NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH NHÓM 6
Chính sách tự chủ tài chính với hệ thống GD tại Việt Nam có những tác động kì
vọng ra sao tới cung cầu về dịch vụ giáo dục tại Việt Nam?
I, Tự chủ tài chính ở Việt Nam:
Khái niệm tự chủ tài chính bậc đại học
1.
Tiến trình tự chủ tài chính nói riêng và tự chủ đại học nói chung là con đường để các
quốc gia chuyển đổi cơ chế quản lý hệ thống giáo dục đại học từ mô hình nhà nước điều
hành thành mô hình nhà nước giám sát. Tiến trình này chủ yếu diễn ra ở các quốc gia
châu Á có hệ thống giáo dục đại học vận hành theo mô hình nhà nước điều hành với
những bước đi mạnh mẽ hay thận trọng tùy theo bối cảnh cụ thể. Những quốc gia có
chuyển đổi tự chủ mạnh từ hơn 20 năm nay ở châu Á bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản và
Malaysia…
2.
Một số trường đại học đã tự chủ tài chính ở Việt Nam
Theo thống kê của Vụ Kế hoạch tài chính của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2015 2016, Việt Nam có 233 trường đại học, trong đó có 163 trường đại học công lập, chiếm
khoảng 73% và 60 trường đại học ngoài công lập, chiếm 27%. Nhưng đến năm 2018, mới
chỉ có 23 cơ sở giáo dục đại học công lập được Chính phủ cho thí điểm tự chủ đều là
những trường có thể tự chủ 100% kinh phí, từ chi thường xuyên đến đầu tư phát triển.
Các trường đã tự chủ tài chính
Tên trường
Đại Học Thương Mại
Mức học phí
Chương trình đào tạo đại trà
Chương trình chất lượng cao
Chương trình đào tạo theo cơ
1
Năm tự chủ
2016
Các trường chưa tự chủ tài chính
Tên trường
Đại học Kinh tế - ĐHQGHN
Mức học phí
Hệ chuẩn : 8.000.000đ/n
Hệ CLC: 35.000.000đ/nă
3.
Nhận xét chung
Thực tế cho thấy, những trường tự chủ được kinh phí hiện nay chủ yếu là giảng dạy các
ngành kinh tế, xã hội, nhân văn, kỹ thuật, công nghệ. Hầu hết trường trong số đó không
phải đầu tư nhiều máy móc, phòng thí nghiệm và có nhiều ngành đào tạo có nhu cầu xã
hội cao. Ngược lại, nhu cầu đối với ngành thuộc trường khối sư phạm hay khoa học cơ
bản không cao, xã hội không thực sự mặn mà đặc biệt sinh viên khối ngành sư phạm còn
được miễn học phí , trong khi Nhà nước, nền kinh tế, xã hội lại cần. Vì vậy, nếu đặt nặng
vấn đề kinh phí, những trường này khó có thể tự chủ cao
II, Tác động của tự chủ tới cung- cầu dịch vụ giáo dục đại học:
1, Tác động tới cung dịch vụ đại học:
•
Tự chủ tài chính giúp nâng cao khả năng cạnh tranh cho các trường CĐCL trong xu
hướng giáo dục nghề nghiệp, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo.
•
Các trường CĐCL không ngừng tự đổi mới, nâng cao uy tín, danh tiếng, cải tiến nội
dung chương trình giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội; Không ngừng
2
tìm kiếm các cơ hội liên kết với các đối tác trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất
lượng và cung ứng nguồn nhân lực tốt cho xã hội.
•
Để tăng thêm nhiều nguồn thu, trường CĐCL cần mở thêm nhiều hình thức đào tạo
ngắn hạn, dài hạn…, hợp đồng nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu học tập của xã
hội.
•
Cơ chế tự chủ thúc đẩy các trường CĐCL nâng cao hiệu quả hoạt động, làm tốt hơn các
nhiệm vụ sứ mệnh của trường, giảm thời gian và chi phí vô ích. Giao quyền tự chủ tài
chính cũng giúp các trường năng động, sáng tạo, chủ động làm tốt nhiệm vụ; mọi hoạt
động đều gắn với trách nhiệm của trường sẽ có hiệu quả, năng suất, tiết kiệm chi phí hơn.
