Tải bản đầy đủ (.pdf) (141 trang)

Nghiên cứu đổi mới quá trình dạy và học môn học thực hành hướng dẫn du lịch tại khoa du lịch, viện đại học mở hà nội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.96 MB, 141 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

NGHIÊN CỨU ĐỔI MỚI QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC
MÔN HỌC “THỰC HÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH”
TẠI KHOA DU LỊCH, VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

Mã số: V2014-15

Chủ nhiệm đề tài: Ths. Nguyễn Thị Lan Hương

Hà Nội, tháng 12/2014
i


Thành viên tham gia nghiên cứu đề tài:
Ths. Nguyễn Thị Lan Hương
Ths. Trịnh Thanh Thủy
Ths. Lê Quỳnh Chi
Ths. Trần Thị Mỹ Linh
Đơn vị phối hợp chính:
Một số công ty du lịch lữ hành trên địa bàn Hà Nội
Một số trường đại học và cao đẳng có đào tạo về du lịch trên địa bàn
Hà Nội.

ii


MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................1


1.Tính cấp thiết của đề tài ...................................................................................................... 1
2. Mục tiêu:............................................................................................................................ 2
3. Nhiệm vụ nghiên cứu: ........................................................................................................ 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: ..................................................................................... 2
5. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................... 3
3.1. Phương pháp thống kê ..................................................................................................... 3
3.2. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu .......................................................... 3
3.3. Phương pháp điều tra xã hội học ..................................................................................... 3
3.4. Phương pháp khảo sát thực tế .......................................................................................... 4
3.5. Phương pháp chuyên gia ................................................................................................. 4
Chương 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC Ở BẬC ĐẠI
HỌC VÀ CHUYÊN NGÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH ................................................... 6
1.1.Một số vấn đề lý luận về quá trình dạy và học ở bậc đại học ....................................... 6
1.1.1.Sinh viên đại học ........................................................................................................... 6
1.1.2. Giảng viên đại học ....................................................................................................... 7
1.1.3. Mục tiêu và nội dung dạy và học ở đại học ................................................................... 9
1.1.4. Phương pháp giảng dạy đại học .................................................................................. 11
1.1.5. Công tác kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của sinh viên ........................................ 12
1.2. Một số vấn đề lý luận về hướng dẫn viên du lịch ....................................................... 13
1.2.1. Khái niệm về hướng dẫn du lịch ................................................................................. 13
1.2.2. Khái niệm về hướng dẫn viên du lịch ......................................................................... 14
1.2.3. Trách nhiệm của hướng dẫn viên du lịch .................................................................... 15
1.2.4. Đặc điểm lao động của hướng dẫn viên du lịch ........................................................... 18
1.2.5. Một số yêu cầu đối với hướng dẫn viên du lịch ........................................................... 19
1.3. Yêu cầu đối với việc dạy và học môn thực hành hướng dẫn du lịch tại Khoa du lịch,
Viện Đại học Mở Hà Nội .................................................................................................... 24
1.3.1 Vai trò của việc thực hành đối với sinh viên du lịch..................................................... 24
1.3.2. Các phương pháp giảng dạy trong môn thực hành hướng dẫn du lịch ......................... 26
1.3.3. Yêu cầu đối với giảng viên dạy thực hành hướng dẫn du lịch ..................................... 28
1.4 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về đào tạo thực hành hướng dẫn du lịch

35
Tiểu kết chương 1: ............................................................................................................. 355
Chương 2:ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC DẠY VÀ HỌC MÔN HỌC “THỰC HÀNH
HƯỚNG DẪN DU LỊCH” TẠI KHOA DU LỊCH,VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI.........36
2.1. Giới thiệu chung về chương trình học quản trị kinh doanh hướng dẫn du lịch, Khoa
du lịch Viện đại học Mở Hà Nội theo hệ thống niên chế .................................................. 36
2.2. Giới thiệu về chương trình thực hành hướng dẫn du lịch tại Khoa du lịch, Viện đại
học Mở Hà Nội ................................................................................................................... 40
iii


2.3. Đánh giá chung về tình hình dạy và học môn học thực hành đối với chuyên ngành
Hướng dẫn du lịch tại Khoa du lịch, Viện đại học Mở Hà Nội ........................................ 43
2.3.1 Đánh giá từ phía sinh viên ........................................................................................... 43
2.3.2 Đánh giá từ phía Giáo viên .......................................................................................... 49
2.3.3 Đánh giá từ phía công ty du lịch .................................................................................. 55
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................................ 61
Chương 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC MÔN
HỌC “THỰC HÀNH HƯỚNG DẪN DU LỊCH” TẠI KHOA DU LỊCH, VIỆN ĐẠI
HỌC MỞ HÀ NỘI ............................................................................................................. 64
3.1 Đổi mới nội dung chương trình ................................................................................... 64
3.1.1Định hướng nội dung chương trình đào tạo chuyên ngành hướng dẫn tại Khoa du lịch,
Viện đại học Mở Hà Nội ...................................................................................................... 64
3.1.2 Đổi mới về nội dung chương trình thực hành hướng dẫn du lịch .................................. 69
3.2 Đổi mới về hình thức tổ chức dạy và học môn học thực hành hướng dẫn du lịch ............ 75
3.2.1 Lý thuyết ..................................................................................................................... 75
3.2.2 Thực hành kỹ năng hướng dẫn tại điểm ....................................................................... 75

3.2.3 Thực hành kỹ năng hướng dẫn suốt tuyến………………………………………80
3.2Đổi mới về phương pháp dạy và học ............................................................................ 82

3.4 Đổi mới về cách thức đánh giá ..................................................................................... 86
Tiểu kết chương 3: ............................................................................................................... 88
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................................... 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 91
PHỤ LỤC ........................................................................................................................... 94

iv


HỆ THỐNG BẢNG BIỂU
Bảng 1: Các cách xử sự có hiệu quả và không có hiệu quả của giáo viên ................... 9
Bảng 2: Số lượng giáo viên nước ngoài tham gia dạy thực hành ................................ 48
Bảng 3: Số lượng giáo viên Việt Nam tham gia dạy thực hành .................................. 48
Bảng 4: Mức độ tự tin của sinh viên trong hoạt động hướng dẫn thuyết minh du lịch 56
Bảng 5: Kinh nghiệm thuyết minh thực tế nghề nghiệp của sinh viên chuyên ngành
hướng dẫn của một số trường cao đẳng, đại học trên địa bàn Hà Nội. ........................ 58
Biểu đồ 1: Công tác tổ chức môn học (đánh giá của sinh viên) .................................. 43
Biểu đồ 2: Lựa chọn các điểm tham quan trong chương trình thực hành (đánh giá của
sinh viên) ................................................................................................................... 44
Biểu đồ 3: Kỹ năng hướng dẫn tại điểm (đánh giá của sinh viên) ............................... 45
Biểu đồ 4: Kỹ năng hướng dẫn suốt tuyến (đánh giá của sinh viên) ........................... 47
Biểu đồ 5: Công tác tổ chức môn học (đánh giá của giáo viên) .................................. 50
Biểu đồ 6: Các điểm du lịch được lựa chọn trong môn học (đánh giá của giáo viên) .......... 51
Biểu đồ 7: Đánh giá kỹ năng hướng dẫn tại điểm của sinh viên sau khi học thực hành (đánh
giá của giáo viên)..................................................................................................................... 52
Biểu đồ 8: Đánh giá kỹ năng hướng dẫn suốt tuyến của sinh viên sau khi học thực hành
(đánh giá của giáo viên) .......................................................................................................... 54
Biểu đồ 9: Thái độ ý thức tại cơ sở làm việc (đánh giá của doanh nghiệp)........................... 55
Biểu đồ 10: Khả năng giao tiếp và tinh thần học hỏi (đánh giá của doanh nghiệp)............... 55
Biểu đồ 11: Mức độ nhận thức về hoạt động hướng dẫn thuyết minh du lịch của sinh

