TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm Nghiệp
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá cơ hội và thách thức trong việc cấp chứng chỉ rừng cho
nông hộ tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: Phạm Quang Hiếu
Lớp: Lâm Nghiệp 47B
Giáo viên hướng dẫn: Ts. Nguyễn Thị Hồng Mai
Bộ môn: Lâm Nghiệp Xã Hội
NĂM 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm Nghiệp
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá cơ hội và thách thức trong việc cấp chứng chỉ rừng cho
nông hộ tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện: Phạm Quang Hiếu
Lớp: Lâm Nghiệp 47B
Giáo viên hướng dẫn: Ts. Nguyễn Thị Hồng Mai
Bộ môn: Lâm Nghiệp Xã Hội
NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian từ khi bắt đầu học tập tại trường đến nay, em đã nhận được rất
nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn
sâu sắc nhất, em xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Lâm Nghiệp – Trường Đại học
Nông Lâm Huế đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến
thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt, để
hoàn thành Báo cáo này, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Hồng
Mai, đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập và viết Báo cáo tốt
nghiệp.
Em xin gởi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với Ban giám đốc Trung
tâm Khoa Học Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ đã cho phép và tạo điều kiện cho em thực
tập tại Trung tâm, và đặc biệt các Anh, Chị trong bộ môn Lâm sinh và Trạm nghiên
cứu thực nghiệm trực thuộc Trung tâm đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trong suốt quá
trình thập tập tại đây.
Bài báo cáo tốt nghiệp thực hiện trong khoảng thời gian 2 tháng. Bước đầu đi vào
thực tế của em còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Đồng thời do trình độ lý luận cũng
như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế. Do vậy Báo cáo không tránh khỏi những
thiếu sót là điều chắc chắn, em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu
của quý Thầy Cô để học hỏi được kinh nghiệm và bổ sung kiến thức của em trong
lĩnh vực này được hoàn thiện hơn và có ích cho công việc sau này. Em xin chân
thành cảm ơn!
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý. Đồng kính chúc các Cô, Chú, Anh, Chị trong Trung tâm Khoa học
Lâm nghiệp Bắc Trung Bộ luôn dồi dào sức khỏe, đạt được nhiều thành công tốt đẹp
trong công việc!
Thừa Thiên Huế, tháng 12 năm 2016
Sinh viên
Phạm Quang Hiếu
Danh mục những cụm từ viết tắt và kí hiệu
AF&PA
ASEAN
ASOF
Bộ NN & PTNT
CCR
CEPI
CIFOR
C&I
CoC
CSA
EU
FAO
FSC
P&C FSC
FSSP
GEF
GIS
GFTN
GTZ
Ha
IFF
ILO
ISO
ITTO
IUCN
American Forest & Paper Association - Hiệp hội lâm nghiệp
và giấy Mỹ
Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các quốc Gia
Đông nam Á
ASEAN Senior Officials on Forest - Các chuyên gia cao cấp
Lâm nghiệp ASEAN
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Chứng chỉ rừng
Confederation of European Paper Industries - Liên đoàn công
nghiệp giấy Châu Âu
Centre for International Forestry Research -Trung tâm nghiên cứu
lâm nghiệp quốc tế
Criteria & Indicators - Tiêu chí và chỉ số
Chain of Custody - Chuỗi hành trình sản phẩm
Canadian Standards Association - Hội Tiêu Chuẩn Canada
European Union - Liên minh Châu Âu
United Nations Food and Agriculture Organization - Tổ chức
Lương Nông của Liên Hợp Quốc
The Forest Stewardship Council - Hội đồng quản trị rừng Quốc tế
Principles & Criteria - Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng của Hội đồng
quản trị rừng Quốc tế
Forest Sector Support Partnership - Chương trình Hỗ trợ Ngành
Lâm nghiệp
Global Environment Facilities - Quỹ môi trường toàn cầu
Geographical Information Systems - Hệ thống thông tin địa lý
Global Forest and Trade Network - Mạng lưới rừng và thương
Mại toàn cầu
Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit - Tổ chức
hợp tác kỹ thuật Đức
Hectare - Héc ta
Intergovernmental Forum on Forests - Diễn đàn liên chính phủ về
rừng
International Labour Organization/Office - Tổ chức lao động
Quốc tế
International Organization for Standardization - Tổ chức Quốc
tế về tiêu chuẩn hóa
International Tropical Timber Organization - Tổ chức gỗ nhiệt
đới Quốc tế
World Conservation Union - Liên minh bảo tồn Quốc tế
IUFRO
LEI
LNCĐ
MTCC
NGO
NWG
PEFC
P&C&I VN
QLRBV
TRSX
RSX
SCS
SFI
SGS
TFT
UBND
UNCED
UNDP
UNEF
USD
VIFA
WB
WTO
WWF
International Union of Forest Research Organization - Liên
đoàn Quốc tế các tổ chức nghiên cứu rừng
Lembaga Ecolabel Indonesia - Viện nhãn sinh thái Indonexia
Lâm nghiệp cộng đồng
Malaysian Timber Certification Council - Hội đồng chứng chỉ
gỗ Mã Lai
Non-governmental organization - Tổ chức phi chính phủ
National Working Group (on QLRBV) - Tổ công tác quốc gia
quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
Programme for the Endorsement of Forest Certification
Schemes- Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng
Vietnam Principles & Criteria & Indicators – Bộ tiêu chuẩn FSC
Việt Nam
Quản lý rừng bền vững
Trồng rừng sản xuất
Rừng sản xuất
Scientific Certification Systems - Hệ thống chứng chỉ khoa học
Sustainable Forestry Initiative - Sáng kiến lâm nghiệp bền vững
Bắc Mỹ
Société Général de Surveillance - Tổ chức chứng chỉ QUALIFOR
Nam Phi
Tropical Forest Trust - Quỹ Rừng nhiệt đới
Uỷ ban nhân dân
United Nations Conference on Environment and Development
-Công ước Liên Hợp Quốc về Môi trường và Phát triển
United Nations Development Programme - Chương trình Phát
triển của Liên Hợp Quốc
United Nations Environment Programme - Chương trình Môi
trường của Liên Hợp Quốc
Đô la Mỹ
Vietnam Forest Science and Technology Association - Hội Khoa
học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam
World Bank – Ngân hàng Thế giới
World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới
World Wide Fund for Nature - Quỹ quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên
Danh mục các bảng biểu
Số hiệu bảng
Bảng 4.1.
Tên bảng
Diện tích rừng đã được cấp chứng chỉ phân theo các thôn và xã
trong huyện Cam Lộ năm 2016
Bảng 4.2.
Đặc điểm của các hộ dân đã có CCR tại xã Cam Nghĩa (n =30)
Bảng 4.3.
Đặc điểm của các hộ dân chưa có CCR tại xã Cam Nghĩa (n =30)
Bảng 4.4.
So sánh đặc điểm của các hộ dân đã có CCR và chưa có CCR tại xã
Cam Nghĩa (n =30)
Bảng 4.5.
