Tải bản đầy đủ (.doc) (134 trang)

Ths van hoa tín ngưỡng và lễ hội chựa cổ lễ huyện trực ninh, tỉnh nam định hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (579.28 KB, 134 trang )

0

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi dân tộc, quốc gia đều có bề dày lịch sử, được gắn với những
người tài năng, những nhân vật nổi tiếng, có những đóng góp lớn lao cho
nhân dân, cho dân tộc, họ đã đi vào sử sách và trở thành huyền thoại trong
dân gian. Nước Việt Nam trong suốt mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ
nước, trải qua bao thăng trầm, dân tộc Việt vẫn đứng vững trong độc lập tự
chủ. Sự vĩ đại ấy, trước hết thuộc về toàn thể nhân dân. Sự tồn tại, phát triển
đất nước Việt Nam còn có những công lao đóng góp to lớn của các vị anh
hùng dân tộc, của nhân vật truyền thuyết với những huyền thoại được ghi
trong sử sách. Chúng ta luôn tự hào với những Thánh Gióng, Chử Đồng Tử
hay các thiều sư như Từ Đạo Hạnh, thiền sư Giác Hải, thiền sư Nguyễn Minh
Không…. Với những trang sử vẻ vang của thời đại Bà Trưng, Bà Triệu, Trần
Hưng Đạo, Quang Trung v.v… Thế hệ hôm nay, cần phải luôn ghi nhớ những
công lao đóng góp của các nhân vật huyền thoại, các vị anh hùng dân tộc và
phát huy những giá trị tinh thần ấy cho thế hệ mai sau, họ là những nhân vật
tiêu biểu của một dân tộc anh hùng.
Để làm sống lại những trang sử vẻ vang, lịch sử văn hóa hàng ngàn
năm của một dân tộc, không chỉ là khôi phục những di tích, đình chùa, miếu
mạo, đó có thể là tạo dựng hình thức để chuyển tải nội dung lịch sử, văn hóa
qua sự thể hiện thầm lặng trên khuôn mặt, hình hài của pho tượng, của kiến
trúc mái đình, mà còn cần đến sự xuất hiện trong chính cuộc sống của nhân
dân bằng ngôn ngữ của tín ngưỡng và lễ hội. Chúng ta đều nhận thấy rằng,
lịch sử đã khoác cho những huyền thoại, những truyền thuyết những lớp lang
mới, thêm nhiều điều kỳ ẩn thiêng liêng, song không làm lu mờ sự chân thực
cuộc sống. Các nhân vật, các sự kiện lịch sử còn được tô đậm thêm những nét
son vàng trong các hoạt động tín ngưỡng và lễ hội, đó là một bằng chứng sinh
động cho chân lý ở thời nào, dân tộc nào cũng có những người con ưu tú đáng



1

được tôn thờ, ca tụng.
Lễ hội, một hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần biểu hiện những giá
trị tiêu biểu của một cộng đồng, một dân tộc. Lễ hội là sự kết tinh từ sản phẩm
văn hóa truyền thống của dân tộc, được tổ chức gắn liền với tín ngưỡng, tôn
giáo, tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán, hay về sự tích các anh hùng,
nó có vai trò và vị trí cực kỳ quan trọng trong đời sống văn hóa xã hội, đã đi
vào tiềm thức của người dân Việt như một thứ nhu cầu thiết yếu của đời sống
xã hội.
Tín ngưỡng, tôn giáo từ xa xưa tới nay vẫn được coi là địa hạt hấp dẫn
nhân loại. Sự bí ẩn, sự hư huyễn dường như là mục tiêu để mỗi chúng ta
nghiên cứu, tìm tòi và khám phá. Đó chính là sự khám phá cái bên trong của
chính mỗi chúng ta, tức là cái tự thân của nhân loại.
Có thể nói tín ngưỡng và lễ hội là sản phẩm của chính hoạt động của
con người, phản ánh một bình diện đời sống tinh thần của nhân loại. Phát sinh
và tồn tại từ buổi bình minh của nhân loại và là kết tinh văn hóa tinh thần đặc
biệt. Tín ngưỡng và lễ hội là một trong những hiện tượng sinh hoạt văn hóa cổ
truyền tiêu biểu của nhiều tộc người ở nước ta cũng như trên thế giới. Nó là
“tấm gương” phản chiếu khá trung thực đời sống văn hóa của mỗi dân tộc.
Việt Nam là một quốc gia đa văn hóa. Các hình thức tín ngưỡng, lễ
hội ở Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng, trong đó có các hình thức tín
ngưỡng phổ biến như: Thờ cúng tổ tiên, thờ thần, thờ mẫu, thờ các vị anh
hùng dân tộc, thờ những người có công với dân với nước, thờ ông tổ
nghề…… Những hình thức tín ngưỡng và lễ hội có lịch sử từ lâu đời, tồn tại
cùng với quá trình lịch sử dụng nước và giữ nước của cha ông ta.
Nam Định là một trong những cái nôi văn hóa tín ngưỡng dân gian và
những lễ hội của vùng Đồng bằng Sông Hồng, nơi đây có nhiều đình, chùa,
đền, miếu làng với nhiều hoạt động tín ngưỡng, lễ hội có sức ảnh hưởng và lôi



2

cuốn rộng rãi trong tỉnh và khu vực. Nơi đây vẫn còn lưu giữ được những di
sản văn hóa vô cùng phong phú và đặc sắc, trong hệ thống các di tích lịch sử văn hóa. Một trong di sản văn hóa đó chính là những sinh hoạt tín ngưỡng và
lễ hội chùa Cổ Lễ, được diễn ra từ ngày 13-16 tháng 9 âm lịch hàng năm.
Thời gian và nội dung diễn ra lễ hội là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong
đời sống tâm linh của người dân địa phương.
Quá trình đổi mới xây dựng và phát triển đất nước những năm gần đây
đã khiến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội nước ta có những tiến bộ rõ rệt. Đời
sống kinh tế ngày càng được nâng cao, kéo theo đó là nhu cầu hưởng thụ các
giá trị văn hóa tinh thần ngày càng lớn. Hàng năm, trên phạm vi cả nước có
hơn 8600 lễ hội được tổ chức, gắn với các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau đã
cho thấy những đổi mới căn bản trong nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của
nhân dân. Thực tế cho thấy, sự phát triển của các lễ hội thời gian gần đây đã
có tác động nhiều chiều đến đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân. Một mặt
đã đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế, du lịch và làm gia tăng sự cố kết
cộng đồng, đó cũng là nhu cầu to lớn của nhân dân với các giá trị văn hóa
truyền thống của dân tộc; mặt khác cũng có những hạn chế nhất định, làm ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động tín ngưỡng, lễ hội như nạn cờ bạc, lợi dụng
lòng tin để hành nghề mê tín dị đoan, đốt vàng mã gây lãng phí, nạn trộm
cắp....
Để nhận thức một cách đúng đắn về tín ngưỡng, lễ hội nói chung và
tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ nói riêng cần có sự nghiên cứu công phu,
mang tính khách quan và khoa học, từ đó tìm ra những giá trị văn hóa cần
được gìn giữ và phát huy là vấn đề mang ý nghĩa quan trọng, góp phần lành
mạnh hóa những sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội, hướng các hoạt động tín
ngưỡng vào những giá trị đạo đức truyền thống cao đẹp của dân tộc, để xây
dựng đất nước Việt Nam phát triền bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện

nay.


