Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI, VAI TRÒ VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (407.35 KB, 16 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
----------

BÀI TẬP LỚN
Môn học : Kinh tế chính trị
ĐỀ TÀI : NHỮNG

BIỂU HIỆN MỚI, VAI TRÒ VÀ HẠN
CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

Sinh viên thực hiện

:

Lớp

:

Mã sinh viên

:

Hà Nội, tháng 12 năm 2019


MỤC LỤC
Lời nói đầu
1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………………….
1.1

Những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền..



1.2

Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩ tư bản độc

quyền nhà nước……………………………………………………………………..
1.3

Những nét mới trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại…………..

2. Thực trạng của chủ nghĩa tư bản…………………………………………………
2.1

Những ưu điểm của chủ nghĩa tư bản ………………………………………

2.2

Những hạn chế của chủ nghĩa tư bản……………………………………….

3. Những biện pháp giải quyết những hạn chế của chủ nghĩa tư bản………………
3.1

Những biện pháp vĩ mô……………………………………………………...

3.2

Những biện pháp cá nhân…………………………………………………….

Kết luận



LỜI NÓI ĐẦU
Dưới sự tác động của sự phát triển mạnh mẽ như vũ bão của kỹ thuật và công nghệ,
ngày nay lực lượngsản xuất đã có bước phát triển mạnh mẽ. Lực lượng sản xuất thay đổi
cả về tính chất và trình độ kéo theo sự thay đổi về quan hệ sản xuất. Do đó mà trong các
nước chủ nghĩa tư bản, bản chất của nó cung mang những đặcđiểm mới. Nhân dân ta đang
đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa, mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới. Do vậy, tăng
cường quan hệ với hệ thống kinh tế thế giới, tham gia phân công lao động và cạnh tranh
quốc tế đâng là đề tài quan trọngcần được làm sáng tỏ. Hiện nay các nước tư bản phát triển
vẫn đang giữ vị trí chi phối nền kinh tế thế giới. Trên phương diện chính trị thế giới cũng
như kinh tế thế giới, chủ nghĩa tư bản hiện đại đang chiếm ưu thế. Chúng ta kiên trì xây
dựng chủ nghĩa xã hộitrong hoàn cảnh quốc tế như vậy nên việc hiểu thấu đáo về chủ
nghĩa tư bản hiện đại là diều hết sức cần thiết. Hơn thế nữa, chủ nghĩa xã hội không phải
bỗng dưng mà có và phát triển. Dương nhiên nó chỉ có thể làm nên những thành tựu của
mình trên cơ sở đúc kết bài học và kinh nghiệm lịch sử, trên cơ sở phát triển của xã hội
loài nguời. Nghiên cứu những thành bai, được mất của chủ nghĩa tư bản hiện đại, lấy cái
tốt bỏ cái xấu của nó là để giúp Chúng ta xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa tiến bộ hơn, ưu
việt hơn tư bản chủ nghĩa. Do tính cấp thiết đó của đề tài, chúng em đã viết bài này. Mục
đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ những biểu hiện, vai trò và hạn chế của chủ nghĩa tư
bản hiện đại. Bài tập lớn của em gồm có các phần chính
Phần 1: Cơ sở lí luận
Phần 2: Thực trạng của chủ nghĩa tư bản
Phần 3: Những biện pháp giải quyết những hạn chế của chủ nghĩa tư bản
Do trình độ hiểu biết của em trong quá trình học chưa được sâu nên không thể
tránh khỏi được những thiếu xót. Vì vậy em kính mong các thầy cô góp ý, bổ sung để
bài viết của em được tốt hơn trong các lần sau. Em cũng xin chân thành cảm ơn sự
hướng dẫn của cô đã giúp em hoàn thành tốt bài tiểu luận này.



