BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
-------------------------------------------------------------
BÀI TIỂU LUẬN MÔN
CẢI THIỆN GIỐNG CÂY LÂM NGHIỆP
“Chứng minh vai trò của giống trong trồng rừng”
Học viên: Phùng Văn Tỉnh
Lớp: CH26B – Lâm Học
Giảng viên: TS. Trần Hữu Biển
Đồng Nai, tháng 10 năm 2019
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm vừa qua, cùng với sự tăng trưởng ngoạn mục của ngành gỗ
và lâm sản xuất khẩu, công tác trồng rừng đã có sự phát triển hiệu quả. Tuy nhiên,
để đáp ứng đủ nhu cầu nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến lâm sản,
các doanh nghiệp và địa phương cần hướng tới trồng rừng tập trung, nâng cao hơn
nữa chất lượng cây trồng và bảo đảm nguồn gốc chứng nhận theo quy định.
Theo đánh giá của các nhà quản lý, nguyên liệu gỗ và lâm sản của nước ta
mới đáp ứng được hơn 70% nhu cầu của ngành công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản
trong nước. Nhu cầu ngày càng tăng cao, đòi hỏi doanh nghiệp trồng rừng và các
địa phương cần đẩy mạnh hơn nữa diện tích rừng trồng, nâng cao năng suất, chất
lượng các vùng nguyên liệu lâm sản.
Do cây trồng lâm nghiệp là cây dài ngày, nếu không được quan tâm đầu tư
đúng đắn và khoa học từ đầu sẽ dẫn đến tổn thất lớn về kinh phí và thời gian. Đặc
biệt, với trồng rừng kinh doanh gỗ lớn thì việc đòi hỏi sử dụng nguồn giống có chất
lượng di truyền cao ngày một lớn.
Hiện nay, có 183 giống cây lâm nghiệp được công nhận giống tiến bộ kỹ
thuật, trong đó 55 giống đang được trồng phổ biến. Bộ giống này bao gồm các
giống thuần, giống ưu thế lai có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh
và có khả năng thích ứng rộng. Các loài keo và bạch đàn chiếm 70% diện tích rừng
trồng sản xuất, với diện tích tương đương hơn một triệu héc-ta. Cả nước có khoảng
hơn 700 đơn vị, cá nhân sản xuất, kinh doanh giống có đăng ký, trong đó có 30% số
này thuộc ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp, sản xuất khoảng 20% số
lượng cây giống hằng năm và hơn 500 doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình sản
xuất khoảng 80% số lượng cây giống cung cấp cho trồng rừng. Nhờ giống tốt và áp
dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất rừng trồng cả nước ngày càng tăng, đạt
bình quân khoảng 15 m3/ha/năm, tăng 50% so 10 năm trước.
Những kết quả này đã tạo điều kiện rất cơ bản để nước ta thực hiện thành
công Cuộc Cách Mạng mùa vụ, cải thiện chất lượng và nâng cao sản lượng.
1
II. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI GIỐNG CÂY LÂM NGHIỆP
2.1. Khái niệm giống
- Giống cây trồng là một nhóm cây trồng có đặc điểm kinh tế, sinh học và
các tính trạng hình thái giống nhau, cho năng suất cao, chất lượng tốt ở các vùng
sinh thái khác nhau và điều kiện kỹ thuật phù hợp.
- Giống cây trồng (cultivar, varieti): là một quần thể cây trồng có chung
những đặc điểm đặc trưng về hình thái, cấu trúc tế bào, đặc tính sinh lí, sinh hóa,
đặc tính kinh tế….để phân biệt giống này với giống khác và có tính năng sử dụng
nhất định (lấy hạt, lấy dầu, lấy củ…). Những đặc trưng, đặc tính của giống được
bảo tồn, truyền lại cho đời sau thông qua quá trình sinh sản hữu tính hoặc nhân vô
tính.
Từ khái niệm về giống như vậy, ta có thể hình dung giống cây trồng (crop
variety; cultivar) là một nhóm các thực vật có các đặc trưng sau:
- Có nguồn gốc chung với các tính trạng hay đặc điểm giống nhau.
