nha bào chết sau 2 giờ ở nhiệt độ 900C và
1200C trong vòng 30 phút. Nha bào luôn tồn tại trong tự nhiên, bệnh vẫn luôn là
một mối đe dọa và đề kháng ở mức độ cao phải được duy trì vô thời hạn [33].
Nha bào còn có khả năng gây bệnh uốn ván sau 5 năm tồn tại trong đất.
Trực khuẩn uốn ván tồn tại trong ruột của súc vật, nhất là trong ruột
của các đại gia súc ăn cỏ như ngựa, trâu, bò ... kể cả người, tại đây vi khuẩn
cư trú một cách bình thường không gây bệnh. Nha bào uốn ván có thể tìm
thấy trong đất và các đồ vật bị nhiễm phân súc vật hoặc phân người. Nha bào
uốn ván có mặt ở mọi nơi trong môi trường tự nhiên và có thể gây nhiễm cho
tất cả các loại vết thương [9].
1.1.2. Sự lây truyền
Đa số các động vật đặc biệt là ngựa, cừu, bò, lợn, ngay cả chó, mèo,
thỏ, chuột lang,… đều có thể có trực khuẩn uốn ván ký sinh trong ruột của

chúng. Tại đó chúng cư trú một cách bình thường và không gây bệnh. Khi ra
khỏi bên ngoài cơ thể, chúng tồn tại ở bên ngoài môi trường dưới dạng nha
bào và làm nhiễm bẩn đất, bụi, đồ vật,…Các nha bào uốn ván lan tràn và có
mặt ở khắp nơi trong môi trường xung quanh và có thể lây nhiễm cho tất cả
các loại vết thương, đặc biệt là vết thương sâu, kín. Trong điều kiện thiếu ôxy,
nha bào uốn ván sẽ trở thành trạng thái hoạt động và phát triển nhanh chóng.
Bệnh uốn ván không lây từ người sang người. Đối với những đứa trẻ sinh
trong điều kiện thiếu vệ sinh hoặc không an toàn, nha bào uốn ván có thể xâm
nhập qua cuống rốn khi cắt hoặc băng rốn [9].
1.1.3. Tính cảm nhiễm và miễn dịch
1.1.3.1. Tính cảm nhiễm: Mọi người đều có thể cảm nhiễm với trực
khuẩn uốn ván, sử dụng vắcxin phòng uốn ván sẽ có được miễn dịch chủ
động dưới dạng IgG, đó là những kháng thể kháng độc tố uốn ván và tồn tại
tới 10 năm nếu người mẹ được tiêm đủ liều.


5

Một người mẹ mang thai sau khi đã tiêm phòng ít nhất 2 liều văcxin
uốn ván, miễn dịch được hình thành truyền cho thai nhi qua nhau thai, sau khi
sinh kháng thể của người mẹ cũng được truyền qua sữa non (clostrum) và sữa.
1.1.3.2. Tính miễn dịch: Người đã mắc bệnh uốn ván không có miễn
dịch bảo vệ phòng bệnh trong những lần sau. Sau khi mắc bệnh uốn ván, có
quá ít độc tố uốn ván đóng vai trò kích thích cơ thể sinh ra kháng thể. Vì vậy
những người khỏi bệnh vẫn cần phải tiếp tục tiêm chủng những mũi văcxin
còn lại hoặc bắt đầu đi tiêm theo lịch quy định.
Trẻ được sinh ra từ những người mẹ đã được gây miễn dịch chủ động
thì chúng sẽ có miễn dịch thụ động để bảo vệ cơ thể không bị UVSS [9].
Ngưỡng nồng độ kháng thể kháng độc tố uốn ván có thể bảo vệ được là
ở mức ≥ 0,01 UI/ml. Trường hợp vết thương lớn, dập nát nhiều… nghi có thể

