Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (247.02 KB, 30 trang )

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN.
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN.
1. Sự ra đời, chức năng và nhiệm vụ của Công ty May Việt Tiến.
1.1 Sự ra đời và phát triển của Công ty May Việt Tiến.
Công ty May Việt Tiến là một doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất và kinh
doanh hàng may mặc thuộc Tổng Công ty Dệt May Việt Nam. Ra đời từ ngày đầu của
cuộc kháng chiến, đến nay Công ty đã có trên 50 năm tồn tại và phát triển.
Tiền thân của Công ty May Việt Tiến ngày nay là các Xưởng May quân trang được
thành lập ở các chiến khu trong toàn quốc năm 1946. Năm 1952 các Xưởng May này
hợp nhất thành Xưởng May Việt Tiến. Năm 1956 Xưởng chuyển về Hà Nội.
Xuất phát từ yêu cầu xây dựng đất nước khi miền Bắc đi lên Chủ Nghĩa Xã Hội,
tháng 2 năm 1961 Xưởng May Việt Tiến thuộc Bộ Quốc Phòng đổi tên thành Xí
Nghiệp May Việt Tiến thuộc Bộ Công Nghiệp Nhẹ nay là Bộ Công Nghiệp.
Sau năm 1975, Xí Nghiệp May Việt Tiến chuyển sang sản xuất và kinh doanh hàng
xuất khẩu sang các nước XHCN như Liên Xô (cũ), Đông Âu, . . .
Từ năm 1990 đến năm 1991, hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu tan dã làm các
mặt hàng xuất khẩu của nước ta bị mất thị trường. Trước tình hình đó, Xí Nghiệp
May Việt Tiến đã mạnh dạn chuyển sang thị trường “khu vực 2” như Cộng hoà Liên
Bang Đức, Nhật Bản, Bỉ, Đài Loan, Hồng Kông,. . .
Đến tháng 11 năm 1992 trước tình hình đòi hỏi bức xúc của thị trường may mặc
trong nước và trên Thế Giới, Xí Nghiệp May Việt Tiến đã đổi tên thành Công ty May
Việt TIến.
Thời gian qua, dù dưới hình thức hay tên gọi nào, Công ty May Việt Tiến vẫn hoàn
thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được nhà nước giao. Cơ sở vật chất, máy móc thiết bị
của Công ty ngày càng hiện đại, thị trường tiêu thụ ngày càng được mở rộng, uy tín
của Công ty cũng ngày càng được củng cố trên thị trường trong nước cũng như
nước ngoài và Công ty cũng đã được Nhà nước công nhận là “Đơn vị anh hùng”.
1.2 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty May Việt Tiến.
a. Từ ngày thành lập đến năm 1975.
Nhiệm vụ trong giai đoạn này của đơn vị là sản xuất quân trang cho quân đội.


Năm nào Đơn vị cũng hoàn thành kế hoạch Nhà nước giao cho, đến tháng 2 năm
1961 khi đã chuyển sang trực thuộc Bộ Công Nghiệp Nhẹ thì nhiệm vụ của Xí Nghiệp
vẫn không thay đổi.
b. Từ sau năm 1975 đến 1990.
Nhiệm vụ trong giai đoạn này của Công ty là chuyên làm hàng xuất khẩu, mặt
hàng chủ yếu là các loại sản phẩm áo Sơ Mi.
1

