MỞ ĐẦU
Thông tin truyền thông là một lĩnh vực hoạt động phức tạp và luôn biểu hiện
rõ tính hai mặt trong sự tác động tới mọi mặt của đời sống chính trị, văn hóa ở mọi
hình thái tổ chức nhà nước và cấu trúc xã hội trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, việc
tổ chức và quản lý truyền thông của cơ quan nhà nước là một nhiệm vụ chính trị
quan trọng đòi hỏi phải đảm bảo tính logic khoa học và tính thống nhất theo đường
lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước. Đặc biệt
ở những cơ quan hành chính nhà nước mang tính đặc thù cao như Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, việc tổ chức và quản lý truyền thông lại là một công việc
mang yếu tố quyết định tới vị trí và chức năng của một cơ quan hành chính nhà
nước trực thuộc trực tiếp Chính phủ, ban Bí thư, cơ quan lãnh đạo tối cao điều
hành đất nước.
I. Một số khái niệm cơ bản.
I.1. Khái niệm Cơ quan hành chính Nhà nước Việt Nam
Cơ quan hành chính Nhà nước Việt Nam là tên gọi chung của toàn bộ ngành
hành pháp ở việt Nam. Cơ quan hành chính Nhà nước được tổ chức theo các ngành
và các cấp từ trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ Việt Nam.
Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước trực
thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương
diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành- điều hành, thực hiện hoạt động
hoặc chức năng quản lý nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu tổ chức
và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định.
Đặc điểm chung của cơ quan hành chính nhà nước là tổ chức trong xã hội,
nhân danh nhà nước khi tham gia các quan hệ pháp luật. Nói cách khác có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật. Cơ quan hành chính nhà nước có tính độc lập
về cơ cấu- tổ chức, cơ cấu và tổ chức bộ máy hoạt động phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn... Cơ quan hành chính nhà nước có đội ngũ nhân sự gồm cán
bộ, công chức thông qua tuyển dụng, bổ nhiệm.
Cơ quan hành chính nhà nước có tính đặc thù riêng biệt về:
-
Chức năng: quản lý hành chính nhà nước; chuyên thực hiện hoạt động
chấp hành và điều hành mang tính dưới luật và thực thi luật.
Hệ thống Cơ quan hành chính nhà nước được thành lập từ Trung ương
đến địa phương, có tính trực thuộc và tính thứ bậc chặt chẽ tạo thành một hệ thống
với số lượng cơ quan lớn, biên chế khổng lồ.
Thẩm quyền của Cơ quan hành chính nhà nước được quy định trên cơ
sở lãnh thổ, ngành, lĩnh vực...
Các Cơ quan hành chính nhà nước đều có hệ thống đơn vị trực thuộc.
Các cơ quan chủ yếu của bộ máy hành chính nhà nước đều do các cơ
quan dân cử tương ứng thành lập nên có tính trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào
cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.
Trên cơ sở đó có thể phân loại Cơ quan hành chính nhà nước theo một số
tiêu chí sau:
Theo cơ sở pháp lý của việc thành lập cơ quan:
+ Các cơ quan hiến định là Chính phủ, bộ và cơ quan ngang bộ, ủy ban nhân
dân các cấp.
+ Các cơ quan thành lập trên cơ sở luật và các văn bản dưới luật: tổng cục,
cục, chi cục...
Theo phạm vi lãnh thổ:
+ Cơ quan hành chính nhà nước ở Trung ương là Chính phủ, bộ và cơ quan
ngang bộ, ủy ban nhân dân các cấp, sở, phòng, ban....
+ Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương là ủy ban nhân dân các cấp,
sở, phòng, ban....
Theo thẩm quyền
+ Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung
+ Cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn
Theo nguyên tắc tổ chức và giải quyết công việc
+ Cơ quan hành chính nhà nước tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập
thể.
+ Cơ quan hành chính nhà nước tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc một
người.
I.2. Khái niệm truyền thông
Truyền thông (communication) là quá trình chia sẻ thông tin. Truyền thông
là một hình thức tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai tác nhân tương tác lẫn
nhau, chia sẻ các qui tắc và tín hiệu chung. Ở dạng đơn giản, thông tin được truyền
từ người gửi tới người nhận. Ở dạng phức tạp hơn, các thông tin trao đổi liên kết
người gửi và người nhận. Phát triển truyền thông là phát triển các quá trình tạo khả
năng để một người hiểu những giừ người khác nói (ra hiệu, hay viết), nắm bắt ý
nghĩa của các thanh âm và biểu tượng, và học được cú pháp của ngôn ngữ.
Truyền thông thường gồm ba phần chính: nội dung, hình thức, và mục tiêu.
Nội dung truyền thông bao gồm các hành động trình bày kinh nghiệm, hiểu biết,
đưa ra lời khuyên hay mệnh lệnh, hoặc câu hỏi. Các hành động này được thể hiện
qua nhiều hình thức như động tác, bài phát biểu, bài viết, hay bản tin truyền hình.
Mục tiêu có thể là cá nhân khác hay tổ chức khác, thậm chí là chính người/tổ chức
gửi đi thông tin.
