Tải bản đầy đủ (.docx) (45 trang)

Bảo tồn và phát huy làn điệu ví, dặm tại tỉnh nghệ an

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (728.82 KB, 45 trang )

LỜI CAM ĐOAN
Tôi thực hiện công trình nghiên cứu khoa học với tên đề tài: “ Bảo tồn và
phát huy làn điệu ví, dặm tại tỉnh Nghệ An”.
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu Tôi thực hiện. Các tư liệu, kết
quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực. Nếu sai Tôi xin hoàn toàn chịu trách
nhiệm.
Người thưc hiên


LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS. Bùi Thị Ánh Vân giảng viên học
phần phương pháp nghiên cứu khoa học - Người đã trực tiếp tận tình hướng dẫn,
động viên giúp đỡ em hoàn thành bài tiểu luận này.
Em cũng chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Văn hóa Thông
tin đã trang bị cho em những kiến thức kinh nghiệm quý báu trong suốt khóa
học.
Mặc dù trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã cố nhưng tôi khó tránh
khỏi những sai sót khi tìm hiểu, đánh giá cũng như trình bày về đề tài nghiên
cứu này. Tôi rất mong bạn đọc thông cảm và mong giành được sự quan tâm
đóng góp ý kiến của cô giáo và các bạn để bài nghiên cứu để tôi tiếp tục bổ
sung, hoàn thiện đề tài hơn.
Những ý kiến đóng góp của thầy cô và mọi người sẽ giúp tôi nhận ra hạn
chế, qua đó tôi sẽ có thêm nguồn tư liệu mới trên con đường học tập và nghiên
cứu sau này.
Em xin trân trọng cảm ơn!


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÀN ĐIỆU VÍ, DẶM TỈNH
NGHỆ AN.............................................................................................................4


1.1. Lý luận chung về làn điệu ví, dặm..........................................................4
1.1.1. Một số khái niệm....................................................................................4
1.1.2. Đặc điểm về làn điệu ví, dặm.................................................................5
1.2. Quá trình phát triển làn điệu Ví, Dặm...................................................5
1.3. Một số nghệ nhân nổi tiếng.....................................................................8
Tiểu kết............................................................................................................9
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN
ĐIỆU VÍ, DẶM Ở TỈNH NGHỆ AN...............................................................10
2.1. Giá trị và vai trò của dân ca ví, dặm trong đời sống xã hội...............10
2.1.1. Là một loại hình dân ca có lịch sử phát triển lâu đời.........................10
2.1.2. Là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống người dân. 11
2.1.3. Là di sản văn hóa phi vật thể có nội dung và giá trị nhân văn sâu sắc
........................................................................................................................12
2.1.4. Là loại hình diễn xướng dân gian có nhiều giá trị nghệ thuật độc đáo,
phản ánh đậm nét bản sắc văn hóa của địa phương......................................13
2.2. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy dân ca ví, dặm..................14
2.2.1. Thành lập các câu lạc bộ hát ví, dặm...................................................14
2.2.2. Tổ chức các cuộc thi, cuộc liên hoan về hát ví, dặm............................16
2.2.3. Bảo tồn và phát huy bằng con đường sân khấu hóa..........................16
2.2.4. Đưa dân ca ví, dặm vào trong trường học...........................................21
2.2.5. Thành lập trung tâm bảo tồn dân ca ví, dặm.......................................29
Tiểu kết..........................................................................................................30
Chương 3 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN ĐIỆU VÍ, DẶM TỈNH
NGHỆ AN...........................................................................................................31
3.1. Đánh giá công tác bảo tồn và phát huy làn điệu ví, dặm xứ Nghệ....31
3.1.1. Thành tựu.............................................................................................31
3.1.2. Những khó khăn, thách thức................................................................31
Tiểu kết …………………………………………………………………… 31
3.2. Một số biện pháp nhằm bảo vệ và phát huy dân ca Ví, Dặm............32

KẾT LUẬN........................................................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


BẢNG KÊ CHỮ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Tên cụm từ viết tắt

1

CLB

Câu lạc bộ

2

TP

Thành phố


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xứ Nghệ từ lâu đã được biết đến và nổi tiếng là miền đất có điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt nhưng cũng là một mảnh đất giàu truyền thống, lịch sử, là
miền quê xinh đẹp với cảnh quan thiên nhiên nên thơ hùng vĩ và nguồn tài

nguyên phong phú đặc sắc.
Nghệ An có vị trí khá thuận lợi, nằm trên trục giao thông xuyên Việt, có
các tuyến đường bộ, đường sắt và hàng không quan trọng, cùng với nguồn tài
nguyên thiên nhiên phong phú cho phép vùng mở rộng giao lưu và phát triển
nền kinh tế đa ngành nghề.
Tại mảnh đất xứ Nghệ này, có một nền văn hóa dân gian vô cùng phong
phú, đặc sắc và có giá trị hết sức to lớn. Khi nhắc đến nền văn hóa dân gian
Nghệ Tĩnh (Nghệ Tĩnh là tên một tỉnh cũ từ năm 1976 đến năm 1991, từ năm
1991 tách riêng thành 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh), trước hết phải nói đến dân ca
ví, dặm, một di sản không thể thiếu của mảnh đất này. Đã có rất nhiều sách báo,
nhiều nhà sưu tầm, nhiều công trình khoa học sưu tầm nghiên cứu về dân ca ví,
dặm Nghệ Tĩnh ở các mặt, các khía cạnh khác nhau, có khi ở góc độ văn hóa
tổng hợp, có khi ở bình diện nội dung, có khi lại về thi pháp nghệ thuật. Các tác
giả tiêu biểu phải kể đến là Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi, Nguyễn Chung
Anh, Nguyễn Chí Bền…
Tuy nhiên, hiện nay một vấn đề bức thiết đang xảy ra đối với dân ca ví
dặm xứ Nghệ cần phải được giải quyết đó là vấn để bảo tồn và phát huy dân ca
ví, dặm xứ Nghệ, bởi dân ca ví, dặm ngày càng có xu hướng bị lãng quên, không
còn được ưa chuộng và xem như là món ăn tinh thần chính của người dân nơi
đây nữa. Thế hệ trẻ không còn hứng thú và ham học hỏi về loại hình
dân ca này vì trào lưu nhạc trẻ, nhạc thị trường đang thịnh hành. Một số
người làm trong nghề cũng không còn háo hức, tâm huyết với nó nữa. Do đó,
dân ca ví, dặm đang ngày càng bị mai một dần, nếu không được bảo tồn một
cách hiểu quả thì có thể mảnh đất xứ Nghệ sẽ mất đi loại hình dân ca đặc sắc và
có giá trị vô cùng to lớn này.
1