1
Thị trường chủ yếu của Công ty là Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu,
Hungari, Bungari, . . .
c. Công ty May Việt Tiến từ 1990 đến tháng 11 năm 1992.
Đặc điểm của giai đoạn này là Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu tan
dã không có người đặt hàng, nguyên vật liệu thiếu trầm trọng nhưng Xí Nghiệp vẫn
xác định nhiệm vụ của mình là vẫn tiếp tục gia công hàng xuất khẩu nhưng để đáp
ứng nhu cầu khắt khe của khách hàng mới, Xí Nghiệp đã phải đa dạng hoá mẫu mã,
kiểu dáng chủng loại áo Sơ mi, Jacket. Bên cạnh đó Xí Nghiệp cũng phải đầu tư thay
thế 2/3 thiết bị cũ bằng thiết bị mới, hiện đại hơn.
Thị trường của Xí Nghiệp trong giai đoạn này chủ yếu là: Cộng hoà liên bang Đức,
Nhật Bản, Bỉ, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc, Hà Lan,. . .
d. Từ khi thành lập Công ty May Việt Tiến đến nay.
Chức năng và nhiệm vụ của Công ty là sản xuất và kinh doanh hàng may mặc.
Công ty đã đặt nhiệm vụ kinh doanh lên ngang tầm với sản xuất theo kế hoạch của
Tổng Công ty Dệt May Việt Nam và theo yêu cầu của thị trường.
Trong cơ chế thị trường, vấn đề đa dạng hoá sản phẩm là việc làm cần thiết của
mọi doanh nghiệp. Công ty May Việt Tiến đã đưa ra nhiều loại sản phẩm: áo Sơ mi
Nam, áo Jacket, Complet, quần áo đồng phục cho trẻ em, quần áo Pijama, quần áo
thể thao, váy,. . .Bên cạnh đó Công ty lựa chọn những sản phẩm mũi nhọn của mình
là áo Sơ mi Nam để tạo uy tín trên thị trường trong nước và trên thế giới.
Vừa đẩy mạnh xuất khẩu, Công ty vừa coi trọng thị trường trong nước. Công ty

đã mở các của hàng, đại lý, các chi nhánh ở nhiều địa phương khác như: Hải Phòng,
Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Thái, Thành phố Hồ Chí Minh, . . .để bán hàng, dạy nghề
may, chuyển giao thiết bị công nghệ nhằm tăng thị phần của Công ty trên thị trường
cả nước.
Mặc dù mới tham gia vào thị trường nội địa nhưng Công ty May Việt Tiến đã bắt
đầu chiếm lĩnh được thị trường may mặc trong cả nước nhờ chất lượng sản phẩm
cao, giá cả phù hợp, được nhiều người ưa thích.
Như vậy từ ngày thành lập đến nay, Công ty May Việt Tiến không ngừng phát huy
nhiệm vụ của mình là sản xuất và kinh doanh mặt hàng may mặc, xứng đáng là một
trong những con chim đầu đàn của ngành may mặc trên cả nước và toàn thể Cán bộ
và công nhân của Công ty cũng đang phấn đấu để trở thành trung tâm kinh tế, kỹ
thuật của toàn ngành.
2. Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty.
Hình thức tổ chức bộ máy quản lý của Công ty May Việt Tiến là hình thức quản lý
trực tiếp:
• Tổng Giám Đốc: Chịu trách nhiệm chung về toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh của Công ty.
2

2
• Phó Tổng Giám Đốc: Điều hành các công việc ở khối sản xuất, thay quyền Tổng
Giám đốc điều hành chung khi Tổng Giám đốc đi vắng. Chịu trách nhiệm trước
Tổng Giám đốc về công việc được giao.
• Hai Giám đốc điều hành: Giúp điều hành các công việc ở khối phục vụ và chịu
trách nhiệm trước Tổng Giám đốc về công việc được giao.
• Phòng Kinh Doanh có chức năng điều hành, giám sát, cung cấp nguyên vật
liệu, thiết bị cho sản xuất, nghiên cứu thị trường và tiêu thụ sản phẩm trên thị
trường nội địa.
• Phòng Kế Toán có chức năng tham mưu giúp việc cho Tổng Giám đốc về tình
hình tài chính của Công ty.