•
Tự chủ tài chính giúp các trường tăng cường khai thác thêm nguồn thu, tiết kiệm chi
tiêu, tăng thu nhập cho người lao động. Điều này tạo động lực cho cán bộ, viên chức
nhà trường an tâm công tác, tập trung vào giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nâng cao chất
lượng giáo dục, thu hút sinh viên, nâng cao chất lượng đầu ra của trường.
Một số ví dụ về cung sau khi tự chủ tài chính
+
ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
Chính sách học phí của trường ĐH Tôn Đức Thắng cũng chia làm hai nhóm (cao) và
thấp hơn cho những ngành xã hội, toán. Mức thu học phí trường thực hiện theo Nghị định
số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ (khối ngành Khoa học xã hội, kinh tế,
quản lý thể thao, luật: 17,2 triệu đồng; khối ngành Khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công
nghệ, nghệ thuật, khách sạn, du lịch: 17,2 triệu đồng/năm; khối ngành Y - Dược: 18,73
triệu đồng/năm; chương trình Chất lượng cao dao động từ 35 đến 36 triệu đồng/năm,
ngành Quản trị kinh doanh từ 44 đến 45 triệu đồng/năm)
+
Về nghiên cứu khoa học, Trường ĐH Tôn Đức Thắng đã thành lập Quỹ nghiên cứu khoa
học hỗ trợ giảng viên làm nghiên cứu và công bố quốc tế. Nguồn tài trợ cho nghiên cứu
khoa học là từ quỹ của trường và một số hợp đồng từ bên ngoài, hiện nay trường có 49
nhóm nghiên cứu
-
ĐẠI HỌC KT TP HỒ CHÍ MINH
+
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm tự chủ tài chính (TCTC) thì trường
tự bảo đảm chi thường xuyên và đầu tư; được tiếp tục thực hiện các dự án đầu tư xây
dựng theo Quyết định đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt chủ trương đầu tư từ
3
nguồn NSNN và tích lũy của Trường. Trường có 15 đơn vị đào tạo, 14 đơn vị quản lý
chức năng, 7 đơn vị quản lý và phục vụ đào tạo. Ngoài các đơn vị đào tạo tại TP. Hồ Chí
Minh, Trường ĐH Kinh tế TP.HCM còn có hai cơ sở nghiên cứu và đào tạo cao cấp tại
các tỉnh đồng bằng sông Cửu long và các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và 4 trung tâm,
chương trình đào tạo liên kết quốc tế. Ngoài ra, trường có 9 trung tâm nghiên cứu, dịch vụ
khoa học - thông tin kinh tế và hai công ty TNHH một thành viên hoạt động trong lĩnh
vực in và sách .
+
Quy mô nhân sự khá lớn, có tổng số cán bộ công nhân viên khoảng 1.000 người, cán bộ
viên chức khối phòng ban chiếm 30%, giảng viên có 13 giáo sư, 58 phó giáo sư, 206 tiến
sỹ, 329 thạc sỹ và trên 100 cử nhân; Với quy mô trên 25.000 sinh viên các bậc đào tạo,
trong đó có 14.700 sinh viên đại học chính quy, 8.000 sinh viên đại học không chính quy,
300 sinh viên hệ đào tạo liên kết, 2.500 học viên cao học, 300 nghiên cứu sinh. Số sinh
viên chính quy sau khi có quyết định thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đã tăng về quy
mô, số tuyển sinh từ 4.000 năm 2015 lên 5.000 năm 2016, tuyển sinh đầu vào hệ cao học
là 1.000 chỉ tiêu/năm và NCS là 100 chỉ tiêu/năm
+
Mức học phí cho các hệ đã được điều chỉnh thí điểm trước từ giai đoạn 2008-2012 và
tiếp tục tăng ở giai đoạn 2014-2017 nên vấn đề tăng học phí không ảnh hưởng nhiều đến
tuyển sinh đầu vào.Hoạt động nghiên cứu khoa học và dịch vụ của trường, có cơ chế
khuyến khích công bố kết quả nghiên cứu trên các tạp chí có uy tín như ISI, Scopus, ABS,
ABCD với mức rất cao từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng và cho tạm ứng 50% ngay
khi được phê duyệt đề tài, trong đó đề tài cấp trường được tài trợ từ kinh phí của trường .
