Tải bản đầy đủ (.pdf) (78 trang)

Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thanh tra kiểm tra nội bộ của viện đại học mở hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (641.37 KB, 78 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP VIỆN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THANH
TRA, KIỂM TRA NỘI BỘ CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Mã Số: V2014 -10

Chủ nhiệm đề tài: ThS. NGUYỄN CHÍ BÍNH

Hà Nội, tháng 11 năm 2014


DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP
1. Thành viên tham gia nghiên cứu
- ThS. Nguyễn Thị Hạnh
- ThS. Đỗ Văn Ngát
- ThS. Lê Thị Thu Hà

- ThS. Vũ Thị Thịnh
2. Đơn vị phối hợp
- Trung tâm Tư vấn pháp luật
-

Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng



MỤC LỤC

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA, .......................... 6
KIỂM TRA TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC ...................................................... 6
1.1 Sự hình thành, phát triển và hoạt động của thanh tra ở Việt Nam ................ 6
1.2 Các khái niệm công cụ ................................................................................. 8
1.2.1 Quản lý .................................................................................................... 8
1.2.2 Thanh tra, kiểm tra .................................................................................. 9
1.3 Vai trò của công tác thanh tra giáo dục .................................................... 13
1.4 Đại học và công tác thanh tra .................................................................... 15
1.4.1 Đại học .................................................................................................. 15
1.4.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động thanh tra giáo dục và thanh tra giáo dục đại
học. ................................................................................................................ 15
1.4.3 Tổ chức và hoạt động thanh tra của cơ sở giáo dục đại học .................... 16
Kết luận chương 1 ............................................................................................ 18
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TRA, KIỂM TRA NỘI
BỘ CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI ............................................................ 19
2.1 Khái quát chung về Viện Đại học Mở Hà Nội........................................... 19
2.2 Sự hình thành và phát triển công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ của Viện
Đại học Mở Hà Nội. ......................................................................................... 20
2.3 Quan điểm của Viện Đại học Mở Hà Nội về công tác thanh tra, kiểm tra nội
bộ....................................................................................................................... 21
2.3.2 Nhận thức của cán bộ, viên chức nhà trường về công tác thanh tra....... 22
2.4 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Phòng Thanh tra – Pháp chế....... 22



2.4.1 Cơ cấu tổ chức ....................................................................................... 22
2.4.2 Về chức năng Phòng Thanh tra - Pháp chế ............................................. 23
2.4.3 Về nhiệm vụ của Phòng Thanh tra - Pháp chế ........................................ 24
2.5 Thực trạng hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các lĩnh vực công tác
của Viện Đại học Mở Hà Nội. .......................................................................... 26
2.5.1 Khái quát một số lĩnh vực ...................................................................... 26
2.5.2 Quy trình tiến hành thanh tra một vụ việc tại Viện Đại học Mở Hà Nội........ 45
2.6 Đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra .................................................... 45
2.6.1 Kết quả đạt được.................................................................................... 45
2.6.2 Hạn chế và nguyên nhân ........................................................................ 46
2.7 Một số kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ở Viện Đại học
Mở Hà Nội ........................................................................................................ 46
Kết luận chương 2 ............................................................................................ 47
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THANH
TRA, KIỂM TRA NỘI BỘ CỦA VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI ..................... 48
3.1. Các nguyên tắc đề xuất giải pháp ............................................................. 48
3.1.1. Nguyên tắc tính kế thừa ........................................................................ 48
3.1.2. Nguyên tắc tính toàn diện ..................................................................... 48
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn và hiệu quả ..................................... 49
3.2. Các giải pháp ............................................................................................. 49
3.2.1. Giải pháp 1: Nâng cao nhận thức trong đội ngũ cán bộ, giáo viên về
công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ .................................................................. 49
3.2.2. Giải pháp 2: Chỉ đạo, hướng dẫn hệ thống hóa, cụ thể hóa các văn bản chỉ
đạo, hướng dẫn hoạt động thanh tra, kiểm tra phù hợp với điều kiện thực tế nhà
trường ............................................................................................................. 51
3.2.3. Giải pháp 3: Đầu tư công tác bồi dưỡng nâng cao kiến thức trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ làm công tác thanh tra ........................ 52
3.2.4. Giải pháp 4: Kế hoạch hóa công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ............. 55



3.2.5. Giải pháp 5: Xây dựng quy trình, quy định khi tiến hành thanh tra, kiểm
tra nội bộ đúng quy chế .................................................................................. 56
3.2.6. Giải pháp 6: Tăng cường công tác tự kiểm tra, đánh giá hoạt động
chuyên môn của các Phòng, Khoa, Trung tâm của nhà trường ........................ 61
3.2.7. Giải pháp 7: Quản lý, sử dụng có hiệu quả kinh phí thanh tra giáo dục và
các yếu tố khác có liên quan đến hoạt động thanh tra ..................................... 63
3.3. Mối quan hệ giữa các giải pháp đề xuất ................................................... 64
Kết luận chương 3 ............................................................................................ 66
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...................................................................... 67
1. Kết luận ........................................................................................................ 67
2. Khuyến nghị ................................................................................................ 68
2.1. Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo: ............................................................. 68
2.2. Đối với Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường: .......................................... 68
2.3. Đối với cán bộ thanh tra .......................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 70