Truyền thông hoạt động bằng nhiều hình thức khác nhau: báo viết (báo in và
các hình thức ấn phẩm ngành in), báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình), báo
điện tử (mạng internet). Hoạt động truyền thông là quá trình gửi và nhận thông tin,
các mốc phát triển truyền thông thường gắn liền với tiến bộ công nghệ,
II. Tổ chức và quản lý truyền thông của Cơ quan hành chính Nhà
nước Việt Nam (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh)
II.1. Tổ chức và quản lý truyền thông của Cơ quan hành chính Nhà nước
ở Việt Nam
II.1.1.Mục tiêu của công tác tổ chức và quản lý truyền thông của cơ quan
hành chính nhà nước.
Để vận hành tốt công tác tổ chức và quản lý nói chung, một trong những
công việc phải làm là xác định cơ cấu tổ chức, phân chia trách nhiệm và quyền hạn
cho các cá nhân và bộ phận trong tổ chức đó. Đơn giản nhất là ví dụ khi thiết kế
một sản phẩm mới, chúng ta cũng phải biết cách tổ chức để giải quyết công việc
này. Như vậy, mục tiêu của công tác tổ chức trong các trường hợp trên là để giải
quyết những nhiệm vụ cụ thể như để thành lập một mô hình hoạt động và đưa nó
vào vận hành một cách có tổ chức mới có thể đảm bảo được chất lượng của sản
phẩm.
Mục tiêu của chức năng tổ chức là tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi
cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình,
đóng góp tốt nhất vào việc hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức. Những mục
tiêu cụ thể về mặt tổ chức thường là :
- Xây dựng một bộ máy quản trị gọn nhẹ và có hiệu lực
- Xây dựng nề nếp văn hoá của tổ chức lành mạnh
- Tổ chức công việc khoa học
- Phát hiện, uốn nắn và điều chỉnh kịp thời mọi hoạt động yếu kém trong tổ
chức
- Phát huy hết sức mạnh của các nguồn tài nguyên vốn có
- Tạo thế và lực cho tổ chức thích ứng với mọi hoàn cảnh thuận lợi cũng như
khó khăn ở bên trong và bên ngoài đơn vị
Cũng như các loại mục tiêu quản trị khác, mục tiêu của công tác tổ chức
phải khoa học, khả thi, phải phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Khác với yêu cầu về
các loại mục tiêu quản trị khác, yêu cầu đối với mục tiêu tổ chức là phải tuân thủ
những quy luật khách quan đặc thù của công tác tổ chức. Ví dụ như quy luật về
tầm quản trị, quy luật về cấu trúc guồng máy, quy luật về phân chia quyền hạn, bổ
nhiệm, đề cử, đề bạt, thăng chức...
II.1.2.Vị trí và chức năng
Trên cơ sở khái niệm về cơ quan hành chính nhà nước, có thể thấy rằng sự
phân cấp trong hệ thống quản lý nhà nước là một thể thống nhất hoạt động theo
nguyên tắc tổ chức quản lý cấp dưới có nhiệm vụ và chức năng tham mưu, giúp
cho cơ quan hành chính nhà nước cấp cao hơn thực hiện quản lý nhà nước. Cụ thể
ở đây là lĩnh vực truyền thông dưới sự quản lý cao nhất của Chính phủ là Bộ
Thông tin truyền thông rồi đến các Sở (cấp tỉnh)... quản lý hành chính nhà nước về:
báo chí; xuất bản; bưu chính và chuyển phát; viễn thông và internet; truyền dẫn
phát sóng; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền
hình; cơ sở hạ tầng thông tin truyền thông; quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin
máy tính và xuất bản phẩm (sau đây gọi tắt là thông tin và truyền thông theo quy
định của pháp luật.
Cơ quan hành chính nhà nước có chức năng tổ chức và quản lý nội dung
thông tin truyền thông, phát hành, đăng tải nội dung theo quy định của pháp luật
Trong công tác tổ chức và quản lý truyền thông, hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước có những nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau:
- Trình duyệt các cấp cao hơn trong hệ thống cơ cấu tổ chức hành chính nhà
nước.
+ Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, hàng năm, chương trình, đề án,
dự án về thông tin và truyền thông; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện
nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước, phân cấp quản lý¸ xã hội hóa về các lĩnh
vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước được giao+ Dự thảo quyết định, chỉ thị thuộc
thẩm quyền ban hành của cơ quan hành chính nhà nước cụ thể về các lĩnh vực
thông tin và truyền thông;
+ Dự thảo quy định về tiêu chuẩn chức danh trong cơ cấu tổ chức quản lý
- Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật, quy hoạch, kế hoạch phát triển, các chương trình, đề án, dự án, tiêu chuẩn
quốc gia, định mức kinh tế - kỹ thuật về thông tin và truyền thông đã được phê
duyệt; tổ chức thực hiện công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý.