+
-
Lợi thế của trường khi chuyển qua TCTC là:
Có tích lũy lớn do những năm trước đây quy mô đào tạo phi chính quy, chủ yếu hệ vừa
học vừa làm và bằng hai lớn;
-
Có đội ngũ mạnh trên 30% có trình độ tiến sỹ trở lên;
-
Có hệ thống cơ sở vật chất tương đối tốt nằm trong các quận nội thành TP. Hồ Chí Minh.
Khi chuyển sang TCTC trường cũng gặp một số khó khăn như quy mô phi chính quy
giảm mạnh, phải đầu tư sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất để đảm bảo nâng cao chất
lượng giảng dạy và mức thu học phí điều chỉnh tăng, ngành khó tuyển sinh phải hạ mức
4
học phí để thu hút người học là các ngành kinh tế chính trị, kinh tế nông nghiệp, thống kê
toán.
+
Về quy định của pháp luật còn chưa đồng bộ với quyền tự chủ nên trường phải làm việc
với các bộ, ngành trung ương xin ý kiến, chủ trương như (bổ nhiệm nhân sự còn năng lực,
trình độ được kéo dài tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật vào các vị trí quản lý,
mua sắm xe ôtô, chi đầu tư...)
-
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN:
+
Là một trong 6 trường đại học được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn thực hiện thí điểm tự
bảo đảm toàn bộ kinh phí chi thường xuyên và đầu tư giai đoạn 2008-2012, nên từ năm
2008, trường đã thực hiện tự chủ 100% chi thường xuyên. Trước đó, học phí áp dụng theo
khung của Nhà nước quy định, nguồn thu từ học phí chiếm 40%, còn 60% NSNN cấp.
Giai đoạn ban đầu khi cắt nguồn thu NSNN đột ngột đã tác động rất lớn đến nguồn tài
chính của trường. Để bù đắp nguồn thiếu hụt khi NSNN cắt chi thường xuyên, trường
phải tăng nguồn thu từ hệ đào tạo phi chính quy, thu hoạt động dịch vụ, sau này tăng
nguồn thu từ các chương trình tiên tiến, chất lượng cao, liên kết quốc tế và mở rộng nhiều
hình thức đào tạo khác .
+
Quy mô sinh viên của trường hiện có hơn 26.400 sinh viên hệ chính quy, tuyển sinh hệ
chính quy trong ba năm qua ổn định với hơn 3.900 sinh viên/năm; cao học là 1.300 học
viên và chương trình tiến sỹ là 150 nghiên cứu sinh.
+
Về chế độ chính sách, nhờ có quá trình lịch sử lâu năm, nhiều cựu sinh viên của trường là
những nhà lãnh đạo trong cơ quan nhà nước, cũng như chủ tịch hội đồng quản trị, tổng
giám đốc nhiều tập đoàn lớn; đến nay quỹ học bổng đã có trên 50 tỷ đồng, để thực hiện
miễn, giảm học phí, cấp học bổng cho sinh viên.
+
Trường đã hoàn tất dự án tòa nhà điều hành và đưa vào sử dụng năm 2017, với tổng mức
đầu tư gần 1.260 tỷ đồng, trong đó vốn NSNN là 85%, vốn đối ứng là 15%. Đây là cơ sở
vật chất hiện đại bậc nhất trong các trường đại học của Việt Nam.
+
Có thể nói, trường ĐH Kinh tế quốc dân có đủ năng lực để chuyển qua tự chủ tài chính
trên một số mặt như đảm bảo cơ sở vật chất tốt, có đội ngũ giảng viên tương đối mạnh
(trên 37% có trình độ tiến sỹ trở lên), có các ngành học đang có nhu cầu thị trường và xã
hội (chỉ có hai ngành thu học phí thấp là kinh tế nông nghiệp và thống kê toán). Quá trình
5
thực hiện thí điểm TCTC đã cho trường được quyền tự chủ về tuyển sinh, chủ động trong
liên kết đào tạo, mở ngành, đa dạng hóa hình thức đào tạo, tăng nguồn thu từ học phí để
tự bảo đảm chi thường xuyên, tăng thu nhập của cán bộ công nhân viên lên 10% năm so
với trước khi TCTC.