viên du lịch chuyên ngành hướng dẫn của một số trường đại học, cao đẳng trên địa bàn
Hà Nội ....................................................................................................................... 57
Biểu đồ 12: Hiểu biết chuyên môn nghiệp vụ về lý thuyết và năng lực vận dụng vào thực
tếcủa sinh viên chuyên ngành hướng dẫn du lịch (đánh giá của doanh nghiệp). .................... 59
Biểu đồ 13: Kỹ năng hướng dẫn tour tại điểm của sinh viên chuyên ngành hướng dẫn (đánh
giá của doanh nghiệp).............................................................................................................. 6
v


PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Du lịch là một ngành dịch vụ vì vậy yếu tố con người đóng vai trò tiên
quyết. Đặc biệt trong lĩnh vực lữ hành, đội ngũ hướng dẫn viên hiện nay vừa
thiếu vừa yếu. Là linh hồn của chuyến đi, là người tiếp xúc với khách nhiều
nhất, hướng dẫn viên chính là đại sứ không chỉ cho một công ty du lịch, một
điểm du lịch mà cho cả ngành du lịch một đất nước. Để khiến du khách cảm
thấy hài lòng, bên cạnh việc nâng cao chất lượng dịch vụ thì nâng cao chất
lượng của đội ngũ hướng dẫn viên là yêu cầu ngày càng trở nên bức thiết
Một hướng dẫn viên chuyên nghiệp đòi hỏi cần phải trau dồi rất nhiều
kĩ năng như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết minh du lịch, kĩ năng tổ chức sự
kiện, kĩ năng xử lý tình huống,…. Du khách có cảm nhận hết nét đẹp của
điểm đến hay không phụ thuộc rất nhiều vào khả năng hướng dẫn của hướng
dẫn viên. Tuy nhiên, hiện nay không ít hướng dẫn viên chưa có ý thức đầy đủ
về tầm quan trọng của những kĩ năng này. Nhiều hướng dẫn viên chưa biết
cách truyền tải những nội dung cơ bản, hấp dẫn đến với du khách một cách
hiệu quả khi đang trên xe, hay khi đi bộ tại điểm cùng du khách,… Chính vì
vậy, việc xây dựng và rèn luyện kĩ năng hướng dẫn du lịch cho sinh viên khoa
du lịch chuyên ngành hướng dẫn – những hướng dẫn viên tương lai từ khi còn
ngồi trên ghế nhà trường là vô cùng cần thiết.
Việc đào tạo và rèn luyện các kỹ năng du lịch thực hành tại các trường

đại học và cao đẳng cần có sự phối hợp hợp lý giữa lý thuyết và thực hành vì
vậy việc nghiên cứu và rút kinh nghiệm để tạo ra hiệu quả cao nhất cho việc
học tập của sinh viên và việc giảng dạy của giáo viên cần được quan tâm và
đánh giá một cách đầy đủ.
Đó chính là lý do chúng tôi quyết định chọn đề tài “Nghiên cứu đổi
mới quá trình dạy và học môn học “Thực hành hướng dẫn du lịch” tại
Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu khoa
1


họcnhằm tìm ra một định hướng mới trong công tác đào tạo kỹ năng cho sinh
viên chuyên ngành ở bậc đại học.
2. Mục tiêu:
Hệ thống cơ sở lý luận về nghiệp vụ và kỹ năng hướng dẫn du lịch
dành cho sinh viên du lịch chuyên ngành hướng dẫn.
Nghiên cứu thực trạng, tình hình hiểu biết và khả năng vận dụng
nghiệp vụ và kĩ năng hướng dẫn du lịch của sinh viên chuyên ngành
hướng dẫn du lịch, Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội.
Hoàn thiện hệ thống tài liệu giảng dạy (giáo trình, hệ thống phiếu
đánh giá, các tài liệu hỗ trợ giảng dạy khác) và đưa ra các giải pháp
nhằm hoàn thiện chương trình dạy và học nghiệp vụhướng dẫn cho
sinh viên du lịch chuyên ngành hướng dẫn tại Khoa Du lịch, Viện
Đại học Mở Hà Nội.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nghiệp vụ hướng
dẫn du lịch. Các nội dung cụ thể bao gồm: các vấn đề về nghiệp vụ hướng dẫn
du lịch (khái niệm, đặc điểm, yêu cầu...); tổng quan kinh nghiệm hướng dẫn
du lịch suốt tuyến và tại điểm từ đó rút ra bài học cho việc dạy và học tại
Khoa.
+ Đánh giá thực trạng về chất lượng dạy, học và sử dụng sinh viên

chuyên ngành hướng dẫn du lịchtại Khoa.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng việcdạy
và học bao gồm: các giải pháp trước mắt, các giải pháp lâu dài.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Chương trình dạy và học môn học “Thực hành hướng dẫn du lịch” tại
Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội;
2


+ Việc dạy và học của giáo viên và sinh viên thuộc chuyên ngành hướng
dẫn du lịch tại Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội.
+ Sinh viên đã và đang học “Thực hành hướng dẫn du lịch” tại Khoa du
lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội và một số
công ty du lịch đang hoạt động trên địa bàn Hà Nội.
+ Về thời gian: thu thập và xử lý các thông tin liên quan đến đối tượng
nghiên cứu trong phạm vi không gian nghiên cứu đã xác định trong khoảng
thời gian từ năm 2011 đến năm 2014.
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Phương pháp thống kê
Những tài liệu thống kê về số lượng sinh viên, về chương trình học, về
kỹ năng và nghiệp vụ hướng dẫn...là những số liệu mang tính định lượng.
Trên cơ sở khai thác từ nhiều nguồn như Khoa Du lịch, các công ty du
lịch...các số liệu được đưa vào xử lý, phân tích để từ đó rút ra những kết luận
đánh giá có tính thực tiễn cao.
3.2. Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu là phương pháp cần
thiết trong việc tiếp cận vấn đề nghiên cứu. Trên cơ sở những tài liệu thu thập