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL, GV : Cán bộ quản lý, giáo viên
ĐH Mở HN : Đại học Mở Hà Nội
GDTX

: Giáo dục từ xa

GD & ĐT

: Giáo dục và Đào tạo

KT-XH


: Kinh tế - xã hội

TT-KT

: Thanh tra, kiểm tra

PGS

: Phó Giáo sư


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Mô hình tổ chức công tác thanh tra ở một số trường đại học tại Việt Nam
.............................................................................................................................. 17
Bảng 2.1 Quy mô đào tạo của Viện Đại học Mở Hà Nội đến năm 2013 ................. 35
Bảng 2.2 Quy mô tuyển sinh của Viện Đại học Mở Hà Nội đến năm 2013 ............ 36


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Thanh tra là tai mắt của trên, là người
bạn của dưới theo dõi chỉ thị, chính sách, thông tư đưa xuống cho đến lúc hoàn
thành”… “sự kiểm tra việc thực hiện được đặt ra một cách đúng đắn là ngọn đèn
pha giúp cho làm sáng tỏ tinh thần hoạt động của bộ máy trong bất kỳ thời gian nào,
chín phần mười những chỗ hỏng, chỗ hở đều do thiếu sự kiểm tra. Thanh tra và
kiểm tra thường xuyên, đúng đắn, chắc chắn những chỗ hỏng, chỗ hở đều có thể
ngăn ngừa được”.
Vai trò quan trọng của thanh tra luôn được Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh
trong mọi thời kỳ, giai đoạn. Thông qua thanh tra chủ thể quản lý nắm bắt được tình
hình thực hiện nhiệm vụ được giao của các đối tượng quản lý thuộc quyền, phát

hiện những thiếu sót, yếu kém, sơ hở trong quản lý, từ đó đề ra biện pháp khắc
phục, sửa chữa cũng như các biện pháp tác động phù hợp nhằm phát huy nhân rộng
những điển hình tích cực. Như vậy, thanh tra là hoạt động không thể thiếu trong chu
trình quản lý.
Để khẳng định rõ nét vị trí, vai trò của Thanh tra, tháng 3 năm 2011, Viện
trưởng Viện đại học Mở Hà Nội quyết định thành lập phòng Thanh tra, Khảo thí và
Đảm bảo chất lượng. Tháng 5 năm 2013, nhà trường tách bộ phận thanh tra thành
lập Phòng Thanh tra độc lập theo đúng tinh thần Thông tư số 51/2012/TT-BGDĐT
ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo đó, trường Đại học
có quy mô từ 10.000 sinh viên trở lên thì bắt buộc thành lập Phòng Thanh tra.
Viện Đại học Mở Hà Nội (sau đây gọi là nhà trường) hoạt động tự chủ theo
tinh thần Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về quy định
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế,
tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Để đáp ứng yêu cầu phát triển
chung của xã hội, góp phần thực hiện Nghị quyết 29 của Ban Chấp hành trung ương

1


khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, nhà trường đã tích cực đề ra
những giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng các hoạt động, trong đó công
tác thanh tra, kiểm tra nội bộ là một trong những hoạt động quan trọng được nhà
trường quan tâm, đầu tư.
Trong thời gian qua, tổ chức thanh tra đã góp phần quan trọng vào việc xây
dựng và hoàn thiện bộ máy nhà trường. Trong quá trình xây dựng và phát triển, tùy
thuộc vào thời điểm và tình hình của nhà trường, tổ chức và hoạt động thanh tra đều
có sự thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của nhà trường.
Từ những nhận định trên và dựa trên thực tiễn công tác thanh tra, kiểm tra
nội bộ của nhà trường, chúng tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng công
tác thanh tra, kiểm tra nội bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội”.

