ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----
-----
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Môn học: Triết học Mác – Lênin
Học kỳ II (2019-2020)
THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC.
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA
CHÂN LÝ VÀO CÔNG CUỘC CẢI TẠO XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ KHI
ĐỔI MỚI ĐẾN NAY.
Sinh viên:
Mã số sinh viên:
Lớp:
Trường:
Giảng viên:
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 04 năm 2020
Lời đầu tiên, cho chúng em xin cảm ơn Đại học Quốc gia Thành phố
Hồ Chí Minh và cụ thể là Trường Đại học Kinh tế - Luật đã đưa môn “Triết
học Mác – Lênin” vào chương trình giảng dạy để chúng em có thể hiểu rõ
chính xác bản chất quá trình vận động của xã hội, từ đó có cơ sở để giải thích
và đưa ra phương pháp giải quyết tất cả các vấn đề cụ thể của cuộc sống xung
quanh ta. Chúng em cũng chân thành gửi lời cảm ơn giáo viên bộ môn Cô
Nguyễn Thị Hồng Hoa. Nhờ sự giảng dạy nhiệt tình, tâm huyết của cô đã giúp
chúng em hứng thú với môn học và được tiếp thu đầy đủ những tri thức mà cô
đã truyền đạt. Thông qua những giờ học, chúng em đã tích lũy cho bản thân
nhiều nguyên tắc, lý luận quý giá trong việc nhìn nhận, thấu hiểu và gia nhập
vào xã hội. Đây chắc chắn sẽ là hành trang quý báu của chúng em trong chặn
đường sắp tới.
Cuối lời, em kính chúc cô luôn mạnh khỏe, vui vẻ, hạnh phúc và luôn
thành công trong quá trình truyền bá tri thức cho những thế hệ tương lai; kính
chúc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng như Trường Đại học
Kinh tế - Luật sẽ ngày một phát triển bền vững trong tương lai, trở thành
trường đại học uy tín với chất lượng học tập và giảng dạy tốt, hiện đại số một
Việt Nam.
1
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU......…………………………………………………………………..3
PHẦN I: LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI
NHẬN THỨC…………………………………………………………………5
1. Khái niệm thực tiễn…………….….…………………………………….….5
1.1. Thực tiễn là gì?………………………………………………………..5
1.2.
Các hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn…………………………6
1.3.
Chức năng của các hình thức hoạt động thực tiễn……………………..7
2. Khái niệm nhận thức………………………………………………………..8
2.1. Nhận thức là gì?…….……………………………………………………8
2.2. Các trình độ nhận thức….………………………………………………..9
2.3. Quá trình nhận thức…………………………………………………….10
3. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức…………………………………...14
4. Ý nghĩa phương pháp luận………………………………………………...17
PHẦN II: THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ….…….………….18
1. Chân lý và các tính chất của chân lý…………………………………………18
2. Nội dung nguyên tắc thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý……………………18
PHẦN III: SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN
CỦA CHÂN LÝ VÀO CÔNG CUỘC CẢI TẠO XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ KHI
ĐỔI MỚI ĐẾN NAY……………………………………..……...………………..21
1. Trong việc giải thích tính cấp thiết của đổi mới……………………………...21
2. Trong nội dung của công cuộc đổi mới……………………………………..22
3. Trong những thành tựu cơ bản của đổi mới…………………………………25
LỜI KẾT…..……………………………………...……………………………….28
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……….………………………………...29
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo
thực tiễn nền kinh tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.
Ngày nay, Triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển
của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và
thực tiễn, phương pháp biện chứng,… luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ
cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ một lập
trường triết học đúng đắn, con người có thể có được những cách giải quyết phù
hợp với các vấn đề do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận
một lập trường nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan
nhất định hay một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một
cơ sở phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động.
Chúng ta biết rằng, Triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ
nghĩa Mác. Lênin đã chỉ rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng chính là triết
học của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có Triết học Mác là mang tính ưu
việt hơn cả. Trên cơ sở nền tảng Triết học Mác – Lênin, Đảng và Nhà nước ta
đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng
chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với
hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi
song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế,
từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu vực và thế giới
về mọi mặt. Chính những thành tựu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội,
qua mười năm đổi mới và hơn hai mươi năm duy trì và phát triển cho đến nay
là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên.
3
Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật
khách quan trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem
xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình hội nhập như hiện nay. Vì vậy, với mong
muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này, em quyết định chọn đề tài “THỰC
TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC. VẬN
DỤNG NGUYÊN TẮC THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ
VÀO CÔNG CUỘC CẢI TẠO XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ KHI ĐỔI MỚI
ĐẾN NAY”.
4
PHẦN I:
LÝ LUẬN VỀ THỰC TIỄN VÀ VAI TRÒ CỦA THỰC TIỄN
ĐỐI VỚI NHẬN THỨC
Trong chủ nghĩa Mác – Lênin, lý luận nhận thức (hay nhận thức luận)
là một nội dung cơ bản của phép biện chứng; đó là lý luận nhận thức duy vật
biện chứng, tức học thuyết về khả năng nhận thức của con người đối với thế
giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn; lý giải bản chất, con đường và
quy luật chung của quá trình con người nhận thức chân lý, nhận thức hiện
thực khách quan nhằm phục vụ hoạt động thực tiễn của con người. Cụ thể,
triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng con người tự làm ra mình và
lịch sử của mình bằng hoạt động thực tiễn. Đó là cách hiểu về vai trò của thực
tiễn với tư cách là điểm xuất phát của quan niệm duy vật về lịch sử và cũng là
điểm xuất phát của lý luận nhận thức duy vật biện chứng.