Vấn đề tồn tại của các hộ dân trồng rừng tại xã Cam Nghĩa (n =30)
Bảng 4.6.
Phân tích SWOT của nhóm hộ tham gia chứng chỉ rừng
Danh mục các hình vẽ
Số hiệu hình
Hình 4.1
Tên hình
Bản đồ hành chính huyện Cam Lộ
Mục lục
Lời cảm ơn
i
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu
ii
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các sơ đồ, đồ thị, hình vẽ
iv
Mục lục
v
Tóm tắt báo cáo
vi
TÓM TẮT BÁO CÁO
Sinh viên thực hiện: Phạm Quang Hiếu
Lớp: Lâm nghiệp 47B ( Khoá 2013-2017) - Đại học Nông Lâm Huế.
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Hồng Mai
1.Tên đề tài: " Đánh giá cơ hội và thách thức trong việc cấp chứng chỉ rừng cho
nông hộ tại huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị "
2. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: Đứng trước nguy cơ suy thoái môi trường
và đất lâm nghiệp, việc phát triển quản lí rừng bền vững và CCR là giải pháp hữu
hiệu giải quyết các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường. Thời gian qua, việc phát
triển mở rộng cấp CCR ở huyện Cam Lộ đã góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh
tế, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho nhân dân. Tuy nhiên việc mở rộng cấp
CCR tại đây còn gặp không ít khó khăn và thách thức.
3. Phương pháp nghiên cứu: Quá trình thực hiện đề tài này đã sử dụng các phương
pháp sau: (i). Phương pháp điều tra, thu thập số liệu; (ii). Phương pháp tổng hợp và
phân tích số liệu ( phân tích ma trận SOWT, excel...).
4. Kết cấu đề tài: Bài báo cáo gồm có 7 phần: Phần mở đầu, tổng quan các vấn đề
nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, kết luận và kiến nghị, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo. Nội dung từng phần được chia theo các mục nhỏ.
5. Kết quả nghiên cứu của đề tài
1) Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về chứng chỉ rừng và hiệu
quả của rừng có chứng chỉ.
2) Đề tài đã đánh giá thực trạng và chỉ rõ những khó khăn, thách thức của việc
cấp CCR trên địa bàn của huyện.
3) Đề tài đã đề xuất các giải pháp khả thi để nâng cao hiệu quả mở rộng cấp
CCR cho các hộ dân kinh doanh rừng trồng trên địa bàn huyện, góp phần thúc đẩy
kinh tế-xã hội huyện phát triển bền vững.
Sinh viên thực hiện
Phạm Quang Hiếu
Giáo viên hướng dẫn
TS. Nguyễn Thị Hồng Mai
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
Rừng được xem là lá phổi xanh của thế giới giúp điều hoà khí hậu, cân bằng sinh thái
cho môi trường. Rừng có tác dụng điều hòa khí hậu toàn cầu thông qua làm giảm
đáng kể lượng nhiệt chiếu từ mặt trời xuống bề mặt trái đất do che phủ của tán rừng
là rất lớn so với các loại hình sử dụng đất khác, đặc biệt là vai trò hết sức quan trọng
của rừng trong việc duy trì chu trình carbon trên trái đất mà nhờ đó nó có tác dụng
trực tiếp đến sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Mặt khác, rừng còn góp phần vào việc
phát triển kinh tế, cao thu nhập và là nguồn sinh kế cho người dân.
Tuy nhiên trong những năm gần đây cùng với việc phát triển kinh tế xã hội và sự
quản lí yếu kém trong ngành lâm nghiệp đã dẫn đến diện tích rừng tự nhiên bị thu
hẹp, thay vào đó là diện tích rừng trồng được tăng lên. Diện tích rừng trồng đã tăng
lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu và cung cấp khoảng 50% tổng sản lượng gỗ
trên toàn thế giới.Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực thế giới (FAO) ước tính rằng
tổng diện tích rừng trồng năm 2005 khoảng 140 triệu ha, bình quân mỗi năm tăng
khoảng 3 triệu ha. Ở Việt Nam, diện tích rừng trồng cũng tăng lên rất nhanh từ 1 triệu
ha năm 1990 lên 2,7 triệu ha năm 2005, nằm trong tốp 10 các nước (đứng thứ 9 thế
giới và thứ 3 Đông Nam Á) có diện tích rừng trồng lớn nhất thế giới. Bộ NN&PTNT
vừa công bố hiện trạng rừng Việt Nam. Theo đó, tính đến ngày 31/12/2015, diện tích
rừng để tính độ che phủ toàn quốc là hơn 13,520 triệu ha (độ che phủ đạt 40,84%)
[10].
Theo công bố hiện trạng rừng mới nhất này, diện tích rừng hiện có của nước ta là
gần 14,062 triệu ha. Trong đó, rừng tự nhiên là hơn 10,175 triệu ha, rừng trồng là hơn
3,886 triệu ha. Diện tích cây lâm nghiệp đạt độ che phủ là 39,5%, còn diện tích cây
lâu năm (cao su, cây đặc sản) trồng trên đất lâm nghiệp chỉ chiếm hơn 1,3% [16].
Đây là kết quả của sự đổi mới trong chính sách phát triển lâm nghiệp đã thúc đẩy
trồng rừng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế
so sánh cấp quốc gia.
Ngày nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ngày càng quan tâm đến
tình trạng diện tích và chất lượng rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng lớn đến môi
trường sống và khả năng cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như
nhu cầu hàng ngày của người dân. Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý
kinh doanh rừng phải vừa đảm bảo tốt lợi ích kinh tế, vừa đem lại lợi ích thiết thực
cho các cộng đồng dân cư sống nhờ rừng, vừa không gây tác động xấu đến môi
trường sống, tức là thực hiện được quản lý rừng bền vững.
“Chứng chỉ rừng” là một trong những giải pháp đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên.
Chứng chỉ rừng (CCR) được coi là công cụ mềm để thiết lập quản lý rừng bền vững
nhằm vừa đảm bảo đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế, vừa đảm bảo các mục
tiêu về môi trường và xã hội. Để đảm bảo rừng sản xuất được quản lý bền vững,
trước hết các cơ sở sản xuất kinh doanh rừng phải đạt "Tiêu chuẩn quản lý rừng bền
vững". Để xác nhận quản lý rừng bền vững, phải tổ chức đánh giá và cấp CCR. Lợi
ích của cấp chứng chỉ là sản phẩm từ rừng có tính cạnh tranh cao trên những thị
trường và đặc biệt là coi trọng bảo vệ rừng và môi trường. Một trong những mục tiêu
của chiến lược lâm nghiệp Quốc gia đến năm 2020 là: phải có 30% rừng sản xuất
được cấp chứng chỉ và xuất khẩu đạt 7,8 tỷ USD trong đó có 7 tỷ USD là đồ gỗ [11].
Vì vậy vấn đề quản lý rừng bền vững (QLRBV) và CCR tại Việt Nam là vấn đề cấp
thiết cần giải quyết hơn bao giờ hết.