nhiễm trực khuẩn uốn ván cần phải tiêm kháng huyết thanh chống uốn ván
(còn gọi SAT: Serum Anti Tetanus). Thông thường dùng từ 100.000–
200.000 đơn vị SAT.
1.2. Một số đặc điểm dịch tễ
1.2.1. Tuổi mắc bệnh
Uốn ván sơ sinh xảy ra là do không thực hành đẻ sạch. Thông thường
trực khuẩn uốn ván gây nhiễm chủ yếu qua vết cắt rốn và băng rốn sau khi
sinh. Triệu chứng lâm sàng của bệnh UVSS thường xuất hiện ngày thứ 3 sau
khi sinh. Đứa trẻ nhìn bề ngoài khoẻ mạnh sẽ xuất hiện bỏ bú, toàn thân trở
nên co cứng, uốn cong, trạng thái kích động. Dấu hiệu khác bao gồm: Sốt cao,
vã mồ hôi, tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, thường xảy ra cơn co thắt trong vài
phút và tiếp tục kéo dài trong 3 - 4 tuần, chậm nhất là sau 1 tháng sẽ hết hoàn
toàn những cơn co thắt [10].
Trẻ sơ sinh mắc bệnh UVSS có nguy cơ tử vong từ 70-100%. Giai đoạn
ủ bệnh càng ngắn thì nguy cơ tử vong càng cao. Phân tích 265 trường hợp


6

UVSS từ năm 1994-1996 tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Cường, Viện Vệ
sinh dịch tễ Trung ương cho rằng tỷ lệ chết là 71%, trong đó chết dưới 10
ngày tuổi là 73,8%.
Đối với bệnh uốn ván chung: Người lớn tuổi có nguy cơ mắc và chết do
uốn ván cao hơn những người trẻ tuổi.
1.2.2. Giới mắc bệnh
Không có sự phân biệt về giới trong phơi nhiễm và mắc bệnh uốn ván
và UVSS. Tuy vậy kết quả của một số nghiên cứu thì dường như nam mắc
nhiều hơn nữ. Trong 244 trường hợp uốn ván tại tỉnh Fars của Iran từ 19781997, tác giả Shohreh Beheshti và cộng sự cho rằng tỷ số mắc giữa nam/nữ là
2,5/1; phải chăng nam giới thường hay phải tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ
như bùn đất, dụng cụ trong nông nghiệp, bị thương trong lao động sản xuất,

chiến tranh … nên mắc bệnh uốn ván cao hơn? Tuy vậy ở trẻ mới sinh mắc
bệnh UVSS cũng cho kết quả tương tự, kết quả phân tích 110 trường hợp
UVSS tại Thừa Thiên Huế từ 1989 - 1994, tỷ số mắc giữa nam/nữ cũng là
2,3/1 [28].
1.2.3. Chủng tộc
Không có sự liên quan giữa yếu tố nhân chủng với mắc bệnh UVSS. Tuy
vậy, kết quả nghiên cứu 9 trường hợp UVSS tại tỉnh Kon Tum trong năm 19971998, tỷ lệ trẻ mắc UVSS thuộc các dân tộc ít người tại Tây Nguyên là 100%.
Trong 265 trường hợp UVSS tại Việt Nam từ 1994- 1996, tỷ lệ UVSS thuộc dân
tộc ít người là 16,7%. Điều này có thể được giải thích là UVSS thường xảy ra ở
những vùng nông thôn hẻo lánh, vùng sâu, vùng xa, không đảm bảo điều kiện
đẻ sạch và chăm sóc rốn sạch.
1.2.4. Vùng địa lý
UVSS xảy ra chủ yếu ở những nước nghèo và kém phát triển. Hiện nay
còn 57 nước chưa hoàn thành mục tiêu loại trừ UVSS, chiếm hơn 90% tổng