Hơn nữa, ngày nay việc gắn dân ca với hoạt động du lịch đã bước đầu
phát huy hiệu quả và cần được phát triển mạnh. Du lịch được coi là một ngành

có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc phát triển các sản phẩm du lịch văn
hóa trong đó có dân ca. Việc gắn dân ca với phát triển du lịch sẽ góp phần thu
hút khách du lịch đến với xứ Nghệ, từ đó góp phần quảng bá cho du khách
không chỉ trong nước mà cả nước ngoài biết đến loại hình dân ca độc đáo này.
Trước tình hình như vậy, em mạnh dạn chọn đề tài “ Bảo tồn và phát huy
làn điệu ví, dặm tại tỉnh Nghệ An” làm đề tài khoá luận với mong muốn góp
phần nhỏ vào việc giới thiệu, tìm hiểu các giải pháp để bảo tồn và phát huy làn
điệu ví dặm.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nói đến làn điệu Ví, Dặm thì đã có khá nhiều các đề tài, công trình nghiên
cứu khoa học đề cập tới vấn đề này. Dưới đây là một số công trình nghiên cứu
cụ thể:
- Đỗ Thị Nụ (2016), Bảo tồn và phát huy Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh
trong đời sống cộng đồng hiện nay.
- Hương Sen – Thanh Long (2014), Thành phố Vinh bảo tồn và phát huy
dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh, Trung Tâm bảo tồn và phát huy Dân ca xứ Nghệ..
-Vũ Ba Lan (2010), Nơi gìn giữ và phát huy di sản dân ca xứ Nghệ,Văn
hóa Nghệ An.
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về làn điệu Ví, Dặm Nghệ An,
đây là những tài liệu quý báu, giúp tôi hoàn thành bài nghiên cứu này.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu những đặc trưng cơ bản của dân ca ví, dặm, ý nghĩa và vai trò
của ví, dặm trong đời sống xã hội từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm bảo tồn và
phát huy là điệu này.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Bảo tồn và phát huy làn điệu ví, dặm tại tỉnh Nghệ An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
2



- Không gian: Tỉnh Nghệ An
- Thời gian: Từ năm 2010 đến năm 2017
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải nghiên cứu đề tài tôi đã sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
Phương pháp khảo sát thực tế;
Phương pháp phân tích tổng hợp;
6. Bố cục
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục đề tài được
chia làm 03 chương:
Chương 1: Giới thiệu về làn điệu ví, dặm .
Chương 2: Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy làn điệu ví, dặm tại
Nghệ An.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy làn
điệu ví, dặm tại Nghệ An.

3


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LÀN ĐIỆU VÍ, DẶM TỈNH NGHỆ AN
1.1. Lý luận chung về làn điệu ví, dặm
1.1.1. Một số khái niệm
Hát ví thường là hát tự do, không có tiết tấu từng khuôn nhịp, người hát
có thể co giãn một cách ngẫu hứng. Âm điệu cao thấp ngắn dài có khi còn tuỳ
thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Ví thuộc thể ngâm
vĩnh, bằng phương pháp phổ thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát, lục bát biến
thể...)
Tính biểu cảm của hát ví tuỳ vào môi trường hoàn cảnh, không gian thời

gian và tâm tính của người hát. Âm vực của ví thường không quá một quãng 8.
Tình điệu ví nghe trang trải mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha
thiết ân tình. Tuy vậy, vẫn có loại ví ghẹo và ví mục đồng nghe dí dỏm hài hước,
nghịch ngợm hồn nhiên tươi trẻ.
“Hát ví hát giao duyên nam nữ được phổ biến vùng Nghệ Tĩnh, các thể kỷ
trước dùng để trao đổi tình cảm giữa đôi trai gái. Vào các đêm trăng sáng
thường đi ngắm trăng. Hát theo lối tường thuật ngẫu hứng một câu chuyện nào
đó trong quá trình lao động và nông nhàn, trong lối sống thường nhật lâu dần
được dân gian hóa”[2; Tr. 5].
Thể hát ví: Ví có nhiều điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy,
ví phường võng, ví phường chè, ví đồng ruộng, ví trèo non, ví mục đồng, ví
chuỗi, ví ghẹo...
Dặm là thể hát nói, bằng thơ ngụ ngôn thơ/ về 5 chữ, nói cách khác thì
dặm là thơ ngụ ngôn/ về nhật trình được tuyền luật hoá. Khác với ví, dặm là thể
hát có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại.Thông
thường một bài dặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu (câu 5 thường điệp lại câu
4), mỗi câu có 5 từ (không kể phụ âm đệm). Tuy vậy, cũng có những bài dặm/ về
không phân khổ rõ ràng, mà cứ hát một lèo, có khi đến hàng chục hàng trăm
câu, và mỗi câu cũng không nhất nhất 5 chữ mà có thể 4 hoặc 6, 7 chữ (do lời
thơ biến thể).
4


Dặm rất giàu tính tự sự, trữ tình, kể lể khuyên răn, phân trần bày giải.
Cũng có loại dặm dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và có cả dặm trữ tình
giao duyên.
Hát dặm là một thể loại hát nói bằng thơ ngụ ngôn (thơ) về âm nhạc đi
theo thường là phách. "Dặm" có nghĩa là ghép vào, xen kẽ với nhau, thường 2
hay 3 hoặc một nhóm người hát đối diện nhau hát.
Các làn điệu của hát dặm như: “Dặm xẩm, dặm nối, dặm vè, dặm điên,

dặm của quyền, dặm kể. Có các tiết tấu phách mạnh, phách nhẹ, những nhịp
trong và ngoài. Các thể loại này rất giàu tính tự sự, kể lể, khuyên răn, phân trần,
giãi bày,...thuộc dạng thể thơ năm chữ, cách gieo vần, ngắt nhịp, [1; Tr. 2]...
1.1.2. Đặc điểm về làn điệu ví, dặm
Dân ca ví dặm sử dụng nhiều từ ngữ địa phương, lờ hát mộc mạc,kỹ thuật
cao độ, cường độ.
1.2. Quá trình phát triển làn điệu Ví, Dặm
Như mọi loại hình nghệ thuật dân gian khác, Ví, Giặm Nghệ Tĩnh cũng có
quá trình biến đổi, phát triển vừa để hoàn thiện mình, vừa để thích ứng tốt với
điều kiện lịch sử mới trong từng giai đoạn phát triển của đất nước. Từ khi ra đời
đến nay, có lúc thăng, trầm do hoàn cảnh chiến tranh, song nhìn chung, lịch sử
của Ví, Giặm là lịch sử liền mạch xuyên suốt quá trình ứng xử với tự nhiên, xã
hội, ứng xử giữa con người với nhau của các thế hệ người dân Nghệ Tĩnh qua
nhiều trăm năm, luôn được trao truyền, gìn giữ và phát triển, cả bề rộng lẫn bề
sâu mà chưa hề đứt quãng. Phải sinh tồn trong cộng đồng người Nghệ qua hàng
trăm năm mới thấy được sự trưởng thành của dân ca Ví, Giặm. Từ sơ khai với
những bài ca lao động, những bài ca giao gửi gắm nỗi niềm tâm sự... qua cuộc
sống của người Nghệ chúng được nâng cao, hoàn thiện dần, để rồi, đến những
năm đầu thế kỷ XVII - XVIII trở đi, hát Ví, Giặm đã phát triển và trở thành hình
thức trình diễn dân gian phổ biến của cộng đồng với sự tham gia của nhiều tầng
lớp, từ người lao động bình dân, tiêu biểu như Ả Sạ, O Uy (nổi tiếng về hát
phường vải Trường Lưu) đến các nhà khoa bảng, thầy đồ và tri thức đương thời,
5


tiêu biểu như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy Quýnh, nhà khoa
bảng Đinh Viết Thận,... Tham gia hát Ví, Giặm họ thường làm "thầy bày", "thầy
gà" cho bên nam hoặc bên nữ, một số người cũng trực tiếp hát. Đến giữa thế kỷ
XIX trở đi cho đến khoảng năm 1945 (tức đến giữa thế kỷ XX), dân ca Ví, Giặm
được lưu truyền rộng rãi, bên cạnh hình thức sinh hoạt tự túc, bình dân gắn với