- Về báo chí (bao gồm báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử trên mạng
Internet):
+ Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động báo
chí trên địa bàn;
+ Tổ chức kiểm tra báo chí lưu chiểu và quản lý báo chí lưu chiểu của phạm
vi cụ thể
+ Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động bản tin cho các cơ quan, tổ chức trên địa
bàn;
+ Trả lời về đề nghị tổ chức họp báo đối với các cơ quan, tổ chức của địa phương;
+ Tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và đề nghị các cấp có thẩm quyền cấp thẻ nhà báo,
cấp phép hoạt động báo chí, giấy phép xuất bản các ấn phẩm báo chí, ấn phẩm
thông tin khác theo quy định của pháp luật cho các cơ quan báo chí và các cơ quan,
tổ chức khác của địa phương;
+ Xem xét cho phép các cơ quan báo chí của địa phương khác đặt văn phòng
đại diện, văn phòng liên lạc, cơ quan thường trú trên địa bàn của địa phương mình;
+ Tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp phát thanh, truyền
hình của địa phương sau khi được phê duyệt;
+ Quản lý việc sử dụng thiết bị thu tín hiệu phát thanh truyền hình trực tiếp
từ vệ tinh cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân trên địa bàn địa phương theo quy định
của pháp luật.
- Về xuất bản:
+ Thẩm định hồ sơ xin phép thành lập nhà xuất bản của các tổ chức, cơ quan
thuộc tỉnh để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông cấp
phép thành lập nhà xuất bản theo quy định của pháp luật;
+ Cấp, thu hồi giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh cho cơ quan, tổ
chức của địa phương, chi nhánh, văn phòng đại diện, đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ
chức của trung ương tại địa phương; cấp, thu hồi giấy phép nhập khẩu xuất bản
phẩm không nhằm mục đích kinh doanh cho cơ quan, tổ chức, cá nhân của địa
phương; cấp, thu hồi giấy phép hoạt động in xuất bản phẩm và giấy phép in gia
công xuất bản phẩm cho nước ngoài đối với các cơ sở in xuất bản phẩm thuộc địa
phương theo quy định của pháp luật về xuất bản;
+ Cấp, thu hồi giấy phép triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm; tạm đình chỉ việc
tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm của cơ quan, tổ chức, cá nhân do địa
phương cấp phép;
+ Quản lý việc lưu chiểu xuất bản phẩm và tổ chức đọc xuất bản phẩm lưu
chiểu do địa phương cấp phép; kiểm tra và xử lý theo thẩm quyền khi phát hiện
xuất bản phẩm lưu chiểu có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về xuất bản; giải quyết khiếu
nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động xuất bản tại địa phương theo thẩm
quyền;
+ Tạm đình chỉ hoạt động in xuất bản phẩm hoặc đình chỉ việc in xuất bản
phẩm đang in tại địa phương nếu phát hiện nội dung xuất bản phẩm vi phạm Luật
Xuất bản và báo cáo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh; tạm đình chỉ việc phát hành xuất bản phẩm có nội dung vi phạm
Luật Xuất bản của cơ sở phát hành xuất bản phẩm tại địa phương;
+ Thực hiện việc tiêu hủy xuất bản phẩm vi phạm pháp luật theo quyết định của
cấp có thẩm quyền.
- Về bưu chính và chuyển phát:
+ Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức việc thực hiện công tác đảm bảo an toàn, an
ninh trong hoạt động bưu chính và chuyển phát trên địa bàn tỉnh theo quy định của
pháp luật;
+ Phối hợp với cơ quan liên quan kiểm tra việc thực hiện các quy định về áp
dụng tiêu chuẩn, chất lượng dịch vụ, an toàn, an ninh thông tin trong bưu chính và
chuyển phát trên địa bàn tỉnh;
+ Xác nhận thông báo hoạt động kinh doanh dịch vụ chuyển phát bằng văn
bản cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát trong phạm vi nội tỉnh;
+ Cấp, sửa đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép kinh doanh dịch vụ chuyển phát
thư theo thẩm quyền;
+ Phối hợp triển khai công tác quản lý nhà nước về tem bưu chính trên địa
bàn.