2.Tổng quan nghiên cứu
Thanh tra là một lĩnh vực khó nghiên cứu, các công trình khoa học nghiên cứu
về thanh tra và đặc biệt là về quản lý công tác thanh tra (kể cả trong và ngoài nước)
hiện nay rất hiếm hoi. Lưu trữ tại các thư viện nói chung và thư viện của các cơ sở
giáo dục chủ yếu xuất hiện những văn bản pháp quy về thanh tra giáo dục như: Luật,
Pháp lệnh, Chỉ thị, Thông tư hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thanh tra giáo dục;
Chỉ có một số tác phẩm có liên quan đến lý luận và nghiệp vụ thanh tra giáo dục, như:
- G. I. Ôglôblina (1992), Thanh tra, kiểm tra công tác trường phổ thông.
- Lưu Xuân Mới (1993), cơ sở khoa học của thanh tra giáo dục. Trường Cán bộ
quản lý GD&ĐT, Hà Nội
- Bộ GD&ĐT (1999), Hệ thống giáo dục và thanh tra ở Pháp (Le système
éducatif et l’inspection pédagogique en France) - (Tài liệu Dự án Ficev).
- Bộ Giáo dục và đào tạo (2004), Thanh tra giáo dục: Nghiệp vụ thanh tra giáo
dục Việt Nam - Văn bản pháp (Tài liệu Dự án Ficev).
- Bộ Giáo dục và đào tạo (2004), Thanh tra giáo dục: Nghiệp vụ thanh tra giáo
dục Việt Nam - Công cụ đào tạo (Tài liệu Dự án Ficev).
- Bộ Giáo dục và đào tạo (2005), Tổng kết dự án “đào tạo cán bộ thanh tra
giáo dục Việt Nam” (Dự án Ficev).

2


- Nguyễn Phúc Châu (2003): Thanh tra, kiểm tra và đánh giá trong quản lý
giáo dục (Bài giảng cho các lớp Cao học quản lý giáo dục). Trường Cán bộ quản lý
GD&ĐT (nay là Học viện Quản lý giáo dục), Hà Nội.
- Simone Goet Schalckx, Watter Laureys (2003), thanh tra ở Châu Âu - Thanh
tra ở vùng Flanders (Vương quốc Bỉ).
- Từ Đức Văn (chủ biên), Lưu Xuân Mới, Giáo trình Thanh tra Giáo dục. Nhà
xuất bản Đại học sư phạm Hà Nội, 2004.
- Quang Anh, Hà Đăng (2003), Những điều cần biết trong hoạt động thanh tra

- kiểm tra ngành GD&ĐT. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Các công trình khoa học và nghiên cứu trên đã chỉ rõ những nội dung và kinh
nghiệm về tổ chức công tác thanh tra giáo dục, giúp vận dụng cụ thể ở một số đối
tượng. Những tài liệu kể trên cũng phần nào khẳng định vấn đề công tác thanh tra nói
chung và thanh tra, kiểm tra ở bậc Đại học nói riêng còn chưa được nghiên cứu sâu,
rộng. Vì vậy, rất cần được nghiên cứu, làm sáng tỏ trong thực tiễn phong phú của
quản lý giáo dục. Những tài liệu đã dẫn và những tài liệu viết về công tác thanh tra,
kiểm tra trong giáo dục của các nhà lý luận giáo dục thực sự là những tư liệu quý,
thiết thực giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài, nghiên cứu lý
luận, khảo sát thực trạng của việc quản lý công tác thanh tra, kiểm tra trong trường
đại học; từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh
tra, kiểm tra nội bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội, góp phần thực hiện thắng lợi mục
tiêu giáo dục trong giai đoạn mới, đặc biệt thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày
04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về: "Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", tiếp tục
kiện toàn tổ chức, bổ sung nhân sự; đổi mới hoạt động thanh tra nhằm nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của công tác thanh tra giáo dục. Tiếp tục bồi dưỡng chính trị, chuyên môn
nghiệp vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ thanh tra giáo dục các cấp, góp phần thực hiện
thắng lợi nhiệm vụ năm học.

3


3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm hướng đến giải quyết các mục tiêu sau:
- Hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh
tra, kiểm tra trong giáo dục đại học.
- Đánh giá thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ở Viện Đại học Mở
Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

- Rút ra những bài học kinh nghiệm về công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ ở
Viện Đại học Mở Hà Nội
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm
tra nội bộ của Viện Đại học Mở Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử trong nghiên cứu.
4.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp thu thập thông tin số liệu
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp logic
- Phương pháp thống kê mô tả
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp chuyên gia
5. Đối tượng nghiên cứu
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về thanh tra, kiểm tra trong giáo dục
đại học.
- Các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ
của Viện Đại học Mở Hà Nội.
6. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: nghiên cứu toàn bộ hoạt động của Viện Đại học Mở Hà Nội
Phạm vi thời gian: từ khi thành lập Phòng Thanh tra (tháng 5 năm 2013)
đến nay.

4


7. Cấu trúc đề tài
Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác thanh tra, kiểm tra trong giáo dục đại
học
Chương 2: Thực trạng về công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ của Viện Đại
học Mở Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ của Viện
Đại học Mở Hà Nội.
Kết luận và khuyến nghị
Danh mục tài liệu tham khảo