được và những kết quả phân tích, tổng hợp tài liệu, nhóm nghiên cứu đã định
hình được những thông tin, dữ liệu toàn diện và khái quát về chủ đề nghiên cứu.
3.3. Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp điều tra xã hội học là một trong những phương pháp đặc
trưng trong nghiên cứu du lịch bao gồm hoạt động phỏng vấn trực tiếp cá nhân
và phỏng vấn qua phiếu điều tra. Trong đó phỏng vấn qua phiếu điều tra được sử
dụng nhiều hơn cả vì lượng thông tin thu được nhiều, với tính xác thực cao, có
3


ưu thế đặc biệt đối với những vấn đề tế nhị và chi phí thấp. Đề tài đã tổ chức
điều tra 03 nhóm đối tượng trong đó có 02 nhóm đối tượng là cá nhân và 01
nhóm đối tượng là tổ chức gồm:
+ Nhóm đối tượng là sinh viên đã hoàn thành chương trình môn học,
+ Nhóm đối tượng là sinh viên đang theo học chương trình môn học,
+ Nhóm đối tượng là các doanh nghiệp lữ hành nội địa và quốc tếcó sử
dụng lao động là sinh viên của Khoa,
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích kết quả điều tra, đề tài đã đưa ra được các
nhận định, đánh giá về hiện trạng dạy và học cũng như việc tổ chức môn học
gồm hiện trạng về trình độ nghiệp vụ, kỹ năng hướng dẫn du lịch,...; công tác tổ
chức môn học; làm cơ sở để đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới quá trình dạy
và học môn học “Thực hành hướng dẫn du lịch” trong thời gian tới.
3.4. Phương pháp khảo sát thực tế
Đây là phương pháp được nhóm cán bộ thực hiện đề tài sử dụng trong
quá trình nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng công tác tổ chức,
thực hành kỹ năng thuyết minh tại điểm, suốt tuyến tại các điểm tham quan,
du lịch... Đề tài đã thực hiện 02 đợt khảo sát 5 ngày từ Hà Nội vào Đà Nẵng
và một số điểm tham quan du lịch tại Hà Nội: Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí
Minh tại Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Dân tộc học, Văn Miếu – Quốc tử giám...
Chương trình được lựa chọn khảo sát có sự lựa chọn về chương trình và

điểm đến đảm bảo yếu tố phong phú về loại hình du lịch gồm các điểm du
lịch văn hóa lịch sử, các điểm du lịch tự nhiên, sinh thái, các điểm du lịch
cộng đồng và các điểm vui chơi giải trí. Những hoạt động này có ảnh hưởng
mang tính quyết định đến trình độ, kỹ năng, nghiệp vụ của hướng dẫn viên.
3.5. Phương pháp chuyên gia
Việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực liên
quan đến chủ đề nghiên cứu là rất cần thiết. Nhóm thực hiện đề tài đã sử dụng
biện pháp tọa đàm và gặp gỡ, trao đổi trực tiếp đối với các chuyên gia trên địa
4


bàn Hà Nội dịch vụ thuyết minh, hướng dẫn, về công tác đào tạo đội ngũ
hướng dẫn, .... Các chuyên gia được mời tham gia ý kiến là các chuyên gia
trong lĩnh vực du lịch, đào tạo, các nhà quản lý các doanh nghiệp, các điểm
du lịch.... Các ý kiến đóng góp của các chuyên gia đã góp phần hoàn thiện và
nâng cao giá trị của các kết quả nghiên cứu của đề tài.
4. Kết cấu của đề tài
Đề tài được kết cấu gồm 3 phần ngoài phần mở đầu và kết luận:
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về quá trình dạy và học ở bậc đại học và
chuyên ngành hướng dẫn du lịch.
Chương 2: Đánh giá công tác dạy và học môn học thực hành hướng dẫn
du lịch tại Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất đổi mới quá trình dạy và học môn học thực hành
hướng dẫn du lịch tại Khoa Du lịch, Viện Đại học Mở Hà Nội

5


PHẦN NỘI DUNG
Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUÁ TRÌNH DẠY VÀ HỌC Ở
BẬC ĐẠI HỌC VÀ CHUYÊN NGÀNH HƯỚNG DẪN DU
LỊCHĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP VIỆN
1.1.

Một số vấn đề lý luận về quá trình dạy và học ở bậc đại học

1.1.1. Sinh viên đại học
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông và thoả mãn những yêu cầu thi tuyển
đầu vào và điều kiện tài chính cần thiết, học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông có
thể tiếp tục theo học lên ở các trình độ cao hơn trong hệ thống giáo dục đại học.
Sinh viên đại học tương lai mang theo mình những kinh nghiệm về học tập và xã
hội khác nhau. Các trường ở bậc đại học hy vọng sự giáo dục, đào tạo sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho những thay đổi tốt trong hành vi và phát huy những mặt tốt của
sinh viên.
Kinh nghiệm chỉ ra rằng một số những thiếu hụt có thể hạn chế khả năng hoặc
mơ ước của sinh viên đại học để thực hiện có hiệu quả quá trình dạy, học ở trường
đại học. Ví dụ, họ cần tự quản lý về thời gian cũng như làm các công việc một cách
độc lập (tiến hành những nghiên cứu trong ngành đào tạo của mình). Sinh viên cũng
cần phải có quan điểm học tập là tập trung vào việc hình thành kiến thức, óc sáng
tạo và cách giải quyết vấn đề. Những kinh nghiệm học tập ở phổ thông, mà đặc
trưng là sự kiểm soát từ bên ngoài, cách thức dạy và học truyền thống (đặc biệt là
học vẹt) và sự đe dọa môi trường học tập chắc chắn không chuẩn bị cho họ gánh lấy
trách nhiệm đối với việc học tập của mình.
Một điểm không được bỏ qua khi chúng ta xem xét về bản chất của các sinh
viên đại học, đặc biệt đối với những người dưới 20 tuổi là sự thiếu khả năng kiểm
soát tình cảm và các vấn đề khác do giai đoạn phát triển của họ. Do vậy, chừng nào
còn một số vấn đề cần phải đối mặt với thì cần tổ chức những buổi hướng dẫn và
những buổi tư vấn. Tất nhiên, giảng viên phải có những chiến lược học/dạy thích