3

Xuất phát từ thực tiễn đó, để nghiên cứu một mô hình cụ thể về tín
ngưỡng, lễ hội ở chùa Cổ Lễ (Trực Ninh, Nam Định), góp thêm một cách
nhìn, một cách tiếp cận dưới góc độ văn hóa nhằm định hướng cho những
hoạt động tín ngưỡng, lễ hội đi đúng hướng: Vừa bảo tồn được bản sắc văn
hóa dân tộc, vừa phát huy và hội nhập văn hóa thế giới, tác giả chọn đề tài:
“Tín ngưỡng và lễ hội chựa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định hiện
nay” làm nội dung nghiên cho luận văn thạc sỹ chuyên ngành văn hóa học
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội ở Việt Nam rất phong phú
và đa dạng, nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội. Trong
những năm vừa qua các công trình nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng và lễ
hội được quan tâm nhiều hơn những năm trước đổi mới. Trên nhiều bình diện
khác nhau như tôn giáo học, khoa học xã hội, văn hóa dân gian, dân tộc học,
chính trị học, quản lý nhà nước... vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội được
đề cập ở những mức độ khác nhau. Được thể hiện ở một số công trình sau:
2.1. Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội – tôn giáo, tín ngưỡng
- Lễ hội cổ truyền của Viện Văn hóa Dân gian, Nhà xuất bản (Nxb)
Khoa học Xã hội (1992). Công trình đề cập đến các vấn đề lễ hội đời sống
tinh thần, môi trường tự nhiên xã hội liên quan đến hình thành lễ hội, lịch sử
lễ hội, cơ cấu, phân loại, các biểu hiện và giá trị của hội làng của người Việt
đồng bằng Bắc Bộ.
- 60 lễ hội truyền thống ở Việt Nam. Nxb KHXH (1992). Đề cập đến
60 lễ hội truyền thống ở Việt Nam trong đó có đề cập đến lễ hội chùa Keo ở
tỉnh Thái Bình và Nam Định.

- Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian Việt Nam của PGS.TS.
Nguyễn Đức Lữ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội 2005. Trong đó đề cập đến các tín


4

ngng dõn gian nh tớn ngng th Mu Vit Nam, tớn ngng th thn
thnh hong, tớn ngng phn thc...
- Vn húa tớn ngng ca mt s dõn tc trờn t Vit Nam ca tỏc gi
Nguyn Mnh Cng, Nxb Vn húa thụng tin v Vin vn húa.
- Cụng trỡnh gn õy ca GS.TS. Ngụ c Thnh V tớn ngng l
hi c truyn" Nxb Vn húa - Thụng tin, H Ni 2007, l nhng chuyờn lun
cp n cỏc vn Tớn ngng dõn gian ca ngi Vit, cỏc dõn tc
thiu s vi a sc din cỏc vựng ca t nc; cp n o mu v
Lờn ng ca ngi Vit, Ty, Chm; cp n L hi c truyn vi mụi
trng t nhiờn, xó hi, vn húa, n vai trũ ca tớn ngng, mụi trng ny
sinh, tớch hp bo tn sinh hot vn húa-ngh thut dõn gian...
2.2. Nhóm công trình nghiên cứu về lễ hội - văn
hoá, lịch sử
- Văn hóa - lễ hội của các dân tộc ở Đông Nam á, Nxb Vn
húa Dõn tc, H Ni (1992) ca tp th cỏc gi do GS. Phan Hu Dt ch
biờn cp n l hi cỏc dõn tc Vit Nam, Lo, Campuchia, Thỏi Lan,
Min in, Inụnờxia, Philippin, Singapor, Malayxia.
- L hi v danh nhõn lch s Vit Nam ca H Tin Hựng, Nxb Vn
hoỏ Thụng tin (1997).
- L hi mt nột p trong sinh hot vn hoỏ cng ng ca H Hong
Hoa, Nxb KHXH (1998).
- Kho sỏt thc trng vn hoỏ l hi ca Nguyn Quang Lờ. H.2001.
- Mi quan h gia truyn thuyt ngi Vit v cỏc l hi v anh hựng
ca Lờ Vn K, Nxb Khoa hc xó hi.

- L hi c truyn Nam nh ca H c Th, Nxb Khoa hc xó
hi, H Ni 2003. Cụng trỡnh cp n quỏ trỡnh hỡnh thnh v phỏt trin l


5

hội ở Nam Định, nhấn mạnh nội dung của 40 hội làng điển hình trong đó có lễ
hội chùa Cổ Lễ và lịch lễ hội cổ truyền ở Nam Định hàng năm.
- Lược sử chùa Cổ Lễ và Lịch sử Phật giáo huyện Trực Ninh của
Đồng Ngọc Hoa, Nguyên sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Hội viên Hội
VHNT. Trong đó đề cập đến sự hình thành chùa Cổ lễ và kiến trúc của Chùa.
2.3. Một số luận văn liên quan đến đề tài nghiên cứu.
- Luận văn thạc sỹ của Lee Bo Yong (2001), với đề tài, Một số hình
thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian của người Việt ở làng Triều Khúc
- Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Dậu năm (2003), với đề tài: Lễ hội
truyền thống Đình Bảng Bắc Ninh.
- Luận văn tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thế Anh (1998), với đề tài:
Lễ hội chùa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Khóa luận tốt nghiệp đại học của Nguyễn Thị Thanh Tú, với đề tài
Lễ hội chùa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Trên đây chỉ là một số tác phẩm cơ bản của các nhà nghiên cứu trong
nước những năm gần đây về tín ngưỡng và lễ hội cổ truyền, tác giả luận văn
chưa có điều kiện liệt kê tất cả những danh mục viết về tín ngưỡng, lễ hội
hiện đang có ở nhiều tác phẩm và bài viết khác. Mặt khác, tác giả luận văn
cũng chưa có cơ hội được đọc hết các luận văn nghiên cứu về tín ngưỡng dân
gian và lễ hội cổ truyền của các tác giả Việt Nam dưới nhiều góc độ khác
nhau.
Tác giả luận văn đã tiếp thu, kế thừa thành quả của các công trình
nghiên cứu của các nhà khoa học, các tác giả đi trước, kết hợp với những kiến
thức do chính bản thân sưu tầm, tích luỹ chọn lọc trong quá trình học tập,

công tác và khảo sát thực tế về lễ hội chùa Cổ Lễ nghiên cứu và làm sáng tỏ
thêm về tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định
hiện nay.