2, Tác động tới cầu dịch vụ đại học:
2.a, Các nhân tố ảnh hưởng và đặc điểm của cầu về giáo dục đại học.
-Hiện nay, do dân số cao nên vấn đề về việc làm luôn là 1 vấn đề nóng cần giải quyết
(Tính đến quý I năm 2019: số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 1,1 triệu người)
-Hơn nữa, Năng suất lao động của người Việt Nam chỉ so sánh với các nước ĐNA cũng
gần như thấp nhất.
-Ngoài ra, sự phát triển của KH-CN nên việc cầu cao về chất lượng lao động càng được
ra tăng làm cho việc cầu về GDĐH cũng tăng cao
Dưới đây là danh sách cụ thể các trường đã công bố tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm
sau 12 tháng:
STT
Trường đại học/học viện
6
1
ĐH Kinh tế Quốc dân
2
ĐH Bách khoa Hà Nội
3
Học viện Tài chính
4
ĐH Tây Bắc
5
ĐH Phạm Văn Đồng
6
ĐH Hà Tĩnh
7
ĐH Sư phạm Hà Nội 2
8
ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh
9
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐHQG Hà Nội
10
ĐH Điều dưỡng Nam Định
11
ĐH Y dược Hải Phòng
12
ĐH Y dược TP Hồ Chí Minh
13
ĐH Lao động xã hội
14
ĐH Công nghiệp Dệt may Hà Nội
15
ĐH Cần Thơ
16
ĐH Quốc tế Miền Đông
17
ĐH Hà Nội
7
18
ĐH Bà Rịa Vũng Tàu
19
ĐH Buôn Ma Thuột
20
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
21
ĐH Điện lực
22
ĐH Giao thông vận tải
23
ĐH Vinh
24
ĐH Thủ đô
25
ĐH Y Hà Nội
26
ĐH Luật TP Hồ Chí Minh
27
Học viện Tòa án
28
Học viện chính sách phát triển
29
ĐH Công đoàn
30
ĐH Văn hóa Hà Nội
31
ĐH Hồng Đức
32
Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông
33
HV Quản lý Giáo dục
34
HV Y dược học cổ truyền
35
HV Ngân hàng
36
HV Thanh thiếu niên
37
ĐH Công nghệ TP HCM
38
ĐH Công nghiệp thực phẩm TP HCM
39
ĐH Ngoại thương
8
40
ĐH Công nghiệp TP HCM
41
ĐH Luật Hà Nội
42
ĐH Mỏ Địa chất
43
ĐH Ngoại ngữ Tin học TP HCM
44
ĐH Phòng cháy chữa cháy
45
ĐH Tài chính Marketing
46
ĐH Tài nguyên Môi trường Hà Nội
47
ĐH Y dược Thái Bình
48
ĐH Yersin Đà Lạt
49
ĐH Bình Dương
50
ĐH Công nghệ Đồng Nai
51
ĐH Công nghệ Giao thông vận tải
52
ĐH Công nghệ Sài Gòn
53
ĐH Kĩ thuật Công nghiệp – ĐH Thái Nguyên
54
ĐH Kinh doanh Công nghệ Hà Nội
55
ĐH Kinh tế tài chính TP HCM
56
ĐH Mở TP HCM
57
ĐH Văn hóa TP HCM
58
ĐH Tôn Đức Thắng
59
ĐH Khoa học Tự nhiên – ĐH Quốc gia TP HCM
60
ĐH Kinh tế TP HCM
61
ĐH Thương mại
62
ĐH Bách khoa TP HCM
9
63
ĐH Kinh tế Luật TP HCM
64
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP HCM
Hơn nữa, lương của lao động đã qua GDĐH cũng cao hơn khiến cầu về GDĐH tăng
theo:
Hệ số lương theo Trình độ học vấn
Hệ số lương Đại học
Hệ số lương Cao đẳng
Hệ số lương Trung cấp
Ngoài ra, chi phí cho việc học đại cũng không phải quá cao đối với các hộ gia đình có
thu nhập trung bình:
+ Học phí khối ngành Kinh tế: 270.000 đồng / 1 tín chỉ (1 năm 2 học kỳ: 9.000.000
đồng)
+ Học phí khối ngành Kỹ thuật: 327.000 đồng / 1 tín chỉ ( 1 năm 2 học kỳ: 10.000.000
đồng)
=> Như vậy, việc cầu về GDĐH đang tăng rất cao và chính sách tự chủ tài chính hệ đại
học sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cũng như số lượng lao động tri thức của cả
nước.
