BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
GIÁO TRÌNH
PHÁP LUẬT ASEAN
Hà Nội – 2019
LỜI GIỚI THIỆU
Thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967, sau hơn 50 năm, Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á (ASEAN) cùng với khu vực Đông Nam Á, đã vượt qua những
thăng trầm của lịch sử, đưa Đông Nam Á từ một khu vực vốn nghi kỵ và phân
cực, trở thành một Đông Nam Á liên kết và cùng phấn đấu vì các mục tiêu
chung là hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển. Từ một tổ chức bị coi là một
liên minh chính trị lỏng lẻo, đến nay ASEAN được đánh giá là tổ chức khu vực
thành công thứ hai thế giới, sau Liên minh châu Âu. Nền tảng vững chắc nhất và
cũng là thành tựu then chốt nhất mà ASEAN đạt được là tạo dựng môi trường
hòa bình, ổn định và an ninh bền vững; tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập,
duy trì và thúc đẩy các khuôn khổ hợp tác vì mục tiêu tăng trưởng, hội nhập, liên
kết, gắn bó, đùm bọc và chia sẻ. Mặc dù vậy, ASEAN cũng như mọi tổ chức
quốc tế khác cũng đang phải đối mặt với không ít thách thức cả về chủ quan lẫn
khách quan như chênh lệch về trình độ phát triển, hạn chế trong hiệu quả thực
thi, những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như an ninh hàng
hải, tranh chấp lãnh thổ, biển, đảo, tài nguyên, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm
xuyên quốc gia…
Ngày 28 tháng 7 năm 1995 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong quan
hệ giữa Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á, đó là Việt Nam chính thức gia
nhập ASEAN. Trong hơn 20 năm qua, dù là thành viên đến sau với trình độ phát
triển còn có hạn, nhưng Việt Nam đã nỗ lực hết sức mình, tham gia với tinh thần
chủ động, tích cực và có trách nhiệm, góp phần duy trì và thúc đẩy một trật tự ở
Ðông - Nam Á dựa trên các quy tắc của khu vực và phù hợp luật pháp quốc tế.
Tham gia ASEAN, mỗi nước thành viên ASEAN cũng như Việt Nam, ở những
mức độ khác nhau đều đạt được những lợi ích quan trọng.
Nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu, giảng dạy trong trường đại học cũng
như nhu cầu tìm hiểu những kiến thức cơ bản về các tổ chức quốc tế mà Việt
Nam là thành viên, cụ thể là ASEAN, Trường Đại học Mở Hà Nội đã tổ chức
biên soạn cuốn “Giáo trình Pháp luật ASEAN”. Cuốn sách tập trung giới thiệu
những kiến thức cơ bản nhất về ASEAN, từ sự ra đời, quá trình hình thành phát
triển, thành viên nguyên tắc hoạt động, cơ cấu tổ chức cho đến những nội dung
pháp lý hợp tác chuyên ngành của tổ chức này trong từng lĩnh vực kinh tế, chính
trị - an ninh, văn hóa – xã hội cũng như quá trình gia nhập và thực hiện nghĩa vụ
thành viên của Việt Nam. Chúng tôi hy vọng cuốn Giáo trình này sẽ đáp ứng
được nhu cầu giảng dạy, học tập của giảng viên, sinh viên, nhu cầu nghiên cứu
của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, chuyên gia pháp lý cũng như nhu cầu tìm
hiểu kiến thức luật quốc tế của các độc giả quan tâm.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình biên soạn nhưng chắc chắn không
tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Chúng tôi rất mong nhận được
những ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp, độc giả để chỉnh lý, hoàn thiện hơn
cho những lần tái bản sau.
Xin trân trọng giới thiệu!
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
CHỦ BIÊN
TS. PHẠM HỒNG HẠNH
TÁC GIẢ
PGS.TS. NGUYỄN THỊ THUẬN
Chương 1
TS. PHẠM HỒNG HẠNH
Chương 2, chương 3
ThS. BÙI THỊ NGỌC LAN
Chương 4
ThS. NGUYỄN QUỲNH ANH
Chương 5
GV. ĐỖ MẠNH HỒNG
Chương 6
ThS. NGUYỄN THÙY DƯƠNG
Chương 7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
AEC
: Cộng đồng kinh tế ASEAN
AC
: Cộng đồng ASEAN
APSC
: Cộng đồng chính trị - an ninh ASEAN
ASCC
: Cộng đồng văn hóa – xã hội ASEAN
ARF
: Diễn đàn khu vực ASEAN
AFTA
: Khu vực thương mại tự do ASEAN
AIA
: Khu vực đầu tư ASEAN
ATIGA
: Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
ACIA
: Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN
ACMW
: Uỷ ban thực hiện Tuyên bố ASEAN về bảo
vệ và thúc đẩy quyền của lao động di cư
AICHR
: Uỷ ban liên chính phủ ASEAN về quyền con
người
ACWC
: Uỷ ban bảo vệ và thúc đẩy quyền của phụ nữ
và trẻ em ASEAN
AFAS
: Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ
CEPT
: Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan
có hiệu lực chung cho AFTA
CLMV
: Campuchia, Lào, Myanmar, Việt Nam
FTA (Free Trade Agreement)
: Hiệp định thương mại tự do
FTA (Free Trade Area)
: Khu vực thương mại tự do
QGTV
: Quốc gia thành viên
IAI
: Sáng kiến hội nhập ASEAN
TAC
: Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á
MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ ASEAN VÀ PHÁP LUẬT ASEAN
1
I. KHÁI QUÁT VỀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
1
1. Lịch sử hình thành và phát triển
2
2. Mục đích và nguyên tắc hoạt động
10
3. Thành viên
13
4. Cơ cấu tổ chức
15
II. KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT ASEAN
20
1. Khái niệm pháp luật ASEAN
20
2. Nguồn của pháp luật ASEAN
25
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC 28
KINH TẾ ASEAN
I.KHÁI QUÁT
28
1.Khái quát quá trình hợp tác kinh tế của ASEAN
28
2. Cơ sở cho hoạt động hợp tác kinh tế của ASEAN
29
3. Mục tiêu và nội dung hợp tác kinh tế của ASEAN
33
4. Thiết chế pháp lý
34
5. Cấp độ liên kết kinh tế của ASEAN
35
II. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI HÀNG 38
HÓA
1.Cơ sở pháp lý
38
2.Tự do hóa thuế quan
39
3. Xóa bỏ các biện pháp phi thuế quan
48
4. Thuận lợi hóa thương mại
49
III. PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI DỊCH 51
VỤ
1. Cơ sở pháp lý
51
2. Dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh của ASEAN
52
3. Hạn chế và xóa bỏ rào cản thương mại dịch vụ
54
4.Công nhận lẫn nhau
57
IV.PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐẦU 58
TƯ
1. Cơ sở pháp lý
58
2.Tự do hóa đầu tư
59
3.Bảo hộ đầu tư