6

3. Mc tiờu nghiờn cu
3.1. Tỡm hiu lch s hỡnh thnh, tớn ngng v l hi chựa C L.
3.2. Kho sỏt tớn ngng, l hi chựa C L hin nay.
3.3. Tỡm hiu nhng giỏ tr ca tớn ngng, l hi chựa C L bo
tn v phỏt huy.
4. i tng v phm vi nghiờn cu ca lun vn
* i tng nghiờn cu:
Lun vn ly sinh hot tớn ngng v l hi chựa C L huyn Trc
Ninh, tnh Nam nh l i tng nghiờn cu. Trong ú tp trung lm rừ ý
ngha ca sinh hot tớn ngng, l hi i vi i sng tinh thn ca nhõn dõn
trong vựng.
* Phm v nghiờn cu:
- Về thời gian: Luận văn tiếp cận nghiên cứu sinh hot tớn
ngng v l hi chựa C L t nm 1992 n nay (mc thi gian 20 nm),
trờn c s ú tỡm ra nhng giỏ tr vn húa truyn thng nhm bo tn v phỏt
huy trong bi cnh ton cu húa hin nay.
- Về không gian: Luận văn lấy ton cnh chựa C L huyn
Trc Ninh, tnh Nam nh để khảo sát, nghiên cứu v tớn ngng v l
hi.
5. C s lý lun v phng phỏp nghiờn cu ca lun vn
5.1. Nghiờn cu v s dng cỏc ngun s liu
5.2. Kho sỏt thc a, tỡm gp nhng ngi cao tui, cỏn b a
phng v s tr trỡ phng vn.

5.3. Quan sỏt mụ t v tham d l hi nhm thu thp ti liu xõy
dng lun vn.


7

6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
6.1. Xác định lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của chùa Cổ Lễ.
6.2. Luận văn có thể được xem như một công trình khoa học nghiên
cứu có hệ thống về tín ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ dưới góc độ văn hoá học
và văn hoá dân gian; cung cấp cho người đọc một hệ thống tư liệu phong phú,
những giá trị đích thực về tín ngưỡng và lễ hội ở một địa phương cụ thể.
6.3 Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn và phát huy giá
trị văn hoá của lễ hội, luận văn sẽ góp phần xây dựng những định hướng cho
công tác chỉ đạo, quản lý lễ hội chùa Cổ Lễ nói riêng và trên phạm vi toàn
tỉnh; đồng thời đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy giá
trị văn hoá của lễ hội chùa Cổ Lễ trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần đầu, kết luận, phụ lục và danh muc tài liệu tham khảo,
luận văn được chia thành 3 chương và 10 tiết:
Chương 1: Một số vấn đề chung về tín ngưỡng và lễ hội
Chương 2: Thực trạng và những giá trị văn hóa trong tín ngưỡng,
lễ hội chùa Cổ Lễ hiện nay
Chương 3: Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa trong tín
ngưỡng và lễ hội chùa Cổ Lễ


8


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI
1.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CHUNG VỀ TÍN NGƯỠNG

1.1.1. Nguồn gốc, khái niệm tín ngưỡng.
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải
thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Tín
ngưỡng đôi khi được hiểu là tôn giáo. Song tín ngưỡng mang tính dân tộc,
dân gian nhiều hơn tôn giáo, tín ngưỡng có tổ chức không chặt chẽ như tôn
giáo. Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân
tộc hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung, còn tôn giáo thì thường là
không mang tính dân gian. Tín ngưỡng không có một hệ thống điều hành và
tổ chức như tôn giáo, nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc. Tín ngưỡng
nếu phát triển đến một mức độ nào đó thì có thể thành tôn giáo
Để tìm hiều về tín ngưỡng của mỗi dân tộc, mỗi tộc người hay
một tín ngưỡng, lễ hội nào đó, chúng ta cần hiểu một cách khái quát những
quan niệm chung, đó là cơ sở, phương pháp luận cho vấn đề phức tạp và nhạy
cảm này.
Khi nói đến thuËt ng÷ tÝn ngìng là nói đến: TÝn ngìng d©n
gian vµ tÝn ngìng t«n gi¸o.
- Tín ngưỡng dân gian
Tín ngưỡng dân gian là phản ánh những ước nguyện tâm linh của con
người và cả cộng động, là niềm tin vào thần linh thông qua những nghi lễ, gắn
liền với phong tục tập quán, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia.
Tín ngưỡng dân gian là một loại hình sinh hoạt tinh thần đã ra đời và
phát triển rộng khắp trong các cộng đồng dân cư. Ngay từ khi xã hội loài
người xuất hiện thì tín ngưỡng dân gian đã bắt đầu phôi thai.


9


Theo GS,TS. Phm Ngc Quang: Tớn ngng dõn gian cng cú th v
cn c xem l mt yu t, mt b phn vn húa dõn gian. T quan nim ú,
nu vn húa dõn gian (folklore) c hiu l loi hỡnh vn húa ra i nh s
sỏng to ca chớnh nhõn dõn, thỡ tớn ngng dõn gian cng cú th xem l loi
hỡnh tớn ngng tụn giỏo do chớnh nhõn dõn - trc ht l nhng ngi lao
ng - sỏng to ra trờn c s nhng tri thc phn ỏnh sai lc di dng kinh
nghim cm tớnh t cuc sng thng nht ca bn thõn mỡnh [37, tr. 8].
Việt Nam từ trớc đến nay, vấn đề tín ngỡng cũng có nhiều
quan điểm khác nhau.
Theo GS. ng Nghiờm Vn, vi quan im l: Thut ng tớn ngng
cú th cú hai ngha. Khi núi n t do tớn ngng, ngi ngoi quc cú th
hiu ú l nim tin núi chung (belief, lelieve, croyance) hay nim tin tụn giỏo
(belief, believe, croyance riligieuse). Nu hiu tớn ngng l nim tin thỡ cú
mt phn ngoi tụn giỏo, nu hiu l nim tin tụn giỏo (belief, believer theo
ngha hp croyance riligieuse) thỡ tớn ngng ch l mt b phn ch yu nht
cu thnh ca tụn giỏo [62,tr76].
Các học giả nh Toan ánh, Phan Kế Bính... Xem tín ngỡng
là tín ngỡng dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua
lễ hội, tập quán, phong tục truyền thống của dân tộc Việt
Nam. Có ý kiến khác thì cho rằng nội hàm cơ bản của tín
ngỡng là Lòng tin, sự ngỡng vọng của con ngời vào một lực lợng siêu nhiên nào đó - một lực lợng siêu thực, h ảo, vô hình
[37, tr.6].
Nguyễn Chính cho tín ngỡng là tâm linh, vì tín ngỡng
và tâm linh là hạt nhân của tín ngỡng tôn giáo. Đây là niềm
tin, sự trông cậy và yêu quý một thế lực siêu nhiên mà với tri
thức con ngời và kinh nghiệm cha đủ để giải thích và lý giải
đợc.