- Về viễn thông, Internet:
+ Hướng dẫn, kiểm tra, chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông, Internet triển
khai công tác bảo đảm an toàn và an ninh thông tin trên địa bàn theo quy định của
pháp luật;
+ Phối hợp với cơ quan liên quan thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy
định về giá cước, tiêu chuẩn, chất lượng trong lĩnh vực viễn thông và Internet trên
địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật;
+ Chủ trì việc thanh tra, kiểm tra hoạt động và xử lý vi phạm của doanh
nghiệp, đại lý cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet và người sử dụng trên địa bàn
tỉnh theo quy định của pháp luật và theo ủy quyền của Bộ Thông tin và Truyền
thông;
+ Hỗ trợ các doanh nghiệp viễn thông trên địa bàn hoàn thiện các thủ tục xây
dựng cơ bản để xây dựng các công trình viễn thông theo giấy phép đã được Bộ
Thông tin và Truyền thông cấp cho doanh nghiệp, phù hợp với quy hoạch phát
triển của địa phương và theo quy định của pháp luật;
+ Phối hợp với các đơn vị chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông
tham gia một số công đoạn trong quá trình cấp phép, giải quyết tranh chấp về kết
nối và sử dụng chung cơ sở hạ tầng;
+ Chỉ đạo các Phòng Văn hóa và Thông tin việc thanh tra, kiểm tra hoạt
động và xử lý vi phạm của đại lý và người sử dụng dịch vụ viễn thông, Internet
trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
- Về công nghệ thông tin, điện tử:
+ Tổ chức thực hiện các chương trình, đề án, kế hoạch về ứng dụng và phát
triển công nghệ thông tin; cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp phần cứng,
công nghiệp phần mềm, công nghiệp điện tử, công nghiệp nội dung số và dịch vụ
công nghệ thông tin; về xây dựng và quản lý khu công nghệ thông tin tập trung; về
danh mục và quy chế khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, quy chế quản lý đầu tư ứng
dụng và phát triển công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh sau khi được phê duyệt;
+ Tổ chức thực hiện, báo cáo định kỳ, đánh giá tổng kết việc thực hiện các
kế hoạch về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà
nước của tỉnh;
+ Xây dựng quy chế, quy định về hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin
của địa phương;
+ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực công
nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh và tổ chức thực hiện sau khi được phê duyệt;
+ Tổ chức, hướng dẫn thực hiện các quy định về an toàn công nghệ thông tin theo
thẩm quyền;
+ Tổ chức, hướng dẫn thực hiện các dự án ứng dụng công nghệ thông tin
phục vụ thu thập, lưu giữ, xử lý thông tin số phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của
Lãnh đạo cấp tỉnh;
+ Xây dựng quy chế quản lý, vận hành, đảm bảo kỹ thuật, an toàn thông tin;
hướng dẫn sử dụng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ hoạt động chỉ đạo, điều hành,
tác nghiệp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
+ Xây dựng mới hoặc duy trì, nâng cấp, đảm bảo kỹ thuật, an toàn thông tin
cho hoạt động trang thông tin điện tử (website, cổng thông tin) của Ủy ban nhân
dân cấp tỉnh; hướng dẫn các đơn vị trong tỉnh thống nhất kết nối, cung cấp nội
dung thông tin và các dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh theo sự phân công
của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
+ Khảo sát, điều tra, thống kê về tình hình ứng dụng và phát triển công
nghiệp công nghệ thông tin; xây dựng cơ sở dữ liệu về sản phẩm, doanh nghiệp tại
địa phương phục vụ công tác báo cáo định kỳ theo quy định;
+ Thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị chuyên trách về công nghệ thông tin
của tỉnh.
- Về quảng cáo trên báo chí, mạng thông tin máy tính và trên xuất bản
phẩm:
+ Hướng dẫn việc thực hiện quảng cáo trên báo chí, trên mạng thông tin máy
tính và trên xuất bản phẩm trên địa bàn theo thẩm quyền;
+ Thanh tra, kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền các vi phạm của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân hoạt động quảng cáo trên báo chí trên mạng thông tin máy tính và
trên xuất bản phẩm trên địa bàn.
- Về truyền dẫn phát sóng, tần số vô tuyến điện:
+ Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch phân bổ kênh tần số đối với
phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh; các quy định về điều kiện, kỹ thuật, điều
kiện khai thác các thiết bị vô tuyến điện được sử dụng có điều kiện;
+ Thực hiện thanh tra, kiểm tra hàng năm đối với các tổ chức, cá nhân sử
dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện thuộc mạng thông tin vô tuyến dùng
riêng, đài phát thanh, phát hình có phạm vi hoạt động hạn chế trong địa bàn tỉnh;
phối hợp với tổ chức Tần số vô tuyến điện khu vùc thanh tra, kiểm tra theo kế
hoạch và đột xuất đối với các mạng, đài khác;
+ Xử phạt theo theo thẩm quyền về vi phạm hành chính đối với các tổ chức,
cá nhân vi phạm quy định về sử dụng thiết bị phát sóng và tần số vô tuyến điện
trên địa bàn tỉnh.
- Về quyền tác giả, bản quyền và sở hữu trí tuệ:
+ Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về quyền tác giả đối với sản
phẩm báo chí, xuất bản; bản quyền về sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin và
truyền thông; quyền sở hữu trí tuệ các phát minh, sáng chế thuộc các lĩnh vực về
thông tin và truyền thông trên địa bàn;
+ Thực hiện các biện pháp bảo vệ hợp pháp trong lĩnh vực quyền tác giả,
bản quyền, sở hữu trí tuệ trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
+ Hướng dẫn nghiệp vụ bảo hộ các quyền hợp pháp trong lĩnh vực quyền tác giả,
bản quyền, sở hữu trí tuệ cho các ngành, địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức xã
hội và công dân đối với sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật.
- Giúp cơ quan hành chính nhà nước cấp cao hơn quản lý nhà nước đối với
các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra
hoạt động các hội, hiệp hội và tổ chức phi chính phủ trong các lĩnh vực về thông
tin và truyền thông trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Sở Thông tin và Truyền thông quản lý theo quy
định của pháp luật.
- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ các lĩnh vực về thông tin và truyền
thôngđối với cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới.
- Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về dịch vụ công trong các lĩnh vực
về thông tin và truyền thông:
+ Quản lý dịch vụ công ích:
Đối với dịch vụ công ích thuộc thẩm quyền quyết định của Trung ương: Sở
phối hợp hướng dẫn các doanh nghiệp, đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch, dự án
cung ứng dịch vụ và giám sát, kiểm tra việc thực hiện, báo cáo kết quả thực hiện
tại địa phương theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông.