6


hợp để tạo điều kiện cho các sinh viên dễ dàng chuyển tiếp từ trung học phổ thông
lên đại học.
Đa số các hành vi của sinh viên khi mới vào trường có thể được giải thích dựa
vào quá trình đào tạo của họ. Vậy điều gì cần thay đổi về phương pháp dạy ở bậc đại
học để đáp ứng với nhu cầu học tập của sinh viên mới trong các môn chuyên ngành.
1.1.2. Giảng viên đại học
Giảng viên đại học cần phải vừa là một giảng viên và vừa là một nhà nghiên
cứu sáng tạo đồng thời phải là một người đóng góp sức mình cho sự phát triển của
nhà trường và của cộng đồng.
Các giảng viên cần phải:
• Thiết kế chương trình dạy học hoặc kế hoạch làm việc từ đề cương và
chươngtrình đào tạo;
• Sử dụng hàng loạt các phương pháp dạy và học một cách thích hợp, hiệu quả
và có hiệu suất cao với các nhóm đông các sinh viên, nhóm ít sinh viên hơn
và với từng người;
• Giúp đỡ sinh viên giải quyết các vấn đề học thuật với phương pháp được
nhiều sinh viên chấp nhận;
• Sử dụng nhiều kỹ thuật đánh giá thích hợp để thúc đẩy việc học tập của sinh
viên và để đạt được thành tích cao;
• Đánh giá việc làm của riêng mình bằng nhiều cách: tự đánh giá, đánh giá
thông qua đồng nghiệp, từ sinh viên và dùng các kỹ thuật đánh giá;
• Thực hiện hiệu quả việc trợ giúp giảng dạy và nhiệm vụ quản lý học tập;
• Phát triển chiến lược cho bản thân và chuyên môn nghiệp vụ thích ứng với
các điều kiện của nhà trường.
Công tác giảng dạy đại học:
Mục đích chính của giảng dạy đại học bao gồm các mục tiêu như làm thay
đổi tri thức và năng lực thực sự của sinh viên, tăng cường khả năng nhận thức (ví dụ

kỹ năng nghiên cứu, các kỹ năng suy luận, kỹ năng viết, kỹ năng đọc và kỹ năng
nghề) và hiểu rõ giá trị tri thức của nội dung môn học. Đối với nhiều người, việc
truyền đạt kiến thức và các kỹ năng cho sinh viên là mục tiêu chủ yếu của giảng dạy
đại học.
7


Dạy học là cung cấp những cơ hội đặc biệt để nhận thức rõ những giá trị
quan trọng, thực chất trong cuộc sống. Điều đó làm tăng khả năng mà thực chất là
yêu cầu giảng viên không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết. Thế giới của người
thày giáo là thế giới học tập và cơ hội dành cho tự giáo dục và thoả mãn sự ham
hiểu biết là không có nghề nào có thể sánh được. Trong khi giáo dục những người
khác, người giáo viên nhận ra những điểm yếu và tiềm năng của chính bản thân
mình.
Vai trò của người thày trong việc giáo dục sinh viên ngày càng trở nên quan
trọng. Chúng ta từng nghĩ về người thày như là người chế biến thông tin. May mắn
thay, sự bùng nổ kiến thức đã buộc chúng ta nhận thức lại vai trò người thày. Không
thể nào pha trộn, chế biến tất cả những kiến thức mà sinh viên sẽ cần cho cuộc đời
họ sau khi ra trường, vì thế chúng ta cần nhấn mạnh “biết học như thế nào” là điều
cốt yếu của nền giáo dục hiện đại. Vì vậy vai trò mới của người giáo viên trở thành
nhân tố kích thích trí tò mò của sinh viên, mài sắc thêm năng lực nghiên cứu độc
lập, tăng cường khả năng tổ chức và sử dụng kiến thức.
Nói tóm lại, giảng viên đại học thường được coi là tấm gương của một học
giả mẫu mực mà sinh viên của họ muốn được noi theo và là hiện thân thực sự về
môn học mà họ đang đảm nhận. Vai trò mới của người giảng viên như là một hình
mẫu sẽ có ý nghĩa sâu xa hơn nhiều so với vai trò chỉ đơn thuần là người pha trộn,
chế biến thông tin trong việc làm gia tăng ảnh hưởng của giảng viên lên cách tư duy
và phương pháp nghiên cứu của sinh viên trong suốt cuộc đời. Bởi thế, người thày
phải biết chấp nhận những thách thức để thực hiện tốt vai trò đặc biệt của mình.
Việc định hướng cơ hội phát triển đối với thế hệ sau có thể là một biểu hiện

cao quý nhất của con người. Một học giả đã nhận xét về nghề thày giáo như là một
“sự cao quí vĩnh cửu trọn vẹn đối với ai bước vào nghề dạy học” - đó thực sự là một
vinh dự và trách nhiệm. Người thầy luôn có may mắn với những cơ hội hàng ngày
để trả lời cho sự cao quí đó.

8


Bảng 1.1 Các cách xử sự có hiệu quả và không có hiệu quả của giáo viên
Hành vi có hiệu quả

Hành vi không hiệu quả

Hoạt bát, thể hiện nhiệt tình

Lãnh đạm, uể oải; thể hiện buồn chán

Quan tâm đến sinh viên và các hoạt

Thể hiện không quan tâm đến sinh viên

động của lớp học

và các hoạt động của lớp học

Vui vẻ và lạc quan

Chán nản, bi quan, buồn bã

Tự kiểm soát được mình


Dễ mất bình tĩnh, bối rối

Thích đùa, hài hước

Quá nghiêm chỉnh, hài hước thái quá

Thừa nhận thiếu sót và khuyết điểm

Không nhận khuyết điểm của mình

Công bằng, vô tư, và khách quan

Không công bằng, vô tư, và không khách

trong đối xử với sinh viên

quan trong đối xử với sinh viên

Kiên nhẫn

Không kiên nhẫn

Cho thấy hiểu biết và cảm thông với

Chấp nhặt với sinh viên, dùng những

sinh viên

nhận xét châm chọc hoặc thiếu thiện

cảm với sinh viên

Thân thiện và nhã nhặn trong quan hệ

Xa lánh và biệt lập trong quan hệ với

với sinh viên

sinh viên
[Nguồn 17]

1.1.3. Mục tiêu và nội dung dạy và học ở đại học
Với sự phát triển cực kỳ nhanh chóng của khoa học và công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin và truyền thông, nhân loại đang bước đầu quá độ sang nền
kinh tế tri thức. Từ trên nền tảng đó, cùng với những biến đổi lớn lao về chính trị xã
hội vào các thập niên vừa qua, xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ đang diễn ra trên thế
giới. Trong bối cảnh này, triết lý về giáo dục cho thế kỷ 21 cũng có những biến đổi
sâu sắc, đó là lấy việc “ học suốt đời” làm nền móng và dựa trên các mục tiêu tổng
quát là bốn trụ cột của việc học: “ học để biết, học để làm, học để sống và học để
làm người “, nhằm hướng tới xây dựng một “xã hội học tập" .
9