10

Có một quan điểm khác cho rằng: tín ngỡng nếu hiểu
theo nguyên nghĩa dịch từ chữ Croyance của tiếng Pháp,
thì chỉ có nghĩa là sự tin vào một điều gì đó, và thông
thờng hay đợc dùng để chỉ một niềm tin tôn giáo (Croyance
religieuse) [46, tr.50],

tín ngỡng, nếu xét về mặt ngữ

nghĩa, chỉ là một niềm tin tôn giáo; còn những dạng thức
sinh hoạt tâm linh mà chúng ta thờng gọi là tín ngỡng, tức
là những dạng thức tôn giáo cha đạt tới cấp độ của một tôn
giáo hiểu theo nghĩa cấu thành của nó thì các nhà tôn giáo
học thờng dùng với thuật ngữ là sự thờ cúng hay sự thờ
phụng, dịch từ chữ Cultre của tiếng Pháp hay chữ Whorship
của tiếng Anh.
Trong Hán-Việt từ điển, Đào Duy Anh đã giải nghĩa:
Tín ngỡng là lòng ngỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hay
một chủ nghĩa. Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng: tín
ngỡng đồng nghĩa với tâm linh (niềm tin thiêng liêng) cũng
có nghĩa tâm linh không phải là tôn giáo, tâm linh chỉ là
khả năng dẫn tới tôn giáo [55, tr.97].
Trong cuc sng ca mỡnh, con ngi thi k u cha th hiu
c cỏc hin tng t nhiờn, khụng bit c qui lut vn ng v bin i
ca t nhiờn nờn h ó cho tt c cỏc hin tng y u do thn linh to ra.
Cho nờn h ó th cỳng thn linh, cu mong s che ch ca thn linh.
Hn na, s bt cụng, bt bỡnh ng trong i sng xó hi ó khin
nhiu ngi phi chu cnh khn cựng, kh au, lo õu v s st. Trc tỡnh
cnh y, h khụng cũn cỏch no khỏc l cu xin s ban n, cu ri v s che

ch ca cỏc lc lng siờu nhiờn, ca thn linh, Thng . Chớnh vỡ th m
tớn ngng dõn gian ó thnh hỡnh.
Nh vy, tớn ngng dõn gian l lũng ngng m, tin tng ca con


11

người đối với các lực lượng siêu nhiên nào đấy. Người ta tin rằng, các lực
lượng siêu nhiên này có năng lực ban ơn, giáng họa, có khả năng che chở cho
con người. Đối tượng sùng bái trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam càng
ngày càng nhiều. Ở thời kỳ đầu, người dân thờ thần núi, thần sông, thần mặt
trời, thần sấm sét, thần cây cỏ,… sau đó thờ thêm thành hoàng, thổ công, các
vị anh hùng dân tộc, tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Đến khi các tôn giáo du nhập vào
Việt Nam thì các vị giáo chủ của các tôn giáo ấy cũng được xem là thần thánh
nên người dân cũng sùng bái. Tín ngưỡng dân gian được xem là đa thần giáo.
- Tín ngưỡng, tôn giáo
Khi nói đến khái niệm “tôn giáo” và “tín ngưỡng”, tôn giáo tín
ngưỡng hay tín ngưỡng tôn giáo đã có nhiều học giả đưa ra những quan niệm
về cách gọi này. Có ý kiến cho rằng, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và
tín ngưỡng, song cũng có quan điểm khác là thống nhất tôn giáo tín ngưỡng.
Trên thực tế tùy theo từng góc độ tiếp cận và quan điểm nhìn nhận mà mỗi
học giả có cách sử dụng của mình. Tín ngưỡng là niềm tin của con người vào
những điều thiêng liêng, huyền bí vượt khỏi thế giới tự nhiên. Còn tôn giáo là
tín ngưỡng của những người cùng chung một tổ chức có hệ thống giáo lý,
giáo luật và nghi lễ. Tín ngưỡng, tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan
hệ chặt chẽ mà ranh giới để phân biệt giữa chúng chỉ là tương đối.
Trong khuôn khổ luận văn, không đi sâu nghiên cứu các quan niệm ấy,
cho nên tác giả xin được dùng thuật ngữ tín ngưỡng tôn giáo được sử dụng
như một công cụ làm việc, mang tính chất quy ước cho công trình.
Theo đó, tín ngưỡng tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo

những nguyên tắc thực hành tôn giáo nhất định, đó là niềm tin và sự sùng bái
thần thánh hay các quyền lực vô biên, siêu nhiên, vào cuộc sống sau khi
chết..., tóm lại, là những phát biểu mà vì đó các thành viên của một tôn giáo
nào đó gắn bó vào đó. Tín ngưỡng thường phát sinh khi một lãnh tụ tinh thần
khẳng định một số hiểu biết đặc biệt về chân lý thần thánh và tổ chức tín đồ


12

của mình.
Cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của con người vào
thực thể, lực lượng siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, sự ngưỡng vọng
vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan
sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây là niềm tin tôn giáo, tín
ngưỡng, tức là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng
thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng với loài người, nó
là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, tồn tại bên cạnh
đời sống vật chất, đời sống xã hội, tinh thần - tư tưởng, đời sống tình cảm...
Song, niềm tin vào “cái thiêng” cũng còn theo hoàn cảnh và trình độ
phát triển kinh tế xã hội của mỗi dân tộc, mỗi địa phương, mỗi quốc gia mà
thể hiện ra dưới các hình thức tín ngưỡng tôn giáo khác nhau.
Từ niềm tin vào lực lượng siêu nhiên, mà những cái đó được biểu
trưng bằng các thần linh dưới nhiều dạng vẻ khác nhau, con người “tìm cách”
thông quan với các thần linh bằng vô vàn cách thức, như thông qua các lời
khấn, các phép thuật, bằng các vật dâng cúng, bằng âm thanh, vũ đạo, thông
qua những con người có năng lực “siêu phàm”... để cầu mong thần linh phù
trợ, độ trì. Đó chính là các hành vi thực hành tín ngưỡng tôn giáo. Các hành vi
nhằm thông quan với thần linh cũng được biểu hiện bằng vô vàn cách thức,
mà những cái đó phụ thuộc vào các hình thức tôn giáo tín ngưỡng, vào truyền
thống văn hoá của mỗi tộc người và địa phương, phụ thuộc vào trình độ phát

triển xã hội của mỗi dân tộc, quốc gia.
Từ niềm tin và hành vi thực hành tín ngưỡng ấy, dần hình thành ở con
người những tình cảm tôn giáo tín ngưỡng. Trong xã hội hiện đại, có thể niềm
tin vào cái siêu nhiên, tức vào thần linh có thể thay đổi, nhưng các hành vi và
tình cảm tín ngưỡng vẫn tồn tại lâu bền, như một thói quen, một quán tính của
con người.