2.b, Ảnh hưởng của các biến số phi kinh tế đến cầu về GDĐH:
Đa số người Việt Nam đều có khuynh hướng cho con học đại học nếu không bị ngăn
cản bởi các yếu tố: kinh tế, do con em có học vấn kém không đỗ được trường theo ý
muốn.
=> Chính vì vậy, nhu cầu học ĐH của cả nước có thể nói là cao.
Hơn nữa, việc hỗ trợ chi phí GD của chính phủ càng làm nhu cầu về học ĐH tăng cao
hơn nữa giúp tăng chất lượng lao động của cả nước trong tương lai.
10
3. Nhận xét chung:
Điểm mạnh của các trường đại học tự chủ tài chính:
Thứ nhất, cơ chế tự chủ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho các trường đại
học công lập, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo.
Các trường muốn giữ vững và nâng cao uy tín, danh tiếng thì phải chú trọng tới các
hoạt động của mình. Từ khâu tuyển sinh, các trường phải tuyển sinh viên, học viên có
trình độ, có chất lượng phù hợp với nội dung, chương trình đào tạo, không để xảy ra hiện
tượng tuyển sinh ồ ạt, chỉ quan tâm tới số lượng. Trong quá trình đào tạo, sẽ thúc đẩy nhà
trường phải đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy, học tập đảm bảo cập nhật được xu
thế phát triển của thời đại để thu hút thêm sinh viên. Muốn tạo ra được nguồn thu, các
trường phải tích cực chủ động đa dạng hóa, nâng cấp chương trình và hình thức đào
tạo…. đáp ứng nhu cầu của xã hội. Mặt khác, cơ chế tự chủ tài chính sẽ khuyến khích và
bắt buộc các trường phải tích cực hơn trong việc tìm kiếm các hợp đồng đào tạo, nghiên
cứu khoa học. Đặc biệt là tìm kiếm các cơ hội liên kết với các trường đại học uy tín trên
thế giới, nhằm tạo điều kiện cho sinh viên tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến, nâng
cao chất lượng giáo dục của nhà trường, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, góp
phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thứ hai, cơ chế tự chủ sẽ thúc đẩy các trường đại học công lập nâng cao hiệu quả
hoạt động, khuyến khích các trường làm tốt hơn các nhiệm vụ, sứ mạng của mình, giảm
được thời gian và những chi phí vô ích.
Khi tự chủ tài chính, các trường sẽ sáng tạo, chủ động hơn khi thực hiện các nhiệm
vụ được giao, mọi hoạt động gắn với trách nhiệm thì các trường sẽ làm việc có hiệu quả,
năng suất hơn, như vậy sẽ làm giảm chi phí kiểm tra, kiểm soát của quá trình thực hiện.
+ Về huy động vốn: Các trường được vay vốn từ các tổ chức tín dụng, huy động
vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư, mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt
11
động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Riêng các
trường tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư được vay vốn, huy động vốn để đầu tư,
xây dựng cơ sở vật chất theo quy định. Khi thực hiện vay vốn, huy động vốn, các trường
phải có phương án tài chính khả thi, tự chịu trách nhiệm trả nợ vay, lãi vay theo quy định;
chịu trách nhiệm trước pháp luật về hiệu quả của việc vay vốn, huy động vốn.
+ Về mở rộng, khai thác và phát triển nguồn thu: Các trường đã mở rộng quy mô,
đa dạng hóa các ngành nghề, cấp bậc đào tạo với nhiều hình thức đào tạo tập trung, đào
tạo từ xa, một số trường lớn đã mời chuyên gia nước ngoài tham gia giảng dạy tại trường
hoặc tổ chức liên kết với nước ngoài để mở trường hoặc tổ chức liên kết với nước ngoài
để mở khoa, mở lớp đào tạo… Ngoài ra, các trường đã có nhiều giải pháp về quản lý nội
bộ, thực hành tiết kiệm chi phí như xây dựng các tiêu chuẩn, hệ số quy đổi giờ giảng lý
thuyết, thực hành, thực tập, đơn giá giờ giảng… đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
của đơn vị.