Sản phẩm đào tạo của giáo dục đại học sẽ hoạt động trong một nền kinh tế
thị trường có tính quốc tế, và trong một khung cảnh hội nhập về văn hóa, giáo
dục,… Đặc điểm quan trọng nhất của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh, đó là
động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển. Như vậy sản phẩm đào tạo của giáo dục
đại học là vừa biết sống hòa hợp với cộng đồng dân tộc và quốc tế, vừa có năng lực
cạnh tranh để tự khẳng định và phát triển. Đó là những đòi hỏi quan trọng của thời
kỳ mới đối với sản phẩm đào tạo đại học, cũng là những thách thức mới của giáo

dục đại học nói chung và giáo dục đại học ở Việt Nam nói riêng.
Trong bối cảnh mới của thời đại và xuất phát từ các triết lý mới về giáo dục,
chúng ta cần xác định mục tiêu đào tạo đối với sinh viên đại học như sau:
i) Các tiềm năng để học tập, nghiên cứu: dựa trên việc đào tạo chuyên môn, nhưng
còn bao gồm tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, có năng lực đổi mới tư duy và học
lại trong suốt cuộc đời. Tất cả tiềm năng để học tập này mà sinh viên rèn luyện
được trong thời gian học đại học sẽ giúp cho việc học tập trong suốt cuộc đời họ,
còn tri thức mà họ thu nhận được chỉ có thể sử dụng trong một thời gian ngắn. Từ
đó có thể thấy rõ cách học quan trọng hơn nhiều so với kiến thức. Hơn nữa, cần lưu
ý thêm là họ biết cách học chưa đủ, mà họ phải tự tạo nên được thói quen và niềm
say mê học suốt đời, tức là bản thân nhóm năng lực này liên quan đến cả tri
thức cũng như thái độ mà sinh viên đạt đươc trong quá trình học tập.
ii) Các kỹ năng phát triển cá nhân gắn kết với xã hội: tự tin, quyết tâm cao, tôn
trọng các giá trị đạo đức, hiểu biết rộng về xã hội và thế giới. Trong quy định về nội
dung đào tạo ở cấp bậc đại học bao gồm hai mảng kiến thức: mảng kiến thức giáo
dục đại cương và mảng kiến thức giáo dục chuyên nghiệp. Mảng kiến thức giáo dục
đại cương liên quan nhiều đến nhóm tiềm năng này.
iii) Các kỹ năng sáng nghiệp: các tiềm năng đáp ứng cả việc lãnh đạo và làm việc
đồng đội, làm chủ công nghệ thông tin truyền thông và các công nghệ khác v.v…
Nhóm tiềm năng này thể hiện rõ yêu cầu đối với một người hoạt động trong một
nền kinh tế thị trường, cần các kỹ năng để khẳng định mình, để tồn tại, đồng thời để
canh trạnh nhằm phát triển. Trong đó cần hết sức lưu ý đến kỹ năng làm việc đồng
đội và kỹ năng lãnh đạo, tức là khả năng thuyết phục đồng đội làm việc theo đề xuất
của mình, khả năng hòa mình với đồng đội trong công việc. Với các kỹ năng này
10


sản phẩm đào tạo sẽ có nhiều thuận lợi cho sinh viên khi ra trường sẽ tìm cho mình
một việc làm thích hợp, lập nghiệp, cũng như khi tạo ra việc làm mới cho mình và
cho nhiều người khác – còn gọi là sáng nghiệp.

1.1.4. Phương pháp giảng dạy đại học
Phát huy tối đa tính tích cực, sáng tạo, độc lập của sinh viên
Phương pháp này giúp thực hiện hiệu quả việc chuyển hóa từ quá trình đào tạo
thành quá trình tự đào tạo theo tiêu chí hiện đại trong giáo dục và đào tạo.


Trong quá trình giảng dạy, giảng viên cần phải chú trọng, hỗ trợ sinh viên
phát huy các chức năng tâm lý, khả năng tư duy độc lập, sáng tạo thông qua
việc tạo điều kiện cho sinh viên được thảo luận, trình bày các quan điểm, tư
duy về các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội.



Giảng viên cần phải phối hợp các phương pháp giảng dạy khác nhau một
cách hợp lý, linh hoạt theo từng bối cảnh cụ thể.



Hướng dẫn, giải thích cho sinh viên hiểu biết rõ quy trình tái tạo tri thức
cũng như phương pháp giảng dạy của giảng viên. Từ đó, định hướng sinh
viên tự vận dụng trong quá trình học tập, nghiên cứu để đáp ứng yêu cầu của
giảng viên.
Chú trọng công tác dạy nghề cho sinh viên

Xã hội hiện nay không chỉ yêu cầu sinh viên nắm vững các tri thức cơ bản, hiện
đại mà còn phải có được các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, có tư duy, say mê tìm tòi
sáng tạo trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Chương trình đào tạo và phương
pháp giảng dạy ở bậc đại học cần:



Xác định rõ ràng và cụ thể những định hướng, mục tiêu đào tạo của nhà
trường, các yêu cầu của giảng viên, của môn học liên quan đến tri thức, kỹ
năng thực hành, năng lực, phẩm chất của sinh viên.



Giảng viên phải trang bị cho sinh viên hệ thống các tri thức về khoa học cơ bản,
chuyên ngành; phải hướng các tri thức đó theo mục tiêu xác định của nhà trường.



Nhà trường cần phải có quy trình rèn luyện cụ thể về hệ thống kỹ năng liên
quan đến ngành, nghề của sinh viên từ mức độ thấp đến cao.
11




Nhà trường cần phải đánh giá sinh viên dựa trên cơ sở nắm vững kiến thức cơ sở,
chuyên môn và kỹ năng thực hành thành thạo trong nghề nghiệp của sinh viên.
Phương pháp giảng dạy và phương pháp học tập của sinh viên phải thống
nhất với phương pháp nghiên cứu khoa học

Đây là cách thức thiết thực giúp nhà trường và sinh viên phát huy năng lực
nghiên cứu khoa học gắn liền với thực tiễn các vấn đề của cuộc sống, tham gia xây
dựng và phát triển xã hội.


Giảng viên cần phải kết hợp phương pháp và kết quả nghiên cứu khoa học
liên quan đến môn học trong việc giảng dạy, định hướng sinh viên có

phương pháp học tập gắn liền với việc nghiên cứu khoa học liên quan ngành
nghề của mình.



Nhà trường liên kết chặt chẽ với các Viện, trung tâm nghiên cứu, các cơ sở
sản xuất – kinh doanh, các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội. Nhà trường
cùng giảng viên kết hợp, chuyển giao các kết quả công trình nghiên cứu khoa
học cho các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế - xã hội.



Nhà trường, giảng viên cần phải tổ chức cho sinh viên học tập và làm bài tập,
tham gia nghiên cứu khoa học để vận dụng các phương pháp nghiên cứu
khoa học hiện đại.



Nhà trường tăng cường hỗ trợ cơ sở vật chất cho các hoạt động nghiên cứu
khoa học thông qua việc tổ chức cho các giảng viên và sinh viên tham gia
các chương trình nghiên cứu quốc tế, các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước,
cấp bộ, cấp trường…

1.1.5. Công tác kiểm tra, đánh giá năng lực học tập của sinh viên
Việc kiểm tra và đánh giá năng lực của sinh viên đại học rất có ý nghĩa và quan
trọng, cần phải khách quan, đảm bảo hiệu quả về giáo dục, giảng dạy, và học tập,
phát triển tương lai của sinh viên.