lao động nghề nghiệp như quay tơ dệt vải, cày cấy, trèo non hay chèo thuyền
trên sông nước... đã hình thành một số trung tâm gắn với sự tham gia tích cực
của các nhà khoa bảng, các nhà nho yêu nước, tiêu biểu như Phan Bội Châu,
Vương Thúc Quý, Trần Văn Lương... Bởi vậy, bên cạnh những nội dung bài bản
dân gian, Ví, Giặm còn có nội dung thể hiện lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết
dân tộc với cách diễn đạt sang trọng, bác học. Từ 1945 đến nay, Ví, Giặm Nghệ
Tĩnh đã có những thay đổi về môi trường diễn xướng, về hình thức thể hiện, về
đề tài phù hợp với sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội và nhu cầu của công
chúng. Có thể tạm chia ra các giai đoạn nhỏ gắn với các mốc thay đổi của lịch
sử, của hình thái kinh tế - xã hội như sau: Từ 1945 - 1975, giai đoạn này đất
nước trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt, cộng đồng không có không gian văn
hóa để sinh hoạt, không khí chiến tranh không cho phép tụ tập đông người, nhân
lực dốc vào nhiệm vụ phục vụ chiến tranh, mọi nhiệm vụ khác đều tạm gác lại,
cả nước đều có chung mục tiêu là kháng chiến chống giặc ngoại xâm và độc lập
dân tộc, tất cả phục vụ cho tiền tuyến. Vì thế mà sinh hoạt Ví, Giặm ở các làng,
xã không được quan tâm và không được diễn ra thường xuyên và công khai như
trước. Sinh hoạt dân ca dưới hình thức cộng đồng, tập thể bị lắng xuống. Người
dân không còn tụ họp hát phường, hát hội với tính chất giải trí hay trao gửi tâm
tình như xưa nữa. Thay vào đó, dân ca đã được sinh hoạt dưới một hình thức
mới, bên cạnh việc trực tiếp phục vụ lao động, sản xuất ở địa phương như trước
đây thì giai đoạn này, dân ca được đưa vào cổ vũ, động viên tinh thần cho bộ đội
trong chiến trường. Với một loạt các phong trào, tiêu biểu như phong trào "tiếng
hát át tiếng bom",.. dân ca Ví, Giặm bắt đầu đã được sử dụng để sáng tác thành
những vở kịch hát ngắn gọn để sử dụng phục cụ kháng chiến trên chiến trường.
Từ 1976 - 1995, thời kỳ này hòa bình được lập lại, đất nước hình thành nhiều tổ
6


chức làm ăn kinh tế mới làm cho xã hội có sự thay đổi, kéo theo đời sống văn
hóa có nhiều thay đổi trong đó có dân ca Nghệ Tĩnh. Để phù hợp với sự phát

triển của xã hội và nhu cầu cuộc sống hiện đại, dân ca cũng được chuyển hóa từ
hình thức diễn xướng dân gian lên hình thức diễn xướng chuyên nghiệp. Để phù
hợp với bước chuyển hóa đó thì Đoàn kịch hát dân ca được ra đời, rồi đến Nhà
hát dân ca Nghệ An nay là Trung tâm Bảo tồn Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ
với hàng chục vở diễn đạt Huy chương vàng, Huy chương bạc trong các Hội
diễn sân khấu chuyên nghiệp như các vở diễn: Không phải tôi, Mai Thúc Loan,
Chuyện tình ông vua trẻ,... và sau này với các vở diễn như:Soi vào quá khứ, Một
cây làm chẳng nên non, Người thi hành án tử, Đường đua trong bóng tối. Có thể
khẳng định đây là giai đoạn thể nghiệm thành công sân khấu hóa dân ca Nghệ
Tĩnh. Sự thể nghiệm này đã làm nên một sự nghiệp lớn "Sự nghiệp sân khấu hóa
dân ca Nghệ Tĩnh" đã được cả nước công nhận, đặc biệt giới nghệ thuật sân
khấu công nhận. Như vậy, trong đại gia đình sân khấu kịch hát dân tộc Việt
Nam có thêm một bộ môn kịch hát dân ca, trong đó có dân ca Nghệ Tĩnh, hay
còn gọi kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh. Từ 1995 đến nay, đất nước đã đi vào ổn
định, đời sống kinh tế được cải thiện, kéo theo nhu cầu hưởng thụ văn hóa của
người dân cũng nâng lên. Ở các địa phương đã có sự quan tâm và đầu tư kinh
phí của các cấp chính quyền và các cấp quản lý văn hóa. Vì thế sinh hoạt dân ca
đang dần được phục hồi trở lại, nhưng không phải bằng hình thức hát phường,
hát hội như xưa. Giờ đây dân ca được sinh hoạt trong các đội văn nghệ, các lễ
mít tinh, hội họp đoàn thể, lễ hiếu, hỉ, mừng sinh nhật, mừng thọ,... Tuy nhiên,
trong giai đoạn kinh tế hội nhập và phát triển, kéo theo sự giao lưu của nhiều
luồng văn hóa thì dòng nhạc truyền thống trong đó có dân ca Nghệ Tĩnh đang bị
lấn át và có nguy cơ mai một dần. Trước tình hình đó để dân ca Nghệ Tĩnh vẫn
tồn tại, phát triển phù hợp và thích ứng với tình hình mới, Nghệ An và Hà Tĩnh
đã sớm thành lập Trung tâm bảo tồn dân ca và Nhà hát truyền thống, bước đầu
tạo ra phong cách chuyên nghiệp trong quá trình bảo tồn, truyền dạy cũng như
góp phần tạo sự lan tỏa, truyền bá di sản văn hóa địa phương qua thực tiễn cũng
như các phương tiễn truyền thông. Cụ thể: khẳng định và đẩy mạnh con đường
7



sân khấu hóa dân ca, tích cực thành lập câu lạc bộ dân ca ở các địa phương, đưa
dân ca vào trường học, dạy hát dân ca trên sóng phát thanh truyền hình, tổ chức
các kỳ thi liên hoan dân ca hàng năm,...
Như vậy, mặc dù đất nước trải qua nhiều cuộc chiến tranh, lịch sử xã hội
có nhiều thay đổi, có thể dân ca phải tồn tại dưới các hình thức khác nhau để
phù hợp và thích ứng với tình hình đất nước. Nhưng có thể khẳng định rằng dân
ca Nghệ Tĩnh từ sơ khai đến ngày nay dù lúc thăng lúc trầm, đó là một sự phát
triển xuyên suốt và không hề đứt quãng. Ngược lại nó đã cho ta thấy một sức
sống mạnh liệt, thấy được những giá trị đặc sắc của loại hình văn hóa nghệ thuật
độc đáo này. Nó trở thành món ăn tinh thần không chỉ của riêng 2 tỉnh Nghệ An
- Hà Tĩnh mà của cả người dân ở hầu khắp mọi vùng miền nước Việt.
1.3. Một số nghệ nhân nổi tiếng
[5; tr1 -3]
NGHỆ NHÂN TRẦN ĐỨC THẮNG
Nghệ nhân Trần Đức Thắng sinh năm 1947 tại xóm 8, xã Nghĩa Đồng,
huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, dân tộc Kinh. Được phong tặng nghệ nhân ưu tú
lĩnh vực Nghệ thuật trình diễn dân gian Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh.
NGHỆ NHÂN ĐINH NHẬT TÂN
Nghệ nhân Đinh Nhật Tân sinh năm 1957 tại xă Diễn Thái, huyện Diễn
Châu, tỉnh Nghệ An, dân tộc Kinh. Được phong tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú
Nghệ thuật trình diễn dân gian Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh.
NGHỆ NHÂN HOÀNG THỊ NĂM
Nghệ nhân Hoàng Thị Năm sinh năm 1965 tại xóm 4, xã Diễn Lợi, huyện
Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, dân tộc Kinh. Được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân
ưu tú
NGHỆ NHÂN NGUYỄN MẠNH CƯỜNG
Nghệ nhân Nguyễn Mạnh Cường sinh năm 1970 tại xã Bồi Sơn, huyện
Đô Lương, tỉnh Nghệ An, dân tộc Kinh. Được phong tặng danh hiệu nghệ nhân
ưu tú lĩnh vực Nghệ thuật trình diễn dân gian Dân ca Ví Giặm Nghệ Tĩnh.