Rừng có chứng chỉ có lợi thế hơn rất nhiều so với các loại rừng trồng theo cách làm
truyền thống. Ngoài việc đem đến nhiều lợi ích từ cải tạo môi trường, sinh thái bảo
vệ đất, tăng thu nhập (rừng có chứng chỉ giá gỗ bán cao hơn rừng không chứng chỉ từ
30 đến 50%), cải thiện đời sống cho nông dân trồng rừng, thì nhìn một tầm xa hơn,
cấp chứng chỉ rừng phù hợp với chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam.
Tỉnh Quảng Trị nằm ở khu vực duyên hải Bắc Trung bộ, là địa phương có diện tích
rừng tương đối lớn, Theo báo cáo của Chi cục Lâm nghiệp, toàn tỉnh có diện tích tự
nhiên 473.982 ha, diện tích đất có rừng 241.105 ha, trong đó rừng tự nhiên 141.456
ha; rừng trồng 99.649 ha; độ che phủ của rừng năm 2014 đạt 48,6%.Là địa phương đi
đầu trong triển khai thực hiện mô hình QLRBV để cấp chứng chỉ rừng FSC cho
nhóm hộ gia đình nông dân.
Bước đầu thực hiện đã cấp CCR cho một số hộ nông dân tham gia dự án trồng rừng
Việt- Đức tại địa bàn 2 xã Trung Sơn và Vĩnh Thuỷ thuộc các huyện Gio Linh và
Vĩnh Linh. Đến năm 2010, toàn bộ diện tích được đánh giá lần đầu tiên được tổ chức
tư vấn cấp chứng chỉ rừng quốc tế GFA cấp chứng chỉ thời hạn 5 năm cho 118 hộ gia
đình thuộc 5 thôn của hai xã trên. Công ty Lâm nghiệp Bến Hải cũng được cấp chứng
chỉ gần 10 ngàn ha rừng. Đây là mô hình QLRBV đầu tiên của Việt Nam được cấp
chứng chỉ của Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC). Tiếp đó, dự án tiếp tục được mở
rộng đến nhiều địa phương với 17 nhóm hộ của 8 xã tham gia. Vào đầu tháng 7/2012,
những nhóm hộ có chứng chỉ rừng FSC tại Quảng Trị đã được lập hội và tổ chức Đại
hội đại biểu lần thứ nhất. Mới đây, Công ty Lâm nghiệp Đường 9 có hơn 5 ngàn ha
rừng cũng được tổ chức quốc tế GFA đánh giá và cấp chứng chỉ QLRBV [21].
Hiện tại Quảng Trị có hơn 20 ngàn ha rừng trồng được cấp chứng chỉ.
Nhận thấy những lợi ích to lớn về kinh tế và môi trường mà quản lí rừng bền vững và
chứng chỉ rừng mang lại mà UBND tỉnh đã chỉ đạo ngành lâm nghiệp xây dựng
phương án, phấn đấu đến năm 2020 đạt 100 ngàn ha rừng FSC để tham gia thị trường
các bon tự nguyện [7].
Tuy nhiên, việc mở rộng cấp CCR cho các hộ nông dân ở các vùng lân cận còn gặp
nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt là các hộ nông dân có rừng tại huyện Cam Lộ,
tỉnh Quảng trị, một huyện có diện tích rừng trồng tương đối lớn.
Xuất phát từ thực tiển trên ,tôi quyết định thực hiện đề tài “Đánh giá cơ hội và
thách thức trong việc triển khai cấp chứng chỉ rừng cho các nông hộ tại huyện
Cam Lộ,Tỉnh Quảng trị”
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Vai trò của Chứng chỉ rừng trên thế giới
Trong thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại đứng trước thảm hoạ suy
thoái môi trường trên toàn cầu nên đã đề ra nhiều giải pháp bảo vệ và phục hồi môi
trường, trong đó có phong trào quản lý rừng bền vững. QLRBV là sáng kiến của
cộng đồng quốc tế do những người chế biến, tiêu thụ gỗ cam kết chỉ sử dụng và lưu
thông trên mọi thị trường thế giới những sản phẩm gỗ nào được khai thác hợp pháp
từ các khu rừng đã được quản lý bền vững. Muốn vậy, chứng chỉ rừng và chứng chỉ
gỗ được áp dụng như là một công cụ hữu hiệu để buộc mọi chủ rừng đảm bảo quản lý
rừng bền vững về cả 3 phạm trù: kinh tế, môi trường, xã hội.
Hiện nay trên thế giới có một số quy trình cấp chứng chỉ rừng đang hoạt động
như Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC), Chương trình phê duyệt các quy trình
chứng chỉ rừng (PEFC) của Châu Âu, Sáng kiến lâm nghiệp bền vững (SFI) của Bắc
Mỹ, Hội tiêu chuẩn Canada (CSA), Quy trình chứng chỉ quốc gia CertforChile của
Chile, Viện nhãn sinh thái Indonesia (LEI), và Hội đồng chứng chỉ gỗ Mã Lai
(MTCC). Hai quy trình đang hoạt động ở cấp toàn cầu là FSC và PEFS, trong khi đó
các quy trình khác chỉ hoạt động ở cấp vùng hoặc quốc gia [13].
Tính đến đầu năm 2015, toàn thế giới đã có 449,9 ha rừng đạt tiêu chuẩn quản lý
rừng bền vững và được cấp chứng chỉ bởi mọi hệ thống. Chủ yếu là hệ thống chứng
chỉ FSC và PEFC. Trong đó riêng chứng chỉ FSC đã cấp cho 83 nước với 1,292 triệu
chứng chỉ FM/CoC và 28.964 chứng chỉ CoC. Nước đứng đầu về diện tích rừng được
cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững là Canada với 23 triệu ha và đứng thứ hai là
Nga với diện tích được cấp chứng chỉ là 21 triệu ha. Các quy trình chứng chỉ rừng
gồm quy trình Quốc tế như: FSC, PEFC, SFI...và các quy trình quốc gia như: MTCC
(của Malaysia), LEI (của Indonesia). Vùng châu Á – Thái Bình Dương có 12.329.519
ha được cấp chứng chỉ; hiếm 6.75 % diện tích chứng chỉ toàn cầu với 18 nước tham
gia. Trong đó đứng đầu là Trung Quốc với 3.413.857 ha và thứ hai là Thổ Nhĩ Kỳ
(phần lãnh thổ châu Á) với 2.346.799 ha. Về chứng chỉ CoC: Có 28.640 chứng chỉ
cho toàn cầu, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã được cấp 8.004 chứng chỉ
chiếm 28% số chứng chỉ toàn cầu với số nước tham gia là 34 nước. Đứng đầu là
Trung Quốc với 3.527 chứng chỉ và thứ hai là Nhật Bản với 1.114 chứng chỉ [12].