NỘI DUNG
1. Cơ sở lí luận
Chủ nghĩa tư bản ngày nay (hay chủ nghĩa tư bản hiện đại) là một nấc thang trong quá
trình phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến
nay, nhất là vào những năm cuối thế kỷ XX, trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã
diễn ra một cách sâu rộng cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, nhất là vào những năm cuối thế kỷ XX,
trong các nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã diễn ra một cách sâu rộng cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ. Việc ứng dụng nhũng thành tựu của cách mạng khoa học và công
nghệ đã làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự biến đổi để thích ứng. Từ đó làm
nảy sinh những biểu hiện mới, đồng thời làm cho mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản
càng thêm gay gắt
1.1 Những biểu hiện mới trong năm đặc điểm của chủ nghĩa tư bản độc quyền
1.1.1 Tập trung sản xuất và hình thức độc quyền mới: sự xuất hiện những công ty độc
quyền xuyên quốc gia bên cạnh sự phát triển của các xí nghiệp vừa và nhỏ
Hiện tượng liên kết đa dạng tiếp tục phát triển, sức mạnh của các consơn (concern) và
cônglômêrát (conglomerat) ngày càng được tăng cường. Nhưng do tác động của các đạo
luật chống độc quyền hay luật chống hạn chế cạnh tranh đã làm xuất hiện phổ biến các
hình thức tổ chức độc quyền lớn hơn, cao hơn: hình thức ôlygôpôly (oligopoly - độc quyền
của một vài công ty) hay pôlypôly (polypoly - độc quyền của một số khá nhiều công ty
trong mỗi ngành). Cách mạng khoa học và công nghệ dường như biểu lộ thành hai xu
hướng đối lập nhau nhưng thực ra là thống nhất với nhau: xu hướng tập trung và xu hướng
phi tập trung hóa.
1.1.2 Sự thay đổi trong các hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài chính
Thích ứng với sự biển đối mới, hình thức tổ chức và cơ chế thống trị của tư bản tài
chính đã thay đổi. Sự thay đổi diễn ra ngay trong quá trình liên kết và thâm nhập vào nhau
giữa tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp. Ngày nay, phạm vi liên kết được mở rộng ra
nhiều ngành, do đó các tập đoàn tài chính thường tồn tại dưới hình thức những tổ hợp đa
dạng kiểu công - nông - thương - tín - dịch vụ hay công nghiệp - quân sự - dịch vụ quốc
phòng. Nội dung của sự liên kết cũng đa dạng hơn, tinh vi hơn, phức tạp hơn. Vai trò kinh



tế và chính trị của tư bản tài chính ngày càng lớn, không chỉ trong khuôn khổ quốc gia mà
còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các nước khác trên thế giới. Trùm tài chính không chỉ tăng
cường địa vị thống trị về kinh tế mà còn tăng cường sự khống chế và lợi dụng chính quyền
nhà nước. Trong chính phủ, họ có nhiều người đại diện hơn, hơn nữa việc tự mình đảm
nhiệm các chức vụ quan trọng trong chính phủ ngày càng phổ biến.
1.1.3 Xuất khẩu tư bản vẫn là cơ sở của độc quyền quốc tế sau chiến tranh,nhưng
quy mô,chiều hướng và kết cấu của việc xuất khẩu tư bản đã có bước phát triển mới
Chiều hướng xuất khẩu tư bản cũng có những thay đổi rõ rệt. Trước kia, luồng tư bản xuất
khẩu chủ yếu từ các nước tư bản chủ nghĩa phát triển sang các nước kém phát triển
(khoáng 70%). Nhưng từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt sau những năm 70 của
thế kỷ XX, 3/4 tư bản xuất khẩu được đầu tư vào các nước phát triển, mở đầu bằng việc tư
bản quay trở lại Tây Âu
Từ đầu những năm 70 của thế kỷ XX, đại bộ phận dòng tư bản lại chảy qua chảy lại giữa
các nước tư bản chủ nghĩa phát triển với nhau
Tuy nhiên, một loạt công ty ở các nước Anh, Pháp, Hà Lan... đã vượt qua cả lệnh cấm vận
của Mỹ đêr đầu tư vào các nước đang phát triển. Chẳng hạn họ đầu tư thăm dò và khai
thác dầu khí ở Việt Nam - đó là bằng chứng rõ rệt chứng minh cho xu hướng trên. Sở dĩ
như vậy là vì tình trạng thiếu dầu khí và những kim loại quý hiếm vẫn đang là "gót chân
Asin" của nền kinh tế các nước tư bản chủ nghĩa phát triển, trong khi đó các nước đang
phát triển giàu tài nguyên lại thiếu vốn và kỹ thuật để khai thác, và nguồn lợi cao từ lĩnh
vực này đối với cả hai phía.
1.1.4 Sự phân chia thế giới giữa các liên minh của chủ nghĩa tư bản: xu hướng quốc tế
hóa, toàn cầu hóa ngày càng tăng bên cạnh xu hướng khu vực hóa nền kinh tế
Sức mạnh và phạm vi bành trướng của các công ty độc quyền xuyên quốc gia tăng lên
càng thúc đẩy xu hướng quốc tế hóa đời sống kinh tế và sự phân chia phạm vi ảnh hưởng
giữa chúng với nhau, đồng thời thúc đẩy việc hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà
nước quốc tế.
Cùng với xu hướng quốc tế hóa, toàn cầu hóa đời sống kinh tế lại diễn ra hiện tượng khu