62
4. Xúc tiến và thuận lợi hóa đầu tư
64
CHƯƠNG 3: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC 79
CHÍNH TRỊ - AN NINH ASEAN
I.KHÁI QUÁT
67
1.Khái quát quá trình hợp tác chính trị - an ninh của ASEAN
67
2. Cơ sở cho hoạt động hợp tác chính trị - an ninh của ASEAN
69
3.Mục tiêu và nội dung hợp tác chính trị - an ninh của ASEAN
71
4. Thiết chế pháp lý
74
II. DIỄN ĐÀN KHU VỰC ASEAN (ARF)
73
1. Khái quát
73
2. Cơ chế hợp tác
77
3. Vai trò của ARF
81
III. HỢP TÁC QUỐC PHÒNG
83
1. Thiết chế pháp lý
83
2. Nội dung hợp tác quốc phòng của ASEAN
84
IV. PHÒNG CHỐNG TỘI PHẠM XUYÊN QUỐC GIA
88
1. Thiết chế pháp lý
90
2. Tương trợ tư pháp hình sự
92
3. Phòng chống tội phạm xuyên quốc gia đối với một số tội phạm cụ thể
95
CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC VĂN 124
HÓA – XÃ HỘI ASEAN
I. KHÁI QUÁT
100
1.Khái quát quá trình hợp tác văn hóa – xã hội của ASEAN
100
2. Cơ sở cho hoạt động hợp tác văn hoá - xã hội của ASEAN
102
3. Mục tiêu và nội dung hợp tác văn hoá – xã hội ASEAN
103
4. Thiết chế pháp lý
107
II. BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI
109
1. Cơ sở pháp lý
109
2. Thiết chế pháp lý
111
3. Nội dung hợp tác
113
III. BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ASEAN
114
1. Cơ sở pháp lý
114
2. Thiết chế pháp lý
115
3. Nội dung hợp tác
116
IV. THU HẸP KHOẢNG CÁCH PHÁT TRIỂN
118
1. Cơ sở pháp lý
118
2. Nội dung hợp tác
121
CHƯƠNG 5: PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ HỢP TÁC 128
NGOẠI KHỐI CỦA ASEAN
I.KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ HỢP TÁC NGOẠI KHỐI ASEAN
125
1.Khái niệm quan hệ hợp tác ngoại khối của ASEAN
125
2.Cơ chế hợp tác ngoại khối của ASEAN
129
II.KHUÔN KHỔ HỢP TÁC NGOẠI KHỐI CỦA ASEAN
135
1. ASEAN + 1
135
2. ASEAN + 3
137
3. Cấp cao Đông Á
144
4. Một số khuôn khổ hợp tác ngoại khối khác
145
CHƯƠNG 6: CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA ASEAN
148
I. KHÁI QUÁT VỀ CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CỦA 148
ASEAN
1. Khái niệm
148
2. Cơ sở pháp lý
149
II. CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHÍNH TRỊ - AN NINH 153
CỦA ASEAN
1. Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Hiệp ước Bali (TAC)
153
2. Cơ chế giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư năm 2010 về giải quyết 154
tranh chấp theo quy định của Hiến chương ASEAN
III. CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ - THƯƠNG 157
MẠI CỦA ASEAN
1. Phạm vi áp dụng Nghị định thư Viêng Chăn năm 2004
157
2. Cơ quan giải quyết tranh chấp
158
3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp theo Nghị định thư
160
CHƯƠNG 7: QUAN HỆ VIỆT NAM – ASEAN
168
I. QUÁ TRÌNH GIA NHẬP ASEAN CỦA VIỆT NAM
168
1. Khái quát về quan hệ giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên ASEAN 168
trước khi ASEAN thành lập
2. Quan hệ Việt Nam và ASEAN trong giai đoạn từ năm 1967 đến năm 170
1995 – từ căng thẳng đối đầu tiến tới hoà bình, hữu nghị, hợp tác
3. Ý nghĩa của sự kiện Việt Nam gia nhập ASEAN
176
II. THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THÀNH VIÊN ASEAN CỦA VIỆT NAM 181
1. Sự tham gia và đóng góp của Việt Nam trong các lĩnh vực hợp tác của 181
ASEAN
2. Những thách thức trong việc thực hiện nghĩa vụ thành viên ASEAN của 188
Việt Nam
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ ASEAN VÀ PHÁP LUẬT ASEAN
I. KHÁI QUÁT VỀ HIỆP HỘI CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
1. Lịch sử hình thành và phát triển
1.1. Sự ra đời của ASEAN
1.1.1. Tiền đề hình thành
Thập niên 60 của thế kỉ XX đánh dấu thời kì đầy biến động trên thế giới và khu
vực. Người đầu tiên nêu lên ý tưởng về việc thành lập tổ chức khu vực của các quốc
gia Đông Nam Á lục địa là cựu thủ tướng Malaysia, Tuncu Abdul Rakhman vào năm
1958, ngay sau khi Malaysia được trao trả độc lập. Nhưng lời kêu gọi này không được
hưởng ứng do chính sách đối ngoại của các quốc gia không gặp nhau. Trước thời điểm
ASEAN được thành lập, tại Đông Nam Á đã xuất hiện một số tổ chức quốc tế như
Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) thành lập năm 1961 với thành viên là Thái Lan,
Malaysia, Philippines và MAPHILINDO với thành viên là Malaysia, Philippines và
Indonesia thành lập vào năm 1963. Vì nhiều lí do khác nhau nên những tổ chức này
chỉ tồn tại trong thời gian ngắn.1
ASEAN ra đời vào ngày 08/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Bangkok được thông
qua tại Hội nghị bộ trưởng ngoại giao 5 quốc gia là Thái Lan, Malaysia, Indonesia,
Singapore và Philippines. Có thể nói, đây là sự kiện tất yếu trong bối cảnh lịch sử của
khu vực lúc đó cũng như bối cảnh của từng quốc gia ASEAN 5. Nhằm trực tiếp đảm
bảo an ninh và các lợi ích chính trị cho các quốc gia ASEAN khi đó, trong các yếu tố
về chính trị, kinh tế, địa lí, văn hoá-xã hội tác động đến sự ra đời của ASEAN thì yếu
tố cơ bản và chủ yếu là chính trị.
a. Tiền đề chính trị
- Chính trị quốc tế và khu vực
Thế giới đang ở trong tình trạng chiến tranh lạnh và bị chi phối bởi trật tự thế
giới hai cực Xô - Mỹ cũng như cuộc đối đầu căng thẳng giữa các quốc gia lớn thuộc hệ
thống xã hội chủ nghĩa và các quốc gia lớn thuộc hệ thống tư bản chủ nghĩa.
Do vị trí địa-chính trị quan trọng của khu vực Đông Nam Á nên hai siêu cường
Liên Xô (cũ) và Mỹ đều muốn tranh thủ các quốc gia ASEAN, khiến cho khu vực này
trở nên hết sức nhạy cảm, trở thành “bàn cờ chính trị” để các quốc gia lớn thi thố
quyền lực và ảnh hưởng của mình. Do đó, hoà bình, an ninh của các quốc gia Đông
1
Xem: ASEAN: History, Global Edge, (truy cập 30/3/2018)
1
Nam Á rất dễ bị tác động.2
Các quốc gia Đông Nam Á khi đó đã bị phân thành hai nhóm đối lập, chịu ảnh
hưởng khác nhau của các cường quốc (các quốc gia Đông Dương và các quốc gia thân
phương Tây). Đặc biệt, các quốc gia ASEAN 5 lo ngại về việc bị lôi kéo vào cuộc
chiến tranh xâm lược mà Mỹ đang bị sa lầy tại Việt Nam.