7

số ca bệnh toàn thế giới. Tại Thừa Thiên Huế, tỷ lệ chết do UVSS ở miền núi
cao gấp 3,6 lần so với đồng bằng. Số mắc UVSS ở nông thôn cao gấp từ 5-9
lần so với thành thị. Tại những vùng có bệnh sốt rét lưu hành thì cũng là nơi
tình hình mắc UVSS phổ biến.
Năm 1989, WHO khởi xướng Chương trình loại trừ UVSS trên toàn cầu
với mục tiêu (ban đầu) là làm giảm số mắc các trường hợp UVSS xuống dưới
1/1.000 trẻ đẻ sống. Đến năm 2000 đã có 104/161 nước đang phát triển đã hoàn
thành loại trừ UVSS [4], [7], [56]. Có nhiều cuộc điều tra đã được thực hiện để
xác nhận loại trừ UVSS [56], [57], [58], [59]. Các chiến lược chính như sau:
Tiêm chủng văcxin uốn ván cho phụ nữ.
Thực hành đẻ sạch (Vô khuẩn sản khoa).
Tăng cường giám sát các trường hợp uốn ván sơ sinh.

Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF), Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) và Quỹ dân số liên hiệp quốc (UNFPA) đặt mục tiêu loại trừ UVSS
trên toàn cầu vào năm 2005. Những nước hoàn thành loại trừ UVSS là có tỷ
lệ mắc UVSS < 1/1.000 trẻ đẻ sống theo đơn vị huyện.
1.3. Hoạt động phòng chống bệnh uốn ván sơ sinh
1.3.1. Tiêm chủng vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai (PNCT)
Tiêm vắc xin uốn ván cho PNCT là biện pháp cơ bản trong loại trừ
UVSS. Ngay từ khi triển khai Chương trình TCMR ở Việt Nam, theo khuyến
cáo của WHO văcxin phòng uốn ván được sử dụng để tiêm cho PNCT trong
toàn quốc.
Người mẹ là đối tượng tiêm vắc xin uốn ván nhưng mục đích của
chương trình loại trừ UVSS lại chính là trẻ sơ sinh được bảo vệ phòng uốn
ván. Phụ nữ có thai được tiêm vắc xin uốn ván và tỷ lệ tiêm UV2+ cho PNCT
giúp xác định đứa trẻ sinh ra có được bảo vệ phòng uốn ván hay không. Ở
Việt Nam kế hoạch triển khai tiêm vắc xin uốn ván cho nữ tuổi sinh đẻ nhóm


8

từ 15-35 tuổi được bắt đầu thực hiện thí điểm tại 1 huyện năm 1992 và mở
rộng dần hàng năm. Những huyện được lựa chọn để triển khai tiêm vắc xin
uốn ván cho đối tượng này là huyện có tỷ lệ mắc UVSS cao, tỷ lệ tiêm UV2+
cho PNCT thấp và có tỷ lệ đẻ tại nhà cao. Việc tổ chức tiêm vắc xin uốn ván
tại những huyện này sẽ giúp nâng cao tỷ lệ trẻ được bảo vệ phòng UVSS
trong mục tiêu tiến tới loại trừ UVSS. Từ năm 1998 tới nay cả nước có 384
huyện (62% số huyện toàn quốc) triển khai tiêm vắc xin uốn ván cho nữ tuổi
sinh đẻ nhóm từ 15 - 35 tuổi. Tiêm vắc xin uốn ván cho nữ tuổi sinh đẻ khi
chưa có thai sẽ giúp nâng cao tỷ lệ tiêm UV2+ cho PNCT vì việc tiêm vắc xin
cho các đối tượng này sẽ thuận lợi hơn và dễ đạt tỷ lệ cao. Tiêm vắc xin uốn
ván trong độ tuổi sinh đẻ khi không có thai sẽ giúp giảm số lượng mũi tiêm