• Các phòng ban khác đều có chức năng riêng biệt nhưng có cùng mục đích là
đem lại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho toàn Công ty.
3. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm tại Công ty May Việt Tiến.
Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm tại Công ty May Việt Tiến là quy trình
công nghệ chế biến phức tạp kiểu liên tục. Trong cùng một quy trình công nghệ sử
dụng nhiều loại nguyên vật liệu khác nhau và sản xuất ra nhiều loại sản phẩm, mỗi
loại sản phẩm lại có những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật riêng và trình tự gia công cụ
thể. Song nhìn chung có thể khái quát quá trình sản xuất sản phẩm của Công ty như
sau:
Trước hết để đưa nguyên vật liệu chính vào sản xuất phải qua giác mẫu (tức là
nghiên cứu và chế thử, may mẫu cho khách hàng duyệt rồi tiến hành phác sơ đồ mẫu
lên giấy) sau đó đưa vào khâu cắt.
Công đoạn cắt: Công đoạn này do tổ cắt của các Xí nghiệp thành viên thực hiện,
nguyên vật liệu chính từ kho được đưa về các tổ cắt. Tại đây thực hiện các công việc
như trải vải, xoa phấn, cắt phá, cắt gọt, viết số và phối kiện để cuối cùng tạo ra bán
thành phẩm cắt.
Công đoạn in, thêu: Sau công đoạn cắt, công đoạn này chỉ được thực hiện theo
đơn đặt hàng của khách hàng.
Công đoạn May: Sau khi nhận bán thành phẩm từ các tổ cắt (hoặc in, thêu) các tổ
may tiếp tục gia công hoàn chỉnh sản phẩm. Kết thúc công đoạn này sản phẩm gần
như đã hoàn chỉnh và được chuyển sang các tổ là ở công đoạn sau.
Công đoạn là: Nhận được sản phẩm từ các tổ may chuyển sang và tiến hành là
phẳng. Sau đó chuyển sang công nghệ tiếp theo.
Công đoạn gấp: Nhận được sản phẩm ở các tổ là chuyển sang sau đó tiến hành
gấp và cho vào túi Nilon.
3

3
Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm:
Giác mẫu

Vải

Thành phẩm
Từ những sản phẩm hoàn thành này phòng KCS tiến hành kiểm tra chất lượng và
những sản phẩm đạt chất lượng theo đúng yêu cầu kỹ thuật thì mới được nhập kho
thành phẩm, tại kho thành phẩm đạt chất lượng này sẽ được đóng thành kiện lớn
và xuất bán.
4

Tổ in
Tổ cắt Tổ may Tổ

Tổ gấp
Tổ thêu
4
4. Tổ chức bộ máy kế toán và hình thức ghi sổ kế toán áp dụng tại Công ty
May Việt Tiến.
4.1. Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty.
Công tác tài chính kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức tập trung để
điều hành giám sát mọi hoạt động kinh doanh của Công ty.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tài chính.
Bộ máy kế toán Công ty gồm 12 người được tổ chức theo từng phần hành sau:
♦ Kế Toán Trưởng: Chịu trách nhiệm trước Tổng Giám Đốc về toàn bộ công tác
tài chính kế toán của Công ty như: Tổ chức công tác kế toán và bộ máy kế toán
gọn nhẹ, phù hợp với tính chất sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý, tổ chức
lập đầy đủ và nộp đúng hạn các báo cáo kế toán theo đúng qui định, kiểm tra,
kiểm soát việc chấp hành chế độ bảo vệ tài sản, vật tư, tiền vốn trong Công ty.
♦ Kế toán tổng hợp: Làm kế toán tài sản cố định, cân đối nguồn vốn cố định,
nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn sửa chữa lớn. Làm kế toán tổng hợp,
lập bảng cân đối kế toán, thuyết minh báo cáo tài chính, các báo cáo giải trình

khác theo yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước, ghi chép, theo dõi vốn góp liên
doanh.
♦ Kế toán vật liệu, công cụ lao động: Theo dõi hạch toán các kho nguyên vật liệu,
công cụ lao động. Phản ánh số lượng, chất lượng, giá trị vật phẩm, công cụ có
trong kho, mua vào, bán ra, xuất sử dụng. . . tính toán phân bổ chi phí nguyên
vật liệu, công cụ lao động vào chi phí sản xuất.
♦ Kế toán tiền lương và bảo hiểm xã hội: Hạch toán tiền lương, tiền thưởng,
BHXH, BHYT, kinh phí công đoàn, các khoản khấu trừ vào lương, các khoản thu
nhập khác và các khoản phải trả, phải nộp khác.
♦ Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Tập hợp chi phí sản xuất,
xác định đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành, phân bổ chi
phí và tính giá thành sản phẩm chính, phụ. Hướng dẫn các xí nghiệp thành
viên lập báo cáo kế toán theo qui định.
5