5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THANH TRA,
KIỂM TRA TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1 Sự hình thành, phát triển và hoạt động của thanh tra ở Việt Nam
Văn bản pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành hệ thống tổ chức
thanh tra là Sắc lệnh 64/SL ngày 23/11/1945 thiết lập Ban thanh tra đặc biệt do Chủ
tịch Hồ Chí Minh ban hành.
Trải qua các thời kỳ lịch sử cùng với sự chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức
thanh tra có sự thay đổi về cơ chế quản lý, cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ
cho phù hợp với xu hướng đổi mới của đất nước.
Nhìn chung từ khi được thành lập đến nay cơ quan thanh tra vẫn thuộc
Chính phủ và có nhiệm vụ cơ bản là kiểm tra, xem xét để làm sáng tỏ các vấn
đề trong việc chấp hành pháp luật của hệ thống cơ quan hành pháp. Có thể nói
rằng, trước khi Luật thanh tra năm 2004 được ban hành, văn bản quy phạm
pháp luật quy định cụ thể nhất về hoạt động thanh tra là Pháp lệnh thanh tra
được Hội đồng nhà nước thông qua ngày 29/3/1990. Đây là cơ sở pháp lý cần
thiết cho việc củng cố và xây dựng các tổ chức thanh tra trong phạm vi cả
nước, tăng cường cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ ngành thanh

tra. Do đó hoạt động thanh tra trong những năm qua đã góp phần tích cực vào
quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên sau 14 năm thực hiện, Pháp lệnh thanh tra đã bộc lộ những điểm
bất cập, không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. Đổi
mới tổ chức và hoạt động thanh tra, hoàn thiện pháp luật thanh tra là một trong
những nội dung của cải cách nền hành chính. Đáp ứng nhu cầu đổi mới về hoạt
động thanh tra, hoàn thiện về cơ cấu, tổ chức bộ máy thanh tra đồng thời cũng nhằm
đồng bộ hóa các quy định của pháp luật về thanh tra, ngày 15 tháng 6 năm 2004
Quốc hội đã thông qua Luật thanh tra. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01
tháng 10 năm 2004.

6


Để đáp ứng yêu cầu mới nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH),
ngày 15 tháng 11 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật Thanh tra, luật này có hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Điều đó chứng tỏ thanh tra xuất hiện như một tất yếu khách quan ở nhiều
nước có hình thái kinh tế xã hội khác nhau, từ chế độ phong kiến đến các nhà nước
tư sản hiện đại và nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tiến hành hoạt động quản lý trên các
lĩnh vực, quy mô, chủ thể quản lý có thẩm quyền đều phải thực hiện cả ba loại công
việc sau đây:
- Đề ra chủ trương, chính sách, nhiệm vụ, kế hoạch.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện những chủ trương, chính sách và biện pháp đã đề ra.
- Thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng
quản lý thuộc quyền.
Như vậy thanh tra, kiểm tra là một khâu không thể thiếu được trong công tác
quản lý. Bàn về vai trò của hoạt động này, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh: “Có kiểm
soát như thế mới biết rõ cán bộ, nhân dân tốt hay xấu; Mới biết rõ ưu điểm khuyết

điểm của các cơ quan; Mới biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị
quyết”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “sự kiểm tra việc thực hiện được đặt ra
một cách đúng đắn là ngọn đèn pha giúp cho làm sáng tỏ tinh thần hoạt động của bộ
máy trong bất kỳ thời gian nào, chín phần mười những chỗ hỏng, chỗ hở đều do
thiếu sự kiểm tra. Thanh tra và kiểm tra thường xuyên, đúng đắn, chắc chắn những
chỗ hỏng, chỗ hở đều có thể ngăn ngừa được”.
Vai trò quan trọng của thanh tra luôn được Đảng và Nhà nước ta nhấn mạnh
trong mọi thời kỳ, giai đoạn. Thông qua thanh tra chủ thể quản lý nắm bắt được tình
hình thực hiện nhiệm vụ được giao của các đối tượng quản lý thuộc quyền, phát
hiện những thiếu sót, yếu kém, sơ hở trong quản lý, từ đó đề ra biện pháp khắc
phục, sửa chữa cũng như các biện pháp tác động phù hợp nhằm phát huy nhân rộng
những điển hình tích cực.

7


1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Những khái niệm về quản lý
Quản lý là một hiện tượng xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách
quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia, trong
mọi thời đại, qua đó có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý:
* Theo quan điểm điều khiển học:
Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức, với bản chất khác
nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật…nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì chế độ
hoạt động. Quản lý là một tác động hợp quy luật khách quan, làm cho hệ vận động
vận hành và phát triển.
* Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống:
Quản lý là “phương thức tác động có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ

thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở
các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống sớm
đạt tới mục tiêu”
Trên đây là những quan niệm khác nhau về quản lý, tuy có cách tiếp cận
khác nhau nhưng chúng tôi nhận thấy khái niệm quản lý bao hàm một ý nghĩa
chung là:
- Quản lý là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc
qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
- Quản lý là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
- Quản lý là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm
người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Nhà nước.
- Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý, thông qua các cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt
được những mục tiêu đã định.