khi mang thai (thường gặp khó khăn hơn), thậm chí khi có thai người phụ nữ
không cần tiêm vắc xin uốn ván những trẻ sinh ra cũng có thể được bảo vệ
phòng UVSS nếu mũi tiêm có giá trị bảo vệ [39].
Nghiên cứu của Alhaji MA và cộng sự tại Nigeria năm 2010 cho thấy có
tới 66,7% PNCT không được tiêm vắc xin uốn ván [43].
Nghiên cứu của Servizio Regionale tại Italy năm 2012 nghiên cứu 1919
trẻ sơ sinh đánh giá hiệu quả của vắc xin uốn ván trong việc ngăn ngừa uốn ván
sơ sinh tiêm một liều thì hiệu quả vắc xin là 43% [47].
Nghiên cứu của Trịnh Quang Trí và cộng sự tại Đắk Lắk năm 2012 cho
thấy có 82,7% phụ nữ có thai tiêm phòng UV2+. Tỷ lệ được tiêm UV2+ và đẻ
sạch là 66,1%, tỷ lệ tiêm không đủ UV2+ và đẻ không sạch là 7,3% [32]. Nghiên
cứu của Vũ Xuân Diện và cộng sự tại huyện Vân Đồn, Quảng Ninh năm 2011
cho thấy có 5,1 % phụ nữ có thai không được tiêm phòng uốn ván, 16,8% tiêm 1
mũi và 78,1% phụ nữ có thai được tiêm 2 mũi vắc xin uốn ván và 13,9% phụ nữ
sinh con tại nhà, chưa nhận được sự chăm sóc của cán bộ y tế [41].


9

Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hà tại tỉnh Điện Biên năm 2012 cho thấy
75% đối tượng phỏng vấn biết đúng về số mũi phòng uốn ván cần tiêm đối với
phụ nữ có thai, 17% lại không biết về mũi uốn ván cần phải tiêm cho phụ nữ có
thai [22].
Nghiên cứu của Lê Minh Chính và cộng sự năm 2011tại huyện Đồng Hỷ
và Võ Nhai tỉnh Thái nguyên cho thấy tỷ lệ PNCT tiêm phòng vắc xin uốn ván
là 90,7%, trong đó tiêm UV2+ chỉ có 48,1% [10].
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Cường, Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương
trong số 402 trường hợp UVSS được điều tra trong giai đoạn 2000-2004 có 72%
bà mẹ không tiêm vắc xin phòng uốn ván, 8,2% bà mẹ chỉ tiêm 1 mũi vắc xin
uốn ván [13].

Nghiên cứu của Bùi Thị Tú Quyên, Võ Ngọc Quang tại tỉnh Bình Phước
năm 2012 cho thấy tỷ lệ tiêm UV2+ phụ nữ có thai là 84,5% [27].
Đánh giá tỷ lệ trẻ được bảo vệ phòng UVSS dựa vào tiền sử tiêm vắc
xin uốn ván của người mẹ, đặc biệt trong thời gian có thai là một việc làm
quan trọng nhằm đánh giá kết quả quá trình tiêm vắc xin uốn ván cho phụ nữ
trong chương trình loại trừ UVSS. Tuy nhiên, do lịch tiêm vắc xin uốn ván
nhiều liều và đòi hỏi sự ghi chép chính xác từng liều cho từng phụ nữ, nên tại
hầu hết các quốc gia vẫn chưa báo cáo được tỷ lệ này mà thường phải dựa vào
điều tra thực địa.
Tiêm văcxin uốn ván có tác dụng phòng bệnh UVSS, đồng thời phòng
bệnh uốn ván cho người mẹ [15], [19]. Nếu người mẹ không tiêm chủng vắc
xin hoặc tiêm không đủ liều là những yếu tố nguy cơ cho đứa trẻ khi sinh ra
không được bảo vệ phòng UVSS bằng kháng thể của mẹ truyền qua nhau thai.
Tác dụng phòng bệnh uốn ván phụ thuộc vào những mũi tiêm có hiệu
lực, nghĩa là bảo đảm số lần tiêm và khoảng cách giữa các mũi tiêm theo lịch
[15], [36]. Từ năm 1995 tỷ lệ tiêm UV2+ cho PNCT ở Việt Nam đạt được trên


10

80%, năm 1995 khu vực Tây Thái Bình Dương cũng chỉ đạt tỷ lệ tiêm UV2+
cho PNCT là 17% [53].
Ngƣời mẹ