KẾ TO N TRÁ ƯỞNG
Kế toán
nguyên
vật liệu
v côngà
cụ, dụng
cụ
Thủ
quỹ
Kế toán
tổng
hợp và
t i sà ản
cố định
Kế toán

vốn
bằng
tiền,
tiền vay
Kế toán
tiêu thụ
SP nội
địa, XK
v thanhà
toán công
Kế toán
tập hợp
chi phí
v tínhà
giá
th nhà
Kế toán
tiền
lương

BHXH
5
♦ Kế toán tiêu thụ sản phẩm nội địa và sản phẩm xuất khẩu:
- Kế toán tiêu thụ hàng trong nước: Theo dõi và hạch toán kho thành phẩm nội
địa, các cửa hàng giới thiệu sản phẩm và các đại lý. Xác định kết quả lỗ, lãi của
hoạt động tiêu thụ sản phẩm nội địa và các mặt hàng khác của Công ty.
- Kế toán tiêu thụ hàng xuất khẩu và thanh toán công nợ: Theo dõi và hạch toán
kho thành phẩm xuất khẩu, tính doanh thu lỗ, lãi của phần tiêu thụ ngoài
nước. Theo dõi các khoản công nợ và nộp ngân sách nhà nước.
♦ Kế toán vốn bằng tiền, tiền vay: Quản lý và hạch toán các khoản vốn bằng tiền,

phản ánh số hiện có, tình hình tăng, giảm các quĩ tiền mặt, tiền gửi, tiền vay.
Kiểm tra tính hợp lý của chứng từ, bảo quản và lưu trữ theo qui định.
♦ Thủ quĩ: Có trách nhiệm bảo quản, giữ gìn tiền mặt, thu chi tiền.
4.2. Hình thức ghi sổ kế toán áp dụng tại Công ty.
Do đặc điểm sản xuất và kinh doanh, tổ chức bộ máy kế toán và trình độ của nhân
viên kế toán, Công ty áp dụng hình thức Nhật ký- Chứng từ.
Hệ thống tài khoản, sổ sách được thiết lập theo đúng chế độ kế toán hiện hành.
Gồm các loại sổ:
- Nhật ký chứng từ, Bảng kê, Sổ cái.
- Sổ (thẻ) kế toán chi tiết, Bảng tổng hợp chi tiết, Sổ quĩ.
Căn cứ để ghi sổ là các chứng từ gốc xác nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh như
phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, phiếu thanh toán. . .
Trình tự ghi sổ theo hình thức Nhật ký- Chứng từ:
Ghi chú: Phản ánh hàng ngày
Thực hiện cuối tháng
Kiểm tra, đối chiếu
6

Chứng từ gốc và
các bảng phân bổ
Sổ qũi
Sổ (thẻ) kế
toán chi tiết
Nhật ký chứng
từ
Bảng kê
Bảng tổng
hợp chi tiết
Sổ cái
6

Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc và các bảng phân bổ ghi vào các nhật ký
chứng từ, bảng kê hoặc sổ chi tiết, sổ quĩ.
Cuối tháng căn cứ vào số liệu tổng cộng của bảng kê, sổ chi tiết để ghi vào Nhật ký
chứng từ (đối với các Nhật ký chứng từ được ghi căn cứ vào bảng kê).
Cuối tháng khoá sổ, cộng số liệu trên các Nhật ký chứng từ và lấy số liệu đó ghi
trực tiếp vào sổ Cái.
Căn cứ vào sổ (thẻ) kế toán chi tiết lập bảng tổng hợp chi tiết theo từng tài khoản
để đối chiếu với sổ Cái. Số liệu tổng cộng ở sổ Cái và một số chỉ tiêu chi tiết trong
Nhật ký- Chứng từ, Bảng kê và các bảng tổng hợp chi tiết được dùng để lập báo cáo
tài chính.
Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh
theo hình thức kế toán nhật ký chứng từ:
II. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY MAY VIỆT TIẾN.
Tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là một trong những mục đích
phấn đấu của bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất nào, để thực hiện mục tiêu này
doanh nghiệp đã sử dụng nhiều biện pháp khác nhau. Giữ vị trí không kém phần
quan trọng trong hệ thống các biện pháp đó ta phải kể đến biện pháp quản lý của
công cụ kế toán mà cụ thể là kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm, đây là khâu trọng tâm của toàn bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp.
Nhiệm vụ chủ yếu được đặt ra cho công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm là xác định hợp lý đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với
điều kiện thực tại của doanh nghiệp và thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra.
1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất.
7