+ Về thu nhập tăng thêm của người lao động: Các trường đã đổi mới hoạt động,
thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tạo ra nguồn tăng thu nhập cho người lao động. Điều
này góp phần tạo động lực để cán bộ viên chức nhà trường yên tâm tập trung vào công
việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục, tăng nguồn
thu từ các hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tư vấn, các hợp đồng
có tính thương mại… Như vậy, sẽ củng cố được lòng tin, uy tín của nhà trường, thu hút
thêm sinh viên, tạo cơ hội liên kết, hợp tác đào tạo với các cơ sở trong và ngoài nước.
III. Những điểm yếu và hướng khắc phục
Hạn chế
Sau hơn 4 năm thực hiện tự chủ GDĐH theo Luật GDĐH và gần 3 năm thí điểm tự chủ
theo Nghị quyết 77/2014/NQ-CP cho thấy, đến nay hệ thống GDĐH có những chuyển
biến tích cực, tuy nhiên, việc thực hiện quyền tự chủ vẫn ở mức độ thấp; chuyển biến
12
chậm; chủ yếu tập trung vào tự chủ tài chính nên hiệu quả thực hiện chưa cao, công
tác GDĐH công lập đang gặp phải những khó khăn, hạn chế sau:
Một là, cơ chế, chính sách về tự chủ còn thiếu và chưa đồng bộ, một số nội dung chưa
thống nhất, chưa có đủ chính sách, cơ chế mạnh để thực hiện tự chủ dẫn đến khó khăn
trong quản lý, điều hành của các trường; việc giao quyền tự chủ đối với GDĐH mới chỉ
thực hiện trong phạm vi thí điểm, chưa trở thành nhu cầu nội tại của các trường; điều kiện
tự chủ mới chỉ tiếp cận chủ yếu từ góc độ về tài chính; chưa tính đến năng lực chuyên
môn và năng lực tổ chức quản lý của các trường.
Hai là, việc thực hiện tự chủ chưa gắn với đổi mới quản trị đại học trong cơ sở GDĐH:
Mặc dù, Luật GDĐH đã có hiệu lực từ hơn 4 năm nay, các trường đã thực hiện tự chủ
nhưng cơ chế quản trị chưa hoàn thiện do chưa thành lập Hội đồng trường (tính đến tháng
4/2017 mới có 58/169 cơ sở GDĐH công lập thành lập hội đồng trường) hoặc Hội đồng
trường đã được thành lập nhưng chưa phát huy được vai trò và chưa có thực quyền nên
ảnh hưởng đến việc thực hiện tự chủ đại học, làm cho việc sử dụng nguồn lực kém hiệu
quả và chất lượng đào tạo chưa được nâng cao như mong muốn.
Ba là, thực hiện tự chủ nhưng chưa gắn với trách nhiệm giải trình xã hội. Trong quá
trình thực hiện nhiều trường hợp giao thí điểm tự chủ chưa nhận thức đúng và đầy đủ về
tự chủ; một số cơ sở GDĐH chưa đủ năng lực và thiếu sự sẵn sàng nên lúng túng trong
thực hiện; một số trường còn dựa vào lợi thế ngành, để tăng học phí và tăng chỉ tiêu tuyển
sinh, chưa chú trọng đúng mức đến nâng cao chất lượng đào tạo là mục đích chính của tự
chủ đại học.
Bốn là, khi thực hiện tự chủ theo Nghị quyết 77/2014/NQ-CP chưa có hướng dẫn cụ
thể nên nhận thức, cách tiếp cận, tư duy về bản chất, mức độ và các điều kiện thực hiện tự
chủ đại học còn chưa thống nhất giữa các trường; các nguồn lực thực hiện tự chủ, điều
kiện và năng lực thực hiện tự chủ ở các trường cũng chưa đồng bộ nên không ít trường
gặp khó khăn và lúng túng trong việc triển khai tự chủ.
Năm là, mặc dù Luật GDĐH đã quy định nhưng hiện nay chưa thực hiện được quy
định giao quyền tự chủ cao hơn cho các cơ sở GDĐH phù hợp với năng lực, kết quả xếp
13
hạng và kiểm định chất lượng giao dịch, vì hoạt động kiểm định mới bước đầu thực hiện
và chưa đủ điều kiện để xếp hạng cơ sở GDĐH.