8


Tiểu kết
Chương 01 làm rõ một cách cụ thể rõ ràng về hát ví và hát dặm và giới
thiệu một số các nghệ nhận trong lĩnh vực. Dân ca Nghệ Tĩnh nói chung, Ví,
Giặm nói riêng là món ăn tinh thần gắn bó mật thiết lâu đời không chỉ với người
dân xứ Nghệ trong cuộc sống hàng ngày mà còn là mảnh đất màu mỡ để các
nhạc sĩ khai thác, sáng tác nên những ca khúc đậm chất dân gian, lay động bao
nhiêu thế hệ người Nghệ và nức lòng cả hàng triệu triệu người Việt trong và
ngoài nước.

9


Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY LÀN ĐIỆU
VÍ, DẶM Ở TỈNH NGHỆ AN
2.1. Giá trị và vai trò của dân ca ví, dặm trong đời sống xã hội
2.1.1. Là một loại hình dân ca có lịch sử phát triển lâu đời
Hầu hết các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian đều thống nhất rằng, dân ca
Ví, Giặm, cũng giống như nhiều loại hình dân ca khác của vùng đồng bằng Bắc
Bộ, có nguồn gốc từ cuộc sống lao động, sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân, do
vậy đều có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Do việc tìm hiểuvề dân ca
Việt Nammới chỉ manh nha cách đâykhoảng hai thế kỷ, khi các nhà nho phong
kiếnbắt đầu quan tâmtới việcbiên soạn kho tàng tục ngữ, ca dao, dân cadân
tộcvàothờicuốiLê đầu Nguyễn, và việc nghiên cứu chúng còn diễn ra muộn hơn,
nên việc chỉ cho được một cách chính xác thời gian ra đời của dân ca Ví, Giặm
là rất khó. Tuy nhiên, qua nhiều nguồn tư liệu khác nhau của các học giả, nhà
nghiên cứu, sưu tầm, nhạc sỹ… có thể thấy đến thế kỷ XVII – XVIII hát Ví,

Giặm đã rất phát triển và trở thành hình thức trình diễn dân gian phổ biến trong
cộng đồng cư dân Nghệ An và Hà Tĩnh, thu hút sự tham gia của nhiều tầng lớp
xã hội khác nhau. Theo như nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao, hát phường vải đã
có từ cách đây mấy trăm năm, có sự tham gia của cả những người lao động lẫn
các nho sỹ, thầy đồ. Từ thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, dân ca Ví, Giặm được
lưu truyền rộng rãi và hình thành một số trung tâm có sự tham gia tích cực của
các nhà nho, trí thức yêu nước như Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Bùi
Chính Lộ, Đặng văn Bá, Nguyễn Thức Canh, Lê Võ…
“Do vậy, từ một hình thức văn nghệ dân gian của người dân lao động,
cùng với sự đẽo gọt, tu chỉnh của nhiều thế hệ nghệ nhân theo dòng thời gian, sự
tham gia trau chuốt của các nho gia, danh sỹ, khoa bảng” [4; Tr12].… loại hình
dân ca này đã ngày càng được hoàn thiện, có bố cục chặt chẽ, câu từ tinh tế, vần
điệu chắt lọc để trở thành một loại hình văn nghệ hấp dẫn có giá trị nghệ thuật
cao. Tương truyền, đại thi hào Nguyễn Du từng nhiều lần tham gia các cuộc hát
phường vải ở làng Trường Lưu cùng với các danh sỹ Nguyễn Huy Tự, Nguyễn
10


Huy Oánh, với dấu ấn còn ghi trong “Thác lời trai phường nón”. Nguyễn Công
Trứ, Đinh Viết Thận, Đặng Thái Thân, Phan Bội Châu… cũng từng là những tay
hát cừ khôi trong hát phường vải.
Trải qua những thăng trầm của lịch sử, đến nay dân ca Ví, Giặm vẫn
chứng tỏ sức sống lâu bền của mình, có sức hấp dẫn với con người trong xã hội
hiện đại. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, dân ca Ví, Giặm được
cải biên thành những bài vè, đối ca, hoạt ca, trở thành công cụ hữu hiệu để cổ
vũ, động viên tinh thần của bộ đội, dân quân và nhân dân chiến đấu bảo vệ Tổ
quốc.
Trong đời sống đương đại, dân ca Ví, Giặm vẫn được các cộng đồng
người dân Nghệ An và Hà Tĩnh nâng niu giữ gìn. Đây là loại hình sinh hoạt văn
nghệ không đòi hỏi cầu kỳ về không gian, thời gian, hoàn cảnh diễn xướng,

không cần đến nhạc cụ, đạo cụ, trang phục phức tạp, có thể thực hành một cách
cá nhân hoặc tập thể từ các nhóm nhỏ đến trình diễn trước đông đảo công
chúng…, do vậy dễ tiếp nhận và phổ biến, có sức lan tỏa và ảnh hưởng mạnh
trong cộng đồng những người Nghệ An và Hà Tĩnh ở mọi vùng đất nước.
2.1.2. Là loại hình sinh hoạt văn hóa gắn bó mật thiết với đời sống
người dân
“Dân ca Ví, Giặm tạo nên bộ phận chủ đạo trong kho tàng thơ ca trữ tình
dân gian của tiểu vùng văn hóa xứ Nghệ. Đó là bởi nó đượcbắt nguồn và hình
thành từ chính cuộc sống lao động, sản xuất, sinh hoạt hàng ngày của người dân
địa phương, gắn bó mật thiết với cuộc đời của họ” [3; Tr 16].. Người dân xứ
Nghệ hát Ví, hát Giặm ở mọi nơi, mọi lúc: khi ru con, đan lát, dệt vải, lúc làm
ruộng, chèo thuyền, xay lúa... Các lối hát, vì vậy, được gọi tên theo của chính
hình thức lao động hoặc sinh hoạt như: Ví phường vải, Ví phường đan, Ví
phường nón, Ví phường củi, Ví phường cấy, Ví phường gặt, Ví xay lúa, Ví làm
bánh, Ví phường vàng, Ví phường đan, Ví trèo non, Ví đò đưa, Giặm ru, Giặm
kể, Giặm khuyên… Ở bất cứ nơi đâu, bên khung cửi, trên đồng ruộng, miền
sông nước hay trên non cao, những người dân nơi đây đều có thể cất lên tiếng
hát của cõi lòng mà không cần tới sự trợ giúp của các loại nhạc cụ hay điều kiện
11


trình diễn nào. Vì thế, một cách tự nhiên nhất, hát Ví, Giặm trở thành phương
tiện nghệ thuật phổ biến để người dân giãi bày tâm tư, tình cảm; để trai gái thể
hiện tình yêu đôi lứa; cộng đồng thể hiện sự gần gũi, gắn kết; con người thể hiện
tình yêu đất nước, quê hương.
Người dân Nghệ Tĩnh sinh ra và lớn lên cùng với những điệu Ví, câu
Giặm. Từ thuở lọt lòng nằm trong nôi họ đã được nghe những điệu hát ru, lớn
lên, những câu ca Ví, Giặm trở thành hành trang theo họ suốt cuộc đời, dù có ly
hương đến các miền quê khác, hay thậm chí sống tha hương nơi đất khách quê
người.