1. Khái niệm thực tiễn
1.1. Thực tiễn là gì?
Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, các nhà kinh
điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã tạo nên một bước chuyển biến cách mạng
trong triết học nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng và đã đưa ra
quan điểm về thực tiễn như sau:
• Thực tiễn là toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích, mang tính lịch sử xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên và xã hội.
• Bản chất của hoạt động thực tiễn đó là sự tác động qua lại của chủ thể
và khách thể.
Có thể hiểu, hoạt động thực tiễn là hoạt động mà con người sử dụng
những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật chất làm biến đổi
5
chúng theo những mục đích của mình. Đó là những hoạt động đặc trưng và
bản chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất yếu khách quan và
không ngừng phát triển bởi con người qua các thời kỳ lịch sử. Chính vì vậy
mà hoạt động thực tiễn bao giờ cũng là hoạt động mang tính chất sáng tạo và
có mục đích, tính lịch sử - xã hội.
1.2. Các hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn
Hoạt động thực tiễn đa dạng với nhiều hình thức ngày càng phong phú,
song có thể chia ra thành ba hình thức cơ bản là: Hoạt động sản xuất vật chất,
Hoạt động chính trị xã hội và Hoạt động thực nghiệm khoa học.
• Hoạt động sản xuất vật chất: là hình thức hoạt động cơ bản, đầu tiên và
quan trọng nhất của thực tiễn. Đây là hoạt động mà trong đó con người
sử dụng những công cụ lao động tác động vào giới tự nhiên để tạo ra
của cải vật chất, các điều kiện cần thiết nhằm duy trì sự tồn tại và phát
triển của mình. Ví dụ như hoạt động gặt lúa của nông dân, lao động của
các công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, hoạt động…
• Hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động của các cộng đồng người, các
tổ chức khác nhau trong xã hội nhằm cải tạo hiện thực xã hội và cải
biến những quan hệ chính trị xã hội nhằm mục đích thúc đẩy xã hội
phát triển. Ví dụ như hoạt động bầu cử đại biểu Quốc hội, tiến hành Đại
hội Đoàn Thanh niên trường học, Hội nghị công đoàn,…
• Hoạt động thực nghiệm khoa học: là một hình thức đặc biệt của hoạt
động thực tiễn. Thực nghiệm bao gồm thực nghiệm sản xuất, thực nghiệm
khoa học, thực nghiệm xã hội,… được tiến hành trong điều kiện nhân tạo,
gần giống, giống và lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm
rút ngắn thời gian của các quá trình biến đổi để có thể xác định những quy
luật biến đổi, phát triển của đối tượng nghiên cứu, dựa trên cơ sở đó nhận
thức thế giới, chứng minh tính chân thực của nhận thức.
6
Ví dụ như hoạt động nghiên cứu, làm thí nghiệm của các nhà khoa học
để tìm ra các vật liệu mới, nguồn năng lượng mới, vác-xin phòng ngừa
dịch bệnh mới,…
1.3. Chức năng của các hình thức hoạt động thực tiễn
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản của thực tiễn có một chức năng quan
trọng khác nhau, không thể thay thế cho nhau song chúng có mối quan hệ chặt
chẽ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó, hoạt động sản xuất vật
chất là loại hoạt động có vai trò quan trọng nhất, đóng vai trò quyết định đối
với các hoạt động thực tiễn khác. Bởi vì nó là hoạt động nguyên thủy nhất (là
hoạt động đã đưa con người từ trạng thái thú vật lên trạng thái con người) và
tồn tại một cách khách quan, thướng xuyên nhất trong đời sống của con người
và tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu nhất, có tính quyết định đối với sự
sinh tồn và phát triển của con người nói riêng và xã hội loài người nói chung.
Không có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức thực tiễn
khác. Các hình thức thực tiễn khác, suy đến cùng cũng xuất phát từ thực tiễn
sản xuất vật chất và nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chất.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là các hình thức hoạt động
chính trị xã hội và thực nghiệm khoa học là hoàn toàn thụ động, lệ thuộc một
chiều vào hoạt động sản xuất vật chất. Ngược lại, chúng có tác dụng kìm hãm
hoặc thúc đẩy hoạt động sản xuất vật chất phát triển. Chẳng hạn, nếu hoạt
động thực tiễn chính trị xã hội mang tính chất tiến bộ, cách mạng và nếu hoạt
động khoa học thực nghiệm khoa học đứng đắn sẽ tạo đà cho hoạt động sản
xuất phát triển; còn nếu ngược lại, thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của hoạt
động sản xuất vật chất. Đặc biệt hai dạng hoạt động này ngày càng có vai trò
trong sự phát triển của xã hội trong thời kì hội nhập với cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại bùng nổ.