Đối với dịch vụ công ích thuộc thẩm quyền quyết định của địa phương: Sở chủ trì,
phối hợp với các ngành liên quan xây dựng và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê
duyệt kế hoạch, dự án cung ứng dịch vụ và tổ chức triển khai, quản lý thực hiện kế
hoạch, dự án theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công khác theo quy định
của pháp luật.
- Giúp các cơ quan hành chính nhà nước cấp cao hơn trong việc tổ chức
công tác thông tin liên lạc phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước, phục vụ quốc
phòng, an ninh, đối ngoại; thông tin phòng chống giảm nhẹ thiên tai; thông tin về
an toàn cứu nạn, cứu hộ và các thông tin khẩn cấp khác trên địa bàn tỉnh theo quy
định của pháp luật.
- Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư chuyên
ngành về thông tin và truyền thông ở địa phương theo các qui định của pháp luật
về đầu tư, xây dựng và theo phân công, phân cấp của cơ quan hành chính nhà nước
cấp trên.
- Thực hiện các nhiệm vụ xây dựng, phối hợp xây dựng các định mức kinh tế
- kỹ thuật chuyên ngành thông tin và truyền thông theo hướng dẫn của Bộ Thông
tin và Truyền thông.
- Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, xây dựng
hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ
trong các lĩnh vực về thông tin và truyền thông; hướng dẫn thực hiện các quy định
của Nhà nước về áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật, về công bố chất lượng sản phẩm,
dịch vụ đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thông tin và truyền
thông trên địa bàn tỉnh.
2.1.3. Một số vấn đề khoa học trong công tác tổ chức
- Tầm hạn quản lí
Đây là vấn đề thường xuyên phải quan tâm đến. Phạm vi quản lí là số lượng
cấp dưới mà một nhà quản trị cấp trên có thể quản lí được một cách trực tiếp. Sau
đây là sáu yếu tố xác định tầm hạn quản lí:
Thứ nhất: Năng lực của nhà quản trị
+Thể hiện ở chỗ đôn đốc, phối hợp cùng cấp dưới để đạt được hiệu quả.
+ Năng lực giỏi là có khả năng phối hợp được với nhiều cấp dưới.
+ Tuy nhiên cần phải xây dựng bộ máy tổ chức phù hợp với năng lực quản lí
của nhà quản trị.
Thứ hai: Trình độ, kinh nghiệm và phẩm chất của cấp dưới
+Nếu trình độ kém thì tầm hạn quản trị hẹp.
+ Nếu trình độ cao thì tầm hạn quản trị rộng.
Thứ ba: Mức độ uỷ quyền của cấp trên cho cấp dưới
+ Nếu có sự uỷ quyền lớn thì tầm hạn quản trị sẽ rộng.
Thứ tư: Tính chất kế hoạch của công việc
+ Nếu công việc giao phó cấp dưới mang tính kế hoạch thì tầm hạn quản lí
rộng (công việc được tiêu chuẩn hoá).
Thứ năm: Sự thay đổi công việc( tính đồng nhất của công việc)
+ Nếu công việc của công ty thường xuyên ổn định thì có thể áp dụng tầm
hạn quản trị rộng.
Thứ sáu: Kĩ thuật trang bị và phương tiện thông đạt
+ Nếu đầy đủ thì tầm hạn quản trị rộng.
-
Phân chia và cấu trúc các đơn vị nhỏ
Sự tồn tại các đơn vị nhỏ trong doanh nghiệp là một tất yếu và sự phân chia
các đơn vị đó phải đặt trên một số các tiêu chuẩn khoa học sau:
+ Tiêu chuẩn số lượng.
+ Tiêu chuẩn phân chia theo các chức năng hay nhiệm vụ: Sự phân chia này
căn cứ theo trình độ nghiệp vụ của con người phù hợp với nhiệm vụ cần giải quyết.
+ Các đơn vị được hình thành theo loại sản phẩm (đối với các doanh nghiệp
sản xuất nhiều loại sản phẩm) và mỗi loại sản phẩm đòi hỏi một qui trình công
nghệ sản xuất riêng biệt và chiến lược tiếp thị khác nhau.
+ Các đơn vị được hình thành theo lãnh thổ và được sử dụng thông dụng
trong cả kinh doanh lẫn các tổ chức khác như ngoại giao, chính trị,…
+ Các đơn vị hình thành đối tượng phục vụ (khách hàng), được sử dụng khi
đối tượng phục vụ có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
+ Các đơn vị hình thành theo quy trình hay các trang thiết bị sử dụng. Nếu
trang thiết bị đòi hỏi về trình độ sử dụng đặc biệt, bảo trì riêng thì hình thành một
đơn vị.
+ thành lập đơn vị theo thời gian công việc ( tổ chức theo ca, kíp)
Tóm lại dựa trên 7 tiêu chuẩn này, các cơ quan hành chính nhà nước cấp cao
hơn thành lập các đơn vị bộ máy hành chính cấp nhỏ hơn hoạt động theo những
mục đích khác nhau.
2.1.4. Một số nguyên tắc cơ bản.
-
Nguyên tắc gắn với mục tiêu
+ Bộ máy tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước cụ thể phải phù hợp với
mục tiêu.