Các hạn chế trên dẫn đến hiệu quả thực hiện tự chủ tại các cơ sở GDĐH chưa cao,
chưa thực sự trở thành động lực giúp các cơ sở GDĐH phát huy khả năng chủ động, sáng
tạo. Từ đó, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường cạnh tranh và đa dạng hóa các loại
hình giáo dục trong hệ thống GDĐH cũng như nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng
nguồn nhân lực của đất nước.
Để khắc phục những hạn chế trên, trong Kế hoạch 5 năm 2016-2020, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã triển khai thực hiện đồng bộ 9 nhiệm vụ trọng tâm nhằm góp phần thực hiện
Nghị quyết 29/NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Một trong những nhiệm vụ đó là: Đẩy mạnh
việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở GDĐH.
Cùng với đó, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế và xã hội và hội nhập quốc tế, Chính phủ giao Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng Đề án
“Triển khai tự chủ GDĐH” tại Nghị quyết số 63/2016/NQ-CP ngày 22/7/2016 của Chính
phủ. Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thiện Đề án để trình Chính phủ phê
duyệt.
Các giải pháp triển khai tự chủ giáo dục đại học công lập
Nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế trên, thời gian tới, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần
phối hợp với các bộ, ngành liên quan triển khai thực hiện một số nội dung sau:
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống chính sách về tự chủ đại học.
- Rà soát, sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là Luật
Giáo dục và Luật GDĐH cùng các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, nhằm
đảm bảo sự thống nhất, tạo điều kiện thuận lợi và thực hiện hiệu quả tự chủ đại học tại tất
cả các cơ sở GDĐH. Trước mắt, rà soát, hoàn thiện cơ chế Hội đồng trường để tăng
cường quyền lực của Hội đồng trường; quy định lại thành phần, chức danh của Hội đồng
14
trường; quy định rõ mối quan hệ giữa giữa Hội đồng trường – Đảng ủy - Ban giám hiệu;
phân định rõ chức năng quản trị và quản lý của cơ sở GDĐH.
- Rà soát, hoàn thiện các quy định về chuẩn chất lượng (chuẩn trường đại học, chuẩn
chương trình đào tạo, chuẩn mở ngành, chuẩn xác định chỉ tiêu tuyển sinh và quy mô đào
tạo, chuẩn giảng viên và cán bộ quản lý, cơ sở vật chất…) và các quy định công khai,
minh bạch thông tin về điều kiện đảm bảo chất lượng và chất lượng đào tạo thực tế làm
cơ sở để cơ sở GDĐH thực hiện tự chủ, cơ quan có thẩm quyền quản lý, người học giám
sát chất lượng đào tạo.
- Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ để cơ sở GDĐH nhanh chóng đảm bảo năng lực
thực hiện tự chủ bao gồm: Chính sách ưu đãi về thuế (miễn/giảm thuế) cho các cơ sở
GDĐH sau ba năm từ khi được thực hiện tự chủ; chính sách để các cơ sở GDĐH có
quyền được tiếp cận các nguồn hỗ trợ của Nhà nước; chính sách ưu đãi về đất đai cho việc
xây dựng, mở rộng cơ sở.
Thứ hai, tổng kết, đánh giá thí điểm thực hiện cơ chế tự chủ GDĐH và nghiên cứu xây
dựng mô hình tự chủ đại học phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Đánh giá kết quả thí điểm thực hiện tự chủ đại học theo Nghị quyết số 77/NQ-CP làm
cơ sở thực tiễn để thực hiện tự chủ của các cơ sở GDĐH trong những giai đoạn tiếp theo.
Trên cơ sở đó, kiến nghị, đề xuất Chính phủ giải quyết các khó khăn, vướng mắc, hoàn
thiện cơ chế quản lý nhà nước trong điều kiện tự chủ GDĐH.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm thế giới và thực tiễn Việt Nam xây dựng mô
hình tự chủ GDĐH phù hợp với điều kiện Việt Nam, đề xuất giải pháp tăng cường hiệu
quả quản trị của Hội đồng trường trong cơ sở GDĐH.
Thứ ba, đầu tư cho các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo.