Dân ca Ví, Giặm có một đặc trưng nổi trội thể hiện tính địa phương cao
độ, đó là cho phép biểu hiện sự tự do tối đa trong việc biểu đạt tư tưởng, tình
cảm của người hát bằng ngôn ngữ địa phương. Có thể nói, chưa có loại dân ca
nào ở Việt Nam lại mang đậm chất phương ngữ, thổ ngữ như dân ca Ví, Giặm
xứ Nghệ.
2.1.3. Là di sản văn hóa phi vật thể có nội dung và giá trị nhân văn
sâu sắc
Dân ca Ví, Giặm có nội dung vô cùng phong phú, đa dạng, từ mô tả cuộc
sống sản xuất, sinh hoạt đến phản ánh lịch sử, phong tục, tập quán, lễ nghi, ca
ngợi tình yêu quê hương, xứ sở và đặc biệt là phản ánh tình yêu nam nữ. Những
nội dung này lại được thể hiện một cách vô cùng sâu lắng, thiết tha bởi những
con người luôn phải kiên cường đấu tranh với một thiên nhiên đầy khó khăn,
thách thức nơi miền Trung khí hậu khắc nghiệt.
Các bài dân ca Ví, Giặm đều mang tính giáo dục sâu sắc, góp phần giáo
huấn con người trên mọi phương diện đạo đức, luân lý, lối sống: đề cao lòng
hiếu thảo, kính trọng cha mẹ, ca ngợi tình yêu chung thủy, cuộc sống nghĩa tình,
tấm lòng trung thực, cao thượng, nhân ái… Do vậy, nó là một công cụ hữu hiệu
góp phần giữ gìn, trao truyền những thuần phong mỹ tục, lối ứng xử tốt đẹp, các
giá trị văn hóa truyền thống. Với những giá trị nhân văn sâu sắc ấy, dân ca Ví,
Giặm đã có những đóng góp không nhỏ trong việc hình thành nhân cách con
người Nghệ Tĩnh, trong việc tạo dựng những đặc trưng văn hóa của một vùng
12


đất nổi tiếng là hiếu học và khoa bảng.
2.1.4. Là loại hình diễn xướng dân gian có nhiều giá trị nghệ thuật
độc đáo, phản ánh đậm nét bản sắc văn hóa của địa phương
Dân ca Ví, Giặmcó sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi chúng là lối hát vừa mang
tính ngẫu hứng, linh hoạt, uyển chuyển, vừa có tính lề lối, quy cách, bài bản, thể
hiện rất rõ những đặc tính bản sắc địa phương.

- Về thể thức trình diễn:
Theo các nhà nghiên cứu, Ví, Giặm được diễn xướng theo ba hình thức:
hát lẻ, hát đối và hát cuộc. Hát lẻlà hát một mình trong lúc lao động, sinh hoạt,
khi người hát một mình cấy hái, gặt lúa, chèo thuyền, ru con... Hát đối là hình
thức hát đối đáp có nam và nữ, có thể diễn ra ở bất cứ không gian nào. Hát
cuộccũng là hát giao duyên nam nữ nhưng có trình tự, quy cách, thủ tục chặt
chẽ, thường diễn ra ở các phường nghề, là cấp độ hoàn thiện cao của dân ca Ví,
Giặm. Mỗi cuộc hát lại có ba chặng:Chặng một có hát dạo, hát chào/hát mừng
và hát hỏi. Chặng hai là hát đố hoặc hát đối, trong đó hai bên hát đố - giải và hát
đối đáp. Chặng ba gồm hát mời, hát xe kết và hát tiễn.
Quy trình hát Giặm cũng có ba chặng như hát Ví, song các bước không
chặt chẽ, nghiêm ngặt bằng. Chặng một chủ yếu là hát dạo; chặng hai chủ yếu là
hát đố hoặc hát đối; chặng ba chủ yếu là hát xe kết. Nhìn chung, có thể thấy các
chặng hát của dân ca Ví, Giặm cũng có nhiều điểm tương đồng với quy trình hát
của một số thể loại dân ca giao duyên khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
- Về âm điệu, làn điệu, tiết tấu:
Hát Ví là thể hát tự do, ngâm vịnh dựa theo các thể thơ lục bát, song thất
lục bát, lục bát biến thể, đồng thời phụ thuộc vào bối cảnh, tâm tính của người
hát. Qua khảo sát thực tế, nhiều người dân cho rằng tên gọi ví ở đâylà ví von, so
sánh hoặc ví làvới, bên nam hát với bên nữ. Âm vực của Ví tương đối hẹp,
thường không quá một quãng 8, âm nhạc không đặt nặng về tiết tấu. Theo nhà
nghiên cứu Ninh Viết Giao, dù có nhiều tên gọi các loại Ví khác nhau, nhưng về
cơ bản chúng có chung một làn điệu. Có khác chăng là khi buồn thì hát giọng
trầm; khi vui hát giọng cao, phấn khởi; khi giận hờn thì hát giọng gấp gáp, bực
13


tức… Do vậy, cùng một câu thơ lục bát nhưng âm điệu của ví đò đưa lại khác
với âm điệu của ví phường vải.
Giặm là thể hát nói có nhịp điệu, tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh, phách

nhẹ, có nhịp nội, nhịp ngoại, thường có nhịp là 3/4 và 6/8. Lời hát Giặm chủ yếu
dựa theo thể thơ 5 chữ (thơ ngũ ngôn hoặc vè). Một bài Giặm thường có nhiều
khổ, loại phổ biến là mỗi khổ có 5 câu, câu 5 điệp lại câu 4 được gọi là “giặm”,
do đó Giặmcũng có nghĩa là đan cài,thêm vào, điền vào chỗ còn thiếu. Giặm có
hai làn điệu chính là hát ngâm và hát nói, có thể mang tính chất tự sự, khuyên
răn, giãi bày, cũng có thể hài hước, trào lộng, châm biếm. Ngoài ra, hát Giặm
nam nữ chủ yếu phản ánh tình yêu lứa đôi. Do vậy, có thể có nhiều loại Giặm
như: Giặm kể, Giặm nói, Giặm xẩm,Giặm vè, Giặm cửa quyền, Giặm ru, Giặm
mời trầu, Giặm nam nữ… Hai lối hát Ví và Giặm luôn được hát xen kẽ cùng
nhau.Mỗi người có thể hát Ví với âm điệu tự do, hoặc hát Giặm có phách mạnh,
phách nhẹ, hoặc hát cả hai. Mỗi điệu hát là một nỗi niềm, một cách thể hiện
riêng, nhưng tất cả đều toát lên cái hồn vía, cốt cách của con người xứ Nghệ.
- Về mặt ca từ:
Dân ca Ví, Giặm thường lấy chất liệu từ các bài thơ lục bát, song thất lục
bát, lục bát biến thể, thơ ngũ ngôn, vè…, nên ca từ rất cô đọng, súc tích, dễ
thuộc, dễ nhớ, dễ hát.Nói cách khác, dân ca Ví, Giặm chính là những vần thơ cô
đọng, trữ tình được người dân xứ Nghệ hát lên. Nhiều khi ca từ của một bài hát
Ví chính là một cuộc chơi đối đáp rất nho nhã về chữ nghĩa giữa hai bên tham
gia cuộc hát.
Có thể nói, sinh hoạt dân ca Ví, Giặm là một sân chơi phóng khoáng để
người dân Nghệ Tĩnh thể hiện khả năng ngẫu hứng, ứng tác của mình, qua đó họ
có thể thỏa sức sáng tạo, đặt lời mới, góp phần làm giàu cho kho tàng dân ca địa
phương ngày thêm phong phú, đa dạng.
2.2. Thực trạng công tác bảo tồn và phát huy dân ca ví, dặm
2.2.1. Thành lập các câu lạc bộ hát ví, dặm
Ban đầu là các đội văn nghệ quần chúng ở các địa phương như đội văn
nghệ xã, phường, thôn, xóm, dần dần được xây dựng thành mô hình các câu lạc
14