- Mang tính di truyền đồng nhất (nghĩa là có sự ổn định, ít phân ly) về các
tính trạng hình thái và một số đặc tính nông sinh học khác như: chiều cao cây, thời
gian sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh v.v.
- Mang tính khu vực hoá, nghĩa là tất cả các đặc điểm hay tính trạng của
giống được biểu hiện trong những điều kiện ngoại cảnh (như đất đai, khí hậu, các
biện pháp kỹ thuật sản xuất) nhất định. Từ đây xuất hiện các khái niệm về giống
chịu hạn, chịu mặn, chịu úng v.v.
- Do con người tạo ra nhằm thoả mãn một hoặc một vài nhu cầu và thị hiếu
nhất định, như: năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị thương phẩm cao.... Các
giống vật nuôi và cây trồng vì vậy được xem là những phương tiện sống của một
nền sản xuất nông nghiệp cụ thể
Khi đề cập đến khái niệm "giống", thông thường người ta muốn đề cập tới
các tính trạng và đặc tính của giống .
- Tính trạng (characters): Đó là những đặc điểm về hình thái và cấu tạo quan
sát được của các cây trong cùng một giống giúp ta phân biệt với các giống khác
2
trong cùng một loài. Để nhận biết các tính trạng như vậy, thường người ta
chia ra các nhóm sau đây:
+ Các đặc điểm về hình thái, như: chiều cao cây, chiều dài bông, số hạt trên
bông, số bông trên khóm, kích thước lá v.v. Nói chung đây là những tính trạng số
lượng (quantitative characters), nghĩa là có thể "cân-đong-đo-đếm" được;
chúng thường do nhiều gene kiểm soát và chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện môi
trường.
+ Các đặc điểm về cấu tạo, như: độ dày của bông, màu sắc và hình dạng
của thân, lá, hoa và quả ... Đây là những tính trạng chất lượng (qualitative
characters), thường do một gene kiểm soát, ít chịu tác động của điều kiện
ngoại cảnh và có thể quan sát được bằng mắt thường.
+ Diễn biến của một quá trình sinh học, như: hô hấp, quang hợp, hoặc phản
ứng quang chu kỳ v.v. thường tỏ ra rất mẫn cảm với các điều kiện sinh thái của môi
trường như nhiệt độ, ánh sáng, độ dài ngày. Tất cả các yếu tố này có thể tác động
trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự hoạt động của các enzyme kiểm soát một quá trình
sinh học cụ thể, và qua đó có thể ảnh hưởng đến các tính trạng chất lượng.
- Đặc tính (characteristics): Đó là những tính chất hay đặc điểm sinh lý, sinh
hoá đặc trưng có liên quan đến các đặc tính chống chịu của thực vật (như chịu mặn,
hạn, rét, úng v.v.) và đặc điểm kỹ thuật canh tác.
2.2. Phân loại giống
Về mặt phân loại học, "giống" là đơn vị phân loại dưới loài, có tính chất quy
ước dùng để chỉ các quần thể khác nhau trong cùng một loài do con người chọn tạo
ra. Về mặt sinh học, các cá thể trong cùng một giống có kiểu gene và kiểu hình nói
chung là giống nhau; còn về mặt thực tiễn, điều quan tâm là dạng hình và tính năng
sản xuất của giống có đáp ứng được nhu cầu định hướng của việc sử dụng hay
không. Ta có thể phân loại giống qua các hình thức như sau:
- Dựa vào cấu trúc di truyền
+ Giống dòng: là giống được hình thành từ các dòng thuần ở cây tự thụ phấn.
+ Giống quần thể: là giống được hình thành từ tập hợp các dòng ở cây tự thụ
phần hay từ các dạng, các gia đình khác nhau ở cây giao phấn.
3
+ Giống dòng vô tính: là giống được hình thành từ thế hệ sau của các dòng
vô tính (clone), ở những cây trồng có khả năng sinh sản vô tính
+ Giống hỗn hợp: là giống được hình thành trên nền cân bằng di truyền của
nhiều dòng hay giống.