7
Chính sự tác động qua lại lẫn nhau của các hình thức hoạt động cơ bản
đó đã làm cho hoạt động thực tiễn vẫn động, phát triển và ngày càng có vai
trò quan trọng đối với hoạt động nhận thức.
2.
Khái niệm nhận thức
2.1. Nhận thức là gì?
Chủ nghĩa duy vật khẳng định: Nhận thức là một quá trình phản ánh tích
cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc cno người trên cơ sở
thực tiễn, nhằm sáng tạo ra những tri thức về thế giới khách quan đó.
Quan niệm này xuất phát từ bốn nguyên tắc cơ bản sau đây:
• Thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con
người.
•
Thừa nhận con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan
vào bộ óc của con người, là hoạt động tìm hiểu khách thể của chủ thể;
thừa nhận không có cái gì là không thể nhận thức được mà chỉ có
những cái mà con người chưa nhận thức được.
• Khẳng định sự phản ánh đó là một quá trình biện chứng, tích cực, tự
giác và sáng tạo. Quá trình phản ánh đó diễn ra theo trình tự từ chưa
biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ chưa sâu sắc, chưa toàn diện
đến sâu sắc và toàn diện hơn,…
• Coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức; là động
lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
Như vậy, theo quan điểm duy vật biện chứng thì nhận thức thuộc phạm
hoạt động phản ánh của con người (với tư cách là chủ thể nhận thức) đối với
vi
thế giới khách quan (với tư cách khách thể nhận thức) được tiến hành thông qua
hoạt động thực tiễn và nhằm sáng tạo tri thức phục vụ hoạt động thực tiễn,
đồng thời cũng lấy thưc tiễn làm tiêu chuẩn để xác định tính chân lý của
những tri thức đó.
8
2.2. Các trình độ nhận thức
Với quan điểm suy vật biện chứng như đã nêu, nhận thức nhất định
phải là một quá trình, đó cũng là quá trình đi từ trình độ nhận thức kinh
nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận; từ trình độ nhận thức thông thường
đến trình độ nhận thức khoa học.
a) Từ trình độ nhận thức kinh nghiệm đến trình độ nhận thức lý luận.
Nhận thức kinh nghiệm là trình độ nhận thức hình thành từ sự quan sát
trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên, xã hội hay trong các thí
nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là những tri thức kinh
nghiệm.
Nhận thức lý luận là trình độ nhận thức gián tiếp, trừu tượng, có tính hệ
thống trong việc khái quát bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn nhận thức
khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau. Trong mối quan hệ đó,
nhận thức kinh nghiệm là cơ sở của nhận thức lý luận; nó cung cấp những
hiểu biết về các mặt riêng rẻ, bên ngoài của các sự vật, hiện tượng để tổng kết
và khái quát thành lý luận, nhưng lại chưa phản ánh được cái bản chất, những
mối liên hệ mang tính quy luật. Ngược lại, mặc dù được hình thành từ sự tổng
kết những kinh nghiệm nhưng nhận thức lý luận không hình thành một cách
trực tiếp từ kinh nghiệm mà lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh
nghiệm, hướng dẫn sự hình thành những tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa
chọn những kinh nghiệm hợp lý để phục vụ hoạt động thực tiễn.
b) Từ trình độ nhận thức thông thường đến trình độ nhận thức khoa học.
Nhận thức thông thường là loại nhận thức được hình thành một cách tự
phát, trực tiếp trong hoạt động hằng ngày của con người. Nó phản ánh sự vật,
hiện tượng xảy ra với những đặc điểm chi tiết, cụ thể và những sắc thái khác
9
nhau của sự vật. Vì vậy, nhận thức thông thường mang tính phong phú, gắn
liền với những quan niệm sống thường ngày và có vai trò thường xuyên, phổ
biến chi phối hoạt động của con người trong xã hội.
Nhận thức khoa học là loại nhận thức được hình thành một cách tự giác
và gián tiếp từ sự phản ánh đặc điểm bản chất, những quan hệ tất yếu của đối
tượng nghiên cứu. Sự phản ánh này diễn ra dưới dạng trừu tượng logic (các
khái niệm, phạm trù, quy luật, nhận thức khoa học,…). Nó vận dụng một hệ
thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng thuật ngữ khoa học để diễn tả
bản chất và các quy luật của đối tượng nghiên cứu. Vì thế, nhận thức khoa
học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời
đại khoa học công nghệ hiện đại.
Nhận thức thông thường và nhận thức khoa học là hai bậc thang khác
nhau về chất của quá trình nhận thức nhằm đạt tới những tri thức chân thực.
Giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ đó, nhận
thức thông thường có trước nhận thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây
dựng nội dung của khoa học, song nó chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở sự phản ánh
cái bề ngoài, ngẫu nhiên, không bản chất của đối tượng và tự nó không thể
chuyển thành nhận thức khoa học. Ngược lại, khi đạt tới trình độ nhận thức
khoa học nó lại tác động trở lại nhận thức thông thường, xâm nhập vào nhận
thức thông thường và làm nhận thức thông thường phát triển, tăng cường tính
khoa học cho quá trình con người nhận thức thế giới.