8


Như vậy, khái niệm quản lý có thể được hiểu: Quản lý là một quá trình tác
động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục
tiêu chung. Bản chất của quản lý là một loại hình lao động phong phú, phức tạp thì
hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng.
Để đạt được mục tiêu đã định, quản lý phải thông qua các chức năng quản lý.
1.2.1.2 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là một hoạt động cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý
tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu xác định. Chức năng
quản lý chiếm giữ vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành
ở mọi cấp. Quản lý có 4 chức năng là:

- Lập kế hoạch.
- Tổ chức.
- Chỉ đạo.
- Kiểm tra, đánh giá.
1.2.1.3 Các nguyên tắc quản lý
Trong việc quản lý các tổ chức (kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục…) mà yếu
tố chủ yếu là con người, các nhà quản lý thường vận dụng các nguyên tắc, bao gồm:
- Nguyên tắc Đảm bảo tính Đảng
- Nguyên tắc Tập trung dân chủ
- Nguyên tắc Đảm bảo tính khoa học và thực tiễn
1.2.2 Thanh tra, kiểm tra
1.2.2.1. Thanh tra
- Theo cách sử dụng từ Hán – Việt: “Thanh” được hiểu là trong, không vẩn
đục, không mờ mà sáng ra (để mọi người nhìn thấy bản chất của sự vật, sự việc,
hiện tượng, nhìn thấy cái đúng, đồng thời bao hàm nghĩa minh oan và nghĩa xử lý
công bằng). “Tra” là từ bên ngoài bằng mọi cách đề tìm được hết các thông tin
nhằm đảm bảo cho sự vật, sự việc, hiện tượng được thanh tra (theo cách hiểu trên).
- Thanh tra là làm rõ mọi sự việc, hiện tượng; đồng thời trả lại tính chân lý,
tính công bằng cho sự việc và hiện tượng đó.

9


Thanh tra (Inspect) – xuất phát từ gốc Latinh (In- Spectare) có nghĩa là “nhìn
vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”.
Theo từ điển Tiếng Việt: Thanh tra (người thuộc cơ quan có thẩm quyền)
kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp.
Với nghĩa này, thanh tra bao hàm nghĩa kiểm soát nhằm: xem xét và phát
hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định. Thanh tra thường đi kèm với một chủ
thể nhất định: Người làm nhiệm vụ thanh tra, đoàn thanh tra và đặt trong phạm vi

quyền hành của một chủ thể nhất định.
Thời phong kiến, khái niệm thanh tra chưa được sử dụng, nhưng có các chức
quan làm công việc giống như thanh tra, đó là: thời Lý có chức quan Gián nghị đại
phu (tả, hữu); thời Trần có cơ quan gọi là “Ngự sử đài” với chức năng gần giống
như cơ quan Thanh tra nhà nước hiện nay và có chức quan Ngự sử đứng đầu là Ngự
sử đài; thời Lê có hàm Gián nghị đại phu phong tặng cho bất cứ bề tôi nào dám nói
thẳng, nói đúng sự thật; thời Lê Thánh Tông (1460 -1497) đặt ra chức Giám sát ngự
sử để xem xét công việc; nhà Nguyễn (thời Gia Long 1802-1819) có lục Bộ: Bộ
Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình, Bộ Công, ngoài lục Bộ có Đô sát viện để giữ
việc can gián Vua và dàn hạch các quan với các chức Cấp sự trung các khoa và
giám sát ngự sử các đạo, trong viện có tả hữu đô ngự sử và tả hữu phó đô ngự sử
đứng đầu (Việt nam sử lược tr 172 Trần Trọng Kim).
Sau khi giành độc lập (2/9/1945), nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời,
ngày 24/11/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban thanh
tra đặc biệt, thuật ngữ “thanh tra” xuất hiện, quyền thanh tra được xác định và chính
thức giao cho Chính phủ.
Hiến pháp 1946 chưa sử dụng thuật ngữ “thanh tra”, hoạt động thanh tra,
kiểm tra, chưa được giao cho một cơ quan chuyên trách nào, quyền kiểm soát đối
với Chính phủ được giao cho Ban thường vụ của Quốc hội.
Hiến pháp 1959 đã đề cập đến một số nội dung về kiểm tra việc thi hành các
quyết định quản lý nhà nước.

10


Hiến pháp 1980 sử dụng thuật ngữ “thanh tra” với nội dung là một chức năng
của cơ quan quản lý nhà nước.
Hiến pháp 1992: Khái niệm thanh tra, kiểm tra được thể hiện rõ hơn tại các
điều 112, 116 và 124; khoản 7 Điều 112 quy định Chính phủ có nhiệm vụ “tổ chức
và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của nhà nước, công tác thanh tra, kiểm tra

nhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước, công tác giải quyết
khiếu nại, tố cáo của công dân”.
Pháp lệnh Thanh tra 1990, hoạt động thanh tra của các tổ chức thanh tra
được xác định là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý Nhà nước.
Luật Thanh tra 2004 khẳng định và làm rõ hơn vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Thanh tra nhà nước.
Thanh tra gắn liền với quản lý nhà nước, luôn mang tính quyền lực nhà nước,
có tính độc lập tương đối.
Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu khái niệm thanh tra như sau: “Thanh
tra là một chức năng thiết yếu của quản lý nhà nước, là hoạt động kiểm tra xem xét,
đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc thực hiện chính sách,
pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân, được thực hiện bởi một cơ quan
chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa,
phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ
chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục; phát huy
nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý nhà
nước, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ
chức và cá nhân”.
1.2.2.2. Kiểm tra
Kiểm tra (control) có nghĩa là thẩm định, xác minh.
Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá nhận xét.
Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Kiểm tra là xem xét thực tế để tìm ra những sai
lệch so với quyết định, kế hoạch và chuẩn mực đã quy định; phát hiện ra trạng thái