+ Giống lai sử dụng ưu thế lai: là giống được hình thành khi lai hai hay nhiều
dòng thuần, có khả năng kết hợp cao những tính trạng kinh tế mong muốn. Đặc
điểm đặc trưng của giống lai là có các tính trạng kinh tế vượt trội hơn hẳn bố mẹ
chúng, hạt lai F1 chỉ sử dụng làm giống một lần trong sản xuất.
- Dựa vào nguồn gốc lịch sử hình thành giống:
+ Giống tạo thành: là giống được tạo thành nhờ qúa trình lao động có mục
đích, sáng tạo của con người → có mức độ đồng đều về sinh học, hình thái, đặc
trưng kinh tế cao; nhưng khả năng chống chịu với dịch hại, điều kiện ngoại cảnh bất
thuận thường yếu hơn giống địa phương.
+ Giống địa phương: là một quần thể cây trồng phức tạp được hình thành
dưới ảnh hưởng của qúa trình thụ phấn tự do, đột biến tự nhiên và chọn lọc tự
nhiên, được nhà nông gìn giữ, gieo trồng từ thế hệ này sang thế hệ khác, không có
bất kì sự can thiệp nào của nhà chọn giống → năng suất ổn định, nhưng không cao.
III. VAI TRÒ CỦA GIỐNG TRONG CÔNG TÁC TRỒNG RỪNG
Từ ngàn xưa người nông dân Việt Nam đã đánh giá cao vai trò của giống.
Điều đó được đúc kết lại trong câu: “Cố công không bằng tốt giống”.Các yếu tố: kỹ
thuật thâm canh, quản lý dịch hại và điều kiện đất đai hợp thành biện pháp canh
tác tạo ra môi trường tối ưu cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Giống (kiểu
gen) biểu thị khả năng sản xuất của cây trong một môi trường nhất định.
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng và rừng
trồng, đặc biệt là rừng trồng sản xuất. Không có giống được cải thiện theo mục tiêu
kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng trồng lên cao. Theo Davidson (1996) thì
giống được cải thiện có thể chiếm đến 50 -60% năng suất rừng trồng.
Hiện nay một số nước có nền lâm nghiệp tiên tiến đã tạo được năng suất
rừng trồng 40 -50 m3/ha/năm trên diện rộng, có nơi đã đạt năng suất 60 - 70
m3/ha/năm. Gần đây, với việc đưa một số giống Keo lai và bạch đàn cao sản vào
4
sản xuất, một số nơi đã đạt năng suất rừng trồng 30- 40 m3/ha/năm, mở ra triển
vọng mới cho công tác giống và trồng rừng sản xuất ở nước ta. Cùng với việc đưa
giống mới vào sản xuất là việc áp dụng công nghệ nhân giống hom có quy mô hàng
trăm ngàn cây/năm ở nhiều lâm trường và hợp tác xã. Nhiều cơ sở nhân giống bằng
nuôi cấy mô cũng ra đời, góp phần quan trọng vào việc đưa nhanh các giống mới có
năng suất cao vào sản xuất.
Từ đó cho thấy, giống có vai trò quan trọng trong công tác trồng rừng cụ thể
như sau:
3.1. Giống góp phần tăng năng suất, chất lượng rừng trồng
Mỗi giống cây rừng đều có tiềm năng năng suất nhất định, khi các yếu tố đầu
vào sản xuất khác: điều kiện lập địa, nước, phân bón, chăm sóc, …được đáp ứng
đầy đủ thì giống cũng không thể vượt qua ngưỡng tiềm năng năng suất của nó. Chỉ
có sự đột phá về giống mới có thể mang lại năng suất rừng cao hơn.
Trong thực tiễn sản xuất lâm nghiệp đã cho thấy nhờ ứng dụng giống mới,
năng suất rừng trồng đã từng bước được nâng cao. Những thành tựu về ứng dụng
giống cây rừng trong cuộc cách mạng xanh trên thế giới và ở Việt Nam nhờ giống
tốt và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, năng suất rừng trồng cả nước ngày càng
tăng, đạt bình quân khoảng 15 m3/ha/năm, tăng 50% so 10 năm trước (10
m3/ha/năm 2009); đối với diện tích rừng trồng, rừng thâm canh giống tiến bộ kỹ
thuật, giống quốc gia đạt bình quân 20-25 m3/ha/năm, cá biệt có mô hình rừng
trồng đạt năng suất 40m3/ha/năm.