+ Mục tiêu và cơ cấu phải phù hợp với nhau.
-
Nguyên tắc hiệu quả
Để đạt được nguyên tắc này, bộ máy tổ chức quản lý hoạt động truyền thông
phải xây dựng trên cơ sở giảm chi phí.
-
Nguyên tắc cân đối
+ Cân đối giữa quyền hành và trách nhiệm
+ Cân đối về công việc giữa các đơn vị với nhau.
+ Sự cân đối sẽ tạo nên sự ổn định trong hoạt động chung của cơ quan.
-
Nguyên tắc linh hoạt, linh động
+ Các nhà quản trị phải linh hoạt trong hoạt động tổ chức.
+ Bộ máy tổ chức linh động để đối phó kịp thời với sự thay đổi của tình
hình.
2.2. Tổ chức và quản lý truyền thông của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là cơ quan trực thuộc Ban Chấp
hành Trung ương Đảng và Chính phủ, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp,
thường xuyên của Bộ Chính trị và Ban Bí thư.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý trung, cao cấp, cán bộ khoa học lý luận của hệ
thống chính trị.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh là trung tâm quốc gia nghiên cứu
khoa học lý luận Mác- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở khoa học, thực tiễn của
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, nghiên cứu các khoa học
chính trị, khoa học lãnh đạo, quản lý và một số ngành khoa học xã hội nhân văn
khác.
Về lĩnh vực thông tin truyền thông, hiện nay Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh có 22 tạp chí, bản tin thông tin khoa học phục vụ công tác lãnh đạo,
bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học lý luận chính trị, khoa học lãnh đạo,
quản lý; đồng thời phục vụ công tác tuyên truyền trên những lĩnh vực hoạt động
chủ yếu của học viện. Các ấn phẩm truyền thông của Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh được xuất bản tại Nhà xuất bản Lý luận Chính trị- đơn vị trực thuộc
học viện.
Có thể thấy rằng, bên cạnh vị trí và chức năng cụ thể đã nêu trên, Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cũng là một cơ quan hành chính nhà nước tổ chức
và quản lý truyền thông. Tuy nhiên, không như mô hình tổ chức và hoạt động như
đã phân tích ở mục 2.1, hoạt động của tổ chức và quản lý truyền thông của Học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có rất nhiều điểm khác biệt:
Về mục đích: Là một trung tâm quốc gia hoạt động chủ yếu ở chức
năng đào tạo lý luận chính trị, lãnh đạo cấp cao, các tạp chí của học viện ở các hình
thức khác nhau được tổ chức và quản lý ấn phẩm ở các hình thức khác nhau theo
mục đích chủ yếu là phục vụ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu và tuyên truyền
của Học viện.
-
Về cơ cấu tổ chức: Trong tổ chức sắp xếp nhân sự, từ Tổng biên tập đến
cán bộ chuyên viên ở các khâu thuộc quy trình hoạt động truyền thông, phần lớn là
các nhà khoa học với chức năng chuyên môn chủ yếu là nghiên cứu khoa học lý
luận và một số khoa học xã hội có liên quan. Chính bởi vậy việc quản lý, vận hành
bộ máy truyền thông phần nào chưa đáp ứng được các tiêu chí cơ bản của hệ thống
các nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và quản lý truyền thông của cơ quan hành
chính nhà nước nói chung.
+ Với nguyên tắc gắn với mục tiêu, đây là một nguyên tắc mà bộ máy tổ
chức của các tạp chí trong Học viện đã đáp ứng được các tiêu chí cơ bản của mục
tiêu đề ra một cách triệt để theo các nhu cầu đòi hỏi của chức năng nghiên cứu và
đào tạo của học viện. Các bài viết, bản tin hay các nội dung thông tin tuyên truyền
cụ thể về đường lối phát triển của Đảng.... đăng tải trên các hình thức tạp chí, tạp
chí điện tử...., là một phần không thể thiếu phục vụ cho các mục đích giảng dạy,
nghiên cứu, tham khảo của Học viện và các đối tượng liên quan đến các vấn đề
chính trị trong tổ chức, quản lý và vận hành bộ máy của hệ thống lãnh đạo các cấp
của nhà nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa từ Trung ương đến địa phương.
+ Với nguyên tắc hiệu quả, bởi bộ máy tổ chức, quản lý hoạt động truyền
thông chủ yếu do các nhà khoa học trong giới hạn tính đặc thù chuyên sâu, họ là
những nhà giáo, nhà nghiên cứu trong giới hạn nhất định của lĩnh vực khoa học lý
luận, nội dung thông tin được trình bày gắn liền với nghiên cứu và đào tạo. Nhưng
trong lĩnh vực truyền thông cùng các công đoạn trong quy trình hoạt động từ tổng
hợp thông tin, xuất bản, phát hành... là một quy trình khép kín, bên cạnh chất lượng
thông tin được đánh giá trên nhiều khía cạnh từ hình thức tới nội dung...., mọi thứ
đều liên quan tới vấn đề kinh tế. Với các nhà khoa học được gắn thêm các nhiệm
vụ kiêm nhiệm thuộc về truyền thông, tiêu chí hoạt động trên cơ sở giảm chi phí là
một thách thức không nhỏ với họ bởi ngoài chất lượng của thông tin, các yếu tố
kinh tế liên quan chỉ có thể được triệt để khi họ là những nhà quản trị chuyên
nghiệp.