Một mặt, Liên Xô (cũ) và Trung Quốc có vai trò ngày càng tăng trong khu vực
thông qua việc ủng hộ, giúp đỡ cho một số đảng cộng sản ở châu Á, đặc biệt là sự trợ
giúp trực tiếp của Trung Quốc cho các đảng cộng sản ở Đông Nam Á. Mặt khác, do sự
kết thúc ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân cũ, vai trò và uy tín của Mỹ, Anh trong khu
vực bị suy giảm khiến các quốc gia Đông Nam Á thân Mỹ, Anh không tìm thấy chỗ
dựa tin tưởng về an ninh, tạo ra “khoảng trống quyền lực” của các quốc gia phương
Tây trong khu vực (Pháp rút khỏi Đông Dương năm 1954, Hà Lan trao trả độc lập cho
Indonesia, Anh trao trả độc lập cho Malaysia năm 1953 nhưng vẫn chịu trách nhiệm
đảm bảo an ninh cho Malaysia tới năm 1970 theo Hiệp định phòng thủ chung Anh Malaysia. Anh tuyên bố rút quân khỏi các căn cứ phía Đông kênh đào Xuyê năm 1967,
Mỹ bị sa lầy trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam). Do vậy, dù các quốc gia ASEAN
vẫn coi Mỹ và các quốc gia phương Tây là chỗ dựa về an ninh, kinh tế song tình hình
cho thấy nếu chỉ nghiêng về một phía là không có lợi nên cách tốt nhất là “đứng cách
đều”, lựa chọn giải pháp sống “hoà thuận tối đa” với tất cả quốc gia. Để có thể thực thi
được chính sách “cân bằng lợi ích”, giảm sự chi phối của các quốc gia lớn, cách duy
nhất là các quốc gia Đông Nam Á cần phải liên kết với nhau và dựa vào nhau trong
một tổ chức khu vực và đây cũng chính là nhân tố cơ bản quyết định tới sự hình thành
xu hướng trung lập trong chính sách của ASEAN sau này.
Ngoài ra, hoạt động kém hiệu quả của các tổ chức tiền thân của ASEAN như
ASA và MAPHILINDO cũng dẫn đến việc cần phải thay thế bằng hình thức hợp tác
khác có hiệu quả hơn.
- Chính trị trong nước
Vào thời điểm này, tất cả các quốc gia ASEAN đều gặp phải nhiều vấn đề chính
trị khó khăn ở trong nước:
+ Bên cạnh phong trào dân chủ của giai cấp tư sản dân tộc và các lực lượng tiến
bộ khác, chính quyền của các quốc gia này còn phải đối phó với phong trào li khai của
các tôn giáo như phong trào Moro ở Philipines, phong trào Papua tự do, phong trào đòi
độc lập của Cộng hoà Malucu ở Indonesia.
Xem: Vũ Dương Ninh (2009), ASEAN thập niên đầu thế kỷ XXI, Tập Chuyên đề I: Nghiên cứu quốc tế – Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. ĐHQG Hà Nội, tr. 58 – 73.
2
2
+ Đặc biệt, giữa những năm 60 của thế kỉ XX, ở hầu hết các quốc gia Đông
Nam Á nổi lên phong trào đấu tranh vũ trang mạnh mẽ của các đảng cộng sản chịu ảnh
hưởng của Trung Quốc.
Tóm lại, dù giữa các quốc gia vẫn còn tồn tại nhiều mâu thuẫn nhưng trong bối
cảnh quốc tế và trong nước như vậy, nhất là khi cuộc chiến tranh ở Đông Dương đang
vào giai đoạn quyết liệt thì cả năm quốc gia là thành viên sáng lập ASEAN đều đứng
trước nhu cầu phải liên kết chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị để
củng cố hoà bình và đảm bảo an ninh toàn khu vực cũng như của mỗi quốc gia.
b. Tiền đề kinh tế, văn hoá-xã hội
Bên cạnh yếu tố về chính trị là nguyên nhân có tính quyết định, các yếu tố về
kinh tế, văn hoá-xã hội cũng là những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự ra đời của
ASEAN.
- Kinh tế
Thứ nhất, sự phục hồi và phát triển nền kinh tế thế giới sau Chiến tranh thế giới
lần thứ II, cùng với việc áp dụng thành tựu khoa học công nghệ mới đã tạo cơ sở vật
chất chủ yếu để hình thành xu hướng quốc tế hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới.
Song song với toàn cầu hoá là sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của xu thế khu vực
hoá. Kết quả của xu thế này là nhiều tổ chức hợp tác kinh tế khu vực đã được thành lập
như: Thị trường chung Trung Mỹ (CACM), Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
(NAFTA), Cộng đồng Caribe. Trào lưu khu vực hoá này đã tác động mạnh mẽ tới ý
tưởng xây dựng tổ chức quốc tế hợp tác khu vực ở Đông Nam Á.
Thứ hai, nền kinh tế khu vực Đông Á được phục hồi, đặc biệt là kinh tế Nhật
Bản do tác động của ngoại lực và nội lực. Các nguồn vốn đầu tư dưới dạng viện trợ
kinh tế, kĩ thuật bắt đầu được đổ vào châu Á. Tháng 5/1950, Anh đưa ra kế hoạch
“Colombo” để tạo liên kết kinh tế giữa các quốc gia ở phía Nam và Đông Nam Á bao
gồm các quốc gia trong Khối liên hiệp Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc và cả Bắc Mỹ.
Thứ ba, vai trò của các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Ngân hàng phát
triển châu Á (ADB) đối với sự phát triển kinh tế ở các quốc gia châu Á ngày càng
tăng. Năm 1947, Liên hợp quốc thành lập Uỷ ban kinh tế châu Á và Viễn Đông
(Economic Commission for Asia and Far Est - ECAFE) nhằm thúc đẩy nền sản xuất ở
các nước châu Á. Năm 1966, ADB được thành lập gồm 31 quốc gia, trong đó có 19
quốc gia châu Á để cung cấp nguồn vốn cho sự phục hồi và phát triển kinh tế ở châu
Á.
Thứ tư, sau khi giành được độc lập, năm quốc gia sáng lập ASEAN đều gặp
phải vấn đề khó khăn chung về kinh tế như sự lạc hậu của các cơ cấu kinh tế, tình
trạng độc canh và xuất khẩu nguyên liệu thô. Vì vậy, để phát triển, các quốc gia phải
3
hợp tác và trước hết là hợp tác trong khu vực.
- Văn hoá-xã hội
Các quốc gia ASEAN đều nằm trong một tổng thể địa lí chung - khu vực Đông
Nam Á, được bao bọc bởi Thái Bình Dương ở phía Đông và Ấn Độ Dương ở phía
Tây. Vì vậy, tổng thể địa lí này có vị trí chiến lược quan trọng trên tuyến đường biển
chạy từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương.
Các quốc gia ASEAN đều có nhiều nét tương đồng về đời sống văn hoá-xã hội
như tổ chức đời sống dân cư được dựa trên cộng đồng làng xã và “nền văn minh lúa
nước”. Trừ Thái Lan, các quốc gia ASEAN đều bị phương Tây đô hộ nên vừa có ý
thức về nền độc lập dân tộc, vừa có nhu cầu đảm bảo an ninh chung của khu vực và
hợp tác để phát triển.