Khoảng cách

%

Thời gian đƣợc bảo


đƣợc tiêm

tối thiểu

đƣợc bảo vệ

vệ cho mẹ và con

UV1

Càng sớm càng tốt

-

Không

UV2

Cách 1 tháng

80% (60-90)

1 - 3 năm

UV3

Cách 6 tháng

95%


5 năm

UV4

Cách 1 năm

99%

10 năm

UV5

Cách 1 năm

99%

Suốt thời kỳ sinh đẻ

Tại Việt Nam: Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc UVSS ở trẻ có mẹ
không tiêm chủng là 100%, hoặc kết hợp cả không tiêm hoặc tiêm không đủ
liều chiếm từ 93,8 – 100%.
1.3.2 Thực hành đẻ sạch
Gói đẻ sạch theo Quyết định 3245/QĐ-BYT ngày 30/8/2013 của Bộ Y
tế gồm 12 danh mục. Theo hướng dẫn của Vụ sức khoẻ sinh sản gói đẻ sạch
được phát cho những phụ nữ có thai khi đến khám thai ở kỳ cuối, sau khi tư
vấn cán bộ y tế nhận thấy có nguy cơ đẻ tại nhà.
Trường hợp đẻ tại nhà rốn trẻ bị ướt, đỏ, hôi, viêm tấy,... thì nhân viên
y tế thôn bản tư vấn người dân đưa con đến cơ sở y tế.
Theo hướng dẫn 2009 quốc gia về CSSKSS thì sau khi cắt rốn 1 thì, sát
trùng rốn, để hở rốn không được băng, bôi bất cứ thứ gì lên rốn, phải để hở rốn.

Đẻ không sạch, cắt rốn bằng dụng cụ không vô trùng và chăm sóc rốn
không hợp vệ sinh là nguyên nhân gây UVSS. Đẻ sạch được đánh giá thông
qua bàn tay người đỡ đẻ sạch; sản phụ sạch và nơi đẻ sạch. Thông thường thì
việc đẻ tại nhà việc đảm bảo có được các điều kiện đẻ sạch gặp nhiều khó


11

khăn vì đây không phải là cơ sở y tế có đầy đủ cơ sở vật chất đảm bảo cho
cuộc đẻ sạch và có các dụng cụ sạch, vô trùng sử dụng trong cuộc đẻ. Đẻ tại
nhà có nguy cơ cao đối với mắc và chết sơ sinh.
Thực hành đẻ sạch có thể làm giảm các nguyên nhân khác gây bệnh
hoặc tử vong cho trẻ sơ sinh cũng như phòng được bệnh UVSS, nhiễm trùng
máu và các nhiễm trùng khác cho bà mẹ [4]. Nơi sinh an toàn nhất là các cơ
sở y tế. Tuy nhiên nếu bắt buộc phải sinh con tại nhà, việc sinh nhất thiết phải
được sự trợ giúp bởi cán bộ y tế có chuyên môn. Cán bộ y tế sẽ thực hiện các
bước trong quá trình đỡ đẻ một cách thuần thục về vệ sinh, đảm bảo an toàn
cho cả mẹ và con [5].
Để loại trừ UVSS tất cả PNCT phải được cán bộ y tế hoặc các bà đỡ
được huấn luyện đỡ đẻ theo đúng các nguyên tắc vô khuẩn sản khoa [42]. Vô
khuẩn sản khoa bao gồm những nguyên tắc như: Sản phụ sạch, bàn tay người
đỡ đẻ sạch, phòng đẻ (nơi đẻ), dụng cụ đỡ đẻ sạch, buộc/cắt/băng rốn sạch,
chăm sóc rốn sạch.
Nghiên cứu của Dhakal S, Van Teijlingen E, Raja EA, Dhakal KB năm
2006 tại Nepal cho thấy tỷ lệ sinh con tại nhà chiếm tới 69% [44].
Nghiên cứu của Shiferaw S, Spigt M, Godefrooij M, Melkamu Y,
Tekie M năm 2013 tại Ethiopia chỉ có 16% phụ nữ sinh đã được hỗ trợ bởi
các chuyên gia y tế, trong khi phần lớn đáng kể (78%) có sự tham dự của bà
đỡ dân gian. Lý do quan trọng nhất được phụ nữ trả lời là không phải là cần
thiết (42%) và theo phong tục (36%), tiếp theo là chi phí cao (22%) và khoảng