- Rà soát điều chỉnh danh mục đầu tư trung hạn và dài hạn ở cấp quốc gia và cơ sở
GDĐH từ các nguồn ngân sách và xã hội hóa cho phát triển các điều kiện đảm bảo chất
lượng nhằm tăng cường năng lực cho các cơ sở GDĐH thực hiện hiệu quả tự chủ GDĐH.
15
- Khảo sát nhu cầu nguồn nhân lực trong các lĩnh vực Nhà nước cần đầu tư, đặt hàng
đào tạo và năng lực đào tạo của các cơ sở GDĐH để đề xuất các ngành, lĩnh vực và cơ sở
GDĐH cho Nhà nước đặt hàng đào tạo và đầu tư.
Thứ tư, tăng cường kiểm định chất lượng giáo dục.
Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành kiểm định chất lượng đối với các cơ sở GDĐH trong
toàn hệ thống, đặc biệt khuyến khích cơ sở GDĐH tham gia kiểm định chất lượng theo
chuẩn khu vực và quốc tế.
Đẩy mạnh thực hiện kiểm định chất lượng đối với các cơ sở GDĐH trực thuộc Bộ Giáo
dục và Đào tạo, cơ sở GDĐH thực hiện thí điểm theo Nghị quyết 77/2014/NQ-CP; phân
loại và công khai nhóm trường theo mức độ kết quả kiểm định đạt được; thực hiện triển
khai xếp hạng các cơ sở GDĐH, tăng cường minh bạch thông tin về điều kiện đảm bảo
chất lượng và chất lượng GDĐH để nâng cao năng lực tự chủ, thúc đẩy thực hiện tự chủ
đại học công bằng trong toàn hệ thống.
Thứ năm, tăng cường đổi mới và nâng cao hiệu quả của quản trị đại học.
Tăng cường đổi mới quản trị đại học, chú trọng tăng cường năng lực và quyền lực cho
Hội đồng trường trong tất cả các cơ sở GDĐH; đồng thời, các cơ quan đang thực hiện vai
trò chủ quản (bộ, ngành, UBND) chuyển giao dần, tăng cường quyền lực tối đa cho Hội
đồng trường để quyết sách các vấn đề của cơ sở GDĐH và thực hiện hiệu quả chức năng
quản trị của Hội đồng trường; bồi dưỡng kiến thức quản trị đại học cho thành viên Hội
đồng trường và lãnh đạo nhà trường trong tất cả các cơ sở GDĐH.
Thứ sáu, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về tự chủ đại học.
Tăng cường thông tin tuyên truyền về tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình của cơ
sở GDĐH trong toàn xã hội; triển khai nghiên cứu, tổ chức các hội thảo, sự kiện, phổ biến
kết quả nghiên cứu về tự chủ đại học và trách nhiệm giải trình của các cơ sở GDĐH ở các
cấp quốc gia và cơ sở GDĐH; tôn vinh những kết quả đạt được nhờ thực hiện tự chủ
nhằm định hướng đúng nhận thức của toàn xã hội về tự chủ đại học và trách nhiệm giải
trình của cơ sở GDĐH.
16
Thứ bảy, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các cơ sở GDĐH thực hiện tự chủ.
- Chỉ đạo, hướng dẫn các cơ sở GDĐH chuẩn bị các điều kiện thực hiện tự chủ, khẩn
trương thành lập Hội đồng trường theo quy định và thực hiện kiểm định chất lượng giáo
dục; hướng dẫn các cơ sở GDĐH được giao quyền tự chủ công khai minh bạch các thông
tin về thực hiện các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, tỷ lệ việc làm của sinh viên sau
tốt nghiệp; giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện tự chủ.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên đối với các cơ sở GDĐH được
giao tự chủ để nắm tình hình, đồng hành, hỗ trợ thực hiện tự chủ đại học hiệu quả và nâng
cao chất lượng đào tạo.
Tài liệu tham khảo:
1. Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 15/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn
vị sự nghiệp công lập;
2. Luật Giáo dục đại học (2012);
3. Nghị quyết 77/2014/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ thí điểm đổi mới cơ chế
hoạt động đối với các cơ sở GDĐH công lập giai đoạn 2014-2017;
4. Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ
của đơn vị sự nghiệp công lập.
17