13

Nh vy, tớn ngng tụn giỏo vi t cỏch l cỏc hỡnh thỏi ý thc c
th, nh Kitụ giỏo, Pht giỏo, o giỏo, o T tiờn,...cú th thay i, mt i,
nhng nim tin vo cỏi siờu nhiờn, nim tin tớn ngng thỡ khụng mt i, nú
vn l mt trong nhng nhõn t mang tớnh bn cht ngi.
Chủ nghĩa Mác- Lênin coi tín ngỡng tôn giáo là một loại
hình thái ý thức xã hội phản ánh một cách hoang đờng, h ảo
hiện thực khách quan. Điều này đã đợc Ph.Ăngghen khẳng
định: Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh h
ảo vào trong đầu óc của con ngời [68, tr.437] .
Chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng: Tín ngỡng
tôn giáo là một sức mạnh thần bí, thuộc lĩnh vực "tinh thần"
tồn tại vĩnh hằng, là cái chủ yếu đem lại sinh khí, sức mạnh
cho con ngời.
GS,TS. Ngụ c Thnh, quan nim tớn ngng tụn giỏo:
ú l mt b phn ca i sng vn hoỏ tinh thn con ngi m ú
con ngi cm nhn c s tn ti ca cỏc vt th, lc lng siờu nhiờn, m
nhng cỏi ú chi phi, khng ch con ngi, nú nm ngoi gii hn hiu bit
ca con ngi hin ti; s tn ti ca cỏc phng tin biu trng giỳp con
ngi thụng quan vi cỏc thc th, cỏc sc mnh siờu nhiờn ú; ú l cht
kt dớnh, tp hp con ngi thnh mt cng ng nht nh v phõn nh vi

cng ng khỏc. Tt c nhng nin tin, thc hnh v tỡnh cm tụn giỏo tớn
ngng trờn u sn sinh v tn ti trong mt mụi trng t nhiờn, xó hi v
vn hoỏ m con ngi ang sng, theo cỏch suy ngh v cm nhn ca nn
vn hoỏ ang chi phi h.[53,tr.14].
Cho n nay, ó cú rt nhiu nhng cụng trỡnh nghiờn cu v tớn
ngng tụn giỏo v tớn ngng dõn gian nhiu khớa cnh khỏc nhau, ó a
ra nhiu nhng quan nim v thut ng ny. Tuy nhiờn, õy tỏc gi s dng


14

khỏi nim tớn ngng vi t cỏch nh mt hỡnh thc th hin nim tin vo cỏi
thiờng ca con ngi, ca mt cng ng ngi mt trỡnh phỏt trin xó
hi c th, nhm ỏp ng quỏ trỡnh nghiờn cu ca lun vn.
Tớn ngng l hỡnh thc sinh hot tõm linh, ó xut hin t xó xa
trong lch s loi ngi, nú l sn phn ca chớnh hot ng ca con ngi,
phn ỏnh mt bỡnh din ca i sng tinh thn ca nhõn loi. Chớnh s bớ n,
s h huyn ó tr thnh mc tiờu con ngi nghiờn cu v khỏm phỏ, ú
l khỏm phỏ cỏi bờn trong ca con ngi, cỏi t thõn ca nhõn loi, cng nh
con ngi lao vo khỏm phỏ mt a ht nhõn khỏc ú l cỏi bờn ngoi ca
chớnh mỡnh, tc l gii t nhiờn.
Ngay t bui bỡnh minh ca nhõn loi, con ngi ó chu nh hng
ca quan nim v tr lun nguyờn s õm - dng tng khc tng sinh, s
giao ho y bớ n gia õm dng l ngun gc sn sinh ra con ngi v vn
vt ca v tr. Hn th na, trong iu kin xó hi c xa cũn lc hu, vi s
trc tr v khc nghit ca thiờn nhiờn, lt bóo, hn hỏn, thiờn tai, con ngi
nh bt lc v hng s tr giỳp vo thn linh, vo ng siờu nhiờn v tin
rng ú s em li s tt p cho s sng ca loi ngi.
Nh vy, sinh lot tớn ngng, l nghi ra i cu mong cho mựa
mng tt ti v no m ca nhõn loi. ỳng nh quan nim ca X. A.

Tụcarộp khi ụng bn ti ngun gc ca l nghi nụng nghip: "Ngun gc ny
chớnh l s bt lc ca con ngi trng trt. Cõy trng khụng phi bao gi
cng c mựa, m mựa mng b ph thuc vo nhng iu kin m con
ngi vin n s phự tr, giỳp vic trng cy, t ú cỏc nghi l ma thut
ra i" [69, tr. 423].
Chỳng ta cú th hiu, tín ngỡng là một hình thái ý thức xã
hội, là một nhu cầu của xã hội và một khi những nhu cầu ấy
cha đợc những hình thái của ý thức xã hội hoàn toàn thỏa
mãn thì đối với một số tầng lớp xã hội, tôn giáo- tín ngỡng vẫn


15

là nguồn gốc của giá trị, niềm an ủi, sự nâng đỡ về tâm lý.
[57, tr.12].
Trong Pháp lệnh tín ngỡng, tôn giáo. Chơng I, điều 3 có
ghi: Hoạt động tín ngỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ
tiên; tởng niệm và tôn vinh những ngời có công với nớc, với
cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tợng có tính truyền
thống và các hoạt động tín ngỡng dân gian khác tiêu biểu
cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã
hội [1, tr.10].
Vy, cú th hiu tớn ngng nh sau: Tớn ngng l mt b phn ca
ý thc xó hi, l mt yu t thuc lnh vc i sng tinh thn, l h qu ca
cỏc quan h xó hi, c hỡnh thnh bi quỏ trỡnh lch s - vn húa, l s
biu hin nim tin di dng tõm lý xó hi vo cỏi thiờng liờng thụng qua h
thng l nghi th cỳng ca con ngi v cng ng ngi trong xó hi.
S ra i v trong quỏ trỡnh tn ti, tớn ngng nh hng sõu sc n
i sng chớnh tr, vn húa, xó hi, n tõm lý, o c li sng, phong tc
tp quỏn ca nhiu dõn tc, nhiu quc gia. Bn thõn tớn ngng cng cha

ng ni dung v lch s, t tng, trit hc, o c, vn húa, chớnh tr..
Nú ó tr thnh nhu cu nhm tha món i sng tinh thn ca con ngi, ca
xó hi v l ngun gc ca giỏ tr o c, nim tin, s nõng v tinh
thn
1.1.2. c im tớn ngng
Tớn ngng cú th hiu mt cỏch nụm na l nim tin, s ngng
m i vi mt i tng siờu nhiờn no ú cú nh hng, chi phi n i
sng sinh hot ca con ngi.
Cú th hiu, tớn ngng l mt sn phm vn hoỏ do con ngi quan
h vi t nhiờn, xó hi v chớnh bn thõn m hỡnh thnh. Tớn ngng l nim