2.3. Quá trình nhận thức
Nhận thức là một quá trình biễn chứng diễn ra rất phức tạp, bao gồm
nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức khác nhau.
Theo Lênin thì quá trình nhận thức trải qua hai khâu sau:
a) Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
10
Nhận thức cảm tính (trực quan sinh động) là những tri thức do giác quan
mang lại. Ví dụ như “Khi muối ăn tác động vào các cơ quan cảm giác, mắt (thị
giác) sẽ cho ta biết muối có màu trắng, dạng tinh thể; mũi (khướu giác) cho ta
biết muối không có mùi; lưỡi (vị giác) cho ta biết muối có vị mặn”. Nét đặc
trưng cơ bản ở giai đoạn này là nhận thức được thực hiện trong mối liên hệ trực
tiếp với thực tiễn thông qua các nấc thang cảm giác, tri giác và biểu tượng.
•
Cảm giác là tri thức được sinh ra do sự tác động trực tiếp của sự vật,
hiện tượng lên các giác quan của con người. Cảm giác phản ánh từng
mặt, từng khía cạnh, từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng.
Nguồn gốc và nội dung của cảm giác là thế giới khách quan, còn bàn
chất của cảm giác là hình ảnh chủ quan về thế giới đó.
•
Tri giác là sự tổng hợp (sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau) của nhiểu cảm
giác riêng biệt vào một mối liên hệ thống nhất tạo nên một hình ảnh
tương đối hoàn chỉnh về một sự vật, hiện tượng.
•
Biểu tượng được hình thành nhờ sự phối hợp hoạt động, bổ sung lẫn nhau
của các giác quan và đã có sự tham gia của các yếu tố phân tích, trừu
tượng và khả năng ghi nhận thông tin của não người. Đây là nấc thang cao
và phức tạp nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính; là hình ảnh cảm tính
tương đối hoàn chỉnh về sự vật, hiện tượng được lưu lại trong não người
và do tác động nào đó được tái hiện lại khi sự vật, hiện tượng không còn
nằm trong tầm cảm tính. Trong biểu tượng đã có những phản ánh gián tiếp
về sự vật, hiện tượng và với biểu tượng, con người đã có thể hình dung
được sự khác nhau về mâu thuẫn nhưng vẫn chưa nắm
được sự chuyển hóa từ sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng
khác.
Kết quả của nhận thức ở giai đoạn trực quan sinh động (nhận thức cảm
tính) là không những chỉ là nhận thức “bề ngoài” của sự vật, hiện tượng, mà
đã có “chất”. Tuy vậy, giai đoạn trực quan sinh động chưa mang lại nhận thức
11
hoàn chỉnh, khái quát về sự vật, hiện tượng. Các nấc thang của giai đoạn này
trong quá trình nhận thức mới chỉ là tiên đề cho nhận thức về bản chất sự vật,
hiện tượng.
Nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) bắt nguồn từ trực quan sinh động
và từ những lý luận truyền lại. Nhận thức lý tính phản ánh sâu sắc, chính xác
và đầy dủ hơn về khách thể nhận thức. Lấy lại ví dụ về muối: “Nhờ đi sâu
phân tích, người ta tìm ra cấu trúc tinh thể và công thức hóa học của muối,
điều chế được muối…”. Những thành phần của nhận thức lý tính:
•
Khái niệm là hình thức cơ bản nhất của tư duy trừu tượng. Khái niệm
vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan khi phản ánh cả một tập
hợp những thuộc tính cơ bản có tính bản chất và chung nhất của sự vật,
hiện tượng nhờ sự tổng hợp, khái quát biện chứng những thông tin đã
thu nhận đươc về sự vật, hiện tượng thông qua hoạt động thực tiễn và
hoạt động nhận thức. Các thông tin, tài liệu đó càng nhiều, càng đa
dạng thì các khái niệm cũng ngày một nhiều và giữa chúng có các mối
liên hệ qua lại lẫn nhau trong sự vận động, phát triển không ngừng dẫn
đến sự hình thành những khái niệm mới, phản ánh sâu sắc hơn về bản
chất của sự vật, hiện tượng.
•
Phán đoán là hình thức tư duy liên kết các khái niệm lại với nhau đẻ
khẳng định hoặc phủ định một đặc điểm, một thuộc tính nào đó của sự
vật, hiện tượng; là hình thức phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện
tượng của thế giới khách quan vào ý thức của con người tạo nên vai trò
của phán đoán là hình thức biểu hiện và diễn đạt các quy luật khách
quan. Có ba loại phán đoán cơ bản là phán đoán đơn nhất, phán đoán
đặc thù và phán đoán phổ biến, trong đó phán đoán phổ biến là hình
thức diễn đạt tương đối đầy đủ các quy luật.