-
Với Nguyên tắc cân đối
Cân đối giữa quyền hành và trách nhiệm, giữa các đơn vị trong cơ cấu tổ
chức, các thông tin truyền thông do Học viện tổ chức và quản lý thực sự là những
tư liệu có giá trị trong nghiên cứu. Ở yếu tố cân đối giữa quyền hành và trách
nhiệm, nguyên tắc này đã được đảm bảo bởi trách tính biện luận của các thông tin
đã được kiểm chứng qua thực tiễn. Ngoài các yếu tố mang tính lịch sử, tính thời sự
của nội dung thông tin truyền thông do Học viện quản lý chính là những giá trị
đảm bảo cho sự khẳng định vị trí và chức năng mà Đảng, Chính phủ đặt ra cho học
viện. Bên cạnh đó để các bộ phận trong cơ cấu tổ chức của học viện có thể hoạt
động ổn định trong những hoạt động chung của toàn học viện, việc tổ chức quản lý
truyền thông với các nội dung thông tin không chỉ là các vấn đề thuộc về khoa học
phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy mà còn đề cập chuyên sâu đến mọi khía cạnh
trong hoạt động chung của học viện. Đó chính là tác dụng của sự cân bằng thông
tin tạo nên tính ổn định, nhịp nhàng hơn trong sự phối hợp của các chức năng riêng
biệt trong sự vận hành chung một cách có hiệu quả.
-
Với nguyên tắc linh hoạt, linh động, các nhà quản trị ở đây là các tổng
biên tập vốn là những nhà giáo dục và nghiên cứu kiêm nhiệm, sự linh hoạt theo
đúng nghĩa của tổ chức hoạt động truyền thông chuyên nghiệp bị hạn chế là một tất
yếu, bởi với tư duy khoa học chuyên sâu công tác nghiên cứu và giảng dạy, mọi
vấn đề phát sinh đều được mổ sẻ cẩn trọng như một hoạt động nghiên cứu khoa
học. Như vậy yếu tố linh hoạt tất yếu đã không còn khi mà để có kết quả nghiên
cứu, thời gian là một yếu tố quyết định.
Trên cơ sở phân tích khoa học cùng sự nhận thức thực tế công việc tổ chức
và quản lý truyền thông, với tư cách là một thành viên trong công việc tổ chức và
quản lý đó, có thể thấy rằng thực trạng về tổ chức và quản lý truyền thông của một
cơ quan hành chính nhà nước nói chung, của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh nói riêng có những ưu điểm và nhược điểm sau:
Ưu điểm: Với đặc thù mô hình quản lý và điều hành đất nước là Đảng
lãnh đạo, sự hoạt động theo một hệ thống phân cấp tổ chức quản lý hoạt động
truyền thông nêu trên, tính thống nhất là một ưu điểm nổi bật, đặc biệt ở khía cạnh
chính trị, nó cho thấy sự kiên định và nghiêm túc trong việc góp phần tạo nên sự
ổn định trật tự an ninh xã hội, văn hóa trên con đường thực hiện các đường lối phát
triển của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh phát triển bùng nổ của công nghệ, làm
cho thông tin truyền thông trở nên đa chiều, phức tạp về chất lượng nội dung.
Nhược điểm: Bên cạnh ưu điểm của sự thống nhất trong tổ chức và
quản lý truyền thông của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam nói chung, học
viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh nói riêng còn tồn tại một số vấn đề sau:
+ Sự vận hành của một hệ thống phân cấp phức tạp trên làm ảnh hưởng tới
tính thời sự của thông tin truyền thông. Với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, bên cạnh những giá trị mang tính khoa học chuyên biệt, tính thời sự của
thông tin truyền thông bị giới hạn bởi việc phát hành định kỳ.
+ Trong cơ cấu tổ chức quản lý, người quản trị (tổng biên tập) cùng bộ phận
biên tập chủ yếu là những nhà khoa học chuyên sâu về nghiên cứu và giảng dạy,
việc xử lý linh hoạt, linh động các vấn đề nảy sinh trong tổ chức và quản lý truyền
thông là những hạn chế tất yếu đối với những người làm công tác truyền thông
mang tính kiêm nhiệm. Nói cách khác trong vấn đề này, tính chuyên nghiệp của
hoạt động truyền thông bị hạn chế nhiều.