11


thực tế; so sánh trạng thái đó với khuôn mẫu đã đặt ra; khi phát hiện ra những sai
sót thì cần phải điều chỉnh, uốn nắn và sửa chữa kịp thời”.
Kiểm tra có thể hiểu là sự xem xét thực tế để đưa ra đánh giá, nhận xét của

bất kỳ cá nhân nào trong xã hội trong bất cứ một hoạt động, là xem xét những diễn
biến có đúng với quy tắc đã xác lập, các tiêu chuẩn và các mệnh lệnh về quản lý đã
ban hành ra hay không.
Kiểm tra vốn là chức năng của người quản lý, không phân biệt họ làm việc ở
cấp bậc nào trong bộ máy quản lý nói chung và trong bộ máy quản lý nhà nước nói
riêng. Ở các cấp bậc khác nhau thì quy mô và yêu cầu kiểm tra có khác nhau. Trong
quản lý hành chính nhà nước, kiểm tra có mục tiêu: đó là tìm kiếm động cơ, nguyên
nhân cán bộ làm tốt (hay không làm tốt) nhiệm vụ được giao. Như vậy, kiểm tra là
một hoạt động thường xuyên.
1.2.2.3. So sánh giữa thanh tra và kiểm tra
- Sự giống nhau của thanh tra và kiểm tra.
Thanh tra, kiểm tra (TT-KT) giống nhau ở tính mục đích. Thông qua kiểm
tra, thanh tra nhằm phát huy những nhân tố tích cực, phát hiện hoặc phòng ngừa vi
phạm, góp phần thúc đẩy và hoàn thành nhiệm vụ trong hoạt động quản lý nhà
nước.
Thanh tra, kiểm tra đều phát hiện, phân tích đánh giá thực tiễn một cách
chính xác, khách quan trung thực làm rõ đúng, sai, nguyên nhân dẫn đến sai phạm,
từ đó đề xuất biện pháp khắc phục và xử lý sai phạm.
- Sự khác nhau của thanh tra và kiểm tra
Nội dung thanh tra thường đa dạng phức tạp hơn nội dung kiểm tra.
Chủ thể của kiểm tra thường đa dạng hơn thanh tra, vì nội dung kiểm tra đa dạng
và hoạt động thường xuyên, rộng khắp nên chủ thể của kiểm tra rất rộng và đa dạng.
Trong công tác quản lý, mọi cơ quan, đơn vị đều là chủ thể của kiểm tra.
Hoạt động thanh tra có yêu cầu cao hơn về tiêu chuẩn lựa chọn thanh tra viên
(phải có nghiệp vụ giỏi, am hiểu về kinh tế - xã hội, có khả năng chuyên môn sâu
vào lĩnh vực mà thanh tra hướng đến).

12



Phạm vi hoạt động thanh tra thường hạn hẹp hơn kiểm tra.
Thời gian thanh tra dài hơn thời gian kiểm tra.
Sự phân biệt giữa kiểm tra và thanh tra chỉ là tương đối khi tiến hành cuộc
thanh tra, thường phải tiến hành nhiều hoạt động kiểm tra. Ngược lại, đôi khi tiến
hành kiểm tra là để làm rõ vụ, việc và từ đó lựa chọn nội dung thanh tra. Kiểm tra
và thanh tra là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ qua lại với nhau. Do vậy
khi nói đến một khái niệm nào người ta thường nhắc đến cả cặp với tên gọi: kiểm
tra, thanh tra hay thanh tra, kiểm tra.
1.3 Vai trò của công tác thanh tra giáo dục
Trong giai đoạn hiện nay, để đạt được mục tiêu chung của giáo dục đại học: “Đào
tạo nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài; nghiên cứu khoa học, công nghệ
tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế…” thì Nhà nước phải phát huy mọi tiềm lực
sẵn có đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế về GD&ĐT. Chính vì vậy, Nhà nước ta đã
thực hiện chính sách xã hội hoá hoạt động GD&ĐT nhằm mở rộng phạm vi các chủ thể
tham gia vào lĩnh vực này. Không chỉ có các tổ chức, cá nhân trong nước mà còn có các
tổ chức, cá nhân nước ngoài; không chỉ có các cơ sở GD&ĐT mà các cơ sở khác không
phải là cơ sở GD&ĐT nhưng có hoạt động GD&ĐT cũng được tham gia vào hoạt động
GD&ĐT trong một phạm vi nhất định. Tuy nhiên, khi các chủ thể hợp pháp tham gia các
hoạt động GD&ĐT phải bảo đảm nguyên tắc không được xâm hại lợi ích Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Để thực hiện được điều này, cần
phải tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực GD&ĐT trong đó có hoạt động
thanh tra, kiểm tra. Thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra giáo dục cơ quan quản lý
nhà nước có thể đánh giá thực trạng hoạt động GD&ĐT, phát hiện, điều chỉnh, xử lý kịp
thời các sai phạm trong lĩnh vực GD&ĐT, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm cải tiến cơ chế
quản lý, hoàn thiện chu trình quản lý mới phù hợp và có hiệu quả hơn. Ngoài ra, hoạt
động thanh tra giáo dục còn giúp các tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên
quan đến lĩnh vực GD&ĐT hạn chế được các vi phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân khác.