•
Suy luận (suy lý) là hình thức của tư duy liên kết các phán đoán lại với
nhau để rút ra tri thức mới theo phương pháp phán đoán cuối cùng được
12
suy ra từ những phán đoán tiên đề (suy luận là quá trình đi từ những
phán đoán tiên đề đến một phán đoán mới). Suy luận có vai trò quan
trọng trong tư duy trừu tượng, bởi nó thể hiện quá trình vận động của tư
duy đi từ cái đã biết đến nhận thức gián tiếp cái chưa biết. Có thể nói
rằng, đa số các ngành khoa học được xây dựng trên hệ thống suy luận
và nhờ đó, con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn
hiện thực khách quan. Tùy thuộc vào tính chất của mối liên hệ giữa các
phán đoán tiên đề với phán đoán kết luận mà suy luận có thể là suy luận
quy nạp hoặc suy luận diễn dịch. Trong các suy luận quy nạp, tư duy
vận động từ cái đơn nhất đến cái chung, cái phổ biến; trong các suy
luận diễn dịch, tư duy đi từ cái chung đến cái ít chung hơn và đến cái
đơn nhất. Cũng như khái niệm và phán đoán, các loại suy luận đều biến
đổi, có liên hệ qua lại với nhau theo tiến trình phát triển của nhận thức.
Kết quả của nhận thức trong giai đoạn tư duy trừu tượng là nhờ phương
pháp trừu tượng và khái quát hóa các thông tin, tài liệu do trực quan sinh động
và tư duy trừu tượng các thế hệ trước để lại, tư duy trừu tượng phản ánh hiện
thực sâu sắc hơn, phản ánh được những thuộc tính và mối quan hệ bản chất
mang tính quy luật của sự vật, hiện tượng.
Sự phân chia quá trình nhận thức như trên chỉ là sự trừu tượng quá trình
vận động của nhận thức; còn trên thực tế, nhận thức cảm tính, nhận thức lý
tính và các nấc thang của chúng luôn đan xen nhau và thực tiễn là cơ sở của
toàn bộ quá trình nhận thức đó.
b) Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn.
Mỗi giai đoạn nhận thức có những nét đặc trưng riêng. Nếu nhận thức ở
giai đoạn cảm tính gắn liền với thực tiễn, gắn liền với sự tác động trực tiếp của
khách thể nhận thức lên các giác quan của chủ thể nhận thức. Thì nhận thức ở
giai đoạn lý tính đã thoát khỏi sự tác động trực tiếp của khách thể nhận thức để
13
có thể bao quát sự vật, hiện tượng. Tuy vậy, nhận thức ở giai đoạn này nhất
thiết phải được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh nhằm tránh nguy cơ trở
thành ảo tưởng, viễn vông, không thực tế. Đó là thực chất của mệnh đề “Từ
tư duy trừu tượng đến thực tiễn”.
Mỗi chu trình nhận thức đều phải đi từ thực tiễn đến trực quan sinh
động rồi đến tư duy trừu tượng rồi quay về thực tiễn. Trong đó thực tiễn giữa
vai trò là điểm bắt đầu và khâu kết thúc của chu trình đó. Nhưng sự kết thúc
của chu trình nhận thức này lại là sự khởi đầu của chu trình nhận thức mới ở
mức độ cao hơn, rộng hơn chu trình cũ và cứ thế vận động mãi làm cho nhận
thức của con người ngày càng sâu hơn, nắm được bản chất và quy luật của thế
giới khách quan, phục vụ cho hoạt động biến đổi thế giới.
Xét trong toàn bộ nhận thức của con người về thế giới, thực tiễn là yếu
tố không thể thiếu được của quá trình nắm bắt chân lý – là vòng khâu “chuyển
hóa” kết quả nhận thức thành chân lý khách quan.
3. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Đối với nhận thức, thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích
của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá trình
nhận thức chân lý.
a) Thực tiễn là cơ sở của nhận thức.
Sở dĩ như vậy vì thực tiễn là điểm xuất phát trực tiếp của nhận thức.
Thông qua hoạt động thực tiễn, con người nhận biết được cấu trúc, tính chất và
các mối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành tri thức về đối tượng. Hoạt
động thực tiễn bổ sung và điểu chỉnh những tri thức đã được khái quát. Nó đề ra
nhu cầu, nhiễm vụ, cách thức và khuynh hướng vận động và phát triển của nhận
thức. Chính con người có như cầu tất yếu khách quan là phải giải thích thế giới
và cải tạo thế giới nên con người phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng
hoạt động thực tiễn của mình. Sự tác động đó đã làm cho các sự
14
vật, hiện tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và các quan hệ
khác nhau giũa chúng, đem lại những tài liệu cho nhận thức, giúp cho con
người nhận thức, nắm bắt được bản chất, các quy luật vận động và phát triển
của thế giới. Trên cơ sở đó mà hình thành nên các lý thuyết khoa học.
Chẳng hạn, sự xuất hiện học thuyết Macxit vào những năm 40 của thế
kỷ XIX cũng bắt nguồn từ hoạt động thực tiễn của các phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản lúc bấy giờ. Có thể nói, suy
cho cùng, không có một lĩnh vực tri thức nào mà lại không xuất phát từ thực
tiễn, không nhằm vào việc phục vụ, hướng dẫn thực tiễn. Do đó, nếu thoát ly
thực tiễn, không dựa vào thực tiễn thì nhận thức sẽ xa rời cơ sở hiện thực nuôi
dưỡng sự phát sinh, tồn tại và phát triển của mình. Cũng vì thế, chủ thể nhận
thức không thể có được những tri thức đúng đắn và sâu sắc về thế giới nếu nó
xa rời thực tiễn.
b) Thực tiễn là động lực của nhận thức.
Thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình vận động, phát triển của nhận
thức. Nhờ có hoạt động thực tiễn mà các giác quan của con người ngày càng
được hoàn thiện; tạo ra khả năng phản ánh nhạy bén, chính xác, nhanh hơn;
năng lực tư duy logic không ngừng được củng cố và phát triển; các công cụ,
phương tiện nhận thức ngày càng hiện đại, có tác dụng “nối dài” các giác
quan của con người trong việc nhận thức thế giới. Những tri thức được áp
dụng vào thực tiễn đem lại động lực kích thích quá trình nhận thức tiếp theo.
Chẳng hạn, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn con người cần phải “đo đạc diện
tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính toán thời gian và sự
chế tạo cơ khí” mà toán học đã ra đời và phát triển.
c) Thực tiễn là mục đích của nhận thức.
Nhận thức không chỉ thỏa mãn nhu cầu hiểu biết mà còn đáp ứng nhu cầu
nâng cao năng lực hoạt động để đưa lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng nhu cầu
15
ngày càng tăng của con người. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nhờ đó,
thực tiễn thúc đẩy nhận thức vận động, phát triển theo. Thực tiễn cũng đặt ra
những vấn đề mà lý luận cần giải quyết. Có thể kể đến những thành tựu mới
đây nhất là khám phá và giải mã bản đồ gien người cũng ra đời từ chính thực
tiễn, từ mục đích chữa trị những căn bệnh nan y và từ mục đích tìm hiểu, khai
thác những tiềm năng bí ẩn của con người…
d) Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức mà
nó còn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của quá
trình nhận thức. Trong thực tiễn, con người chứng minh chân lý. Mọi sự biến
đổi của nhận thức thường xuyên chịu sự kiểm nghiệm trực tiếp của thực tiễn.
Điều này có nghĩa là thực tiễn chính là tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những
tri thức đã đạt được trong nhận thức, đồng thời thực tiễn không ngừng bổ
sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức. Mác đã từng
khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy con người có thể đạt tới chân lý
khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn
đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”.
Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố
đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn
là nơi nhận thức luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của nó.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức đòi hỏi chúng ta phải luôn quán
triệt quan điểm thực tiễn. Quan điểm này yêu cầu:
• Thứ nhất, việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở
thực tiễn, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn.
• Thứ hai, việc nghiên cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi
với hành.
16
Nếu xa rời thực tiễn sẽ dẫn đến bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều,
máy móc, quan liêu; ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của thực tiễn sẽ rơi
vào chủ nghĩa thực dụng, kinh nghiệm chủ nghĩa.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
• Nhờ có thực tiễn mà bản chất của nhận thức được làm rõ, thực tiễn là
cơ sở động lực mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn của chân lý cho
nên mọi nhận thức đều xuất phát từ thực tiễn.
• Phải thường xuyên quán triệt những quan điểm thực tiễn luôn đi sâu đi
sát thực tiễn tiến hành nghiên cứu tổng kết thực tiễn một cách nghiêm
túc.
• Việc quán triệt tính biện chứng của tiêu chuẩn thực tiễn giúp chúng ta
tránh khỏi những chủ quan sai lầm như chủ nghĩa chủ quan, giáo điều
bảo thủ, chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa xem lại.
17
PHẦN II:
THỰC TIỄN LÀ TIÊU CHUẨN CỦA CHÂN LÝ
1. Chân lý và các tính chất của chân lý
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng: Chân lý là những
tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm nghiệm.
Chân lý bao giờ cũng là chân lý khách quan, tức là những tri thức mà
nội dung của nó không phụ thuộc vào con người.
Chân lý còn có tính tuyệt đối và tính tương đối, tính cụ thể. Chân lý còn
là một quá trình vì nhận thức của con người là một quá trình.
2. Nội dung nguyên tắc thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý
a) Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất của chân lý.
Nhờ có thực tiễn, chúng ta phân biệt được chân lý và sai lầm, tức thực
tiễn đóng vai trò là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý.
• Thực tiễn là hoạt động vật chất có tính tất yếu khách quan, diễn ra độc
lập đối với nhận thức, nó luôn luôn vận động và phát triển trong lịch
sử. Nhờ đó mà thúc đẩy nhận thức cùng vận động phát triển theo. Mọi
sự biến đổi của nhận thức suy cho cùng không thể vượt ra ngoài sự
kiểm tra của thực tiễn.
• Chính thực tiễn có vai trò làm tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những tri
thức đã đạt được trong nhận thức. Đồng thời nó bổ sung, chỉnh sửa,
điều chỉnh, sửa chữa và hoàn thiện nhận thức.
•
Nhờ có thực tiễn kiểm nghiệm, chứng mình mà ta xác định đâu là cái hợp
quy luật, đâu là cái tri thức đúng, đâu là sai lầm cũng như cái gì nên
18
làm, cái gì không nên làm, mà chân lý chính là cái tri thức đúng, cái
hợp quy luật hay là đúng với quy luật.
• Thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng
vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà
còn là nơi nhận thức luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của nó.
• Chúng ta phải luôn luôn quán triệt quan điểm thực tiễn, quan điểm này
yêu cầu việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực
tiễn, việc nghiên cứu phải liên hệ với thực tiễn. Nếu xa rời thực tiễn sẽ
dẫn đến sai lầm của bệnh chủ quan, duy ý chí, giáo điều, máy móc,
quan liêu, không xác định được quy luật, không phân biệt được quy luật
đó có là tri thức đúng hay không nhưng nếu tuyệt đối hóa thì sẽ rơi vào
chủ nghĩa thực dụng nên đòi hỏi chúng ta phải có cái nhìn đúng đắn thì
mới xác định được quy luật hợp chân lý.
• Những tri thức phù hợp với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm
nghiệm chính là những tri thức đúng, có đúng thời mới phù hợp được với
hiện thực khách quan, còn tri thức sai lầm thì không thể phù hợp với
hiện thực khách quan được.
b) Chân lý có tính cụ thể.
Chân lý có đặc tính gắn liền và phù hợp giữa nội dung phản ánh với
một đối tượng nhất định cùng các điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Thực
tiễn lại có tính phổ biến và là “hiện thực trực tiếp” nhờ đó thực tiễn có thể
“vật chất hóa” được tri thức, biến tri thức thành khách thể vật chất có tính xác
thực cảm tính.
• Mỗi tri thức đúng đắn bao giờ cũng có một nội dung nhất định, nội dung
đó luôn gắn liền với đối tượng xác định, sự kiện diễn ra nên bất kỳ chân
lý nào cũng gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể.
• Việc nắm vững những nguyên tắc về tính cụ thể của chân lý có ý nghĩa
phương pháp luận quan trọng trong hoạt động nhận thức cũng như hoạt
19
động thực tiễn. Việc xem xét, đánh giá mỗi sự vật, hiện tượng, mỗi việc
làm phải dựa trên quan điểm lịch sử cụ thể để vận dụng vào thực tiễn
và xác định được rõ chân lý.
•
Nhận thức là những tri thức về bản chất quy luật của hiện thực, của thực
tiễn, mà thực tiễn lại còn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức
để từ đó giúp con người hiểu và biết thêm được về các quy luật, đã là
quy luật thì không thể phủ định được và sẽ tồn tại và là chân lý.
c) Tiêu chuẩn của thực tiễn.
Tiêu chuẩn thực tiễn vừa mang tính tuyệt đối, vừa mang tính tương đối.
Tuyệt đối vì nó là tiêu chuẩn khách quan duy nhất, tương đối vì bản thân thực
tiễn luôn luôn biến đổi, phát triển. Sự biến đổi này dẫn đến chỗ tiếp tục bổ
sung, phát triển những tri thức đã có trước đó.
• Chân lý cũng là khách quan, là sự thống nhất giữa hai trình độ, chân lý
tuyệt đối và chân lý tương đối, điều đó cũng có nghĩa là nhận thức phải
trải qua một quá trình đi từ chưa biết đầy đủ đến biết đầy đủ hơn về
những sự kiện, hiện tượng. Mà thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp
của nhận thức, là mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn dể kiểm tra
độ chính xác trong kết quả nhận thức.
• Một chân lý luôn có tính đích thực, xác thực và luôn được thực tiễn
kiểm nghiệm bởi chân lý là sản phẩm của quá trình nhận thức con
người, là tri thức đúng.
• Chính trong thực tiễn mà con người chứng minh được chân lý, nghĩa là
chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy.
• Thực tiễn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau nên các hình thức
kiểm nghiệm bằng thực tiễn đối với tri thức là chân lý cũng khác nhau,
có thể là tiến hành thực nghiệm, là áp dụng những phát minh vào thực
tế thành công.
20
PHẦN III:
SỰ VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỰC TIỄN LÀ TIÊU
CHUẨN CỦA CHÂN LÝ VÀO CÔNG CUỘC CẢI TẠO
XÃ HỘI VIỆT NAM TỪ KHI ĐỔI MỚI ĐẾN NAY
1. Trong việc giải thích tính cấp thiết của đổi mới
Đổi mới để gắn liền với hoạt động thực tiễn phù hợp với những chủ
trương, đường lối hiện nay của Đảng ta, để gắn lý luận, nhận thức với thực
tiễn từ đó giúp cho sự nhận thức của chúng ta về các quy luật và trên cơ sở đó
đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn trong công cuộc đổi mới và xây
dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng ta hiện nay.
Chúng ta phải đổi mới để tranh thủ cơ hội, thách thức, biết tận dụng,
khai thác, sử dụng có hiệu quả những thành tựu mà nhận thức đã đạt được để
rút ngắn thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Nhằm phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa sản phẩm, nhằm
phù hợp với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ để tiếp
thu và vận dụng vào sản xuất.
Đổi mới để phù hợp với xu thế thời đại đi lên chủ nghĩa xã hội mới, giữ
vững được độc lập, tự do dân tộc, mới thực hiện được mục tiêu làm cho mọi
người dân được ấm no, tự do, hạnh phúc.