1.1.2. Ý nghĩa của sự hình thành ASEAN
ASEAN ra đời đánh dấu sự trưởng thành về chính trị của các quốc gia Đông
Nam Á. Những quốc gia này đã thể hiện quyết tâm tự gánh vác trách nhiệm đối với sự
phát triển của đất nước cũng như khu vực, đặc biệt trong vấn đề an ninh mà không dựa
vào ngoại lực bên ngoài.
Đối với các quốc gia Đông Nam Á, sự ra đời của ASEAN là thắng lợi của tinh
thần hoà giải, hoà hợp giữa các quốc gia trong khu vực.
Theo Ngoại trưởng Thái Lan Thanat Khôman: “Lần đầu tiên, các quốc gia
Đông Nam Á đi tới một điểm cơ bản của việc loại trừ thói quen xấu là đi riêng rẽ với
nhau, theo những hướng khác nhau, đôi khi đối lập nhau, khiến họ quay lưng lại với
nhau”. Ngoại trưởng Indonesia Adam Malic khẳng định: “Đã có sự đoàn kết khu vực,
bất kể những khác biệt nảy sinh từ lợi ích dân tộc”.
Sự hình thành ASEAN đã đặt nền móng cho sự hợp tác và phát triển trong mọi
lĩnh vực của các quốc Đông Nam Á trong những năm sau này.
1.2. Các giai đoạn phát triển của ASEAN
1.2.1. Giai đoạn từ khi thành lập đến trước Hội nghị Bali năm 1976 (giai đoạn
hình thành và định hướng phát triển)
Đây là giai đoạn phát triển đầu tiên của ASEAN. Ở giai đoạn này, cơ cấu tổ
chức của ASEAN còn chưa hoàn chỉnh, thậm chí Ban thư kí - cơ quan thường trực mà
bất kì tổ chức quốc tế nào cũng có còn chưa được thành lập. Đây là một trong những lí
do mà thời kì này, ASEAN bị giới quan sát quốc tế chỉ coi là “liên minh chính trị lỏng
lẻo”.
Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nên trong giai đoạn
này, ASEAN hầu như chưa có hoạt động nào đáng kể, trừ một số hoạt động đáng lưu ý
4
sau:
- Thông qua Tuyên bố ZOPFAN (A Zone of Peace, Freedom and Neutrality) về
khu vực hoà bình, tự do, trung lập tại Kuala Lumpur ngày 17/11/1971, mở ra thời kì
mới cho sự phát triển của ASEAN, thể hiện mong muốn xây dựng Đông Nam Á thành
khu vực trung lập, hoà bình, ổn định mà không có bất kì hình thức can thiệp nào từ
phía bên ngoài.
- Thực hiện một số hoạt động ngoại giao, kinh tế đơn lẻ: Đồng loạt công nhận
quan hệ ngoại giao với Việt Nam và Bangladesh, cùng thoả thuận ý kiến trước khi
biểu quyết những vấn đề cụ thể ở Liên hợp quốc hoặc cùng phối hợp lên tiếng phản
đối một cách có kết quả chống lại việc cao su tổng hợp của Nhật Bản cạnh tranh với
cao su tự nhiên vốn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của nhiều quốc gia trong khối.
Tóm lại, trong giai đoạn đầu sau khi thành lập, các hoạt động của ASEAN mới
chỉ dừng lại ở mức độ tạo ra nền tảng hợp tác lâu dài và khởi động các hoạt động hợp
tác bằng một số hoạt động chung (chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề chính trị trong
và ngoài nước) nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
1.2.2. Giai đoạn từ Hội nghị Bali năm 1976 đến trước Hội nghị thượng đỉnh lần
thứ tư năm 1992 (giai đoạn củng cố cơ cấu tổ chức và tiến lên hợp tác toàn diện nội
khối và bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối).
Trong giai đoạn này, ASEAN đạt được một số kết quả đáng chú ý:
- Xác lập các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và hợp tác của ASEAN.
- Thông qua các văn kiện pháp lí quan trọng làm nền tảng cho sự hợp tác và
phát triển của ASEAN như Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước
Bali năm 1976), Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN năm 1976, Hiệp định thành lập Ban
thư kí ASEAN năm 1976, Tuyên bố Manila năm 1987, Hiệp ước khuyến khích và bảo
hộ đầu tư và Nghị định thư về mở rộng danh mục thuế ưu đãi theo thoả thuận ưu đãi
buôn bán ASEAN năm 1987.
- Mở rộng lĩnh vực hợp tác nội khối đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại, đầu
tư. Điển hình là 3 kế hoạch lớn đã được thông qua và đưa vào triển khai: Dự án công
nghiệp ASEAN - AIPs năm 1976, Kế hoạch bổ sung công nghiệp - AIC năm 1981, các
liên doanh công nghiệp ASEAN - AIJV năm 1983; kí Thoả thuận thương mại ưu đãi
PTA cho cả khối; chủ trương thiết lập AFTA.
- Bước đầu phát triển hợp tác ngoại khối (thiết lập cơ chế đối thoại với các quốc
gia công nghiệp phát triển). Trong những năm đầu của giai đoạn này, ASEAN liên tục
thiết lập và đối thoại đầy đủ với các quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Canada, New
Zealand, EEC và các tổ chức của Liên hợp quốc (thông qua Chương trình phát triển
5
của Liên hợp quốc - UNDP). Các hoạt động hợp tác được triển khai qua 3 kênh: Hội
nghị sau Hội nghị ngoại trưởng, các cuộc họp giữa ASEAN với các bên đối thoại, Uỷ
ban ASEAN ở thủ đô quốc gia đối thoại.
- Củng cố cơ cấu tổ chức: Hình thành cơ chế Hội nghị liên bộ trưởng, thành lập
Ban thư kí và kết nạp Brunei (năm 1984).
1.2.3. Giai đoạn từ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ tư năm 1992 đến trước hội
nghị thượng định lần thứ chín năm 2003 (giai đoạn trở thành ASEAN 10 và hợp tác
toàn diện mà trọng tâm là hợp tác kinh tế)
Đây là giai đoạn mà ASEAN đạt được nhiều thành tựu to lớn, tiến hành hợp tác
trên tất cả các lĩnh vực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hoá
và tăng cường hoà bình, ổn định ở khu vực. Những thành tựu của ASEAN thể hiện
thông qua một số hoạt động chủ yếu sau:
- Kết nạp 4 thành viên mới gồm: Việt Nam (năm 1995), Lào, Myanmar (năm
1997), Campuchia (năm 1999), nâng ASEAN từ ASEAN 6 trở thành ASEAN 10.
- Xây dựng khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA).
- Thành lập diễn đàn khu vực ASEAN - ARF năm 1994.
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức.
- Thông qua các văn kiện pháp lí quốc tế quan trọng như: Hiệp định khung về
tăng cường hợp tác kinh tế ASEAN năm 1992, Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế
quan có hiệu lực chung (CEPT) năm 1992, Tuyên bố về Biển Đông năm 1992, Hiệp
định khung về hợp tác công nghiệp (AICO), Tầm nhìn ASEAN 2020 năm 1997,
Tuyên bố Hà Nội năm 1998, Chương trình hành động Hà Nội năm 1998, Tuyên bố về
ứng xử của các bên ở biển Đông năm 2002.