13


* Thứ nhất, thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa. Thực chất thanh tra, kiểm tra GD& ĐT chính là việc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền tiến hành kiểm tra việc thực hiện quy định pháp luật về GD&ĐT của các cơ
quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT. Hoạt
động thanh tra, kiểm tra sẽ giúp các đối tượng được thanh tra, kiểm tra nhận thức một
cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, nhận thức được vai trò quan trọng của chính
sách phát triển giáo dục trong giai đoạn hiện nay, từ đó sẽ hình thành ý thức tuân thủ quy
định của pháp luật nói chung và những quy định của pháp luật về GD&ĐT nói riêng.
* Thứ hai, thanh tra, kiểm tra GD&ĐT góp phần nâng cao hiệu lực quản lý
nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền. Không chỉ về phía các tổ chức và cá nhân
có hoạt động trong hoặc liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT mà ngay cả về phía cơ
quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực GD&ĐT cũng cần phải có sự chấp hành pháp
luật một cách triệt để. Công tác thanh tra, kiểm tra giúp các cơ quan chức năng nhận
thức đúng và làm tròn vai trò, trách nhiệm được giao. Các cơ quan quản lý nhà nước
trong lĩnh vực GD&ĐT được đề cập ở đây bao gồm tất cả các cơ quan có thẩm
quyền quản lý về GD&ĐT nói chung và các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm
tra GD&ĐT nói riêng.
* Thứ ba, thanh tra, kiểm tra GD&ĐT nâng cao năng lực quản lý cho người đứng
đầu các cơ sở GD&ĐT. Để một cơ sở GD&ĐT hoạt động có hiệu quả thì yếu tố mang
tính quyết định chính là công tác lãnh đạo của Hiệu trưởng. Khi diễn ra hoạt động thanh
tra, kiểm tra toàn diện một cơ sở GD&ĐT thì công tác lãnh đạo của Hiệu trưởng là một
nội dung thanh tra, kiểm tra quan trọng. Theo đó, Hiệu trưởng có trách nhiệm giải trình
về hoạt động của mình trước cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra. Những sai lầm,
thiếu sót, nếu có, sẽ kịp thời được phát hiện và có biện pháp xử lý phù hợp. Ngược lại,
những ưu điểm, những mặt tích cực sẽ kịp thời được biểu dương và phát huy một cách
có hiệu quả. Như vậy, thanh tra, kiểm tra giúp Hiệu trưởng nhận rõ ưu, khuyết điểm của
nhà trường cũng như của bản thân trong công tác quản lý, góp phần thực hiện tốt các yêu

cầu GD&ĐT được giao theo chương trình, kế hoạch của cơ quan quản lý nhà nước cấp

14


trên. Đồng thời có thể kiến nghị với cấp có thẩm quyền nhằm điều chỉnh, bổ sung chủ
trương, biện pháp đã đưa ra hoặc đáp ứng yêu cầu cấp bách của cơ sở.
* Thứ tư, thông qua công tác thanh tra, kiểm tra GD&ĐT, những vi phạm, thiếu
sót sẽ kịp thời được phát hiện, khắc phục và xử lý nghiêm minh theo đúng quy định của
pháp luật. Đây là một trong những ý nghĩa quan trọng nhất của công tác thanh tra, kiểm
tra vì trong quá trình hoạt động, các cơ sở GD&ĐT khó tránh được những sai lầm, vi
phạm. Những tồn tại này có thể do nguyên nhân khách quan (văn bản pháp luật quy định
về lĩnh vực giáo dục còn chưa đầy đủ, thiếu sự quan tâm chỉ đạo từ phía các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền, v.v...), có thể xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan (năng lực,
trình độ chuyên môn yếu kém của một số giáo viên, sự hiểu biết hạn chế về các quy định
của pháp luật trong lĩnh vực GD&ĐT của một số cán bộ, giáo viên, v.v...). Việc phát
hiện, khắc phục và xử lý các vi phạm sẽ loại bỏ những nhân tố tiêu cực, góp phần thanh
lọc, chấn chỉnh hoạt động của các cơ quan, tổ chức và cá nhân có hoạt động trong hoặc
liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT, nâng cao chất lượng GD&ĐT.
1.4 Đại học và công tác thanh tra
1.4.1 Đại học
Theo Luật Giáo dục Đại học : “Đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ
hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên
thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình
độ của giáo dục đại học”.