Như đã phân tích thực trạng công tác tổ chức và quản lý truyền thông của cơ
quan hành chính nhà nước ở Việt Nam, cụ thể ở đây là công tác tổ chức quản lý
truyền thông của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tiểu luận mạnh dạn đề
xuất một số giải pháp nhằm phát huy tốt hơn những ưu điểm và khắc phục các vấn
đề tồn tại như sau:
Về vấn đề con người trong tổ chức quản lý và vận hành bộ máy truyền
thông cần những nhà quản lý chuyên nghiệp, các nhà khoa học giữ vai trò cố vấn
nhằm đảm bảo giá trị thông tin. Nếu thực hiện được giải pháp này, các sản phẩm
truyền thông của Học viện sẽ có được những sự thay đổi tích cực nhất định như:
hình thức hay tính thẩm mỹ góp phần minh họa thêm cho nội dung thông tin không
chỉ đơn thuần là đảm bảo tính khoa học, giá trị thông tin sẽ được khẳng định hơn
nữa khi mà hình thức thẩm mỹ trở thành yếu tố giúp cho giá trị thông tin đó, bằng
cảm nhận thị giác được lưu giữ lâu hơn ở đối tượng tiếp nhận thông tin bằng ngôn
ngữ tư duy trừu tượng, lức này nội dung thông tin truyền thông không còn là sự
khô cứng cố hữu của các kết quả khoa học. Hay như trong quá trình tổ chức vận
hành hoạt động truyền thông, sự gắn kết nhịp nhàng giữa các công đoạn biên tập,
trình bày ra đến xuất bản, nếu được thực hiện theo đúng quy trình sẽ đảm bảo về
thời gian, từ đó các vấn đề liên quan tới kinh tế sẽ được cải thiện và trở nên chủ
động hơn trong việc lên kế hoạch hoạt động cho các giai đoạn tiếp theo. Mặt khác
sự nhịp nhàng kịp thời giữa các công đoạn cũng sẽ góp phần đảm bảo cho chất
lượng của sản phẩm truyền thông ở cả hình thức và nội dung. Sự nhịp nhàng này
cũng chính là việc vận dụng hiệu quả nguyên tắc cân đối trong công tác tổ chức
quản lý truyền thông một cách khoa học, hiệu quả cả về chất lượng và giảm thiểu
chi phí phát sinh.
Vấn đề thuộc về tính thời sự là một trong những đặc điểm nổi bật của
hầu hết các sản phẩm truyền thông. Trong đặc thù tổ chức và quản lý hoạt động
truyền thông của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, giá trị mang tính khoa
học của nội dung thông tin là ưu tiên hàng đầu, tính thời sự trở thành thứ yếu. Ở
vấn đề này, nếu trong trình bày nội dung thông tin, các yếu tố khoa học được đưa
ra phân tích hay bàn luận... gắn liền với những bối cảnh cụ thể trong một giới hạn
không gian, thời gian nhất định, tính thời sự của thông tin tuy không phải là tức
thời nhưng phần nào cũng tạo cho các đối tượng tiếp nhận thông tin có được một
cách tiếp cận sinh động hơn, giá trị của nội dung thông tin nhờ đó được khẳng định
rõ ràng hơn, thuyết phục hơn. Nói cách khác, sự hình thành một phong cách trình
bày nội dung, cụ thể là cải tiến văn phong khoa học kết hợp với văn phong đặc
trưng của báo chí sẽ làm cho các yếu tố khoa học của nội dung thông tin trở nên
sinh động và dễ tiếp cận hơn. Mặt khác, đối tượng tiếp nhận thông tin truyền thông
của Học viện đều là giới trí thức có học vấn cao, trình độ lý luận đều từ trung cấp
trở lên, trước một nội dung thông tin mà các vấn đề trong đó được “thời sự hóa” sẽ
được tiếp nhận bằng thái độ cởi mở hơn là một nội dung thông tin mà tính khoa
học làm cho sơ cứng bởi sự rạch ròi, chính xác đến lạnh lùng. Đây cũng là sự vận
dụng phương thức phối hợp các khoa học liên ngành trong cơ cấu tổ chức của học
viện ở tất cả các lĩnh vực quản lý từ đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị đến các
bộ môn lý luận khoa học xã hội khác.
Kết luận.
Truyền thông cùng các sản phẩm truyền thông là một lĩnh vực quan trọng
liên quan đến mọi mặt của đời sống chính trị, văn hóa xã hội. Trong mọi thể chế
chính trị cũng như hình thái xã hội, truyền thông cũng luôn là một nhân tó có sức
mạnh liên quan tới sự cân bằng và ổn định của mọi quốc gia trên thế giới. Việc tổ
chức và quản lý truyền thông của các cơ quan nhà nước nói chung là một tất yếu để
đảm bảo tính ổn định cũng như là mục đích sử dụng truyền thông trong công cuộc
xây dựng đất nước. Với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, tổ chức và
quản lý truyền thông trong phạm vi hoạt động của Học viện không chỉ đơn thuần
mang tính cục bộ trong giới hạn của Học viện bởi Học viện là cái nôi đào tạo lãnh
đạo các cấp liên quan đến hiệu quả điều hành sự phát triển của đất nước từ địa
phương đến Trung ương. Chính bởi vậy, các nội dung thông tin truyền thông được
phát hành tại Học viện chính là một hình thức giáo dục tuyên truyền hiệu quả mọi
đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước tác động tới mắt xích nhỏ
nhất trong cỗ máy điều hành của đất nước. Việc tổ chức và quản lý truyền thông
của cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam nói chung, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh nói riêng cũng luôn cần có những cải tiến nhất định trong công
tác cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển không chỉ đơn thuần là hoàn thiện
tính chuyên nghiệp ctheo đặc thù thông tin truyền thông, nó còn là biểu hiện rõ
ràng hơn tính vận động của quy luật phát triển.