- Tổ chức Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) lần đầu tiên tại Kuala Lumpur vào
năm 2005, với sự tham gia của ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ,
Australia và New Zealand.
1.2.4. Giai đoạn từ Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 9 năm 2003 đến trước thời
điểm thành lập Cộng đồng ASEAN năm 2015 (giai đoạn xây dựng Cộng đồng ASEAN)
- Tại Hội nghị cấp cao lần thứ 9 (tháng 10 năm 2003), các thành viên ASEAN
đã thông qua Tuyên bố về sự hoà hợp ASEAN (Tuyên bố Bali II), tái khẳng định
những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của Hiệp hội, tăng cường đoàn kết tiến tới việc
hình thành Cộng đồng ASEAN vững mạnh, liên kết chặt chẽ, tự cường và năng động,
hành động hiệu quả như đã nêu trong văn kiện Tầm nhìn ASEAN năm 2020 và
Chương trình hành động Hà Nội năm 1998. Cộng đồng ASEAN (AC) được xây dựng
trên ba trụ cột là: Cộng đồng chính trị-an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn
6
hoá-xã hội. Các quốc gia thành viên hiện đang nỗ lực đạt những mục tiêu trong Tầm
nhìn ASEAN 2020 vào năm 2015 (tiến trình rút ngắn 5 năm so với dự định).
Có thể nói rằng quyết định thành lập Cộng đồng ASEAN (AC) là kết quả của
sự tác động, đan xen giữa các yếu tố: những thành tựu đạt được của ASEAN; biến
chuyển của tình hình quốc tế, khu vực và nhu cầu nâng cấp cơ chế hợp tác hiện tại còn
nhiều hạn chế của ASEAN.
Cho đến trước năm 2003, ASEAN đã đạt được những thành tựu hợp tác tương
đối toàn diện trên tất cả các mặt chính trị-an ninh, kinh tế, văn hoá-xã hội, nhất là
thành tựu hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế như Khu vực thương mại tự do ASEAN
(AFTA), Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), Thương mại dịch vụ (AFAS)... Sự phát triển
cả về phạm vi, mức độ và hiệu quả của các hoạt động hợp tác nội khối và ngoại khối
đã làm cho các khuôn khổ hợp tác hiện có của ASEAN trở nên “chật hẹp”, cơ chế hợp
tác “lỏng lẻo” theo “phương thức ASEAN” đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế.3 Cùng với
đó, sự chênh lệch về khoảng cách phát triển và xu hướng “li tâm” giữa các quốc gia
ASEAN càng làm cho các quan hệ hợp tác nội khối và ngoại khối của ASEAN kém
hiệu quả hơn, điều này đặt ASEAN trước nhu cầu nâng cấp cơ chế hợp tác hiện có để
thúc đẩy hiệu quả các hoạt động hợp tác trong và ngoài khối, thu hẹp khoảng cách phát
triển giữa các quốc gia thành viên đồng thời xây dựng và tạo lập ý thức, “bản sắc
chung” của cả khu vực. Về mặt khách quan, chủ nghĩa khu vực hoá với sự phát triển
mạnh mẽ của các tổ chức quốc tế khu vực trên thế giới mà điển hình là Liên minh châu
Âu; sự phát triển của các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ... và xu hướng
hình thành liên kết kinh tế Đông Á rộng lớn; chủ nghĩa khủng bố, phong trào li khai,
xung đột sắc tộc, tôn giáo cực đoan; những hiểm họa, thiên tai mang tính toàn cầu và
các vấn đề an ninh phi truyền thống khác càng làm cho ASEAN cần phải có cơ chế
hợp tác hiệu quả hơn để có đủ khả năng đối phó với các thách thức đó và giữ vững vai
trò, vị thế của mình trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói riêng và trên trường
quốc tế nói chung.
Nhằm hiện thực hoá mục tiêu thành lập AC, Chương trình hành động Viêng
Chăn (VAP) đã được các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua tại Hội nghị cấp cao lần thứ
10 năm 2004. VAP thực chất là bản kế hoạch xây dựng Cộng đồng ASEAN, cụ thể
hoá những nội dung đã ghi nhận trong Tuyên bố Bali II, trong đó quy định mục tiêu và
các chương trình xây dựng cho từng cộng đồng. Tiếp đó, các bản kế hoạch tổng thể
“Phương thức ASEAN” (ASEAN Way) là phương thức hoạt động dựa trên tham khảo và đồng thuận, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Đặc trưng của phương thức này là thông qua các cuộc thảo luận kín
hơn là thông qua “mặc cả” thẳng thắn trên bàn hội nghị, theo truyền thống từng bước xây dựng lòng tin của văn
hoá khu vực Đông Nam Á. Phương thức này được xem như là “công thức có lợi cho tất cả các bên” (winning
formula) nhưng cũng làm hạn chế tối đa mức độ thể chể hoá chặt chẽ và tính ràng buộc pháp lí của cơ chế hợp
tác trong ASEAN.
3
7
xây dựng từng cộng đồng trong Cộng đồng ASEAN, bao gồm Kế hoạch tổng thể xây
dựng AEC (2007), Kế hoạch tổng thể xây dựng APSC và Kế hoạch tổng thế xây dựng
ASCC cùng được kí kết trong năm 2009 xác định rõ định dạng cũng như cơ chế, các
biện pháp và hoạt động cụ thể xây dựng APSC, AEC và ASCC đến năm 2015. Đây
chính là cơ sở pháp lí để ASEAN triển khai xây dựng mỗi cộng đồng, qua đó hiện thực
hoá mục tiêu về một Cộng đồng ASEAN.
- Một trong những bước phát triển quan trọng của ASEAN là thông qua Hiến
chương ASEAN (Hiến chương được kí ngày 20/11/2007 và có hiệu lực ngày
15/12/2008), chính thức trao tư cách pháp nhân cho tổ chức ASEAN, tạo nền tảng
pháp lí và thể chế để ASEAN xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN.
1.2.4. Giai đoạn từ thời điểm xây dựng thành công Cộng đồng ASEAN năm
2015 đến nay
Ngày 22/11/2015, các nhà lãnh đạo ASEAN đã ký Tuyên bố Kuala Lumpur
2015 về “Thành lập Cộng đồng ASEAN” với sự chứng kiến của các nhà lãnh đạo các
nước đối tác, đối thoại của ASEAN và Tổng Thư ký Liên hiệp quốc Ban Ki Moon. Sự
hình thành Cộng đồng ASEAN 2015 với 3 trụ cột Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng
đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa - xã hội là một dấu mốc quan trọng trong tiến trình
liên kết, phản ánh sự lớn mạnh của ASEAN sau 48 năm hình thành và phát triển với vị
thế ngày càng cao ở cả khu vực và thế giới.
Theo các văn bản pháp lí của ASEAN, Cộng đồng ASEAN có các đặc điểm cơ
bản sau:
Thứ nhất, Cộng đồng ASEAN không thay thế ASEAN mà chỉ là sự liên kết của
ASEAN ở cấp độ cao hơn và sâu rộng hơn. Cộng đồng ASEAN không phải là tổ chức
quốc tế mới của các quốc gia Đông Nam Á được thành lập để thay thế cho ASEAN.