bộ dân ca. Đây cũng là một hình thức để đưa dân ca trở về với cộng đồng, với
nhân dân lao động. Từ khi Trung tâm Bảo tồn Phát huy Di sản Dân ca xứ Nghệ
được thành lập (năm 2010), đến nay tỉnh Nghệ An đã có hơn 60 Câu lạc bộ Dân
ca đi vào hoạt động với khoảng 1500 thành viên và gần 400 nghệ nhân hát dân
ca. Hàng năm, các câu lạc bộ đều có chương trình hoạt động thường xuyên, cụ
thể, phát triển được cả bề rộng lẫn chiều sâu, tích cực tham gia nhiều hoạt động,
nhiều phong trào văn hóa văn nghệ của tỉnh, tham gia Liên hoan Dân ca từ cấp
phường, xã đến cấp tỉnh, cấp liên tỉnh và đạt nhiều giải thưởng của ngành Văn
hóa, Thể thao và Du lịch. Hát dân ca hiện nay trong Đội văn nghệ quần chúng và
Câu lạc bộ, ngoài những bài bản của ông cha để lại, thêm vào đó là các làn điệu
cải biên, ca khúc phát triển từ chất liệu dân ca xứ Nghệ của các nhạc sĩ, nghệ sĩ,
không còn những bài bản mới sáng tác theo phương pháp ngẫu hứng như ông
cha đã làm, vì môi trường và hoàn cảnh xã hội đã thay đổi.
Như CLB dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh “Làng Gia Hội” tổ dân phố 13 thị
trấn Cẩm Xuyên [Phụ lục; Ảnh 1] được thành lập với 26 thành viên tham gia.
Các thành viên tham gia CLB là những người đam mê ca hát các làn điệu dân ca
ví dặm Nghệ Tĩnh mượt mà, sâu lắng. Tại buổi lễ ra mắt các thành viên trong
CLB đã thể hiện các ca từ mộc mạc, gần gủi gắn với nét đẹp văn hóa vùng miền
và đời sống tình cảm của người dân lao động. Những làn điệu dân ca ví dặm
được thể hiện qua các tiết mục như: Tự hào khúc hát tổ 13; Tổ khúc dân ca
mừng Đảng quang vinh, mừng quê hương đổi mới; Mời trầu thắm nghĩa quê tôi;
Nhất tâm đợi bạn lời cổ; Cảm xúc từ câu hò điệu ví; Hát đối dân ca Nghệ Tĩnh
trai Vịnh Lại, gái Đan Du; Mẫu tử tình thâm…
Thị trấn Thiên Cầm đã ra mắt 2 CLB dân ca Thị trấn Thiên Cầm với 21
thành viên và CLB dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh trường tiểu học có 27 giáo viên và
học sinh tham gia. Các thành viên tham gia CLB là những người đam mê ca hát
yêu thích các làn điệu dân ca ví dặm Nghệ Tĩnh và là những người giàu lòng
nhiệt huyết đam mê với phong trào hát dân ca. Tại buổi lễ ra mắt với những ca
từ mộc mạc, những âm điệu thiết tha, nghĩa tình đã được các thành viên trong
các câu lạc bộ dàn dựng và thể hiện các làn điệu thật mượt mà, sâu lắng.

15


Đến nay, huyện Cẩm Xuyên đã ra mắt được 5 câu lạc bộ dân ca ví dặm
gồm CLB dân ca ví dặm xã Cẩm Mỹ, Cẩm Nhượng, Thị trấn Thiên Cầm và
Trường tiểu học Thị trấn Thiên Cầm; Trường mầm non Cẩm Thạch.
2.2.2. Tổ chức các cuộc thi, cuộc liên hoan về hát ví, dặm
Liên hoan được tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy giá trị vốn có và giá trị
tiêu biểu của các thể hát và trò diễn xướng [Phụ lục; Ảnh 2]; tạo cơ hội để các
CLB gặp gỡ, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm; tiếp tục đẩy mạnh phong trào hát
dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh trong các ngành, tổ chức đoàn thể, địa phương.
Để tiến tới liên hoan, nhiều tháng qua, các địa phương đã đồng loạt tổ
chức liên hoan dân ca ví, giặm cấp cơ sở. Từ liên hoan của các huyện, thị xã,
thành phố, liên hoan toàn tỉnh đã lựa chọn được 26 CLB xuất sắc với 450 nghệ
nhân, diễn viên tham gia.
Nhằm tạo ra không gian diễn xướng dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh ở nhiều
nơi, kể cả dân ca nguyên gốc và dân ca phát triển gắn với lao động sản xuất và
xây dựng nông thôn mới, nuôi dưỡng các thế hệ nghệ nhân dân gian nòng cốt
trong các CLB dân ca Nghệ Tĩnh, tại liên hoan năm nay, các tiết mục tham gia
phải đảm bảo 60% yếu tố nguyên gốc ở các không gian và trình thức diễn
xướng, kể cả trang phục, đạo cụ, bao gồm các thể loại hát chính….
Theo kế hoạch, Liên hoan các CLB dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh năm 2016
sẽ diễn ra đến ngày 21-8. Ban Tổ chức sẽ lựa chọn 9 CLB tiêu biểu, đại diện cho
tỉnh Hà Tĩnh tham gia Liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh cấp liên tỉnh tổ chức
tại Nghệ An vào tháng 10-2016.
2.2.3. Bảo tồn và phát huy bằng con đường sân khấu hóa
Quá trình thể nghiệm sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh, trải qua thăng trầm,
biến đổi của lịch sử, dân ca đã góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng,
tình cảm cho nhân dân và làm phong phú kho tàng văn hóa truyền thống của dân
tộc. Việc kế thừa và phát huy vốn cổ quý báu đó được đặt ra như một tất yếu lịch

sử và là bổn phận thiêng liêng của thế hệ hôm nay đối với di sản văn hóa. Chính
vì vậy, hàng chục năm qua, dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh không những được bảo
tồn bằng hình thức hát dân ca truyền thống mà còn phát triển mạnh mẽ theo
16