Trong quá trình phát triển, những áp lực từ quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá và sự cạnh tranh về diện tích đất giữa các ngành: nông nghiệp - công nghiệp
- dịch vụ, kéo theo là sự thu hẹp diện tích đất rừng do quá trình đô thị hoá, chuyển
đổi mục đích sử dụng đất; bên cạnh đó là sự gia tăng về dân số khiến nhu cầu
nguyên liệu gỗ và lâm sản ngoài gỗ ngày càng nâng cao trong khi các yếu tố đầu
vào khác: nước, kỹ thuật canh tác... đang phát triển chậm do đặc thù của điều kiện
địa hình, khí hậu thủy văn thì những đột phá về giống nhằm nâng cao năng suất
rừng trồng có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu gỗ của xã
hội. Từ đó góp phần ổn định kinh tế, chính trị và xã hội.
5
Việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất những giống cây rừng mới có khả năng
cho năng suất cao đã mang lại hiệu qủa kinh tế lớn, vì đó là biện pháp dể dàng và rẻ
tiền nhất để gia tăng sản lượng rừng.
Chất lượng giống từng bước được cải thiện, tỷ lệ diện tích rừng trồng được
kiểm soát giống đạt 85%, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả rừng
trồng, tạo nên những vùng nguyên liệu cung cấp ổn định cho các cơ sở công nghiệp
chế biến.
Giống là yếu tố nội tại quyết định đến phẩm chất của sản phẩm. Chất lượng
cuộc sống ngày càng nâng cao con người ngày càng có nhu cầu sử dụng những sản
phẩm có chất lượng cao. Trong xu thế phát triển nông, lâm nghiệp như hiện nay, sản
phẩm không đơn thuần là tự cung, tự cấp hay cung cấp ra thị trường nhỏ mà đó là
nông, lâm nghiệp gắn với hàng hoá do đó sự cạnh tranh sẽ rất mạnh mẽ, nếu sản
phẩm không đáp ứng được nhu cầu của xã hội thì các sản phẩm lâm nghiệp sẽ bị
thiệt hại rất lớn, đời sống người dân gắn liền với sản xuất lâm nghiệp sẽ bị ảnh
hưởng nghiêm trọng từ đó sẽ gây ra các ảnh hưởng tiêu cực khác đến xã hội.
Hiện nay ở Việt Nam đã cho thấy việc áp dụng các giống mới trong trồng
rừng có phẩm chất tốt: Keo lai, Keo lá Tràm, Bạch đàn … đã mang lại nhiều thành
quả: sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường, giá bán cao, nhờ đó người dân, các
Công ty lâm nghiệp càng được lợi và họ càng chú trọng hơn đến trồng rừng từ
những giống cây chất lượng.
Keo lá tràm: Dòng Clt1F, Clt7, Clt18, Clt19, Clt26, Clt43, Clt57, Clt64,
Clt98, Clt133, Clt171, AA1, AA6, AA7, AA9, AA10, AA12, AA15, AA42, AA56,
AA92, AA95 là các dòng đã được công nhận giống tiến bộ kỹ thuật và giống quốc
gia có năng suất đạt từ 20 – 33 m3/ha/năm;
Keo lai: Dòng TB1, TB3, TB5, TB6, TB7, TB11, TB12, AH1, AH4, AH7 đã
được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật. Các dòng này có khả năng chống chịu
bệnh tốt, ít cành nhánh, chất lượng gỗ tốt, năng suất đạt từ 30 – 35 m 3/ha/năm. Hiện
nay Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm lâm nghiệp Đông Nam Bộ vẫn đang tiếp
tục nghiên cứu và đưa vào khảo nghiệm hàng trăm dòng Keo lai, từ đây sẽ chọn lọc
6
ra các dòng có khả năng sinh trưởng vượt trội và khả năng chống chịu bệnh cao đáp
ứng nguồn giống mới cho trồng rừng trên toàn quốc.