1.4.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động thanh tra giáo dục và thanh tra giáo dục
đại học.
- Luật Giáo dục đại học ngày 18 tháng 6 năm 2012
- Luật thanh tra số 56/2010/QH 12 ngày 15 tháng 11 năm 2010

- Luật Khiếu nại 2011
- Luật Tố cáo 2011
- Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2011 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra;

15


- Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật khiếu nại; Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 01/10/2012
của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật tố cáo;
- Nghị định số 138/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ
quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giáo dục;
- Thông tư số 51/2012/TT-BGD ĐT ngày 18 tháng 12 năm 2012 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra của cơ sở giáo dục
đại học, trường trung cấp chuyên nghiệp;
- Thông tư số 40/2013/TT-BGD ĐT ngày 18 tháng 12 năm 2013 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo quy định về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, giải quyết tố
cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Thông tư số 04/2013/TT-TTCP ngày 29 tháng 7 năm 2013 của Thanh tra
chính phủ quy định thẩm quyền, nội dung thanh tra trách nhiệm thực hiện pháp luật
về khiếu nại;
- Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30 tháng 9 năm 2013 của Thanh tra
chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo;
- Thông tư số 03/2013/TT-TTCP ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thanh tra
chính phủ quy định chế độ báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và phòng chống tham nhũng.

1.4.3 Tổ chức và hoạt động thanh tra của cơ sở giáo dục đại học
Thanh tra việc thực hiện pháp luật, chính sách về giáo dục đại học;

Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà
nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về giáo dục đại học;
Xác minh, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
tố cáo về giáo dục đại học.
Cơ sở giáo dục đại học thực hiện tự thanh tra và tự kiểm tra theo quy định
của pháp luật. Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học chịu trách nhiệm về thanh tra,
kiểm tra trong cơ sở giáo dục đại học.

16


Bảng 1.1 Mô hình tổ chức công tác thanh tra ở một số trường đại học tại Việt Nam

STT

Tên trường đại học

Tên gọi hoặc công tác thanh
tra thuộc đơn vị

Số cán bộ

1

ĐH Mở TPHCM

P.Thanh tra

05


2

ĐH Kinh tế QD

P.Thanh tra – Pháp chế

09

3

ĐH Bách khoa HN

TT Đảm bảo CL

14

4

ĐH Thủy lợi

P.Tổ chức Hành chính

08

5

ĐH Ngoại thương

P.Tổ chức Hành chính


07

6

ĐH Thành Đô

P.QLHS-SV và TTra GD

05

7

ĐH Điện lực

P.Thanh tra – Pháp chế

06

8

ĐH KHXH và NV

P.Thanh tra – Pháp chế

04

9

ĐH Hồng Đức


P.Thanh tra

05

10

ĐH Hàng hải

P.Thanh tra

03

Ghi chú

Nguồn: Website các trường nêu trên
Từ bảng 1.1 cho thấy:
- Đa số các trường thực hiện nghiêm túc Thông tư 51/2012 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, do đó đã thành lập riêng phòng thanh tra.
- Mộ số trường ghép phòng thanh tra với một số bộ phận khác như pháp
chế, đảm bảo chất lượng hoặc công tác sinh viên nhưng vẫn phải có từ “thanh tra”
- Một số trường để chức năng thanh tra nằm trong phòng, trung tâm khác
như Tổ chức hành chính, đảm bảo chất lượng, như vậy là chưa nghiêm túc thực hiện
quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

17


Kết luận chương 1
Chương 1 đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận chung về thanh tra, kiểm tra
trong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng. Nghiên cứu tổng quan các

công trình đã nghiên cứu về thanh tra, kiểm tra qua các thời kỳ, các chế độ, qua các
lần sửa đổi hiến pháp và pháp luật. Khái quát hóa việc tổ chức mô hình công tác
thanh tra tại một số trường đại học trong nước có nhiều đặc thù và đóng trên địa bàn
gần với Viện Đại học Mở Hà Nội, cả mô hình trường công lập và dân lập. Từ đó so
sánh, liên hệ với cách thức tổ chức và mô hình Phòng thanh tra của Viện.
Những cơ sở lý luận và thực tiễn về thanh tra, kiểm tra trong chương 1 là
khung phân tích quan trọng cho việc xem xét, phân tích, đánh giá thực trạng công
tác thanh tra, kiểm tra nội bộ tại Viện Đại học Mở Hà Nội ở chương 2.

18


×