Báo biểu kế toán
Chứng từ gốc
Nhật ký chứng từ số 1,2,3,4,5. . Các bảng phân bổ số
Bảng kê số 5
(TK 641, 642)

Bảng kê số 4
(TK 621,622,627)
Bảng kê số 6
(TK 142,335)
Nhật ký chứng từ số 7
Sổ cái
7
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống
và lao động vật hoá mà thực tế doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành các hoạt động
sản xuất trong một thời kỳ nhất định được biểu hiện bằng tiền. Xác định đúng đắn
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất thực chất là xác định đúng nơi gây ra chi phí và
nơi
chịu chi phí làm cơ sở cho việc hạch toán chi phí sản xuất phục vụ yêu cầu phân tích,
kiểm tra quá trình chi phí và tính giá thành, ở Công ty May Việt Tiến, việc xác định
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất được quan tâm và coi trọng đúng mức.
Qui trình công nghệ sản xuất sản phẩm ở Công ty là qui trình công nghệ chế biến
liên tục kiểu phức tạp, liên tục bao gồm nhiều giai đoạn công nghệ cấu thành. Kết
quả sản xuất của từng giai đoạn công nghệ là bán thành phẩm, nó không được bán
ra ngoài, không đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, chỉ có sản
phẩm hoàn thành ở giai đoạn công nghệ cuối cùng mới được xác định là thành
phẩm. Mặt khác, sản phẩm do Công ty sản xuất có khối lượng lớn và được phân
thành một số loại nhất định. Xuất phát từ những đặc điểm đó, Công ty xác định đối
tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm đã hoàn thành ở giai đoạn công nghệ
cuối cùng.
Từ điều kiện cụ thể của Công ty, đồng thời phù hợp với qui trình công nghệ sản
xuất sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý, đáp ứng yêu cầu của công tác
tính giá thành. . . Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất được xác định là từng loại
sản phẩm, song có những khoản chi phí không thể phân bổ ngay cho từng loại sản
phẩm mà được tổng hợp chung. Đến khi tính giá thành, kế toán giá thành mới tiến
hành tính toán phân bổ cho từng loại sản phẩm.

Sau khi xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, để có thể đi sâu nghiên
cứu cách thức hạch toán chi phí sản xuất, cũng như công tác tính giá thành ở Công
ty chúng ta cần tìm hiểu cách phân loại chi phí sản xuất tại Công ty.
2. Phân loại chi phí sản xuất tại Công ty.
Công ty May Việt Tiến là một đơn vị thuộc ngành công nghiệp may. Các khoản
mục chi phí Công ty sử dụng được quy định thống nhất trong ngành và phù hợp
nhất với tình hình thực tế của Công ty. Cụ thể hiện nay Công ty đang sử dụng các
khoản mục chi phí sau đây:
a. Khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm chi phí về
các loại nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ dùng trực tiếp cho việc sản xuất,
chế tạo sản phẩm, cụ thể là:
♦ Chi phí nguyên vật liệu chính (NVL chính): NVL chính bao gồm những thứ
nguyên liệu, vật liệu, nửa thành phẩm mua ngoài mà khi tham gia vào quá
trình sản xuất, nó trở thành thực thể chính của sản phẩm. Trong thực tế,
nguyên vật liệu chính sử dụng vào sản xuất tại Công ty bao gồm vải các loại,
đặc điểm của NVL chính ở Công ty là rất phong phú về chủng loại, bao gồm
8