Các hệ thống chứng chỉ rừng quốc tế đều tập trung xây dựng, phát triển và hoàn
thiện các nguyên tắc, tiêu chí, chỉ số nhằm nâng cao trách nhiệm của các chủ rừng
trong hoạt động bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường đặc biệt đối với rừng tự
nhiên; đảm bảo sự công bằng và phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó cũng khuyến
khích phát triển và sử dụng các sản phẩm từ rừng trồng, nhằm giảm sức ép đối với
rừng tự nhiên trên cơ sở các tiêu chuẩn giám sát kỹ thuật (Nguyên tắc 10 – Rừng
trồng). Xây dựng và phát triển các bộ tiêu chuẩn chứng chỉ rừng làm tăng lợi ích cấp
chứng chỉ và phù hợp với các tiến trình quốc tế. Tăng cường khả năng áp dụng cho
các đối tượng sử dụng tiêu chuẩn (Cơ quan cấp chứng chỉ/đối tượng có chứng chỉ).
Việc cấp chứng chỉ rừng có thể đóng góp cho các chương trình REDD+ quốc gia và
chỉ ra cách thức thực hiện đảm bảo an toàn môi trường và xã hội. Xây dựng và phát
triển các bộ tiêu chuẩn chứng chỉ rừng giúp giảm thiểu rủi ro từ các hoạt động của
đơn vị quản lý rừng; vì: − “Rủi ro” là khả năng một tác động tiêu cực không thể chấp
nhận đuợc phát sinh từ bất kỳ hoạt dộng nào của Ðơn vị quản lý kết hợp dẫn tới mức
độ nghiêm trọng của hậu quả. − “Rủi ro” là chức năng của các tác động tiêu cực tiềm
năng từ các hoạt động quản lý dối với giá trị xã hội, kinh tế và môi truờng trong và
xung quanh Ðơn vị quản lý. − Mức độ “rủi ro” phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội
quốc gia và trong khu vực, loại rừng, loại thiên tai, mức dộ tham nhũng, các biện
pháp lâm sinh, sự hiện diện của nguời dân bản dịa ở cấp độ trong nuớc và khu vực và
tính dễ bị tổn thuơng của các giá trị môi truờng [12].
2.2 Chứng chỉ rừng Tại Việt Nam
2.2.1. Bối cảnh và thể chế cho việc cấp chứng chỉ rừng ở Việt Nam:
Việt Nam tham gia quá trình QLRBV từ năm 1998 tới nay, tuy diện tích rừng
được cấp chứng chỉ FM và chứng chỉ Chuỗi hành trình sản phẩm chưa nhiều; nhưng
được sự hưởng ứng của các từ Chính phủ, Bộ NN & PTNT và các Bộ chuyên ngành,
các cơ quan quản lý Nhà nước ở địa phương, sự hăng hái tự nguyện của các chủ
rừng, tiến trình Quản lý rừng bền vững đã đạt được một số tiến bộ đáng kể, đặc biệt
là tại các vùng trồng và khai thác gỗ nguyên liệu, chế biến gỗ xuất khẩu. Song, nhiều
trở ngại đặc thù của Việt Nam cũng xuất hiện, đó là quá trình chuyển đổi các chủ
rừng quản lý theo cơ chế bao cấp nhà nước như một đơn vị sự nghiệp công ích lâm
nghiệp sang hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp theo pháp luật. Trước đây, đơn
vị quản lý rừng đều thuộc Nhà nước, gọi là lâm trường quốc doanh (LTQD) và được
thành lập theo kết cấu tổ chức hành chính với đa chức năng tại các vùng miền núi,
dân tộc ít người, dân trí thấp, hạ tầng chưa mở mang. Ngoài việc quản lý rừng, khai
thác gỗ còn được cấp kinh phí để giữ gìn an ninh, vận động nhân dân thực hiện mọi
chính sách xã hội, văn hoá, y tế, giáo dục, khuyến nông, khuyến lâm, xây dựng làng
bản và cơ sở hạ tầng.
Các chính sách tổ chức kinh doanh quản lý đều do Nhà nước chỉ đạo, cho
phép, mà chính sách lại thay đổi quá nhiều, quá nhanh; từ một doanh nghiệp lâm
nghiệp được kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp trước 1980 chuyển sang chỉ
được trồng rừng, bảo vệ rừng, bán cây đứng cho các doanh nghiệp khai thác vận
chuyển và tách hoạt động chế biến xuất khẩu riêng ra thành công ty riêng, các kế
hoạch trồng rừng, khai thác gỗ đều do Nhà nước cấp chỉ tiêu, rất nhiều khi lâm
trường không được tự làm mà bắt buộc phải thuê khoán cho dân hoặc các doanh
nghiệp khác tới làm. Từ đó lợi ích và động lực để chủ rừng quản lý rừng bền vững
nhằm xin cấp chứng chỉ bị loại trừ.
Giai đoạn này, nhiều lâm trường và cơ quan quản lý cấp tỉnh xây dựng lại cơ
chế chính sách, giao quyền tự chủ kế hoạch, tự chủ tài chính cho lâm trường và quyết
tâm đổi mới lâm trường thành doanh nghiệp lâm nghiệp sản xuất lâm sản theo Quyết
định 187/TTg (1999) của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới tổ chức và quản lý Lâm
trường quốc doanh, và nghị quyết số 28/NQTƯ của Bộ chính trị Trung ương Đảng về
tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh.
Sau nhiều năm thực hiện và đánh giá các chính sách đổi mới, chuyển đổi cơ
chế quản lý [4]. Chính phủ đã ban hành các văn bản quan trọng nhằm thúc đẩy quá
trình Quản lý rừng bền vững ở nước ta như: Quyết định về quy chế quản lý rừng
(Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg); Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006
– 2020 (Quyết định 18/2007/QĐ-TTg); Quyết định phê duyệt kế hoạch bảo vệ và
phát triển rừng giai đoạn 2011 – 2020 (Quyết định số 18/2012/QĐ-TTg); Nghị định
về “Sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty
nông, lâm nghiệp (Nghị định số 118/2014/NĐ – CP).
Các văn bản của Chính phủ đều nhấn mạng đến tầm quan trọng của quản lý
rừng bền vững và chứng chỉ rừng. Trên cơ sở định hướng và chỉ đạo của Chính phủ,
bộ NN & PTNT cũng đã ban hành các văn bản chỉ đạo
Các cơ quan trực thuộc thực hiện tiến trình Quản lý rừng bền vững hướng tới
Chứng chỉ rừng. Đặc biệt, Quyết định số 2242/2014/QĐ-TTg ngày 11 tháng 12 năm
2014 của Thủ tướng Chính phủ về “Phê duyệt đề án tăng cường quản lý khai thác gỗ
rừng tự nhiên giai đoạn 2014-2020” và ngày 03 tháng 11 năm 2014, trên cơ sở các
kinh nghiệm thực tế, bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 38/2014/TTBNNPTNT “Hướng dẫn về phương án quản lý rừng bền vững”. Đây bắt đầu một giai
đoạn “chuyển mình” thực sự về QLRBV và Chứng chỉ rừng đối với các chủ rừng
thuộc mọi thành phần kinh tế.