hướng sân khấu hóa. Nhìn lại quá trình thể nghiệm sân khấu hóa dân ca Nghệ
Tĩnh [Phụ lục; Ảnh 3], chúng ta có thể thấy được những nét khái quát của kết
quả đạt được, quá trình đó có thể chia làm ba giai đoạn:
Dân ca Ví giặm là đặc sản của vùng đất xứ Nghệ
– Giai đoạn 1: Từ 1972- 1985: Giai đoạn này chủ yếu tập trung làm công
tác sưu tầm, nghiên cứu và thể nghiệm một số vở để rút kinh nghiệm, trong đó
có vở “Cô gái sông Lam” của tác giả Nguyễn Trung Phong, được chuyển thể từ
chèo sang. Đỉnh cao của giai đoạn này là vở “Mai Thúc Loan” của tác giả Phan
Lương Hảo, được tặng Huy chương Vàng cho vở diễn, nhạc sĩ và hai diễn viên
chính tại Hội diễn Sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc năm 1985. Vở “Mai Thúc
Loan” được thể nghiệm thành công toàn diện từ khấu kịch bản, đạo diễn, âm
nhạc thiết kế mỹ thuật, phục trang…Sự thành công này là tổng hợp cả quá trình
thể nghiệm trong giai đoạn 1. Đồng thời đề xuất được một số hướng phát triển
mới như: Tìm phong cách riêng cho sân khấu dân ca, hát nói, hát có tính kịch
sâu sắc trong sân khấu dân ca… Giai đoạn 1 đã tổ chức được hai cuộc hội thảo
khoa học quan trọng vào các năm 1976, 1984. Hội thảo khoa học đã khẳng định
được phương hướng phát triển cho bộ môn kịch hát dân ca, tạo điều kiện để
đoàn dân ca tiếp tục nghiên cứu, thể nghiệm trong giai đoạn tiếp theo.
– Giai đoạn 2: Từ 1986 – 1991: Sau thắng lợi của vở “Mai Thúc Loan”,
kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh đã được giới sân khấu cả nước công nhận, trở thành
một bộ môn kịch hát mới “Kịch hát dân ca”. Nhiều vở diễn có quy mô hoành
tráng lại được tiếp tục giàn dựng, thể nghiệm và công bố kết quả phục vụ nhân
dân trong tỉnh, một số tỉnh, thành phố khác và đưa lên hệ thống thông tin đại để
chúng phục vụ nhân dân trong cả nước. Giai đoạn này, ngoài việc tiếp tục thể

nghiệm đề tài dân gian, lịch sử, dã sử như “Bão táp cửa Kỳ Hoa” của tác giả
Phạm Ngọc Côn, “Ông vua hóa hổ” của tác giả Lưu Quang Vũ, đoàn còn mạnh
dạn thể nghiệm đề tài hiện đại như: “Hai ngàn ngày oan trái”, “Quyền được sống
hạnh phúc” của tác giả Lưu Quang Vũ…Giai đoạn này tổ chức được một cuộc
hội thảo khoa học vào năm 1987, hội thảo khoa học đã đánh giá được kết quả
thể nghiệm của giai đoạn 1, đồng thời mở ra một số hướng quan trọng để tiếp
17


tục thể nghiệm trong giai đoạn tiếp nối.
– Giai đoạn 3: Từ 1992 đến nay (Giai đoạn này tính từ sau khi chia tách
tỉnh Nghệ Tĩnh thành hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh): Giai đoạn này đã mạnh dạn
thể nghiệm nhiều vở đề tài hiện đại và một số vở đề tài dân gian. Trong đó có
một số vở diễn thể nghiệm thành công như “Chuyện tình ông vua trẻ” của tác
giả Phùng Dũng, được tặng Huy chương Bạc tại Hội diễn Sân khấu chuyên
nghiệp toàn quốc năm 1995. Vở sử thi nghệ thuật “Danh nhân lớn lên từ điệu hò,
câu ví” của tác giả Vũ Hải, được tặng giải Xuất sắc tại Liên hoan Sân khấu Dân
ca chuyên nghiệp toàn quốc năm 1999. Vở diễn này được thể nghiệm theo
phong cách mới, từ khâu kịch bản, giàn dựng đến âm nhạc. Vở “Vết chân tròn
trong bão tố” của tác giả Vũ Hải được tặng Huy chương Vàng tại Hội diễn Sân
khấu chuyên nghiệp miền duyên hải năm 1996, đề tài hiện đại, thể nghiệm theo
phong cách mới. Giai đoạn này, Đoàn Dân ca Nghệ An cũng được nâng lên
thành Nhà hát Dân ca, rồi Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Dân ca xứ Nghệ. Từ
khi được nâng lên thành Trung tâm Bảo tồn và Phát huy Dân ca xứ Nghệ đến
nay, ngoài nhiệm vụ tiếp tục thể nghiệm sân khấu hóa dân ca Nghệ Tĩnh ở bước
cao hơn, còn có trách nhiệm phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ nhân dân
(được khoán chỉ tiêu hàng năm như các đoàn nghệ thuật khác). Ngoài ra, Trung
tâm còn có nhiệm vụ quan trọng là tham mưu cho tỉnh và sở về việc bảo tồn và
phát huy dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Nhất là quá trình lập hồ sơ khoa học trình
UNESCO công nhận Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh là Di sản phi vật thể đại diện

của nhân loại, Trung tâm đã tham mưu cho tỉnh và sở tổ chức nhiều cuộc hội
thảo khoa học quan trọng tại Nghệ An về Ví, Giặm Nghệ Tĩnh. Trung tâm đã
cùng với các đơn vị chuyên môn của bộ và hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, tổ
chức cho đoàn đại diện UNESCO về kiểm tra Ví, Giặm, tổng kiêm kê phổ thông
và kiểm kê khoa học về Ví, Giặm nguyên gốc, đây là căn cứ quan trọng để đưa
vào hồ sơ khoa học, giúp các nhà khoa học nghiên cứu, đánh giá thật đầy đủ các
giá trị nổi bật, riêng có của dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh để đưa vào hồ sơ khoa
học trình UNESCO. Đặc biệt, đã phối hợp với chính quyền các địa phương trong
hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, xây dựng và phát triển hệ thống câu lạc bộ hát dân
18


ca, một hệ thống tổ chức quan trọng chuyên thực hiện nhiệm vụ đưa dân ca về
với cộng đồng. Trung tâm phải làm nhiều việc như vậy cho nên việc thể nghiệm
sân khấu hóa không được duy trì và phát triển như giai đoạn 1 và giai đoạn 2.
Tuy nhiên, giai đoạn từ 1992 đến nay, cũng không phải làm như hai giai đoạn
trước, vì sân khấu thể nghiệm dân ca đã được định hình từ giai đoạn 1; Giai
đoạn 2 chỉ bổ sung thêm bước thể nghiệm đối với đề tài hiện đại; Còn gai đoạn
3, chúng ta chỉ tập trung thể nghiệm đối với những vở diễn có quy mô hoành
tráng, những vở diễn chuẩn bị cho các kỳ hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn
quốc. Còn lại, chúng ta có thể giàn dựng các vở diễn để phục vụ nhân dân, phục
vụ nhiệm vụ chính trị theo cách đã làm ở giai đoạn 1 và giai đoạn 2. Sau đây,
chúng ta có thể tìm hiểu thêm về các lĩnh vực thể nghiệm sân khấu hóa dân ca
Nghệ Tĩnh:
Hát ví giặm bắt nguồn từ đời sống lao động sản xuất
– Về sáng tác và chuyển thể kịch bản: Kịch bản được xem là vấn đề cốt tử
của sân khấu. Từ trước đến nay, đây là vấn đề băn khoăn, trăn trở của những
người làm công tác sân khấu nói chung và sân khấu dân ca Nghệ Tĩnh nói riêng.
Bởi vì cho đến nay, chưa có tác giả viết kịch bản riêng của loại hình sân khấu
này, chưa có kịch bản hay viết cho sân khấu kịch hát dân ca Nghệ Tĩnh. Nếu nói