8
nhiều thứ, nhiều loại có tính năng, tác dụng khác nhau. Đặc biêt, giá trị của
bản thân NVL chính là của khách hàng, vì hình thức sản xuất kinh doanh chủ
yếu của Công ty là gia công do đó Công ty chỉ hạch toán vào khoản mục chi phí
này phần chi phí vận chuyển, bốc dỡ NVL mà Công ty thực tế chi ra.
♦ Chi phí nguyên vật liệu phụ (NVL phụ): Vật liệu phụ là những loại NVL có tác
dụng phụ trong quá trình sản xuất, bao gồm những thứ vật liệu mà khi tham
gia vào sản xuất nó kết hợp với NVL chính làm thay đổi màu sắc, hình dáng bề
ngoài của sản phẩm, góp phần làm tăng thêm chất lượng sản phẩm hoặc đảm
bảo cho hoạt động sản xuất tiến hành được thuận lợi. . .Cũng như NVL chính, NVL
phụ của Công ty bao gồm nhiều loại như: kim may, chỉ, nhãn mác, cúc . . .trong đó

phần lớn NVL phụ là do khách hàng đem đến, chỉ có một bộ phận nhỏ là do Công
ty thu mua hộ khách hàng. Chính vì thế Công ty chỉ hạch toán vào phần chi phí
này giá trị của những NVL phụ do Công ty bỏ tiền ra mua, Còn đối với NVL phụ do
khách hàng đem đến Công ty chỉ theo dõi chỉ tiêu số lượng.
b. Khoản mục chi phí nhân công trực tiếp.
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí nhân công trực tiếp gồm tiền lương chính,
tiền lương phụ và các khoản phụ cấp làm ngoài giờ, làm đêm, khoản tiền BHXH,
BHYT, kinh phí công đoàn trả thay cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm.
c. Khoản mục chi phí sản xuất chung.
Chi phí sản xuất chung là những chi phí liên quan đến phục vụ quản lý sản xuất
trong phạm vi các xí nghiệp, các phân xưởng, bộ phận, tổ đội sản xuất.
Khoản mục chi phí sản xuất chung ở Công ty May Việt Tiến bao gồm những nội
dung chi phí sau:
- Chi phí nhân viên phân xưởng
- Chi phí nguyên vật liệu
- Chi phí công cụ, dụng cụ sản xuất
- Chi phí khấu hao TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Các khoản chi phí khác bằng tiền
3. Phương pháp hạch toán các khoản mục chi phí sản xuất.
Chi phí cơ bản là những chi phí có quan hệ trực tiếp đến quy trình công nghệ sản
xuất sản phẩm, chi phí cơ bản ở Công ty May Việt Tiến bao gồm:
- Chi phí NVL trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Chi phí sản xuất chung
Ở Công ty May Viêtị Tiến, chi phí cơ bản chủ yếu được tập hợp trực tiếp vào các
đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, nghĩa là có thể căn cứ vào chứng từ gốc để
tiến hành tập hợp và phân bổ trực tiếp những chi phí đó cho từng loại sản phẩm có
liên quan. Bên cạnh đó đối với những chi phí cơ bản có liên quan đến nhiều đối
9