Cộng đồng ASEAN tiếp tục kế thừa và nâng cấp các liên kết hiện có của ASEAN lên
cấp độ cao hơn và phạm vi rộng hơn nhằm đáp ứng nhu cầu hợp tác và phát triển của
ASEAN cũng như của các quốc gia thành viên trong giai đoạn mới.
Thứ hai, Cộng đồng ASEAN được xây dựng trên nền tảng thể chế pháp lí có
tính ràng buộc cao đối với các quốc gia thành viên. Cộng đồng ASEAN không đơn
thuần là “tập hợp những người có những điểm giống nhau làm thành một khối như một
xã hội”,4 ràng buộc với nhau một cách “ngẫu nhiên” và “tự nguyện” như cách hiểu
thông thường về ngữ nghĩa của từ “cộng đồng”. Dưới góc độ pháp lí quốc tế, Cộng
đồng ASEAN là sự liên kết pháp lí do các quốc gia thành viên ASEAN thiết lập (xuất
phát từ các đặc thù của ASEAN và phù hợp với nhu cầu phát triển trong tình hình mới)
với nội dung, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động cụ thể trên cơ sở hệ thống các
Xem: Nguyễn Như Ý (1999) (chủ biên), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hoá-thông tin, Hà Nội, tr. 1796.
4
8
nguyên tắc và quy phạm pháp luật.
Thứ ba, Cộng đồng ASEAN được hình thành trên cơ sở ba trụ cột: Cộng đồng
chính trị-an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hoá-xã hội. Mỗi cộng đồng có
cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ khác nhau. Song giữa những cộng đồng này có mối quan
hệ khăng khít và chặt chẽ với nhau, tác động qua lại và bổ sung cho nhau nhằm cùng
hướng tới mục tiêu chung mà ASEAN theo đuổi.
Với nỗ lực không ngừng nghỉ, Tầm nhìn ASEAN 2025 “Cùng vững vàng tiến
bước” được chính thức thông qua tại Hội nghị Cấp cao ASEAN 27 tại Kuala Lumpur,
ngày 22-11-2015. Tiếp nối Tầm nhìn ASEAN 2020 (1997), Tuyên bố Hoà hợp
ASEAN II (2003) và Lộ trình xây dựng Cộng đồng ASEAN 2009-2015 (2009), Tầm
nhìn và các Kế hoạch tổng thể Cộng đồng Chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và
Cộng đồng văn hóa – xã hội kèm theo đề ra những mục tiêu, phương hướng lớn cùng
kế hoạch, biện pháp triển khai cụ thể nhằm hiện thực hoá mục tiêu liên kết và hội nhập
sâu rộng hơn, xây dựng một Cộng đồng ASEAN “hoạt động chặt chẽ dựa trên luật lệ,
thực sự hướng về người dân và lấy người dân làm trung tâm” vào năm 2025. Đến nay,
ASEAN vẫn đang tích cực triển khai nhằm hiện thực hóa các chương trình, kế hoạch
trong các bản Kế hoạch tổng thể này.
Có thể thấy rằng quá trình hình thành ASEAN trong hơn 50 năm qua là thắng
lợi lớn của tư tưởng hoà bình, tự cường dân tộc kết hợp với tự cường khu vực, của
những tư tưởng hợp tác và phát triển. ASEAN có vị thế quốc tế như ngày nay bởi đã
hoạch định đường lối xây dựng và phát triển phù hợp với xu thế của thời đại. Bốn màu
xanh da trời, đỏ, trắng, vàng trên lá cờ của ASEAN cũng như biểu tượng của ASEAN
không chỉ thể hiện cho bốn màu sắc chủ đạo trên quốc kì của các quốc gia thành viên
mà còn tượng trưng cho một ASEAN ổn định, hoà bình, thống nhất và năng động.
Màu xanh da trời biểu hiện cho hoà bình và ổn định. Màu đỏ thể hiện dũng khí và sự
năng động. Màu trắng cho thấy sự thuần khiết và màu vàng là biểu trưng cho sự thịnh
vượng. Bó lúa tượng trưng cho ước mơ của các thành viên sáng lập ASEAN về một
ASEAN bao gồm tất cả quốc gia ở Đông Nam Á quây quần trong tình hữu nghị và
đoàn kết. Vòng tròn là biểu tượng cho sự thống nhất của ASEAN.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thắng lợi của ASEAN là việc tổ chức này luôn
bám sát tôn chỉ, mục đích và nguyên tắc của mình, trong đó nguyên tắc quan trọng
nhất là tôn trọng nền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia của các quốc gia thành viên,
không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên dưới bất kì hình
thức nào.
9
2. Mục đích và nguyên tắc hoạt động
2.1. Mục đích
Điều 1 Hiến chương ASEAN đã xác định mục đích của ASEAN như sau:
2.1.1. Về an ninh-chính trị
- Duy trì, thúc đẩy hoà bình, an ninh và ổn định, tăng cường hơn nữa các giá trị
hướng tới hoà bình trong khu vực;
- Nâng cao khả năng tự cường khu vực thông qua đẩy mạnh hợp tác an ninhchính trị, kinh tế và văn hoá-xã hội;
- Duy trì Đông Nam Á là khu vực không có vũ khí hạt nhân và các loại vũ khí
huỷ diệt hàng loạt khác;
- Đối phó hữu hiệu với tất cả các mối đe dọa, các loại tội phạm xuyên quốc gia
và thách thức xuyên biên giới, phù hợp với nguyên tắc an ninh toàn diện;
- Tăng cường hợp tác trong việc xây dựng cho người dân ASEAN môi trường
an toàn, an ninh và không có ma túy;
- Duy trì vai trò trung tâm và chủ động của ASEAN như một động lực chủ chốt
trong quan hệ và hợp tác với các đối tác bên ngoài trong cấu trúc khu vực mở, minh
bạch và thu nạp.
2.1.2. Về kinh tế
Xây dựng thị trường và cơ sở sản xuất duy nhất với sự ổn định, thịnh vượng,
khả năng cạnh tranh và liên kết kinh tế cao, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư,
bao gồm sự chu chuyển tự do hàng hoá, dịch vụ và dòng đầu tư; di chuyển thuận lợi
của các doanh nhân, người có chuyên môn cao, người có tài năng và lực lượng lao
động; sự chu chuyển tự do hơn các dòng vốn.
2.1.3. Về văn hoá-xã hội
- Đảm bảo rằng nhân dân và các quốc gia thành viên ASEAN được sống hoà
bình với toàn thế giới, trong môi trường công bằng, dân chủ và hoà hợp;
- Giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách phát triển trong ASEAN thông qua hợp
tác và giúp đỡ lẫn nhau;
- Tăng cường dân chủ, thúc đẩy quản trị tốt và pháp quyền; thúc đẩy và bảo vệ
nhân quyền, các quyền tự do cơ bản với sự tôn trọng thích đáng quyền và trách nhiệm
của các quốc gia thành viên ASEAN;
- Thúc đẩy phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường khu vực, tính bền vững
của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn di sản văn hoá và chất lượng cuộc sống
cao của người dân khu vực;
10
- Phát triển nguồn nhân lực thông qua hợp tác chặt chẽ hơn trong lĩnh vực giáo
dục và đào tạo lâu dài, trong khoa học và công nghệ để tăng cường quyền năng cho
người dân ASEAN và thúc đẩy Cộng đồng ASEAN;
- Nâng cao phúc lợi và đời sống của người dân ASEAN thông qua việc tạo điều
kiện để họ tiếp cận bình đẳng các cơ hội về phát triển con người, phúc lợi và công
bằng xã hội;
- Thúc đẩy hình thành ASEAN hướng về nhân dân, trong đó khuyến khích mọi
thành phần xã hội tham gia và hưởng lợi từ tiến trình liên kết, xây dựng Cộng đồng
ASEAN;
- Đề cao bản sắc ASEAN thông qua việc nâng cao hơn nữa nhận thức về sự đa
dạng văn hoá và các di sản của khu vực.