Tháng 2 năm 1998 Tổ công tác quốc gia (National Working Group - NWG) về
Quản lý rừng bền vững thuộc Cục Lâm nghiệp ra đời và hoạt động, đến năm 2000
được chuyển thành tổ chức NGO thuộc Hội KHKT LN VN theo quy chế thành viên
FSC. NWG đã hoạt động theo hướng: − Nâng cao nhận thức cho các cơ quan Nhà
nước, chủ rừng và cộng đồng dân cư về Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng. −
Dự thảo tiêu chuẩn quốc gia tuân theo các nguyên tắc do FSC hướng dẫn và phê
duyệt phù hợp chính sách tập quán quản lý rừng của Việt Nam. − Hỗ trợ chủ rừng và
cộng đồng dân cư thực thi Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng thông qua các
mô hình thử nghiệm tại các chủ thể chủ rừng là lâm trường quốc doanh, Công ty lâm
nghiệp, hộ gia đình trồng rừng, liên doanh liên kết v.v [12]
Hiện nay mục tiêu và hiệu quả của Quản lý rừng bền vững và đảm bảo rừng ổn
định về diện tích lâm phận, cải thiện tốt nhất và bền vững về sản lượng và năng suất,
đây chính là cải thiện khả năng hấp thụ và lưu trữ CO2 trong cây và rừng. Vì vậy cần
có sự liên kết giữa hai hoạt động có một số mục tiêu, hiệu quả giao nhau để tăng tốc
độ và sức mạnh. Việt Nam đã đưa Quản lý rừng bền vững – Chứng chỉ rừng thành
chương trình trọng điểm của Chiến lược phát triển lâm nghiệp và thực thi 2 năm đầu.
Tháng 5 năm 2006, Viện nghiên cứu Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ
(SFMI) được thành lập theo quyết định ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Trung ương
Hội khoa học và kỹ thuật Lâm nghiệp (Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam) trên cơ sở Tổ
công tác Quốc gia và hoạt động theo điều lệ và Đăng ký hoạt động Khoa học và
Công nghệ được Bộ Khoa Học và Công nghệ phê duyệt. SFMI là một tổ chức phi
chính phủ (NGO) phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam có hoạt động nghiên cứu Quản
lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng.
Viện SFMI có các hoạt động phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan nghiên cứu
và quản lý của Việt Nam: Học viện Khoa học lâm nghiệp (VAFS), Đại học Lâm
nghiệp (VFU), Tổng cục Lâm nghiệp (VNFOREST), Đại học Tây Nguyên (HU),
Viện Điều tra Quy hoạch rừng (FIPI), Đại học Nông nghiệp, Trung tâm phát triển
Nông thôn bền vững (SDR).... Mặc dù không phải là tổ chức trực tiếp cấp chứng chỉ
do FSC ủy quyền, nhưng với hoạt động tư vấn của mình Viện đã góp phần không nhỏ
cho tiến trình Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng ở Việt Nam trong những
năm qua và trong tương lại. Đặc biệt, với tư cách tư vấn Viện đã trực tiếp cùng với
Tổng cục lâm nghiệp (VNFOREST) xây dựng lộ trình QLRBV & CCR cho ngành
lâm nghiệp, đồng thời tư vấn và xây dựng Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Việt
Nam (Kèm theo thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT).
Các hoạt động của SFMI tập trung vào: 1) Hỗ trợ nâng cao nhận thức về quản
lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng cho các chủ rừng; cung cấp các thông tin và tài
liệu liên quan đến QLRBV và chứng chỉ rừng; khảo sát đánh giá, xác định năng lực
hiện tại của các chủ rừng và đưa ra những ý kiến tư vấn giúp chủ rừng lựa chọn,
quyết định trong tiến trình hoạt động quản lý và 2) Cung cấp dịch vụ nâng cao năng
lực quản lý cho các chủ rừng về kỹ thuật và quản lý; tư vấn hỗ trợ xây dựng kế hoạch
quản lý rừng/Phương án quản lý rừng; hỗ trợ đánh giá nội bộ, khắc phục lỗi không
tuân thủ theo tiêu chuẩn Chứng chỉ rừng; tư vấn lựa chọn đơn vị cấp chứng chỉ Quốc
tế; hỗ trợ quản lý chứng chỉ và giám sát định kỳ.
2.2.2. Lộ trình quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam:
Ngay từ năm 2006, Cục lâm nghiệp và Viện quản lý rừng bền vững đã xây dựng và
đưa ra lộ trình cho tiến trình QLRBV và CCR của Việt Nam. Lộ trình này được chia
thành 6 bước:
Bước 1. Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia (theo ASEAN, theo FSC), xây dựng chính
sách, văn bản quản lý rừng và chứng chỉ rừng phù hợp FSC và Việt Nam;
Bước 2. Nâng cao nhận thức cho chủ rừng, cộng đồng, cơ quan quản lý, các bên liên
quan;
Bước 3. Nâng cao năng lực quản lý cho chủ rừng, cộng đồng, cơ quan quản lý, các
bên liên quan, thử nghiệm thử nghiệm rừng;
Bước 4. Đánh giá chất lượng quản lý rừng, phân loại đối tượng chủ rừng;
Bước 5. Tổ chức các mạng lưới tự nguyện;
Bước 6. Nâng cao chất lượng quản lý rừng. Mời tổ chức chứng chỉ rừng đánh giá.
Sáu bước nêu trên được chia thành 3 giai đoạn: 1) 2006-2010: Chuẩn bị, xây dựng
tiêu chuẩn Việt Nam, nâng cao nhận thức; 2) 2011-2015: Nâng cao năng lực, chính
sách, chứng chỉ rừng thử nghiệm ... và 3) 2016-2020: Tổ chức mạng lưới chứng chỉ
rừng tự nguyện, mở rộng chứng chỉ rừng [12].
Tuy nhiên, cho đến nay vì nhiều lý do chủ quan và khách quan lộ trình này cho
vẫn chưa thực hiện được theo đúng tiến độ mong muốn. Năm 2013 – 2014 Tổng cục
lâm nghiệp với sự tài trợ của quỹ TFF đã thực hiện dự án “Xây dựng chính sách quản
lý rừng bền vững và thúc đẩy Chứng chỉ rừng tại Việt Nam”.
Cùng với sự tư vấn của Viện quản lý rừng bền vững & chứng chỉ rừng và
trường Đại học lâm nghiệp, một bộ nguyên tắc quản lý rừng bền vững cho Việt Nam
đã được xây dựng (Thông tư 38/2014/TT-BNNPTNT). Đây có thể coi là một trong
những bước đột phá về QLRBV đối với ngành lâm nghiệp. Bộ tiêu chuẩn này tuân
theo các Nguyên tắc và tiêu chí của FSC, là kết quả hài hòa hóa 5 bộ tiêu chuẩn tạm
thời của 5 tổ chức Quốc tế áp dụng cho Việt Nam kết hợp với tiêu chuẩn 9c Việt
Nam. Những kết quả đã đạt được Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, nhưng với sự
quyết tâm của một số chủ rừng và sự hỗ trợ của các đơn vị tư vấn như SFMI đồng
thời với sự tài trợ của các tổ chức Quốc tế như GIZ, JICA, WWF, SNV...thời gian
qua, tiến trình quản lý rừng bền vững cũng đã đạt được một số kết quả quan trọng.