Nhà trường và giảng viên cần công khai, giải thích, góp ý về kết quả kiểm

tra, thi, bảo vệ khóa luận tốt nghiệp,… để sinh viên kịp thời tự nhận thức, tự
đánh giá đúng khả năng của mình và có hướng điều chỉnh, phấn đấu.



Tiêu chí đánh giá cần đảm bảo tính toàn diện, khách quan, có tác dụng khích
12


lệ, phát triển năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của sinh viên; cần đánh giá
trên cơ sở kết hợp chất và lượng, nội dung và hình thức, thực chất trình độ và
sự tiến bộ theo điều kiện viễn cảnh của sinh viên.


Ngoài việc kết hợp điểm quá trình và điểm thi trong đánh giá, nhà trường và
giảng viên cần kết hợp cả điểm cố định và điểm cơ động trong những hoàn
cảnh và điều kiện nhất định nào đó của sinh viên trên cơ sở nhận xét, đánh
giá lại sự nỗ lực phấn đấu, hoàn chỉnh, bổ sung, chỉnh sửa bài tập, thái độ
học tập như thế nào của sinh viên.

1.2. Một số vấn đề lý luận về hướng dẫn viên du lịch
1.2.1. Khái niệm về hướng dẫn du lịch
Hướng dẫn du lịch là hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định của
khách du lịch trong quá trình thực hiện chuyến du lịch.
Hoạt động hướng dẫn du lịch là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du
lịch, đảm bảo cho việc phục vụ khách du lịch được chu đáo, có kế hoạch, có tổ
chức. Hoạt động này cung cấp cho khách du lịch các kiến thức, các thông tin cần
thiết và khác nhau, liên quan tới mục đích của chuyến đi du lịch, loại hình du lịch
mà khách du lịch lựa chọn.
Hoạt động hướng dẫn du lịch là một hoạt động phức tạp bao gồm các công

việc như cung cấp các thông tin cho quảng cáo, tiếp thị du lịch, đón tiếp khách và
phục vụ khách; giới thiệu các đối tượng tham quan du lịch trong chuyến du lịch (cả
trên lộ trình và ở điểm du lịch); phục vụ khách về các dịch vụ như lưu trú, ăn uống,
vận chuyển, mua sắm, giải trí, y tế,… Những vấn đề phát sinh trước, trong và sau
chuyến du lịch của khách cũng có sự tham gia của hoạt động hướng dẫn.
Do đó, hoạt động hướng dẫn du lịch có thể hiểu là:
“Hướng dẫn du lịch là hoạt động của các tổ chức kinh doanh du lịch, thông qua
các hướng dẫn viên và những người có liên quan để đón tiếp, phục vụ, hướng dẫn
khách du lịch thực hiện các dịch vụ theo các chương trình được thỏa thuận và giúp
đỡ khách giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chuyến du
lịch.”[14]

13


Phần lớn các hoạt động hướng dẫn du lịch được thực hiện bởi hướng dẫn
viên. Chất lượng phục vụ hướng dẫn du lịch cho khách phụ thuộc chủ yếu vào khả
năng, nghiệp vụ, tri thức, phẩm hạnh của hướng dẫn viên du lịch. Do vậy, việc đào
tạo hướng dẫn du lịch cần kết hợp cả lý thuyết và thực hành để sinh viên không chỉ
có kiến thức để truyền đạt cho khách mà còn có kỹ năng để xử lý trong các tình
huống khi đi hướng dẫn khách.
1.2.2. Khái niệm về hướng dẫn viên du lịch
Hướng dẫn viên du lịch được quan niệm chung là một người nào đó, hướng
dẫn một nhóm người thực hiện chuyến tham quan. Tuy nhiên, theo mỗi cách tiếp
cận sẽ có những quan niệm khác nhau về hướng dẫn viên du lịch.
Các giáo sư của trường Đại học British Columbia, một trường Đại học lớn
của Canada chuyên đào tạo về quản trị kinh doanh du lịch khách sạn và hướng dẫn
viên du lịch đã đưa ra định nghĩa về hướng dẫn viên du lịch dưới góc độ đào tạo
như sau:
"Hướng dẫn viên du lịch là các cá nhân làm việc trên các tuyến du lịch, trực

tiếp đi kèm hoặc di chuyển cùng với các cá nhân hoặc các đoàn khách theo một
chương trình du lịch, nhằm đảm bảo việc thực hiện chương trình theo đúng kế
hoạch, cung cấp các lời thuyết minh về các điểm du lịch và tạo ra những ấn tượng
tích cực cho khách du lịch."
Nhìn chung, những khái niệm trên đã phản ánh khá hoàn thiện và chính xác
phù hợp với thực tế và bản chất công việc của người hướng dẫn du lịch. Tuy nhiên,
sự kết hợp những quan niệm về hướng dẫn viên du lịch từ nhiều góc độ của các khái
niệm này sẽ tạo nên một khái niệm hoàn chỉnh hơn:
"Hướng dẫn viên du lịch là những người có chuyên môn làm việc cho các tổ
chức kinh doanh du lịch với nhiệm vụ tổ chức thực hiện chương trình du lịch đã
được ký kết trên thực tế nhằm đảm bảo đúng kế hoạch và đáp ứng các nhu cầu được
thoả thuận của du khách; chỉ dẫn và cung cấp lời thuyết minh về các điểm du lịch;
giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện chương trình du lịch
trong phạm vi quyền hạn, khả năng của mình và tạo ra những ấn tượng tích cực cho
khách du lịch".[12]
14


Đặc biệt theo Luật du lịch (2005), điều 73 chương VII quy định:
1. Hướng dẫn viên được hành nghề khi có thẻ hướng dẫn viên du lịch và có
hợp đồng đối với doanh nghiệp du lịch;
2. Người có đủ điều kiện sau đây được cấp thẻ hướng dẫn viên quốc tế;
a. Có quốc tịch Việt Nam, thường trú tại Việt Nam;
b. Không mắc bệnh truyền nhiễm, không sử dụng các chất gây nghiện;
c. Có trình độ cử nhân chuyên ngành hướng dẫn du lịch trở lên; nếu tốt
nghiệp đại học chuyên ngành khác thì phải có chứng chỉ nghiệp vụ về hướng dẫn du
lịch do cơ sở đào tạo thẩm quyền cấp;
d. Sử dụng thành thạo ít nhất một ngoại ngữ;
Từ những khái niệm và quy tắc mang tính pháp định về hướng dẫn viên du lịch nói
trên, có thể thấy khái niệm về hướng dẫn viên du lịch bao gồm ba tầng hàm nghĩa sau:

(l) Hướng dẫn viên du lịch là chỉ những nhân viên đạt được thẻ hướng dẫn
viên du lịch theo quy định. Trong cuộc sống thường ngày của con người, có đơn vị
tổ chức cho nhân viên đi du lịch nhưng do người của đơn vị có sự hiểu biết về điểm
du lịch, am tường đường đi lối lại đảm nhiệm. Đây không phải là hướng dẫn viên du
lịch, vì người này không có thẻ hướng dẫn viên du lịch theo luật pháp, không thể
gọi là hướng dẫn viên du lịch (là một nghề có điều kiện).
(2) Hướng dẫn viên du lịch là nhân viên làm việc cho các công ty du lịch.
Điều này có nghĩa: hướng dẫn viên du lịch phải do các công ty du lịch phái đi,
hướng dẫn, thuyết minh, cung cấp những dịch vụ cho khách du lịch. Trong cuộc
sống thường ngày, cũng có người cung cấp dịch vụ hướng dẫn, thuyết minh cho
khách đi du lịch nhưng không phải do công ty du lịch uỷ quyền phái đi thì không
được gọi là hướng dẫn viên du lịch.
(3) Hướng dẫn viên du lịch là nhân viên cung cấp sự hướng dẫn, thuyết minh
và các dịch vụ du lịch tương ứng, đáp ứng yêu cầu đã được thoả thuận và nhu cầu
của du khách.
1.2.3. Trách nhiệm của hướng dẫn viên du lịch
Chức năng cơ bản của hướng dẫn viên du 1ịch
15


Theo tình hình thực tế phát triển của ngành du lịch và đối tượng phục vụ của
các loại hướng dẫn viên du lịch, chức năng cơ bản của hướng dẫn viên du lịch có
thể khái quát như sau:
(1) Căn cứ vào hợp đồng hoặc ước định được ký giữa công ty du lịch và du
khách, theo kế hoạch tiếp đón sắp xếp và tổ chức khách tham quan, du lịch.
(2) Có trách nhiệm thuyết minh, giới thiệu văn hoá và tư liệu du lịch của
vùng đất mà du khách đến du lịch.
(3) Phối hợp cùng các đơn vị có trách nhiệm sắp xếp sự đi lại, chỗ ăn ngủ
cho du khách, bảo vệ sự an toàn về con người và tài sản cho du khách.
(4) Nhẫn nại giải đáp các câu hỏi của du khách, giúp đỡ xử lý các vấn đề gặp

phải trong quá trình đi du lịch.
(5) Tiếp nhận ý kiến và yêu cầu phản ứng của du khách, giúp đỡ sắp xếp các
hoạt động gặp mặt, thăm hỏi cho du khách.
Nhiệm vụ cụ thể của từng loại hướng dẫn viên
- Hướng dẫn viên điều hành đoàn
Trách nhiệm của hướng dẫn viên du lịch điều hành là:
(1) Tôn trọng các quy định có liên quan trong luật pháp quản lý công dân
Việt Nam xuất cảnh du lịch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách du lịch.
(2) Thực hiện kế hoạch lộ trình du lịch, giúp đỡ xử lý các sự kiện đột xuất,
tranh chấp và các vấn đề khác xảy ra trong quá trình du lịch.
(3) Cung cấp dịch vụ du lịch cho du khách.
(4) Bảo vệ quyền lợi của quốc gia và tính tôn nghiêm của dân tộc, đồng thời
nhắc nhở du khách hạn chế từ ngữ, hành vi ảnh hưởng đến quyền lợi quốc gia và sự
tôn nghiêm của dân tộc.
- Hướng dẫn viên suốt tuyến
Hướng dẫn viên du lịch suốt tuyến là đại diện cho công ty tổ chức đoàn du
lịch, chịu trách nhiệm dẫn đoàn. Vì vậy, trong toàn bộ hoạt động du lịch có vai trò
chủ đạo, có trách nhiệm chủ yếu sau:
16


(l) Thực hiện kế hoạch tiếp đón: Theo hợp đồng hoặc ước định du lịch thực
hiện kế hoạch tiếp đón đoàn du lịch, giám sát việc chấp hành và chất lượng tiếp đón
của các đơn vị tham gia vào quá trình phục vụ khách.
(2) Liên hệ công việc: Trong suốt lộ trình du lịch, chịu trách nhiệm phối hợp
cùng công ty tổ chức du lịch và các đơn vị phục vụ khách ở địa phương; liên lạc,
làm tốt công việc tiếp đón, phục vụ khách du lịch ở những nơi khách đến.
(3) Công tác tổ chức điều hành: Điều tiết mối quan hệ hợp tác giữa nhân viên
điều hành, hướng dẫn viên địa phương, lái xe và các nhân viên tiếp đón; hợp tác,
giám sát đơn vị tiếp đón tại địa phương; sắp xếp tốt hoạt động du lịch đi lại, ăn ở,

mua bán, vui chơi của du khách; chăm sóc tốt chuyến du lịch của khách.
(4) Bảo vệ sự an toàn, xử lý các vấn đề: Trong quá trình du lịch, phải bảo vệ
sự an toàn về người và tài sản của du khách, xử lý tốt các sự cố đột nhiên phát sinh,
truyền đạt và xử lý ý kiến, kiến nghị, yêu cầu của khách.
(5) Tuyên truyền: Nhẫn nại giải đáp các câu hỏi của du khách, giới thiệu văn
hoá và tư liệu du lịch của điểm đến du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước, con người
và sản phẩm để phát triển thị trường.
- Hướng dẫn viên địa phương
Hướng dẫn viên địa phương là người đại diện cho công ty du lịch, là người
chấp hành kế hoạch tiếp đón khách du lịch tại địa phương, là người tổ chức các hoạt
động du lịch ở địa phương. Nhiệm vụ chủ yếu của họ là:
(l) Sắp xếp hoạt động du lịch: Căn cứ vào kế hoạch tiếp đón du lịch, sắp xếp
hoạt động du lịch ở địa phương cho đoàn du lịch.
(2) Làm tốt công tác tiếp đón: Thực hiện tốt việc đón đưa và đi lại; tham
quan, ăn ở, mua bán, vui chơi của khách; hợp tác với hướng dẫn viên toàn lộ trình,
nhân viên điều hành; làm tốt công tác ở địa phương.
(3) Thuyết minh, hướng dẫn: Phụ trách hướng dẫn, thuyết minh cho du
khách khi đến các điểm tham quan tại địa phương.
(4) Bảo vệ an toàn: Bảo vệ sự an toàn về người và tài sản của du khách trong
quá trình phục vụ khách tại địa phương.
17