Nhằm tạo nên vị thế mới, phù hợp giữa tính chất và trình độ lực lượng sản
xuất mới cũng như để đáp ứng cho phù hợp giữa nhận thức, lý luận và thực tiễn
để từ đó tìm ra quy luật phù hợp với bước phát triển của thời đại mới.
21
Điều quan trọng của đổi mới ở Việt Nam hiện nay là để đảm bảo giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng sự lãnh đạo của Đảng phải kiên trì,
kiên định và phát triển trên nền tảng thị trường, lý luận cách mạng khoa học.
2. Trong những nội dung của công cuộc đổi mới
Đổi mới tư duy trong sự gắn liền với hoạt động thực tiễn là một trong
những chủ trương lớn hiện nay của Đảng ta. Chỉ có đổi mới tư duy lý luận,
gắn lý luận với thực tiễn thì mới có thể nhận thức được các quy luật khách
quan và cách mạng đúng đắn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xac hội ở
nước ta hiện nay.
•
Đại hội IX (tháng 4 - 2001) là đại hội mở đầu thế kỷ XXI ở Việt Nam đã
nhìn lại một cách tổng quát quá trình cách mạng Việt Nam trong thế kỷ
XX và định ra chiến lược phát triển đất nước trong hai thập niên đầu của
thế kỷ XXI với phương hướng tổng quát là “Phát huy sức mạnh toàn dân
tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng
và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Đại hội đã xác định mục
tiêu chung của cách mạng nước ta hiện nay là: “Độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”.
• Đại hội IX đã khẳng định phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng
xã hội chủ nghĩa là một mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ.
Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. “Việt Nam sẵn sàng là
bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu
vì hòa bình, độc lập và phát triển”.
•
Hội nghĩ trung ương 5 khóa IX (tháng 2 – 2002) đã ra một số nghị quyết
sau: Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể; Tiếp
tục đổi mới cơ chế, chính sách; Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001 – 2010. Phát triển kinh tế tư
22
nhân là chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, công tác tư tương, lý luận phải góp phần giải
quyết những vẫn nhân, tư tưởng cơ hội, thực dụng.
• Hội nghị trung ương 7 khóa IX (tháng 1 – 2003) khẳng định vai trò
động lực chủ yếu của đại đoàn kết.
• Hội nghị trung ương 9 khoá IX (tháng 1 – 2004) lại nhấn mạnh vấn đề
tạo bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền
kinh tế, xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, chủ động và khẩn trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế,
phát triển văn hóa xã hội đồng bộ với tăng trưởng kinh tế, tạo sự
chuyển biến toàn diện và sâu sắc trong xây dựng và chỉnh đốn Đảng.
Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển đường lối đổi mới của Đảng,
ta có thể rút ra một số kết luận là:
• Đường lối đổi mới không phải tự nhiên mà có mà phải tìm tòi trong một
quá trình, quá trình đó phải được thử nghiệm, đổi mới từng bước từ thấp
đến cao, từ từng bộ phận đến toàn diện.
• Trong quá trình đổi mới, ý kiến, cách làm sáng tạo của nhân dân các địa
phương là cực kỳ quan trọng. Biết lắng nghe, chắt lọc, tổng kết, khái
quát thì sẽ có những quyết sách đúng, chủ trương phù hợp, nhất là vào
thời điểm khó khăn hoặc có tính bước ngoặt.
• Đổi mới là đấu tranh giũa căn cứ vào cái mới nhiều khi diễn ra ngay
trong mỗi con người trong từng tổ chức. Thành công của Đảng ta là ở
chỗ đã kiên quyết đổi mới, dám nhìn thẳng vào sự thật, dám thỏa thuận
sai lầm. Đảng xác định đổi mới phải kiên quyết nhưng phải làm từng
bước vững chắc, thận trọng, có nguyên tắc, không xa rời mục tiêu.
• Đường lối đổi mới được hình thành trên cơ sở độc lập tự chủ, sáng tạo,
xuất phát từ thực tế Việt Nam, đồng thời có tham khảo kinh nghiệm các
23
nước khác một cách có chọn lọc, hợp quy luật, thuận lòng người, nhanh
chóng đi vào cuộc sống.
Nhìn lại 20 năm đổi mới là cả một chặng đường, ta có thể rút ra một số
bài học sau:
• Quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
• Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách
làm phù hợp.
• Đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn
nhạy bén với cái mới.
• Phát huy cao độ nội lực, đồng thời khai thác ngoại lực, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
• Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng
đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Đổi mới là động lực, ổn định là điều kiện tiền đề phát triển nhanh và
bền vững, là mục đích để đưa đất nước phát triển mạnh mẽ và vững chắc theo
định hướng xã hội chủ nghĩa thì: “Phương hướng chung” đẩy mạnh công cuộc
đổi mới ở nước ta trong thời gian tới là “Nắm vững thời cơ, vượt qua thử
thách, đẩy lùi nguy cơ, huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, tạo ra
những động lực mới, những đột phá mới, từ tư duy đến tổ chức và hành động
thực tiễn để sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng bán phát triển và cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.
Để thực hiện phương hướng nêu trên, cần quán triệt và thực hiện đồng
bộ các định hướng cơ bản sau:
24