cách hoặc thiếu giao thông (8%) [48].
Nghiên cứu của Teferra AS, Alemu FM, Woldeyohannes SM năm
2010 tại Ethiopia chỉ ra rằng 12,1% các bà mẹ đẻ tại các cơ sở y tế. Trong số
87,9% bà mẹ đẻ tại nhà, 80,0% trong số họ đã được sự hỗ trợ của các thành
viên gia đình và người thân [51].


12

Nghiên cứu của Tsegay Y, Gebrehiwot T, Goicolea I, Edin K, Lemma
H, Sebastian MS năm 2010 tại Ethiopia trong số 1113 người chỉ có 46 (4,1%)
của phụ nữ đẻ tại cơ sở y tế [52].
Đẻ tại nhà, đẻ không do cán bộ y tế mà do các bà mụ vườn đỡ, dụng cụ
không được tiệt khuẩn đúng quy định, chăm sóc rốn không sạch... là các yếu tố
nguy cơ gây mắc bệnh UVSS [4], [5], [21]. Kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị
Tỉnh tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên năm 2008 cho thấy phụ nữ miền núi
sinh con tại nhà chiếm 71,2% trong đó 91,5% phụ nữ vùng cao đẻ tại nhà [29].
Nghiên cứu của Trịnh Quang Trí và cộng sự tại Đắk Lắk năm 2012 cho
thấy tỷ lệ đẻ sạch là 76,9%. Tỷ lệ được tiêm UV2+ và đẻ sạch là 66,1%, tỷ lệ
tiêm không đủ UV 2+ và đẻ không sạch là 7,3% [38].
Kết quả một số nghiên cứu Vũ Xuân Diện và cộng sự năm 2012 tại
huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh cho thấy các trường hợp UVSS do sinh đẻ
tại nhà chiếm tỷ lệ rất cao từ 71 - 100% phương tiện cắt rốn: Bằng dao, hoặc
kéo không được tiệt khuẩn mà chỉ được nhúng nước sôi chiếm 82,5%; cắt rốn
trẻ bằng tre nứa: 55,6%; bằng dao lam: 32,9%; bằng liềm/dao bẩn: 11,4% [14].
Người đỡ không phải là cán bộ y tế (do các bà mụ vườn đỡ và chăm sóc
rốn) chiếm từ 65,7% - 82,3% [41]. Theo đánh giá cuối kỳ đề án đào tạo 500
cô đỡ thôn bản người dân tộc thiểu số của Bệnh viện Từ Dũ, Hồ Chí Minh
năm 2010 tỷ lệ phụ nữ đẻ được nhân viên y tế chăm sóc 33,3% [21].
Theo Vụ sức khỏe bà mẹ trẻ em năm 2011 báo cáo tình hình đào tạo và

sử dụng cô đỡ thôn bản ở Việt Nam với thực trạng hiện nay tại các vùng sâu,
vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cô đỡ thôn bản đang thực hiện việc
cung cấp các dịch vụ chăm sóc thai nghén, đỡ đẻ, chăm sóc sơ sinh, chăm sóc
sau đẻ... Các dịch vụ cô đỡ thôn bản cung cấp góp phần tăng cường tính sẵn
có của dịch vụ làm mẹ an toàn, tiếp cận đến dịch vụ y tế cơ bản, đóng góp
quan trọng vào việc giảm tử vong mẹ và sơ sinh tại các vùng miền núi khó