vực hóa, hình thành ngày càng nhiều liên minh kinh tế khu vực như: Liên minh châu Âu
(EU), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á - Thái
Bình Dương (APEC)... Ngày càng có nhiều nước tham gia vào các liên minh Mậu dịch tự


do (FTA) hoặc các Liên minh Thuế quan (CU). FTA là khu vực trong đó các nước thành
viên cam kết xóa bỏ hàng rào thuế quan đối với hàng hóa của nhau, CU là liên minh trong
đó các nước thành viên có mức thuế chung đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước ngoài
khối.
1.1.5 Sự phân chia thế giới giữa các cường quốc vẫn tiếp tục dưới những hình thức cạnh
tranh và thống trị mới
Tuy chủ nghĩa thực dân cũ đã hoàn toàn sụp đổ và chủ nghĩa thực dân mới đã suy yếu,
nhưng các cường quốc tư bản chủ nghĩa, khi ngấm ngầm, lúc công khai, vẫn tranh giành
nhau phạm vi ảnh hưởng bằng cách thực hiện "Chiến lược biên giới mềm", ra sức bành
trướng "biên giới kinh tế" rộng hơn biên giới địa lý, ràng buộc, chi phối các nước kém phát
triển từ sự lệ thuộc về vốn, công nghệ đi đến sự lệ thuộc về chính trị vào các cường quốc
Tóm lại, dù có những biểu hiện mới, chủ nghĩa tư bản đương đại vẫn là chủ nghĩa tư bản
độc quyền. Những biểu hiện mới đó chỉ là sự phát triển của năm đặc điểm cơ bản của chủ
nghĩa tư bản độc quyền mà V.I.Lênin đã chỉ ra từ những năm đầu thế kỷ XX
1.2
Những biểu hiện mới trong cơ chế điều tiết kinh tế của chủ nghĩ tư bản độc
quyền nhà nước
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước có
những biểu hiện mới sau đây:
- Tỷ trọng của kinh tế thuộc nhà nước trong nền kinh tế quốc dân được nâng lên rõ rệt, nó
vừa bao gồm các xí nghiệp thuộc nhà nước trong các ngành sản xuất vật chất, vừa bao
gồm các tổ chức tài chính thuộc ngân hàng, ngành kinh tế thứ ba (dịch vụ), cùng những
công trình cơ sở hạ tầng xã hội mới xây đựng do nhà nước tư bản chủ nghĩa đầu tư.
- Kinh tế thuộc nhà nước và tưnhân kết hợp tăng lên mạnh mẽ. Năm 1979, trong 40 công
ty công nghiệp lớn nhất của Tây Âu có 7 công ty hỗn hợp vốn giữa nhà nước và tư bản.

Trong đó vốn nhà nước chiếm khoảng một nửa. Trong các công ty dầu lửa của Mỹ, cổ
phần do Chính phủ nắm là 46%. Ở Cộng hòa Liên bang Đức đã có 1.000 xí nghiệp thuộc
nhà nước và tư nhân kết hợp.
Chi tiêu tài chính của các nhà nước tư bản phát triển dùng để điều tiết quá trình tái
sản xuất xã hội tăng lên nhiều. Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, khoản chi này chiếm
khoảng 10% tỷ trọng tổng giá trị sản phẩm quốc dân. Đến đầu những năm 80 của thế kỷ
XX, khoản chi này đã chiếm hơn 30%, cá biệt có nước vượt quá 50%.
- Phương thức điều tiết của nhà nước linh hoạt, mềm dẻo hơn với phạm vi rộng hơn.