Những mục đích nêu trên của ASEAN nhằm hình thành liên minh chính trị,
kinh tế và văn hoá với tính chất của tổ chức quốc tế khu vực, tạo dựng sự hợp tác về
mọi mặt giữa các quốc gia để đưa Đông Nam Á trở thành khu vực hoà bình, phát triển
và là đối tác quan trọng trong tương quan lực lượng trên trường quốc tế.
Từ việc phân tích các mục đích nêu trên có thể nhận thấy:
Thứ nhất, ASEAN là tổ chức liên chính phủ khu vực được thành lập để liên kết
các quốc gia thành viên trong lĩnh vực kinh tế, xã hội và văn hoá nhằm thúc đẩy sự
phát triển nền kinh tế của các quốc gia cũng như gia tăng những giá trị văn hoá, xã hội.
Các quốc gia Đông Nam Á đều là các quốc gia giàu truyền thống văn hoá, dân
tộc nên vấn đề giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc luôn được đặt lên hàng đầu. Đây là
một trong những đòi hỏi mà các quốc gia Đông Nam Á, trong những dự án về việc
thành lập ASEAN đã đưa ra trước Hội nghị thành lập ASEAN.
Thứ hai, ASEAN phải là tổ chức hợp tác nhằm “thúc đẩy hoà bình và an ninh
khu vực”, chịu trách nhiệm chính trong việc bảo đảm và duy trì an ninh khu vực không
có sự can thiệp bên ngoài, giải quyết hoà bình các tranh chấp, bất đồng giữa các quốc
gia thành viên.
Thứ ba, ASEAN đã thực hiện các mục đích này một cách linh hoạt, theo từng
giai đoạn phát triển của quan hệ hợp tác ASEAN. Tuỳ thuộc vào từng giai đoạn, mục
tiêu hợp tác về kinh tế hoặc chính trị... sẽ được nhấn mạnh. Tuy nhiên, với tính chất là
tổ chức quốc tế chung,5 các lĩnh vực hợp tác của ASEAN có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau cùng hướng tới mục tiêu đưa Đông Nam Á trở thành khu vực hoà bình và phát
triển.
5
Tổ chức quốc tế có phạm vi hoạt động bao trùm các lĩnh vực hợp tác khác nhau.
11
2.2. Nguyên tắc hoạt động
Trong quan hệ quốc tế, hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế như
nguyên tắc bình đẳng chủ quyền, nguyên tắc không dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ
lực, nguyên tắc giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế, nguyên tắc không can thiệp
vào công việc nội bộ của quốc gia khác… chính là các quy phạm Juscogens mà mọi
chủ thể luật quốc tế đều phải tuân thủ. Là tổ chức quốc tế liên chính phủ - chủ thể của
luật quốc tế, ASEAN không chỉ tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế mà
pháp luật ASEAN nói chung và nguyên tắc tổ chức, hoạt động của ASEAN nói riêng
cũng phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
Trước khi Hiến chương ASEAN ra đời, trong Tuyên bố Bangkok và một số văn
kiện khác của ASEAN như Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á năm 1976,
Hiệp định về ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung năm 1992… ngoài việc ghi nhận một
số nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, các văn kiện này còn quy định những nguyên
tắc điều phối hoạt động của ASEAN trong các lĩnh vực hợp tác như nguyên tắc đồng
thuận, nguyên tắc cùng có lợi, nguyên tắc - X… Theo Điều 2 Hiến chương ASEAN,
để có thể đạt được các mục đích của ASEAN, các quốc gia thành viên tiếp tục tuân thủ
các nguyên tắc đã được ghi nhận trong những văn kiện của ASEAN trước Hiến
chương. Bên cạnh đó, Hiến chương còn ghi nhận hệ thống nguyên tắc là cơ sở cho
hoạt động hợp tác giữa các quốc gia thành viên ASEAN trong lĩnh vực hợp tác về an
ninh-chính trị, kinh tế-thương mại và văn hoá-xã hội nói riêng cũng như của các thành
viên nói chung. Hệ thống nguyên tắc tại khoản 2 Điều 2 Hiến chương gồm 14 nguyên
tắc trong đó có thể chia thành 2 nhóm:
Thứ nhất, nhóm các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế. Cụ thể:
- Nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản
sắc dân tộc của các quốc gia thành viên;
- Nguyên tắc không xâm lược, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hay các
hành động khác dưới bất kì hình thức nào trái với pháp luật quốc tế;
- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình;
- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên
ASEAN;
- Nguyên tắc tôn trọng quyền của các quốc gia thành viên được quyết định vận
mệnh của mình mà không có sự can thiệp, lật đổ và áp đặt từ bên ngoài.
Thứ hai, nhóm các nguyên tắc đặc thù điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia
thành viên ASEAN. Cụ thể:
- Nguyên tắc cùng cam kết và chia sẻ trách nhiệm tập thể trong việc thúc đẩy
12
hoà bình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực;
- Nguyên tắc tăng cường tham vấn về các vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng
đến lợi ích chung của ASEAN;
- Nguyên tắc tuân thủ pháp quyền, quản trị tốt các nguyên tắc của nền dân chủ
và chính quyền hợp hiến;
- Nguyên tắc tôn trọng các quyền tự do cơ bản, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền,
công bằng xã hội;
- Nguyên tắc đề cao Hiến chương Liên hợp quốc và pháp luật quốc tế bao gồm
cả luật nhân đạo quốc tế mà các quốc gia thành viên đã tham gia;
- Nguyên tắc tôn trọng sự khác biệt về văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo của người
dân ASEAN đồng thời nhấn mạnh những giá trị chung trên tinh thần thống nhất trong
đa dạng;
- Nguyên tắc giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong các quan hệ về
chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội với bên ngoài đồng thời vẫn duy trì tính chủ động,
hướng ra bên ngoài, thu nạp và không phân biệt đối xử;
- Nguyên tắc tuân thủ các nguyên tắc thương mại đa biên và các cơ chế dựa trên
luật lệ của ASEAN.
Ngoài việc hoàn toàn phù hợp với hệ thống nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế,
những nguyên tắc nói trên của ASEAN không chỉ thể hiện tính đặc thù của ASEAN
mà còn bao trùm lên mọi hoạt động của ASEAN trong các lĩnh vực hợp tác (an ninhchính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội) và phạm vi hợp tác (nội khối, ngoại khối).