Bộ Tiêu chuẩn FSC Việt Nam được xem là cơ sở quan trọng để các chủ rừng
có căn cứ nâng cao năng lực của mình và cũng là cơ sở để các tổ chức Quốc tế vào
cấp Chứng chỉ tham khảo trong quá trình đánh giá và ra quyết định. Ít nhất có 5 tổ
chức Quốc tế gồm SGS, SW/RA, GFA, CU, WM12 đã mang các bộ tiêu chuẩn tạm
thời vào đánh giá và cấp Chứng chỉ ở Việt Nam trong thời gian qua.
Trong thời gian đánh giá, SGS đã tham khảo Nguyên tắc 8 và SW đã sử dụng
23 chỉ số của tiêu chuẩn 9c Việt Nam. Năm 2006, đơn vị được cấp Chứng chỉ rừng
đầu tiên ở Việt Nam là Công ty trồng rừng Quy Nhơn (QPFL) liên doanh với công ty
New Oji (Nhật Bản) với tổng diện tích 9.762,61 ha rừng trồng với loài cây chính là
Bạc đàn Urophylla. Nguồn kinh phí hoàn toàn do công ty New Oji và đơn vị cấp
chứng chỉ là tổ chức Quốc tế SGS (Thụy Sỹ). Đơn vị đầu tiên dùng 100% kinh phí
cũng như tiềm năng tài nguyên của mình làm chứng chỉ rừng là các Công ty trực
thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam (VINAPACO) vào năm 2010. Với tổng diện tích
được cấp chứng chỉ FSC FM/CoC là 12.201,30 với loài cây chủ yếu là các loài Keo.
Đơn vị cấp chứng chỉ là tổ chức Quốc tế SW/RA (Hoa Kỳ), SFMI là đơn vị tư vấn.
Hiện nay VINAPACO đã sang giai đoạn chứng chỉ 5 năm lần thứ 2 với chứng chỉ do
Tập đoàn tư vấn GFA (CHLB Đức) cấp [12].
Mặc dù kết quả còn hết sức khiêm tốn, nhưng cũng đã có thể thấy rõ đã có sự
chuyển biến tích cực về hoạt động quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt
Nam. Tuy nhiên bên cạnh những cơ hội thì những rào cản, khó khăn, thách thức vẫn
còn trước mắt.
2.3. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
2.3.1. Chứng chỉ rừng
Theo ISO (1991) chứng chỉ là sự cấp giấy xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay
một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu nhất định. Chứng chỉ rừng có đối tượng chứng
chỉ là chất lượng quản lý rừng. Hiện có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng đều bao
hàm hai nội dung cơ bản là: a) đánh giá độc lập chất lượng quản lý rừng theo một bộ
tiêu chuẩn quy định; b) cấp giấy chứng chỉ có thời hạn.
Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng đơn vị quản lý rừng
được chứng chỉ đã đạt những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức chứng
chỉ hoặc được uỷ quyền chứng chỉ quy định. Nói cách khác, chứng chỉ rừng là quá
trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêu cầu về quản lý
rừng bền vững. Nhiệm vụ chính của CCR là thúc đẩy việc quản lí rùng trên thế giới
một cách hợp lí về mặt môi trường, có lợi ích về mặt xã hội và kinh tế [15].
Một trong những động lực quan trọng của chứng chỉ rừng là thâm nhập thị trường
tiêu thụ sản phẩm rừng đòi hỏi có chứng chỉ, vì vậy chứng chỉ rừng thường gắn với
chứng chỉ chuỗi hành trình (CoC) - xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được
chứng chỉ.
2.3.2 Chứng chỉ nhóm
Là một quá trình theo đó nhiều chủ rừng hoặc các nhà quản lí rừng được cung
cấp một chứng chỉ FSC. Một chủ thể nhóm là đơn vị đại diện giữa chứng chỉ cho một
nhóm gồm chủ rừng hoặc các nhà quản lí rừng cùng đồng ý tham gia vào nhóm. Các
khu rừng của từng thành viên được áp dụng hệ thống quản lý rừng đã được chứng
chỉ của chủ thể nhóm. Chủ thể nhóm phải đáp ứng được tất cả các yêu cầu về quy
định và thủ tục của FSC và tất cả các chủ rừng/nhà quản lý rừng phải đáp ứng được
bộ tiêu chuẩn P&C FSC. Chứng chỉ nhóm khác với chứng chỉ rừng truyền thống ở
khía cạnh là chủ thể nhóm thường không có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp tài
nguyên rừng.
2.3.3. Tại sao cần chứng chỉ rừng
Ngày nay toàn thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng diện tích và chất lượng
rừng ngày một suy giảm, ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và khả năng cung cấp
sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như nhu cầu hàng ngày của người dân.
Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải vừa đảm bảo
lợi ích kinh tế, đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân cư sống trong rừng,
vừa không gây tác động xấu đến môi trường sống, tức là thực hiện được quản lý rừng
bền vững. Như đã trình bày ở trên, có thể nói Chứng chỉ rừng là cần thiết vì:
• Cộng đồng quốc tế, chính phủ và các cơ quan chính phủ, các tổ chức môi trường, xã
hội v.v. đòi hỏi các chủ sản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằng rừng của họ
đã được quản lý bền vững.
• Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thị trường phải
được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững.
• Người sản xuất muốn chứng minh rằng các sản phẩm rừng của mình, đặc biệt là gỗ
được khai thác từ rừng được quản lý một cách bền vững. Ngay từ thập kỷ 1990 Tổ
chức gỗ nhiệt đới (International Tropical Timber Organization –ITTO) đã đề ra mục
tiêu đến năm 2000 tất cả các sản phẩm rừng của nhóm các nước sản xuất thành viên
phải có nguồn gốc từ rừng được quản lý bền vững. Năm 1998 Liên kết Ngân hàng
thế giới – Quỹ Bảo tồn thiên nhiên (WB –WWF) đề ra mục tiêu đến năm 2005 toàn
thế giới có 200 triệu ha rừng, gồm 100 triệu ha rừng nhiệt đới và 100 triệu ha rừng ôn
đới, được chứng chỉ. Tính đến năm 2014, diện tích rừng được chứng chỉ bởi các quy
trình chủ yếu trên toàn thế giới đã xấp xỉ 449,3 triệu ha cho 83 nước [3]
Như vậy là tổng số diện tích rừng được chứng chỉ đã vượt chỉ tiêu của Liên kết WB WWF, nhưng diện tích rừng nhiệt đới được chứng chỉ còn rất nhỏ bé, còn rất xa so
với mục tiêu.