vở “Mai Thúc Loan” của tác giả Phan Lương Hảo là viết riêng cho sân khấu dân
ca thì cũng phải sửa chữa, cấu trúc lại, viết lại mới thành. Tác giả Vũ Hải có
nhiều đóng góp cho sân khấu dân ca nhưng chắc chắn cũng chưa có vở nào Vũ
Hải viết thẳng cho sân khấu dân ca mà cũng phải qua chuyển thể. Tuy nhiên,
nhiều thập kỷ qua, sân khấu thể nghiệm dân ca Nghệ Tĩnh đã chọn được nhiều
kịch bản hay để chuyển thể, có một số kịch bản đã được khẳng định, đôi khi
nhầm đó là kịch bản viết riêng cho sân khấu dân ca.
Kịch bản đã không viết riêng cho sân khấu dân ca thì người chuyển thể
đóng một vai trò hết sức quan trọng, họ đã làm cho kịch bản dưới dạng kịch hát
nói chung, thậm chí dưới dạng kịch nói điều phải chuyển sang kịch hát dân ca.
Kịch hát nói chung chuyển sang kịch hát dân ca là cùng một dạng kịch bản viết
cho sân khấu ca kịch. Nhưng kịch nói chuyển sang kịch hát dân ca, người
19


chuyển thể phải rất công phu, giống như viết lại vở kịch nói đó trở thành kịch
hát. Phải thay đổi những lớp diễn gần gũi với kịch hát hơn. Phải lồng các làn
điệu dân ca nguyên gốc, dân ca cải biên vào những lớp diễn đó. Nếu chưa có lời
thơ của tác giả kịch bản thì người chuyển thể cũng phải làm thay, mới có lời
lồng vào các điệu hát.
Với cách làm đó, nhiều thập kỷ qua chúng ta đã thể nghiệm thành công
nhiều loại hình kịch bản: Chính kịch, bi kịch, bi hài kịch…với các đề tài chính
sử, dã sử, huyền thoại, dân gian, cách mạng, hiện đại… Sân khấu kịch hát dân ca
Nghệ Tĩnh đã đạt được những thành công, được nhân dân đồng tình ủng hộ,
được giới nghệ thuật sân khấu công nhận.
– Về thể nghiệm âm nhạc: Từ hội thảo đầu tiên năm 1976, định hướng thể
nghiệm âm nhạc của sân khấu kịch hát dân ca theo hướng kịch hát truyền thống
dân tộc (Tuồng, Chèo). Ưu tiên thể nghiệm các làn điệu gốc vào các tình huống,
vai diễn của sân khấu. Khuyến khích sáng tác cải biên những làn điệu mới (bài
hát mới) có tính đa dùng để đáp ứng yêu cầu phát triển của sân khấu. Nhạc nền

và những bài hát chuyên dùng (chỉ dùng trong phạm vi một vở diễn) là để đáp
ứng yêu cầu của sân khấu phát triển, tính kịch sâu sắc mà các làn điệu gốc và cải
biên (đã dùng) không đáp ứng được.
Nhiều thập kỷ qua, nhiều nhạc sĩ, nghệ sĩ đã tham gia thể nghiệm âm nhạc
như: Hồ Hữu Thới, Thanh Lưu, Mai Hồng, Văn Thế, Vi Phong, Đình Bảo, Hồng
Lựu, Đình Đắc, Phan Thành…, đã sáng tác được gần 200 làn điệu mới, bài hát
cải biên, phát triển dân ca. Trong đó, có khoảng 1/3 số bài có tính đa dùng (dùng
trong nhiều vở). Gần 60 vở diễn với các đề tài khác nhau đã được thể nghiệm
với tỷ lệ 50- 60% làn điệu gốc, 40- 50% làn điệu cải biên (có tình đa dùng) và
bài hát mới (có tính chuyên dùng). Đặc biệt, đã có vở thể nghiệm đến 70% làn
điệu gốc và làn điệu cải biên gần gốc, chỉ có 30% là nhạc nền và bài hát phát
triển dân ca (chuyên dùng) như: vở “Chuyện tình ông vua trẻ” của tác giả Phùng
Dũng. Ngược lại, có vở đã thể nghiệm từ 60-70% bài hát chuyên dùng, 30-40%
còn lại là làn điệu gốc và làn điệu cải biên như vở “Danh nhân lớn lên từ điệu
hò, câu ví” của tác giả Vũ Hải.
20


– Về thể nghiệm dàn dựng: Đạo diễn là tác giả của vở diễn, nhiều thập kỷ
qua cộng tác với đoàn kịch hát dân ca, nhà hát dân ca và sau này là Trung tâm
Bảo tồn và Phát huy dân ca xứ Nghệ là những đạo diễn tài năng, tâm huyết, tên
tuổi ở Trung ương như Lê Hùng, Xuân Huyền… Trong quá trình giàn dựng, mỗi
đạo diễn có một thế mạnh riêng, có gu sáng tạo riêng. Có đạo diễn khai thác, vận
dụng sáng tạo tinh hoa của sân khấu ca kịch truyền thống sang kịch hát dân ca,
có đạo diễn lại dùng thế mạnh của sân khấu hiện đại để làm cho sân khấu dân ca
vừa có tính truyền thống, vừa có tính hiện đại. Tất cả đã giúp cho sân khấu kịch
hát dân ca Nghệ Tĩnh những điều kiện thể nghiệm phong phú, đa dạng trên bước
đường tìm đến một phong cách riêng cho kịch hát dân ca xứ Nghệ.
Tóm lại, quá trình thể nghiệm sân khấu hóa dân ca xứ Nghệ đã khẳng
định: Loại hình kịch hát dân ca xứ Nghệ đã tạo được chỗ đứng vững chắc trong

đời sống nghệ thuật. Tuy mức độ thành công của mỗi vở diễn khác nhau nhưng
nhìn chung đây là một bộ môn nghệ thuật độc đáo, riêng có của vùng quê xứ
Nghệ. Phong cách chủ đạo của bộ môn nghệ thuật này là: dung dị, mộc mạc, trữ
tình, đằm thắm, sâu lắng mà không kém phần bi hùng, quyết liệt, sâu sắc như
dân ca, con người và quê hương xứ Nghệ.
2.2.4. Đưa dân ca ví, dặm vào trong trường học
Âm nhạc dân gian là tinh hoa, là linh hồn dân tộc. Một nhà văn hoá đã ví
dân ca "… Như dòng sông mênh mang tình đất, tình người, chắt lọc từ mạch
nguồn cuộc sống, chảy qua nhiều thời đại, phản ánh tâm tư tình cảm, ước mơ,
khát vọng của con người trên mảnh đất quê hương của mình…".
Đó là những điệu hò man mác xa khơi, là tiếng ru con vời vợi trưa hè, là
nỗi niềm người đi khi nghe câu ví giặm, là sự khắc khoải ngóng đợi chờ trông và
là dòng sữa nuôi dưỡng tâm hồn, hình thành nhân cách của mỗi con người… Từ
cuối thế kỷ XX trở lại đây, khoa học công nghệ thông tin bùng nổ, nền văn minh
nhân loại phát triển mạnh mẽ. Các vấn đề thuộc về văn hoá nguồn cội đang là
một trong những mối quan tâm chung của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó
có vấn đề về gìn giữ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa như âm nhạc dân
gian.
21


×