Bạch đàn camal được công nhận gồm: SM16, SM23, SM51, SM52, B28,
B32, B34, EF24, EF39, EF55. Tăng trưởng đạt 30 – 35 m 3/ha/năm ở Đồng Nai,
khảo nghiệm trên diện rộng đạt trên 20 m 3/ha/năm ở Đồng Nai, Bình Dương, Bình
Phước sau 3 – 4 năm;
Keo tai tượng: Dòng M5 được công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật có khả
năng sinh trưởng nhanh, năng suất đạt 28 – 35 m3/ha/năm, cành nhánh nhỏ, không
bị mục rỗng ruột.
Những thành tựu nói trên cùng biết bao giống cây lâm nghiệp khác có năng
suất cao và phẩm chất tốt đã và đang được đưa vào sản xuất ở khắp nơi trên thế giới
đã mang lại cho khoa học chọn giống cây trồng nói chung, chọn giống cây lâm
nghiệp nói riêng một niềm tự hào chính đáng.
3.2. Giống góp phần tăng tính chống chịu điều kiện bất lợi
Mỗi giống cây lâm nghiệp có tính thích nghi nhất định với từng điều kiện
vùng sinh thái. Do đó việc lựa chọn giống cây trồng thích hợp với từng vùng sản
xuất: điều kiện sinh thái, điều kiện canh tác vừa có ý nghĩa trong việc đảm bảo tốt
nhất cho việc tạo năng suất và đảm bảo chất lượng rừng trồng thì nó còn có có một
vai trò khác vô cùng quan trọng đó là mở rộng diện tích đất trồng rừng.
Trong thực tiễn sản xuất đã ghi nhận nhờ có nhiều giống cây lâm nghiệp
được nghiên cứu và đưa vào trồng mới: Keo lai , bạch đàn kháng bệnh…nhờ đó ta
đã mở rộng được diện tích trồng rừng. Những giống cây lâm nghiệp chống chịu sâu
bệnh ra đời đã góp phần ổn định sản xuất, giảm thiểu chi phí phòng trừ sâu bệnh, rủi
do từ sâu bệnh gây ra cho người trồng rừng, bảo vệ môi trường.
Với tình hình biến đổi khí hậu đang diễn ra phức tạp: nhiệt độ trái đất tăng,
nước biển dâng cao, tình trạng thiên tai, dịch bệnh đang xảy ra ngày càng nhiều sản
xuất lâm nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thử thách lớn đó tình trạng khô
hạn kéo dài, mưa lũ gây xói mòn rửa trôi, các dịch bệnh đang xảy ra với mức độ và
tần suất ngày càng cao trong khi lâm nghiệp đang hướng đến nền lâm nghiệp bền
7
vững thì vai trò của giống cây trồng then chốt giúp tạo sự ổn định sản xuất, giảm
thiểu chi phí cho người dân, hướng đến mục tiêu của nền lâm nghiệp hiện đại.
3.3. Giống góp phần rút ngắn chu kỳ kinh doanh
Do cây trồng lâm nghiệp là cây dài ngày, nếu không được quan tâm đầu tư
đúng đắn và khoa học từ đầu sẽ dẫn đến tổn thất lớn về kinh phí và thời gian. Đặc
biệt, với trồng rừng kinh doanh gỗ lớn thì việc đòi hỏi sử dụng nguồn giống có chất
lượng di truyền cao ngày một lớn.
Phải mất ít nhất từ 7-10 năm mới cho một chu kỳ khai thác cây lâm nghiệp.
Nếu khâu giống được cải thiện có thể chiếm đến 50 - 60% năng suất rừng trồng, rút
ngắn chu kỳ kinh doanh, giải quyết được bài toán kinh tế trong kinh doanh rừng
trồng.