16

tin về những điều linh thiêng, những sức mạnh huyền bí, vĩ đại mà con người
chỉ cảm nhận được mà khó có thể nhận thức được.
Tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải
thích thế giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng. Điểm khác
biệt của tín ngưỡng chính là ở chỗ, tín ngưỡng mang tính dân tộc, dân gian.
Khi nói đến tín ngưỡng người ta thường nói đến tín ngưỡng của một dân tộc
hay một số dân tộc có một số đặc điểm chung mang tính dân gian. Tín
ngưỡng không có một hệ thống điều hành và tổ chức, nó xuất phát chính bằng
niềm tin và sự ngưỡng vọng của con người thuộc bản chất người, nó ra đời và
tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ bản tạo
nên đời sống tâm linh, đời sống tinh thần của con người, cũng giống như đời
sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm… Có thể
nói, nó là nhân tố tạo nên văn hóa dân gian, nền văn hóa dân tộc.
Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân
tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình
thức tín ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa,

Đức Mẹ Đồng Trinh của Kito giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo,
niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngưỡng Thành Hoàng, Đạo thờ Mẫu... Các
hình thức tín ngưỡng này dù phạm vi ảnh hưởng rộng, hẹp khác nhau, dù phổ
quát toàn thế giới hay là đặc thù của mỗi dân tộc... thì cũng đều là một sự biểu
hiện niềm tin vào cái thiêng của con người.
Đặc tính của tín ngưỡng là hệ thống giáo lý hầu như chưa được hình
thành, mà chỉ là các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết. Tín ngưỡng mang
tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian. Trong tín ngưỡng có
sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người. Nơi thờ cúng và nghi lễ còn
phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ...
Một đặc tính khác nữa là tín ngưỡng có nhiều bộ phận, nhiều thành tố
làm nên văn hóa dân gian, các bộ phận này có mối quan hệ qua lại với nhau.


17

Tín ngưỡng, tín ngưỡng dân gian được coi là chỗ dựa tâm linh cho sự sáng tạo
nghệ thuật, hơn thế, tín ngưỡng còn được nghệ thuật hóa để trở thành những
biểu tượng nghệ thuật mang ý nghĩa kép, ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa nhân
văn.
Như đã nói ở trên, từ tâm thức sùng bái, tin tưởng vào cái thiêng,
trong các cộng đồng hình thành các phong tục tập quán và nghi lễ thờ cúng tự
nhiên, thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu và nghi lễ phồn thực….. Đó là những nghi lễ
và phong tục rất quen thuộc đối với người Việt khắp nơi trong cả nước. Mỗi
loại tín ngưỡng này đều có nguồn gốc sâu xa từ quan hệ giữa con người với
các đối tượng siêu nhiên kia. Chẳng hạn, tại sao con người lại sùng bái tự
nhiên? Là bởi trong sinh hoạt và lao động, hằng ngày hằng giờ tự nhiên gắn
bó mật thiết và chi phối sự thành bại, tốt xấu, hay dở trong hoạt động của con
người. Khi khoa học chưa phát triển, con người lý giải các hiện tượng đó bằng
cách thần bí hóa, thần thánh hóa tự nhiên. Từ đó, tự nhiên trở thành biểu

tượng trong tín ngưỡng thờ cúng, trong văn hóa mỗi dân tộc, trong văn học
nghệ thuật qua nhiều thời đại. Đó cũng là con đường chung để các tín ngưỡng
thẩm thấu vào văn hóa, vào các sinh hoạt cộng đồng dân tộc.
Tín ngưỡng dân gian Việt Nam chủ yếu dựa trên lòng biết ơn và
ngưỡng mộ của các thế hệ sau đối với tiền thần, tiền nhân. Tín ngưỡng dân
gian khá phong phú, nó là tâm thức tôn sùng các lực lượng siêu nhiên như: sự
tôn sùng tự nhiên (mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, gió, sấm, chớp…), các loại
cây trồng (bầu bí, lúa, ngô, đậu…), vật nuôi (trâu, bò, lợn…); tôn sùng vật tổ
(vật tổ chim, cá, cây, trâu…), tôn sùng tổ tiên (quốc tổ, thành hoàng, tổ tiên,
ông bà); tôn sùng sự sinh sản: sinh thực khí và các hoạt động tính giao; tôn
sùng Mẫu: các nữ thần, tứ mẫu (thiên phủ, địa phủ, nhạc phủ (thượng ngàn),
thủy phủ (mẫu thoải), Bà chúa xứ và Thiên Yana và tôn sùng các anh hùng
dân tộc, anh hùng địa phương, người có công lớn với dân với nước: Thánh
Gióng, Đức thánh Trần, Tản Viên Sơn Thánh, Lý Ông Trọng, Bà Trưng,…


18

Việt Nam nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, thiên nhiên
tương đối phong phú, đa dạng. Việc sản xuất của người Việt chủ yếu dựa vào
tự nhiên, vì vậy, việc thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần) đã sớm gần
gũi với họ. Hơn nữa, Việt Nam lại là nơi giao lưu của nhiều tộc người, của
nhiều luồng văn minh, hai yếu tố đó làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia
đa tôn giáo, tín ngưỡng. Tính đa thần ấy không chỉ biểu hiện ở số lượng lớn
các vị thần mà, các vị thần ấy cùng đồng hành trong tâm thức một người Việt,
dẫn đến đời sống tín ngưỡng - tôn giáo của người Việt mang tính hỗn dung
tôn giáo. Trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp
nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tín
ngưỡng tôn giáo bản địa. Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo vẫn phát
triển thì các tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống

tâm linh của người dân. Cũng chính vì tính hỗn dung tôn giáo ấy mà người
Việt thể hiện sự bàng bạc trong niềm tin tôn giáo. Đa số người Việt đều có
nhu cầu tín ngưỡng, song trong họ không trở thành những tín đồ thành kính
của riêng một tín ngưỡng tôn giáo nào. Một người vừa có thể đến chùa, vừa
có thể đến phủ miễn là việc làm ấy mang lại lợi ích cho họ, có thể thoả mãn
điều họ cầu xin. Vì thế, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, một đặc điểm trong
đời sống tín ngưỡng của người Việt là tính dụng. Tín ngưỡng chính là yếu tố
để phục vụ nhu cầu cần thiết và trực tiếp trong sinh hoạt đời thường của cuộc
sống.
Như vậy, tín ngưỡng dân gian là một phần không thể thiếu trong đời
sống xã hội. Con người còn khổ đau, bất an thì tín ngưỡng dân gian còn tồn
tại. Suy cho cùng thì động cơ khiến con người tìm đến với tín ngưỡng dân
gian là muốn có được một đời sống an lành, hạnh phúc, muốn giải quyết
những bức bách trong cuộc sống. Đấy là những động cơ tích cực. Tín ngưỡng
dân gian là một liều thuốc quan trọng, nó cần thiết đối với những chứng bệnh
trong thân tâm của con người hiên tại. Vì thế, chúng ta không thể nào loại bỏ