2.3.4. Những lợi ích mà chứng chỉ rừng mang lại
- Lợi ích về môi trường
Đảm bảo việc thu hoạch các sản phẩm gỗ và ngoài gỗ, cho tất cả mọi người tham
gia vào thương mại lâm sản bằng các đống góp của họ sẽ giúp đỡ việc bảo tồn hơn là
hủy diệt rừng, con người và cuộc sống thông qua các hoạt động.
Bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị khác như nước, đất, duy trì các chức năng
sinh thái, bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm và phát triển bền vững môi trường
sống của chúng. giám sát hoạt động sử dụng hóa chất, sinh vật biến đổi gen, chuyển
đổi rừng trong các hoạt động quản lý của mình.
- Lợi ích về xã hội
Đảm bảo quyền con người được tôn trọng. Nhiệm vụ chính là yêu cầu có sự
tham gia của nhiều thành phần có liên quan xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia hay khu
vực. Điều này có nghĩa rằng tất cả các hoạt động Lâm nghiệp phải được sự đồng
thuận của các nhóm dân tộc thiểu số hoặc cộng đồng địa phương. Bảo đảm sức khỏe
và an ninh xã hội, phát triển quyền các dân tộc bản địa, quyền cộng đồng và người
lao động.
Nâng cao hình ảnh thương hiệu của chủ rừng: Chứng minh rằng các sản phẩm từ
rừng của mình đặc biệt là gỗ, được khai thác từ các khu rừng đã được quản lý một
cách bền vững. Một hệ thống dán nhãn sản phẩm mang lại lợi ích cho đơn vị quản lý
rừng có trách nhiệm.
- Lợi ích kinh tế
Thực tế đã chứng minh, gỗ khai thác từ một khu rừng được cấp chứng
chỉ Quản lý rừng (Chứng chỉ FM) có thể mang lại giá trị kinh tế cao hơn hẳn gỗ khai
thác từ rừng không hoặc chưa được cấp chứng chỉ. Nghiên cứu về mô hình Chứng
chỉ rừngcủa nhóm hộ nông dân tại xã Trung Sơn, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng trị cho
thấy: Gỗ bán từ rừng đã có chứng chỉ FSC/FM cao hơn giá gỗ từ rừng không có
chứng chỉ là 24%/1 ha [2]. Tại vùng dự án Phát triển ngành lâm nghiệp (WB3) do
Ngân hàng thế giới tài trợ ở xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, tỉnh TT Huế cũng cho thấy
các Nhóm hộ trồng rừng ở đây khi bán gỗ từ rừng có chứng chỉ FSC/FM thu nhập
kinh tế cao hơn từ 28% đến 30% so với gỗ từ rừng không có chứng chỉ [1].
Đảm bảo khả năng thâm nhập thị trường tốt hơn thông qua sự khác biệt do chứng
chỉ rừng mang lại. Đặc biệt trong những năm gần đây các thị trường quan trọng như
Hoa Kỳ và châu Âu luôn đòi hỏi gỗ và sản phẩm từ gỗ khi thâm nhập thị trường này
phải có chứng chỉ. Đối với Việt Nam, hai thị trường này là đầu ra cực kỳ quan trọng
đối với ngành chế biến khi hàng năm chúng ta xuất khẩu khoảng 75% sản phẩm lâm
nghiệp vào hai thị trường nói trên.
2.3.5. Vai trò bổ sung chính sách của chứng chỉ rừng
Quản lý rừng thường chịu các tác động của:
- Luật pháp và chính sách về lâm nghiệp thông qua các quyết định, nghị định, thông
tư, chỉ thị, hướng dẫn v.v. của nhà nước và các hiệp định, công ước quốc tế, gọi
chung là những công cụ cứng.
- Cơ chế thị trường, các hình thức khuyến khích vật chất, tuyên truyền vận động,
khen thưởng v.v., gọi chung là những công cụ mềm. Chứng chỉ rừng, bao gồm cả gắn
nhãn sản phẩm, dựa vào động lực thị trường là một công cụ mềm có ảnh hưởng rất
lớn đến quản lý rừng.
Chính sách lâm nghiệp được xây dựng trên cơ sở mục tiêu chiến lược phát triển
kinh tế xã hội và những cam kết quốc tế của mỗi quốc gia. Hiện nay chính sách lâm
nghiệp của Việt Nam cũng như của các nước khác trên thế giới đều nhằm đạt 3 mục
tiêu:
- Bảo vệ và phát triển diện tích và chất lượng rừng và bảo tồn đa dạng sinh học,
chống suy thoái môi trường sống.
- Duy trì và phát triển nguồn cung cấp sản phẩm rừng cho phát triển kinh tế và đáp
ứng nhu cầu hàng ngày của nhân dân.
- Giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần
xoá đói giảm nghèo ở các nước kém phát triển.v.v.
2.3.6. Cơ chế hoạt động của CCR
2.3.6.1. Đánh giá chứng chỉ rừng
Trong những năm 90, ITTO đã tiên phong trong việc xây dựng tiêu chuẩn để đo
lường quản lý rừng nhiệt đới bền vững và đã xác định được 7 tiêu chí, trung tâm lâm
nghiệp quốc tê CIFOR củng đưa ra bộ tiêu chuẩn QLVBVR -8 tiêu chí, tiến trình
Montreal -7 tiêu chí, tiến trình Pan-european -6 tiêu chí… Riêng tổ chức FSC có bộ
tiêu chí tương đối chuẩn và khắt khe nhưng uy tín nhất trên thế giới có cấu trúc chặt
chẽ gồm 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí và hang vài ba tram công cụ kiểm chứng [9].
Các nước trên thế giới hiện nay đnag nổ lực thể hiện các chính sách, pháp luật và
các hành động liên quan đến bảo vệ rừng và QLRBV và có trách nhiệm thông qua
tiến trình xây dựng những tiêu chí và chỉ tiêu để cụ thể hóa hoạt động quản lý rừng
và giám sát chặt chẽ các hoạt động này. Mối quan hệ giữa CCR và các tiến trình liên
chính phủ nhằm xây dựng các tiêu chí và chỉ thị cho QLRBV có tính bổ sung, bổ trợ.
Tùy theo điều kiện mỗi quốc gia khác nhau trên thế giới mà việc xây dựng tiêu
chuẩn quốc gia về QLRBV trên cơ sở thảo luận và nhất trí giữa các tổ chức môi
trường, kinh tế, xã hội phù hợp với công ước quốc tế về môi trường và đa dạng sinh
học như CITES, TFAP…Có thể dựa trên các nguyên tắc quản lý bảo vệ rừng của hội
đồng quản trị rừng. Tiêu chuẩn phải bao gồm các tiêu chí cụ thể về môi trường, kinh
tế, xã hội của đối tượng được chứng chỉ rừng và với điều kiện của từng vùng sinh
thái hoặc trên phạm vi cả nước. Trong tài liệu hướng dẫn của ITTO về quản lí bền
vững rừng tự nhiên nhiệt đới [22] thì những quy định tập trung vào 41 nguyên tắc cụ
thể với 3 mục lớn như (1) chính sách pháp luật; (2) quản lý rừng và (3) là những vấn
đề kinh tế xã hội và tài chính. Trong những nguyên tắc lại có các hoạt động cụ thể
quy định các công việc cần làm để đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc đề ra.