13

khăn [35]. Nghiên cứu của Phạm Huy Tuấn Kiệt và Nguyễn Phương Hoa năm
2012 mô tả thực trạng cung cấp dịch vụ làm mẹ an toàn tại Quảng Bình trong
đó ưu tiên các nội dung đào tạo về tư vấn cho phụ nữ có thai, chăm sóc bà mẹ
và trẻ sơ sinh tuần đầu sau đẻ ... [26].
Nghiên cứu của Lưu Thị Hồng năm 2011 về kiến thức làm mẹ an toàn
của nữ hộ sinh và y sỹ sản nhi tại một số tỉnh thuộc chương trình giảm tử
vong mẹ cho thấy 69,3 - 83,5% các NHS/YSSN tuyến tỉnh, tuyến huyện và
tuyến xã biết các nội dung cần quan sát, tuy nhiên vẫn có 1,4% NHS/YSSN ở
tuyến xã không biết một nội dung về theo dõi sơ sinh ngày đầu sau đẻ.
Nguyên tắc quan trọng trong kiểm soát nhiễm khuẩn y tế chỉ đạt 52,8% [23].
1.3.3. Hiểu biết đúng về phòng bệnh uốn ván sơ sinh
Kiến thức về phòng bệnh UVSS bao gồm các nội dung như: Kể đúng
tên bệnh UVSS nếu đi tiêm phòng. Biết được mức độ nguy hiểm của bệnh
UVSS là rất dễ gây tử vong cho trẻ. Bà mẹ biết được tác dụng của việc tiêm
vắc xin là để phòng bệnh uốn ván cho mẹ và UVSS cho con của mình. Số
mũi vắc xin cần tiêm là từ 2-5 mũi. Có thể tiêm vào bất kỳ lúc nào khi mang
thai. Bệnh UVSS là bệnh lây theo dụng cụ cắt rốn hoặc qua vết cắt rốn trong
khi chăm sóc rốn sau khi đẻ. Và nơi sinh tốt nhất là tại cơ sở y tế và được cán
bộ y tế đỡ và chăm sóc rốn.
Phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nhận thức đúng được 4 nội dung này

chiếm tỷ lệ chưa cao như kết quả nghiên cứu của một số tác giả đã công bố.
Theo kết quả của Bùi Thị Tú Quyên và Võ Ngọc Quang nghiên cứu tại huyện
Đồng Phú, tỉnh Bình Phước năm 2012 thì kiến thức của các bà mẹ là người
dân tộc thiểu số có con dưới 1 tuổi về phòng bệnh UVSS đạt yêu cầu chiếm tỷ
lệ thấp là 22,1% [27]. Theo Đỗ Mạnh Hùng, kiến thức đúng về phòng bệnh
UV của các bà mẹ huyện Bình Xuyên Vĩnh Phúc là 38,3% [25]. Theo Hoàng


14

Thị Tỉnh nghiên cứu trên phụ nữ huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên cho thấy có
75% phụ nữ có kiến thức đúng về phòng bệnh UV [29].
1.3.4. Thực hành đúng về phòng bệnh uốn ván sơ sinh
Hiệu quả của việc tiêm phòng đủ mũi, đủ liều là rất lớn, có nghĩa là các bà
mẹ có thai phải đi tiêm vắc xin phòng ít nhất từ 2 liều UV trở lên. Và phải đến sinh
đẻ tại các cơ sở y tế và có cán bộ y tế đỡ đẻ và được chăm sóc rốn sau khi sinh.
Như thực tế thì thực hành đạt yêu cầu về tiêm vắc xin vẫn còn chưa
đồng đều giữa các vùng miền. Vì thế các trường hợp UVSS xảy ra chủ yếu do
bà mẹ không được tiêm chủng vắc xin phòng uốn ván, hoặc tiêm không đủ
liều, hoặc mũi tiêm không còn giá trị bảo vệ. Đối với những bà mẹ mang thai
lần đầu phải tiêm đầy đủ 2 mũi uốn ván mới giúp mẹ và con phòng uốn ván
sau khi đẻ. Tiêm 1 mũi không có tác dụng phòng bệnh. Đối với những bà mẹ
sinh con lần thứ 2 cách lần thứ nhất dưới 5 năm và lần mang thai đầu tiêm đủ
2 mũi vắc xin phòng uốn ván thì lần mang thai lần thứ 2 tiêm 1 mũi cũng là
đủ [40].
Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hà năm 2012 tại tỉnh Điện Biên cho thấy
75% phụ nữ biết đúng là mang thai lần đầu cần phải tiêm 2 mũi vắc xin phòng
uốn ván hoặc 1 mũi nếu đã tiêm đủ liều [22].
Nghiên cứu của Đặng Diệu Thuý và cộng sự tại tỉnh Thừa Thiên Huế
năm 2007 về kiến thức, thực hành trong TCMR cho thấy 84,7% cán bộ y tế