9
tượng hạch toán hoặc liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm và không thể
tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng hạch toán hạch toán chi phí được, Công ty đã
sử dụng phương pháp phân bổ gián tiếp theo các tiêu thức phân bổ thích hợp. Cụ
thể việc tập hợp và phân bổ các khoản chi phí cơ bản được thực hiện như sau:
a. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Tại Công ty May Việt Tiến có hai loại hình sản xuất là sản xuất gia công theo đơn
đặt hàng và sản xuất những mặt hàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường,
do đó đối với chi phí về nguyên vật liệu ở Công ty gồm hai loại.
♦ Chi phí nguyên vật liệu do khách hàng đem đến:
Loại hình sản xuất chủ yếu của Công ty là sản xuất gia công theo đơn đặt hàng.
Phần lớn NVL đều do khách hàng đem đến, Công ty có trách nhiệm tổ chức sản xuất,
gia công sản phẩm và giao nộp lại thành phẩm cho khách hàng. Do vậy, giá trị của
bản thân NVL là của khách hàng, Công ty chỉ hạch toán vào phần chi phí này chi phí
vận chuyển, bốc dỡ NVL mà Công ty đã chi ra. Chính đặc điểm này đã chi phối trực
tiếp đến công tác hạch toán của Công ty: Hàng tháng căn cứ vào các phiếu nhập kho
NVL, kế toán NVL tiến hành phân loại và tổng hợp theo từng loại NVL và ghi vào tờ
kê chi tiết nhập NVL theo chỉ tiêu số lượng, kế toán không tổ chức hạch toán trên tài
khoản.
Khi xuất dùng NVL cho sản xuất theo đơn đặt hàng, trên các phiếu xuất kho NVL
có ghi rõ số lượng, chủng loại NVL xuất dùng và địa điểm phát sinh chi phí. Căn cứ
vào các phiếu xuất kho NVL, sau khi đã kiểm tra tính hợp lệ, kế toán tiến hành phân
loại, tổng hợp và phân bổ chi phí vận chuyển, bốc dỡ cho từng loại NVL theo từng
địa điểm phát sinh chi phí.
Toàn bộ công việc tính toán, phân bổ chi phí vận chuyển, bốc dỡ NVL được thực
hiện ngoài sổ kế toán. Công thức xác định cụ thể như sau:
=
Ví dụ: theo số liệu tháng 2 năm 1999
- Tổng số chi phí cần phân bổ trong tháng cho NVL chính là: 54.822.750 đ

- Tổng khối lượng NVL chính xuất dùng trong tháng là: 365.485 m vải các loại
Vậy hệ số phân bổ cho NVL chính trong tháng là:
H = = 150.
Trong đó:
-Khối lượng vải Kaneta xuất dùng cho Xí nghiệp I là 70.289,36 m, do đó chi phí
vận chuyển bốc dỡ NVL chính cho vải Kaneta ở Xí nghiệp I trong tháng 2 là:
10

Tổng chi phí cần phân bổ trong tháng
Hệ số
phân bổ
Tổng số NVL chính (phụ) xuất dùng trong
tháng
54.822.750
365.485
10
70 70.289,36 m x 150 = 10.543.404 đ
Tương tự, chi phí vận chuyển, bốc xếp NVL phụ cũng được phân bổ như NVL
chính. Đối với NVL phụ không có chi phí vận chuyển, bốc xếp do đó không có giá trị
cho nên kế toán chỉ theo dõi về mặt số lượng.
♦ Chi phí NVL do Công ty trực tiếp mua về:
Đối với chi phí NVL do Công ty trực tiếp mua về để sản xuất những mặt hàng phục
vụ tiêu dùng trên thị trường thì được theo dõi cả về mặt số lượng và giá trị theo
từng loại NVL riêng biệt căn cứ vào các hoá đơn, chứng từ nhập, xuất NVL đồng
thời giá trị của chúng được hạch toán vào chi phí NVL.
Khi có kế hoạch sản xuất, thủ kho tiến hành xuất kho nguyên vật liệu cho từng xí
nghiệp thành viên. Phiếu xuất kho được lập thành ba liên.
- Liên 1: Lưu tại nơi lập.
- Liên 2: Thủ kho giữ để ghi vào thẻ kho sau đó chuyển cho kế toán nguyên vật
liệu để ghi vào cột đơn giá và cột thành tiền.