Việc đưa các giống có khả năng chống chịu bệnh, sinh trưởng phá triển tốt
vào trồng rừng nguyên liệu, góp phần rút ngăn chu kỳ kinh doanh cho người trồng
rừng. Song song với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, tận dụng các
thuận lợi từ điều kiện lập địa, chon các giống sinh trưởng, phát triển tốt và năng
xuất cao có thể rút ngắn chu kỳ kinh doanh từ 7 năm xuống còn 4 năm....
3.4. Giống làm thay đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa sản phẩm lâm nghiệp
Mỗi giống có yêu cầu điều kiện sinh thái nhất định, đặc điểm hình thái và có
thời gian sinh trưởng khác nhau. Sự đa dạng về giống cho phép ta xây dựng nhiều
mô hình sản xuất có hiệu quả hơn nhằm khai thác tối đa hiệu quả các nguồn tài
nguyên: đất đai, nguồn nước, khí hậu, nhân lực….
Ở những thập kỷ trước, người dân trồng rừng chủ yếu là các loài cây bản địa
cho từng vùng sinh thái khác nhau. Điều này dẫn tới chu kỳ kinh doanh rừng dài,
sản phẩm lâm nghiệp không có sự đa dạng và phong phú, chất lượng kém. Những
thành công trong nghiên cứu giống lâm nghiệp đã góp phần rất lớn vào việc thay
đổi cơ cấu cây trồng cho từng vùng sinh thái, đa dạng hóa sản phẩm gỗ nguyên liệu.
Các loài keo và bạch đàn chiếm 70% diện tích rừng trồng sản xuất, với diện
tích tương đương hơn một triệu héc-ta. Bên cạnh đó, các loài cây bản địa mọc
nhanh cũng đang được chú trọng trong trồng rừng kinh doanh gỗ lớn.
8
Việt Nam, có sự phân hoá về điều kiện sinh thái giữa các vùng miền rất rõ
rệt, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu cây trồng, mùa vụ của người trồng
rừng. Vì vậy sự đa dạng về giống lâm nghiệp giúp cho người sản xuất lựa chọn
giống cây trồng phù hợp với điều kiện sinh thái, đặc điểm sản xuất, mục đích sản
xuất của họ: trồng rừng gỗ lớn, trồng rừng nguyên liệu giấy, bao bì…; điều này vừa
có ý nghĩa thiết thực đối với người trồng rừng, vừa có ý nghĩa đối với thị trường chế
biến và xuất khẩu gỗ.
IV. KẾT LUẬN
Giống là yếu tố nội tại quyết định đến phẩm chất của sản phẩm lâm nghiệp.
Giống cây lâm nghiệp có vai trò rất quan trọng trong sản xuất lâm nghiệp,
nhất là những nước công nghiệp hóa nông, lâm nghiệp. Trên thế giới, người ta đã
đặt trọng tâm vào phát triển lâm nghiệp trên quy mô công nghiệp hiện đại, bằng các
phương phát sinh học tối tân, họ đã sản xuất hàng loạt giống cây lâm nghiệp mới,
được chọn lọc và cho nhân giống, lai tạo ra những thế hệ cây trồng nhiều ưu điểm,
cải tạo gen thành những giống cây kháng sâu bệnh, giảm bớt chi phí sản xuất, rút
ngắn thời gian chăm sóc, tạo nên ưu thế vững chắc trong sản xuất lâm nghiệp.
Việt Nam chúng ta đã có nhiều thành tựu quan trọng trong công tác chọn và
lai tạo giống, cũng như có những chương trình chuyển giao công nghệ sản xuất mới,
tuyển lựa giống cây trồng, thúc đẩy tăng sản lượng, chất lượng gỗ và làm đỗi thay
bộ mặt của ngành lâm nghiệp. Vấn đề quan trọng và trọng tâm của trồng rừng là
chọn giống, chọn đất trồng phù hợp trên quy mô công nghiệp hiện đại, chuyên
nghiệp, bền vững.
Giống cây trồng lâm nghiệp là một loại vật tư kỹ thuật quan trọng và là tiền
đề của công tác trồng rừng. Có giống tốt và đủ giống thì mới hoàn thành được kế
hoạch trồng rừng, đảm bảo rừng trồng đạt chất lượng và năng suất cao.
9
10