19

c tớn ngng dõn gian. Thc t cho thy h thng tớn ngng dõn gian
chớnh thng cú ý ngha khụng nh trong i sng ca xó hi, chỳng gúp phn
gi gỡn v phỏt huy np sng o c cho xó hi. Di gúc nhỡn vn húa, tớn
ngng dõn gian c coi nh mt thc th vn húa, nhng biu hin ca nú
trong thc hnh vn húa truyn thng, v trớ ca nú trong cỏc hỡnh thc vn
húa khỏc nhau nh vn hc, õm nhc, hi ha, nghi lú l nhng thnh t
quan trng lm nờn nn vn húa Vit Nam tiờn tin p bn sc dõn tc.
1.1.3 Mt s tớn ngng dõn gian Vit Nam
Tớn ngng dõn gian Vit Nam ch yu da trờn nim tin, lũng bit n
ca cỏc th h sau i vi tin thn, tin nhõn. Tớn ngng Vit Nam khỏ

phong phỳ, ú l s tụn sựng cỏc lc lng v tr v t nhiờn nh tri, t,
mt tri, mt trng, nc, ma, giú, sm, chp; Tụn sựng cỏc loi cõy trng,
vt nuụi nh lỳa, bũ, ln, g...; Tụn sựng vt t nh chim, cỏ, cõy, trõu; Tụn
sựng s sinh sn nh sinh thc khớ v tớnh giao; Tụn sựng t tiờn nh thnh
hong, t tiờn, ụng b; Tụn sựng cỏc Mu trong tc th Tam Mu, T Mu...
T tớn ngng chuyn di vo vn húa dõn gian s thnh cỏc hỡnh tng, cỏc
mụ tớp vi din mo hỡnh hi rừ nột v sinh ng hn.
- Tớn ngng th Mu
Ni hm ca tớn ngng th Mu c dựng biu th s tụn
vinh mt nhõn vt no ú, hay cú th ng nht vi vic th cỏc v n thn
hin linh, c tụn phong l Mu nh: Quc Mu, Vng Mu, Thỏnh Mu.
Tớn ngng th Mu cũn c hiu theo mt ngha hp hn ú ch l dng
hỡnh thc tớn ngng vi tờn gi l Mu Tam ph - T ph, hỡnh thc th
cỳng nhng v Mu cai qun trong v tr.
Hin nay, Vấn đề thờ Mẫu là loại hình gì? cng cũn nhiu ý
kin khỏc nhau, song ở Việt Nam đa phần các nhà nghiên cứu u
cho rằng tín ngỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngỡng dân


20

gian. Tín ngưỡng thờ Mẫu là một nét đặc trưng của tín ngưỡng bản địa Việt
Nam, được bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Mẹ Đất đã vốn có trong thời tiền sử.
Tác giả Hoàng Quốc Hải cho rằng: “Về mặt tâm linh, cũng như quy
mô tín đồ nó đầy đủ yếu tố một tôn giáo, nhưng nó lại thiếu hẳn một triết
thuyết để đủ sức trở thành một tôn giáo hoàn chỉnh [26, tr.276]. Tín ngưỡng
thờ Mẫu là sản phẩm bản địa song, chịu nhiều ảnh hưởng của các loại hình
tôn giáo chính thống như Nho, Phật, Lão nhưng các tôn giáo này đều đã bị
dân gian hóa rồi mới bồi đắp vào tòa điện Mẫu. Và tác giả viết: “ Hình tượng
Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian chứ không phải

là một tôn giáo chính thống. Xu thế biến Mẫu thành Tôn giáo chính thống như
hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái qui luật, không đúng với tiến
trình phát triển…" [57, tr.53-54].
GS Đinh Gia Khánh cho rằng: “Thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn
gốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác với các tôn giáo phổ quát” [32,
tr.8].
“Mẫu” là xuất phát từ Hán-Việt, còn thuần Việt là Mẹ, Mụ. Nghĩa ban
đầu Mẫu (mẹ) đều chỉ người phụ nữ sinh ra con. Mẫu (mẹ) còn có ý nghĩa tôn
vinh, tôn xưng như Mẫu nghi thiên hạ, Mẹ Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu
Thượng Ngàn…
Tín ngưỡng thờ Mẫu là loại hình tín ngưỡng phổ biến của cư dân nông
nghiệp, thờ Mẫu - thờ Mẹ - thờ sự sinh sôi, phồn thực. Vậy có thể hiểu rằng:
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một loại hình tín ngưỡng bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ
nữ thần (nhưng không phải tất cả nữ thần đều là Mẫu),là một bộ phận của ý
thức xã hội, được hình thành từ chế độ thị tộc mẫu hệ, để tôn vinh những
người phụ nữ có công với nước, với cộng đồng tiêu biểu cho những giá trị tốt
đẹp về lịch sử, văn hoá, đạo đức xã hội làm Thánh mẫu, Vương mẫu… và qua
đó người ta gửi gắm niềm tin vào sự che chở, giúp đỡ của các lực lượng siêu
nhiên thuộc nữ thần.


21

Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa và: “ có
thể là tín ngưỡng sớm nhất của con người Việt trước khi du nhập tam giáo
Phật, Nho và Đạo” [25, tr.145].
Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời ở Việt Nam còn xuất phát từ nền văn minh
nông nghiệp lúa nước điển hình, thờ Mẫu nảy nở trên một miền đất nhiều đời
trồng cây lúa nước. Đối với dân cư nông nghiệp thì hình ảnh người mẹ từ việc
hái lượm đã tìm ra hạt lúa để từ đó trở thành hồn lúa như một tác giả đã nhận

xét: “Trong các loại cây trồng, lúa là cây duy nhất trong thời kỳ làm đòng
được các tộc người ở Đông Dương gọi là có chửa (Việt) = bun(cơ ho) =
mtian(Giarai) như người mẹ; là cây duy nhất được coi có hồn (Việt) =
soan(Cơho)…” [24, tr.196].
Người và vạn vật sinh sôi nảy nở thì khái niệm Trời - Đất, Âm Dương được hình thành trong tư duy nguyên thủy thô sơ. Ở Việt Nam cũng
biểu hiện khá rõ niềm tin “Vạn vật hữu linh” của chính họ. Vì vậy, “ Các thần
trời, thần núi, thần sông…xuất hiện khá sớm và ngự trị trong đời sống tâm
linh của hầu hết các tộc người” [27, tr.77].
Người Việt xưa kia sống nhờ vào thiên nhiên rất nhiều, nhưng cũng
phải chống chọi nhiều với thiên nhiên. Do đó, con người luôn cầu mong sự
phù hộ, giúp đỡ của các “Mẹ” thiên nhiên và các Mẫu có nguồn gốc nhiên
thần cũng lần lượt ra đời.
Điện thờ Mẫu có ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, từ đồng bằng lên
miền núi và cả khu cư trú của người Việt ở nước ngoài. Có nơi tồn tại là một
phủ nguy nga, có nơi chỉ là một bàn thờ khiêm tốn đặt trong góc của ngôi
chùa…Cho nên, chúng ta chỉ có thể nhận diện được nơi thờ Mẫu bởi những
nét riêng trong từng chi tiết của kiến trúc tổng thể thờ thần. Chính những nét
riêng đó đã làm nên những đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu (được xuất phát
từ quan niệm : mọi vật đề sinh ra từ Mẹ), chính vì vậy, tín ngưỡng này trở
thành một hình thức tín ngưỡng thuần phác, đặc biệt của dân tộc Việt Nam.