Phương thức điều tiết của nhà nước cũng thay đổi một cách linh họạt, mềm dẻo hơn, kết
hợp điều tiết tình thế với điều tiết dài hạn. Các công cụ và phạm vi điều tiết của nhà nước
cũng đa dạng và mở rộng hơn:
- Điều tiết bằng chương trình và kế hoạch. Ví dụ: chi ngân sách được thực hiện theo các
chương trình kinh tế - xã hội trung hạn và dài hạn, như chương trình phục hồi kinh tế,
chương trình phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, chương trình cải biến
cơ cấu kinh tế, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng.
1.3 Những nét mới trong sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại
1.3.1 Sự phát triển nhảy vọt về lực lượng sản xuất
- Thứ nhất, cách mạng công nghệ thông tin và công nghệ cao phát triển mạnh mẽ. Công
nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, trở thành ngành lớn nhất và ngành tăng trưởng nhanh,
nhất là vào nửa cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
- Thứ hai, giáo dục - đào tạo được tăng cường làm cho tố chất công nhân được nâng cao,
từ đó đặt nền móng vững chắc cho việc nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh.
1.3.2 Nền kinh tế đang có xu hướng chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất diễn ra 200 năm trước, thúc đẩy chủ nghĩa
tư bản chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, cách mạng công nghệ
thông tin hiện nay đang thúc đẩy nền kinh tế tư bản chủ nghĩa chuyển từ kinh tế công
nghiệp sang kinh tế tri thức.
Trong kinh tế tri thức, vai trò của tri thức (và kỹ thuật) đã cao hơn các yếu tố như nguồn

tài nguyên tự nhiên và vốn, trở thành yếu tố sản xuất quan trọng nhất. Vận hành của kinh
tế tri thức chủ yếu không còn do người lao động cơ bắp thao tác máy móc mà chủ yếu do
những người lao động trí óc trong các ngành thiết kế, nghiên cứu phát triển cũng như
truyền bá tri thức thúc đẩy.
1.3.3 Sự điều chỉnh về quan hệ sản xuất và quan hệ giai cấp
- Thứ nhất, quan hệ sở hữu cũng có những thay đổi, biểu hiện nổi bật là sự phân tán
quyền nắm cổ phiếu tăng lên. Phân tán hóa quyền khống chế cổ phiếu có lợi cho cải thiện
quan hệ giữa chủ xí nghiệp và công nhân. Nhưng trên thực tế, công nhân là cổ đông nhỏ,
không thể cùng với nhà tư bản phân chia quyền lực, nên phân tán hóa quyền khống chế cổ
phiếu cũng không thể làm thay đổi địa vị làm thuê của người lao động.
- Thứ hai, kết cấu giai cấp cũng đã có những biến đổi lớn, các giai cấp, tầng lớp, đoàn thể
xã hội và tập đoàn cùng tồn tại và tác động lẫn nhau. Nổi bật nhất là sự xuất hiện của tầng


lớp trung lưu (hay còn gọi là giai cấp trung sản), chiếm khoảng 40-50% dân số. Trên thực
tế, phần lớn trong số này có cổ phiếu hoặc một phần vốn, rất nhiều trong số họ là phần tử
tri thức hoặc nhân viên chuyên ngành, có địa vị nghề nghiệp khá tốt, đã không còn là giai
cấp vô sản theo quan niệm truyền thống nữa.
Thứ ba, cùng với sự tăng trưởng của sản xuất và sợ điều chỉnh về quan hệ sản xuất, thu
nhập bằng tiền lương của người lao động cũng có được mức tăng trưởng khá lớn.
1.3.4 Thể chế quản lý kinh doanh trong nội bộ doanh nghiệp có những biến đổi lớn
Trong điều kiện mới của cách mạng khoa học kỹ thuật và kinh tế tri thức, thể chế quản lý
kinh doanh trong nội bộ các doanh nghiệp đã thực hiện các bước điều chỉnh và cải cách
lớn. Thứ nhất, doanh nghiệp cải cách cơ chế quản lý, thiết lập cơ cấu tổ chức hàng ngang
và mạng lưới. Thứ hai, dùng công nghệ cao cải cách cơ chế quản lý sản xuất. Thứ ba, thực
hiện cải cách quản lý lao động lấy con người làm gốc, yêu cầu đối với công nhân chủ yếu
không phải là điều kiện thế lực mà là phải có kỹ năng và tri thức cao hơn để họ phát huy
tính chủ động và tính sáng tạo, từ đó nâng cao năng suất lao động và tăng cường thế cạnh
tranh của doanh nghiệp. Thứ tư, thay đổi hình thức tổ chức doanh nghiệp xuất hiện xu thế
hai loại hình lớn hóa và nhỏ hóa cùng hỗ trợ nhau tồn tại.