(5) Giải quyết vấn đề: Giải quyết tốt các mối quan hệ hợp tác giữa các dịch
vụ du lịch có liên quan.
- Hướng dẫn viên du lịch tại điểm
(1) Thuyết minh hướng dẫn: Có trách nhiệm hướng dẫn, thuyết minh tại
điểm; giải đáp các câu hỏi, kết hợp với cảnh vật thuyết minh, tuyên truyền cho du
khách về ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái.
(2) Đảm bảo an toàn: Nhắc nhở du khách chú ý an toàn trong quá trình tham

quan du lịch, đồng thời có thể trợ giúp khách khi cần thiết.
1.2.4. Đặc điểm lao động của hướng dẫn viên du lịch
Thời gian lao động
Lao động hướng dẫn có một số đặc điểm khác biệt so với các loại hình lao
động khác. Trước hết về mặt thời gian thì thời gian lao động của hướng dẫn viên
được tính bằng thời gian đi cùng với khách do đó:
● Thời gian làm việc không cố định.
● Khó có thể định mức lao động cho hướng dẫn viên một cách chính xác.
Không chỉ những lúc hướng dẫn tham quan cho khách du lịch mà ngay cả thời gian
lưu trú tại khách sạn hướng dẫn viên cũng phải tham gia vào quá trình phục vụ khi
có yêu cầu. Đôi khi hướng dẫn viên phải phục vụ nhiều việc ngoài nội dung chương
trình.
Đối với một số loại hình du lịch, do tính chất mùa vụ của nó nên thời gian
làm việc của hướng dẫn viên trong năm phân bố không đều.
Khối lượng công việc
Lao động hướng dẫn thường có khối lượng công việc lớn và phức tạp bao
gồm nhiều loại công việc khác nhau tùy theo từng nội dung và tính chất của chương
trình. Mặt khác không chỉ khi đi với khách mới là làm việc mà ngay cả khi chưa đi
hướng dẫn thì vẫn phải thường xuyên trau dồi về mặt nghiệp vụ và kiến thức
chuyên môn. Hơn nữa, các công việc chuẩn bị trước chuyến đi như khảo sát xây
dựng các tuyến tham quan, xây dựng bài thuyết minh mới, bổ sung sửa đổi những

18


tuyến tham quan cũng như các bài thuyết minh, cũng luôn đòi hỏi hướng dẫn viên
phải tự trau dồi kiến thức để nâng cao chất lượng công việc.
Các công việc trực tiếp phục vụ trong quá trình cùng đi với khách cũng đã
bao gồm nhiều công việc phức tạp khác nhau: tổ chức cho đoàn khách ăn ngủ,
hướng dẫn tham quan tổ chức vui chơi giải trí và các hoạt động khác. Do vậy,

hướng dẫn viên phải là người có thể làm được nhiều công việc khác nhau một cách
thành thạo.
Cường độ lao động
Cường độ lao động của hướng dẫn viên du lịch khá cao và căng thẳng. Trong
suốt quá trình thực hiện chương trình du lịch hướng dẫn viên luôn phải tự đặt mình
vào trạng thái sẵn sàng phục vụ bất cứ thời gian nào với khối lượng công việc lớn
và thời gian không định mức (nhiều khi ngay cả ban đêm có chuyện bất thường
hướng dẫn viên cũng phải làm việc phục vụ khách, chẳng hạn một khách bị ốm hay
phàn nàn về sự ồn ào cần phải đổi phòng).
Tính chất công việc
Hướng dẫn viên là người phục vụ, tiếp xúc trực tiếp với nhiều loại khách
khác nhau, phải tiếp xúc và phối hợp với nhiều đối tượng của các cơ sở phục vụ.
Ngoài ra hướng dẫn viên phải xa nhà trong thời gian dài, kế hoạch sinh hoạt trong
cuộc sống riêng tư bị đảo lộn. Trong suốt quá trình đi du lịch hướng dẫn viên luôn ở
tư thế người phục vụ trong khi những người khác được vui chơi.
Mặt khác, công việc của hướng dẫn viên mang tính đơn điệu đặc biệt là đối
với hướng dẫn viên chuyên tuyến. Tất cả các yếu tố nói trên dẫn đến lao động
hướng dẫn đòi hỏi chịu đựng cao về tâm lý.
1.2.5. Một số yêu cầu đối với hướng dẫn viên du lịch
Phẩm chất chính trị
Hướng dẫn viên phải nắm được đường lối của Đảng, Nhà nước, Hiến pháp
và pháp luật, hơn nữa phải có những phương pháp bảo vệ và tuyên truyền cho các
đường lối đó. Nếu không có kiến thức và phẩm chất chính trị thì không thể làm tốt
công tác hướng dẫn du lịch. Trong mọi hoàn cảnh hướng dẫn viên phải thực hiện tốt
các vai trò đối với đất nước.
19


Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Để thực hiện tốt công việc hướng dẫn thì yêu cầu cơ bản đối với hướng dẫn

viên là có một trình độ nghiệp vụ vững vàng. Khi đánh giá trình độ nghiệp vụ của
một hướng dẫn viên, thông thường người ta căn cứ vào ba tiêu thức sau:
Thứ nhất: Kiến thức về một số môn khoa học cơ bản
Hướng dẫn viên phải có một nền tảng kiến thức tổng hợp vững vàng để làm
cơ sở cho việc tích luỹ các tri thức cần thiết cho hoạt động của mình. Hướng dẫn
viên cần nắm chắc các môn khoa học về lịch sử, văn hóa, địa lý, chính trị Việt Nam.
Chúng ta không thể chấp nhận được một hướng dẫn viên đưa khách đi thăm Văn
Miếu – Quốc Tử Giám - di tích văn hóa của thủ đô Hà Nội mà không hiểu được ý
nghĩa của bia tiến sĩ hay ý nghĩa của hai cổng Thành Đức và Đạt Tài hay chỉ hiểu
biết sơ sài về lịch sử Việt Nam.
Mặt khác hướng dẫn viên cần có sự hiểu biết về hầu hết mọi mặt của cuộc
sống từ văn hóa, chính trị, tập quán, thói quen: nghệ thuật giao tiếp, luật pháp... và
phải nắm được những thông tin mới nhất về tình hình xã hội. Những kiến thức này
có ý nghĩa rất quan trọng, nó làm phong phú hơn trong những lúc giao tiếp với
khách ngoài thời gian thuyết minh, trong lúc trò chuyện hoặc đáp ứng những tò mò
của khách.
Những kiến thức thuộc về tri thức chung của nhân loại, đặc biệt là các kiến
thức: về lịch sử, văn hóa, địa lý của đất nước quê hương của khách sẽ làm cho lời
thuyết minh của hướng dẫn viên thêm phần hấp dẫn và tăng sức thuyết phục.
Thứ hai: Phương pháp và kỹ năng hướng dẫn
Hướng dẫn viên cần nắm được nội dung và phương pháp của hoạt động
hướng dẫn du lịch. Việc nắm vững phương pháp và kỹ năng hướng dẫn thể hiện
trên các mặt sau đây:
* Nắm bắt được các nguyên tắc, chỉ thị do các cơ quan quản lý Nhà nước về
du lịch hoặc có liên quan đến du lịch ban hành, các thủ tục xuất nhập cảnh, (quy chế
hướng dẫn viên, quy chế về xuất nhập cảnh) các quy ước quốc tế có liên quan đến
du lịch, các quy định về công tác hướng dẫn trong nội bộ công ty. Nếu không nắm

20



×