3. Thành viên
Theo điểm 4 Tuyên bố Bangkok năm 1967: “Hiệp hội này mở rộng cho tất cả
các quốc gia khu vực Đông Nam Á tán thành tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích nói trên
tham gia”. Như vậy, các quốc gia sáng lập ASEAN (ASEAN 5) đã không đặt ra những
yêu cầu về chính trị, mặc dù vào thời điểm thành lập ASEAN, trong khu vực còn tồn
tại hai khối: các quốc gia phát triển theo xu hướng tư bản chủ nghĩa và các quốc gia
theo xu hướng xã hội chủ nghĩa. Khi đưa ra điều kiện trên, ASEAN 5 cũng đã khẳng
định quan điểm của các quốc gia này là ASEAN không phải là tổ chức chính trị hoặc
quân sự của các quốc gia theo xu hướng thân phương Tây và đối đầu với các quốc gia
có chế độ chính trị khác trong khu vực như Việt Nam, Lào. Các quốc gia muốn trở
thành thành viên của tổ chức này phải tán thành các tôn chỉ, mục đích và nguyên tắc
của ASEAN. Như vậy, ngoài việc là “quốc gia khu vực Đông Nam Á” và “tán thành
các tôn chỉ, mục đích và các nguyên tắc của ASEAN” - những điều kiện hoàn toàn có
tính chất khách quan thì sự khác biệt về chế độ kinh tế, chính trị và xã hội không phải
13
là rào cản các quốc gia ở Đông Nam Á trở thành thành viên của ASEAN.
Hiện nay, ASEAN có 10 quốc gia thành viên trong đó gồm 5 quốc gia là thành
viên sáng lập (Vương quốc Thái Lan, Cộng hoà Singapore, Liên bang Malaysia, Cộng
hoà Indonesia, Cộng hoà Philippines) và 5 quốc gia là thành viên gia nhập (Vương
quốc Brunei, Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Liên bang Myanmar, Cộng hoà
dân chủ nhân dân Lào, Vương quốc Campuchia). Không phụ thuộc vào tư cách thành
viên (sáng lập hoặc gia nhập), các thành viên ASEAN đều bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ.
Hiến chương ASEAN ra đời không chỉ kế thừa Tuyên bố Bangkok mà còn cụ
thể hoá các điều kiện để trở thành thành viên của Tổ chức, cụ thể:
- Có vị trí nằm trong khu vực địa lí Đông Nam Á.
- Được tất cả các quốc gia thành viên ASEAN công nhận.
- Chấp nhận sự ràng buộc và tuân thủ Hiến chương ASEAN.
- Có khả năng và sẵn sàng thực hiện các nghĩa vụ thành viên.
Tiêu chí thứ nhất khẳng định tính chất khu vực của ASEAN mặc dù so với một
số tổ chức quốc tế khu vực khác như Liên minh châu Âu, Tổ chức thống nhất châu
Mỹ, Liên minh châu Phi, Liên đoàn các quốc gia Ả Rập... phạm vi khu vực của
ASEAN hẹp hơn nhiều. Tính chất khu vực của ASEAN chỉ thuần tuý dựa trên yếu tố
về địa lí
Trên cơ sở chủ quyền, gia nhập tổ chức quốc tế là quyền của các quốc gia
nhưng tuân thủ quy tắc, luật lệ của tổ chức là nghĩa vụ mà mọi thành viên của tổ chức
phải chấp hành. Vì vậy, những tiêu chí này hoàn toàn có tính khách quan và việc đòi
hỏi phải đáp ứng chúng là tất yếu. Ngoài ra, ứng cử viên để trở thành thành viên của
ASEAN còn phụ thuộc vào sự chấp nhận của các thành viên khác của ASEAN. Tuy là
điều kiện mang tính chất chủ quan nhưng quá trình phát triển của ASEAN trong nhiều
năm qua cho thấy hầu như không có quốc gia thành viên nào của ASEAN sử dụng tiêu
chí này để cản trở nguyện vọng gia nhập ASEAN.6
Hiến chương ASEAN chỉ quy định thẩm quyền quyết định việc kết nạp thành
viên mới thuộc về Cấp cao ASEAN trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng điều phối
ASEAN. Riêng về thủ tục xin gia nhập và kết nạp sẽ do Hội đồng điều phối ASEAN
quy định. Hiến chương không có quy định về rút khỏi Tổ chức và cũng không quy
định cụ thể về chế tài đối với thành viên vi phạm. Đối với các hành vi vi phạm nghiêm
trọng Hiến chương, theo khoản 4 Điều 20, Cấp cao ASEAN có thẩm quyền quyết
định.
Điều kiện này là biểu hiện của nguyên tắc đồng thuận (nhất trí) của ASEAN. Sự khác biệt của nguyên tắc này
của ASEAN (so với một số tổ chức quốc tế khác) là đồng thuận 100% (nhất trí tuyệt đối).
6
14
4. Cơ cấu tổ chức
ASEAN là tổ chức quốc tế có sự cải tổ thường xuyên cơ cấu tổ chức của mình
trong quá trình tồn tại và phát triển. Chính sự thay đổi về cơ cấu tổ chức của ASEAN
cũng thể hiện tiến trình, mức độ và phạm vi hợp tác trong từng giai đoạn phát triển
cũng như tính mềm dẻo, linh hoạt của ASEAN. Từ khi ra đời đến nay, cơ cấu tổ chức
của ASEAN được thay đổi, hoàn thiện dần qua từng giai đoạn. Cơ cấu tổ chức hiện
này của ASEAN được quy định tại Hiến chương ASEAN, bao gồm
HỘI NGHỊ CẤP CAO
Hội đồng điều phối
Hội đồng
Cộng đồng an ninh-chính trị
Hội đồng
Cộng đồng kinh tế
Hội đồng
Cộng đồng văn hoá-xã hội
Các cơ quan chuyên ngành
cấp bộ trưởng (6 cơ quan)
Các cơ quan chuyên ngành
cấp bộ trưởng (14 cơ quan)
Các cơ quan chuyên ngành
cấp bộ trưởng (17 cơ quan)
Các cơ quan giúp
việc trực thuộc
Các cơ quan giúp
việc trực thuộc
Các cơ quan giúp
việc trực thuộc
Uỷ ban thường
trực
Uỷ ban thường
trực
4.1. Hội nghị cấp cao - ASEAN Summit
Hội nghị cấp cao ASEAN (hay còn gọi là Hội nghị thượng đỉnh) bao gồm các
nguyên thủ quốc gia hoặc những người đứng đầu chính phủ của các quốc gia thành
viên. Hội nghị cấp cao tiến hành họp 2 lần một năm và do quốc gia thành viên giữ
chức Chủ tịch ASEAN chủ trì và tổ chức, ngoài ra Hội nghị cấp cao sẽ được nhóm họp
bất thường khi cần thiết.
Với vị trí là cơ quan có thẩm quyền cao nhất và cũng là cơ quan hoạch định
chính sách của ASEAN, Hội nghị cấp cao có những chức năng, nhiệm vụ như sau:
- Xem xét, đưa ra chỉ đạo về đường lối chính sách và quyết định các vấn đề
then chốt liên quan đến việc thực hiện các mục tiêu của ASEAN, các vấn đề quan
trọng mà các quốc gia thành viên quan tâm và tất cả vấn đề mà Hội đồng điều phối
ASEAN, các hội đồng Cộng đồng ASEAN và các cơ quan chuyên ngành cấp bộ
trưởng đệ trình lên;
15