22

Trong tớn ngng th Mu, hỡnh tng mi vựng, min cú khỏc
nhau. Trong s 250 di tớch th cỳng n thn c ghi nhn nc ta, s
ụng c gi l Mu, Thỏnh Mu, Vng Mu, Quc Mu [67,tr332].
min Trung l thỏnh Mu, B Chỳa X, cũn min Bc ph bin l Mu Liu
Hnh.
Có thể nói Mẫu Liễu Hạnh ra đời đã làm hoàn chỉnh

hệ thống thờ Tam phủ - Tứ phủ và thể hiện đầy đủ triết lý
thờ Mẫu, triết lý theo vũ trụ quan phơng Đông. Tc th Mu cú
sc lan truyn mnh, cú ni ó song hnh cựng o Pht, trong nhiu ngụi
chựa ó lp in th Mu, ph bin dng tin Pht, hu Mu

.

- Tớn ngng th Thỏnh s (t ngh)
Thỏnh s cũn cú cỏc tờn gi khỏc nh: Tiờn s, Ngh s, T s, T
ngh, ... tc l ngi ó cú cụng sỏng to hay truyn dy mt ngh no ú cho
nhng ngi i sau. Do vy, õy l th tớn ngng ca cng ng nhng
ngi cựng ngh nghip, thng l ngh th cụng. Trong mt lng hay mt
khu ph, thnh ph, h hp chung thnh phng. Mt s trng hp v Thỏnh
s, T s ngh tr thnh Thnh hong ca c lng, nh trng hp c Hong
ụn Ho l Thỏnh s ngh thuc lng a S, H ụng; hay c Thỏnh
Trn n Trn - n Bo Lc Nam nh; c Thỏnh t Nguyn Minh
Khụng chựa C L huyn Trc Ninh, tnh Nam nh.
Th Thỏnh s l mt biu hin nột p trong tõm thc ngi Vit
Nam. Ngi ta tin rng v Thỏnh s xa ó sỏng ch ra ngnh ngh thỡ nay
vn quan tõm v phự h cho cỏc th h sau tip tc ngnh ngh mt cỏch phỏt
t.
Ngi ta th riờng Thỏnh s miu, n, chựa song lng ngh trong
mi nh, cnh bn th gia tiờn cng cú thờm bn th Thỏnh s, th hin s tụn
trng i vi ụng t ngh . Mt s phng ln ngoi nh th, cũn cú ti sn


23

riờng, rung vn dựng hoa li vo vic t t. Ngy cỳng l Thỏnh s thng
vo ngy k gi, mi thnh viờn ca phng ngh phi úng gúp v tp trung

ti n miu cỳng t. Ngy gi Thỏnh s, thng khi c lm rt to, uy
nghi, v cú t chc cỏc trũ vui nh: mỳa ri, hỏt chốo, ỏnh u, ỏnh c.
- Tớn ngng Thnh Hong lng
Thuật ngữ Thành hoàng là một từ Hán Việt; Thành
hoàng có nghĩa là thành hào, hào có nớc gọi là trì, không có
nớc gọi là hoàng. Đắp đất làm "thành", đào hào làm "hoàng"
[28, tr.23-24]. ở Vit Nam vào khoảng thế kỷ IX, ở Trung Quốc
là thời kỳ nhà Đờng, Lý Nguyên Gia đã cho xây La thành và
dựng đền thờ Tô Lịch làm Thành hoàng. Sau đó vào
khoảng năm 866 Cao Biền cho mở rộng thành, lại phong Tô
Lịch làm Đô Phủ Thành hoàng Thần Quân [28, tr.31]. Từ
đây ra đời thuật ngữ Thành hoàng, Thành hoàng ban đầu
ở nớc ta là Thành hoàng Đại La, đây là vị thần bảo vệ cho
thành Đại La, tên của ngài là Tô Lịch.
Tín ngỡng Thành hoàng thực chất là tín ngỡng phúc
thần đóng vai trò liên kết cộng đồng ngời trong một cộng
đồng lãnh thổ nông nghiệp hữu hạn, làm nơi quy y tâm linh
cho c dân. Tín ngỡng Thành hoàng mang màu sắc Việt
trong bản chất dù đã tiếp thu bao nhiêu yếu tố tôn giáo và văn
hoá khác [28, tr.410-411].
Thật khó có thể xác định chính xác niên đại của các
Thành hoàng. Theo các nguồn t liệu khác nhau thì có lẽ
Thành hoàng du nhập về nông thôn nớc ta từ khoảng thế kỷ
13 đến thể kỷ 15. Tuy nhiên, đặc điểm nổi bật của Thành
hoàng nông thôn Việt Nam là những vị thần đã đợc nhân
dân thờ từ trớc, sau đó mới đợc vua phong tớc vơng với danh


24


vị Thành hoàng.
Việc thờ Thành hoàng trở nên phổ biến khi triều đình
biểu dơng công trạng của các bậc trung thần, nghĩa sỹ và
những ngời có công lao với nớc bằng việc lập đền cho dân xã
ở gần thờ khi họ hy sinh vì dân, vì nớc hay khi họ chết đi.
Tục này lan truyền từ làng nọ sang làng kia, làng nào cũng
phải tìm một vị làm chủ tế của làng mình. Các làng đã
thấy sự cần thiết có vị thần che chở cho làng mình; làng
nào có ngời anh hùng hào kiệt, hay có công khai làng, lập ấp
khi mất đi rồi thì thờ ngay ngời đó, làng nào không có thì
đi cầu lấy một vị về thờ, có nơi thì vì một sự ngẫu nhiên
nào đó cho là linh thiêng xin duệ hiệu để thờ; làng nào cũng
có đền, có miếu. Thành hoàng làng đảm bảo cho sự thống
nhất cộng đồng.
Tín ngỡng thờ Thành hoàng bắt đầu cỏc lng Bc b, ri
lan truyền đến các vùng nông thôn trong c nc, nơi tín ngỡng
thờ thần in đậm dấu ấn trong nét văn hoá của ngời dân làm
nông nghiệp lúa nớc. Chẳng bao lâu, nhân dân đồng lòng
suy tôn làm Thành hoàng làng, những vị thần bảo vệ cho
cuộc sống của ngời dân trong làng, nhất là những nhân vật
lịch sử từng có công tạo lập hay phát triển đời sống kinh tế văn hoá - xã hội cho làng, nớc. Trớc hết, đó là những ngời anh
hùng có công đức lớn với dân, với nớc nh Hai Bà Trng, Trần Hng
Đạo, Trần Quốc Tảng..., hay những vị thần linh trong truyền
thuyết đã giúp dân chống thiên tai nh Thần núi Tản Viên, hay
những ngời có công khai ấp, lập làng, dạy dân các nghề thủ
công... Ngoại lệ, cũng có làng còn thờ cả các vị Thành hoàng
vốn làm những nghề không mấy vinh quang nh ăn xin, ăn



×