Trong tài liệu những nguyên tắc và tiêu chí quản lý rừng của FSC đưa ra gồm có
10 nguyên tắc áp dụng cho tất cả các loại rừng tự nhiên và rừng trồng, kể cả các loại
rừng sản xuất gỗ và các loại rừng cho các sản phẩm ngoài gỗ Viện quản lý rừng bền
vững và chứng chỉ rừng (2011) [9] các nguyên tắc và tiêu chí phải bao gồm các khía
cạnh liên quan đến quản lí kinh doanh rừng và tuân thủ các chính sách pháp luật,
quyền và trách nhiệm sử dụng đất, quyền của các cộng đồng địa phương, phân chia
lợi nhuận, khuyến khích đa dạng hóa các sản phẩm, chống ô nhiễm môi trường, kiểm
tra đánh giá, chăm sóc bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, xã hội.
Chứng chỉ rừng không thể thay thế những biện pháp quản lí bảo vệ rừng truyền
thống như chính sách pháp luật, công ước, chương trình hay kế hoạch hành động của
địa phương, nước sở tại. Tuy nhiên tùy theo điều kiện thì CCR là một công cụ hữu
hiệu khuyến khích áp dụng quản lí rừng bền vững và thu hút các tầng lớp xã hội tham
gia trong quá trình hội nhập và phát triển.
2.3.6.2. Đơn vị cấp chứng chỉ rừng
FSC không trực tiếp cấp chứng chỉ mà ủy quyền cho các đơn vị khác có đủ điều
kiện để cấp chứng chỉ cho các tổ chức, đơn vị và cá nhân trên thế giới [23]. Hiện nay
có 27 tổ chức được FSC ủy quyền cấp chứng chỉ rừng trên phạm vi toàn cầu, trong
đó có một số tổ chức phổ biến cấp chứng nhận (FM/COC, CW, PSC) ở Việt Nam cụ
thể:
- Tập đoàn tư vấn GFA GmbH là một trong những tổ chức được FSC ủy quyền
để thực hiện các dịch vụ giám sát, đánh giá cấp chứng chỉ FSC trên toàn thế giới và
đã tiến hành cấp CCR cho Dự án phát triển ngành Lâm nghiệp –WB3 vào năm 2012.
- Tại Châu Á – Thái Bình Dương, công ty SmartWood/Rainforest Alllance và
SGSForestry đã thực hiện phần lớn việc đánh giá và cấp chứng chỉ rừng (FSC). Đây
cũng chính là tổ chức đảm nhiệm việc cấp FSC tại Việt Nam.
Nhiệm vụ chính của FSC là thúc đẩy việc quản lí rừng trên thế giới một cách
hợp lí về môi trường, có lợi ích về kinh tế và xã hội.
2.4. Tiếp cận việc đánh giá và cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam
Chứng chỉ rừng cũng giống như ISO nhằm mục đích để xác nhận quản lí sản
phẩm có chất lượng và nguồn gốc. Chứng chỉ rừng được áp dụng cho tất cả các đơn
vị quản lí rừng với quy mô lớn hay nhỏ, chủ sở hữu nhà nước hay tư nhân đang quản
lí rừng sản xuất và đang hoạt động quản lí kinh doanh. Đây là một quy trình hoàn
toàn tự nguyện của chủ rừng, đơn vị quản lí rừng.
Ngược lại đối với các đơn vị kinh doanh gỗ xuất khẩu thì CCR một tiêu chuẩn bắt
buộc nhằm chứng minh sản phẩm có nguồn gốc để xâm nhập thị trường tiêu thụ sản
phẩm rừng thì cần có chứng chỉ (FM), vì vậy CCR thường gắn với chuỗi hành trình
(CoC) xác nhận sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được đánh giá và cấp chứng chỉ
rừng.
Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) là một tổ chức quản lí rừng uy tín và có
phạm vi rộng nhất trên thế giới, có những nguyên tắc và tiêu chí áp dụng cho cả rừng
trồng và rừng tự nhiên, cả cho rừng ôn đới, nhiệt đới. Khi doanh nghiệp được cấp
chứng chỉ rừng của FSC thì được hưởng các lợi ích gồm: gỗ được cấp chứng chỉ FSC
sẽ bán được giá cao hơn so với cùng loại không được cấp chứng nhận (thông thường
giá bán cao hơn khoảng 25%-30%) có điều kiện tiếp cận với thị trường mới. Đánh
giá định kì hang năm của cơ quan cấp chứng chỉ rừng sẽ giúp tìm ra điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội thách thức trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở Bộ tiêu chuẩn chứng chỉ rừng quốc tế với 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí
được biên soạn và áp dụng để xin cấp chứng chỉ rừng sản xuất, rừng tự nhiên và rừng
trồng.
10 nguyên tắc của FSC:
1.Tuân thủ theo pháp luật
2.Quyền và trách nhiệm với việc sử dụng và sở hữu
3.Quyền của người bản xứ
4.Mối quan hệ cộng đồng và quyền của người lao động
5.Các lợi ích từ rừng
6.Tác động về môi trường
7.Kế hoạch quản lý
8.Giám sát và đánh giá
9.Duy trì các khu rừng có giá trị bảo tồn cao
10.Các khu rừng trồng(hạn chế khai thác trắng) [20].
Hướng tới tương lai khi những đơn vị đạt được chứng chỉ rừng của FSC, họ sẽ có
cơ hội thâm nhập thị trường toàn cầu với sản phẩm đã có chứng chỉ rừng. Nếu chủ
rừng vi phạm đối với bất kì tiêu chuẩn nào thường không được cấp chứng chỉ hoặc
thu hồi giấy chứng chỉ đã được cấp. Những doanh nghiệp, việc thực thi những tiêu
chí và nguyên tắc của FSC củng như đáp ứng được những đạo luật khắt khe của thị
trường Mỹ và Châu Âu là công việc được ưu tiên hàng đầu đối với các doanh nghiệp
sản xuất, kinh doanh các mặt hàng về gỗ khi muốn gia nhập vào thị trường quốc tế.
Quy trình đánh giá cấp chứng chỉ rừng :
Theo chương trình Smartwood, quy trình đánh giá cấp chứng chỉ rừng gồm 10 bước
cơ bản như sau:
Bước 1: Đơn vị quản lý rừng làm đơn yêu cầu cho cơ quan đánh giá.
Bước 2: Cơ quan đánh giá xây dựng dự toán, chi phí và đàm phán với khách hàng
(đơn vị quản lý rừng).
Bước 3: Khách hàng ký thỏa thuận với cơ quan đánh giá. Cơ quan đánh giá sẽ yêu
cầu khách hàng ứng trước 60% chi phí cho dự toán để triển khai công tác đánh giá.
Khi nhận được tiền, quá trình thực hiện bắt đầu.