- Liên 3: Người nhận vật tư giữ để ghi vào sổ theo dõi tình hình cung ứng vật tư
cho sản xuất của Xí nghiệp mình.
Tại phòng kế toán của Công ty, sau khi nhận được phiếu xuất kho nguyên vật liệu
do thủ kho gửi lên, kế toán nguyên vật liệu ghi vào cột đơn giá và cột thành tiền theo
sự phân bổ chi phí vận chuyển nguyên vật liệu ở trên. Vì ở Công ty mỗi loại nguyên
vật liệu (mỗi loại vải) chỉ sản xuất một loại sản phẩm do đó kế toán tiến hành tập
hợp chi phí nguyên vật liệu theo từng loại sản phẩm, từng xí nghiệp thành viên và
phản ánh vào: “Bảng kê chi tiết xuất NVL chính theo Xí nghiệp và sản phẩm”
(Biểu số 1) và “Bảng kê chi tiết xuất NVL phụ theo Xí nghiệp và sản phẩm”
(Biểu số 2).
Trên cơ sở đó cuối tháng kế toán nguyên vật liệu tổng hợp chi phí NVL dùng vào
sản xuất kinh doanh và chi phí này được phân bổ cho từng Xí nghiệp thành viên theo
từng loại nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ. Số liệu kế toán tập hợp và phân bổ được
được phản ánh vào bảng phân bổ số 2. “Bảng phân bổ NVL, công cụ, dụng
cụ”(Biểu số 3). Số liệu trong bảng phân bổ chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ
này được kế toán đối chiếu với sổ ghi chép của từng Xí nghiệp thành viên vào cuối
mỗi tháng.
Từ Bảng phân bổ chi phí nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, tổng chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp của từng Xí nghiệp thành viên được kế toán phản ánh vào "Bảng
kê số 4" (Biểu số 17) và tổng chi phí NVL toàn Công ty được phản ánh vào phần I
của “Nhật ký chứng từ số 7” (Biểu số 18). Phần I của Nhật ký chứng từ số 7 là cơ
sở để kế toán ghi vào “Sổ cái tài khoản 621” (Biểu số 4).
Biểu số 4
11

11
Số dư đầu năm
Nợ Có
Ghi Có các TK, đối ứng Nợ TK này Tháng 1 Tháng 2 . . .
NKCT số 7 (TK 152) 2.763.562.020

Cộng sổ phát sinh Nợ 2.763.562.020
Tổng số phát sinh Có 2.763.562.020
Số dư
cuối tháng
Nợ 0
Có 0
b. Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Hiện nay các doanh nghiệp quốc doanh đã thay việc tuyển dụng vào biên chế sang
chế độ hợp đồng lao động không thời hạn, dài hạn, ngắn hạn. Nhà nước chỉ ban
hành thang mức lương cơ bản, quỹ lương của đơn vị nhiều hay ít phụ thuộc vào kết
quả sản xuất kinh doanh của từng đơn vị. Nhà nước không khống chế mức lương tối
đa mà chỉ khống chế mức lương tối thiểu và nhà nước chỉ can thiệp khi các doanh
nghiệp không đảm bảo mức lương tối thiểu của người lao động.
Hiện nay Công ty đang áp dụng hình thức trả lương cho công nhân sản xuất theo
sản phẩm nhằm nâng cao ý thức làm việc của công nhân, đẩy mạnh sản xuất.
Lương sản phẩm = Số sản phẩm hoàn thành x Đơn giá lương
sản phẩm
Đơn giá lương sản phẩm được phòng kỹ thuật tính toán, qui định cho từng loại
sản phẩm dựa trên mức tiêu hao về thời gian gia công và mức độ kỹ thuật của từng
loại sản phẩm, trong đó chia ra đơn giá lương cho từng khâu công việc. Tuỳ thuộc
vào nhu cầu lao động với từng công việc, tại các Xí nghiệp bố trí lao động một cách
hợp lý. Số lượng lao động này được chia thành các tổ sản xuất.
Ví dụ: Dựa vào mức tiêu hao về thời gian gia công và mức độ kỹ thuật của áo Sơ
mi Kaneta phòng kỹ thuật định giá cho lương gia công 1 sản phẩm là 3.800 đồng và
được chi tiết theo từng khâu công việc như sau:
- Giáp thân: 1.900 đồng/áo.
- Giáp tay: 1.000 đồng/áo.
- Vào cổ: 900 đồng/áo.
Hàng tháng, căn cứ vào kết quả lao động (bảng báo cáo kết quả lao động, phiếu
nhập khi sản phẩm) do các nhân viên tính lương của các Xí nghiệp thành viên gửi

12

SỔ C I Á
T I KHOÀ ẢN 621
12

×