trả lời đúng về nhiệt độ bảo quản vắc xin [30].
1.4. Một số yếu tố liên quan đến phòng bệnh UVSS
Một số nghiên cứu tại Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy hiệu
quả phòng bệnh UVSS phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhận thức và hoàn cảnh
gia đình của bà mẹ, công tác tuyên truyền vận động và căn dặn bà mẹ sau khi
tiêm chủng của cán bộ y tế.


15

Nghiên cứu của Trần Mạnh Tùng và Tống Thiện Anh tại huyện Bình
Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2010: Sau khi nghe thông tin về phản ứng sau
tiêm chủng 9% không đưa con đi tiêm. Không biết ngày tiêm giờ tiêm là
9,1%, không biết cần phải tiêm liều tiếp theo 15,8% [37].
Về thực hành của các bà mẹ, nghiên cứu của Đinh Thanh Huề và cộng sự
tại thành phố Huế năm 2004, tỷ lệ phụ nữ có thai thực hành đúng chăm sóc
trước sinh với việc đi tiêm phòng vắc xin uốn ván là 83,3% [24].
Theo báo cáo điều tra cuối kỳ của dự án thí điểm Sổ theo dõi sức khoẻ
bà mẹ - trẻ em tỉnh Điện Biên, Hoà Bình, Thanh Hoá và An Giang năm 2013
cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế xã hiểu biết về lịch tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ
ở độ tuổi sinh đẻ/phụ nữ có thai cần được tiêm chủng đủ 5 liều vắc xin uốn
ván ở các giai đoạn khác nhau Điện Biên đạt 74%, Hoà Bình: 54%, Thanh
Hoá 76,7%, An Giang là 92% và chung 4 tỉnh là 74,3%. Nơi sinh con trong
lần mang thai gần nhất tỉnh Điện Biên: tại bệnh viện là 48%, tại trạm y tế
20,5%, tại cơ sở y tế tư nhân 19,5%, tại nhà/khác 12%. Tại tỉnh Hoà Bình nơi
sinh con trong lần mang thai gần nhất: tại bệnh viện là 35,5%, tại trạm y tế
57%, tại cơ sở y tế tư nhân 6,5%, tại nhà/khác 1%. Chung cho 4 tỉnh Điện
Biên, Hoà Bình, Thanh Hoá và An Giang: nơi sinh con trong lần mang thai
gần nhất: tại bệnh viện là 42,4%, tại trạm y tế 36,4%, tại cơ sở y tế tư nhân
18%, tại nhà/khác 3,2% [39].

Kết quả điều tra cho thấy kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc rốn còn
hạn chế. Các bà mẹ hiểu biết về chăm sóc rốn phổ biến như sát khuẩn 78,9%,
giữ rốn khô/sạch 76,1%, nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế nếu rốn ướt, có
mủ 62,1%. Tuy nhiên chỉ có 16,3% bà mẹ hiểu biết cả 5 biện pháp: sát trùng
rốn, để hở rốn, không đắp gì lên rốn, giữ rốn khô sạch và nhanh chóng đưa trẻ
đến cơ sở y tế nếu rốn ướt, có mủ [39].


×