1.3.5 Điều tiết vĩ mô của nhà nước ngày càng được tăng cường
Thứ nhất, kịp thời điều chỉnh chiến lược tổng thể phát triển kinh tế nhằm nâng cao sức
cạnh tranh tổng thể của quốc gia. Thứ hai, sự lựa chọn chính sách thực dụng. Thứ ba, căn
cứ vào tình hình phát triển kinh tế khác nhau của từng thời kỳ, vận dụng linh hoạt chính
sách tài chính và chính sách tiền tệ, kịp thời điều chỉnh mâu thuẫn cung cầu trong xã hội
và mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội khác nhau.
1.3.6 Các công ty xuyên quốc gia có vai trò ngày càng quan trọng trong hệ thống kinh tế
tư bản chủ nghĩa, là lực lượng chủ yếu thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế
Các công ty xuyên quốc gia (TNC) là các công ty tư bản độc quyền bành trướng thế lực ra
nước ngoài dưới hình thức cài cắm nhanh. Hiện tại, các công ty xuyên quốc gia được nhà
nước ở các nước tư bản chủ nghĩa nâng đỡ, thông qua đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên
quy mô lớn, các công ty xuyên quốc gia mua và thôn tính các tài sản ở nước ngoài, không
ngừng tăng cường thực lực, mở rộng thị phần.
1.3.7 Điều tiết và phối hợp quốc tế được tăng cường
Những năm gần đây, phối hợp và hợp tác quốc tế được tăng cường rõ rệt, hiệu quả cũng
không ngừng được nâng cao. (Ví dụ như: sự phối hợp giữa các nước tư bản về chính sách


tài chính, tiền tệ sau "sự kiện 11-9-2001", sự phối hợp giữa Mỹ, EU và Nhật Bản để tìm lối
thoát ra khỏi khủng hoảng tài chính tiền tệ trên quy mô toàn cầu năm 2008). Vai trò của các
tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế phát huy tác dụng ngày càng nổi bật khi điều tiết quan
hệ kinh tế quốc tế và trở thành một trong những chủ thể mới điều tiết quan hệ kinh tế tư bản
chủ nghĩa (chẳng hạn Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) tham gia một cách toàn diện vào công việc
cứư viện trong khủng hoảng lái chính châu Á đã giúp các nước hội viên khắc phục khó
khăn tạm thời về thu chi tài chính quốc tế). Tăng cường điều tiết và phối hơp quốc tế có vai
trò không thể xem nhẹ trong việc xoa dịu mâu thuẫn bên trong và bên ngoài các nước tư
bản chủ nghĩa, tạo không gan phát triển rộng lớn hơn cho chủ nghĩa tư bản.
2. Thực trạng của chủ nghĩa tư bản
2.1 Những ưu điểm của chủ nghĩa tư bản
Trong suốt quá trình phát triển, nếu chưa xét đến hậu quả nghiêm trọng đã gây ra đối

với loài người thì chủ nghĩa tư bản cũng có những đóng góp tích cực đối với phát triển sản
xuất. Đó là:
- Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản đã giải phóng loài người khỏi "đêm trường trung cổ" của
xã hội phong kiến; đoạn tuyệt với nền kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp chuyển sang phát
triển kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa; chuyển sản xuất nhỏ thành sản xuất lớn hiện đại.
- Phát triển lực lượng sản xuất. Quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho lực
lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ với trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao
- Thực hiện xã hội hóa sản xuất. Chủ nghĩa tư bản đã thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát
triển mạnh và đạt tới mức điển hình nhất trong lịch sử, cùng với nó là quá trình xã hội hóa
sản xuất cả chiều rộng và chiều sâu.
- Chủ nghĩa tư bản thông qua cuộc cách mạng công nghiệp đã lần đầu tiên biết tổ chức
lao động theo kiểu công xưởng, do đó đã xây dựng được tác phong công nghiệp cho người
lao động, làm thay đổi nền nếp, thói quen của người lao động sản xuất nhỏ trong xã hội
phong kiến.
- Chủ nghĩa tư bản lần đầu tiên trong lịch sử đã thiết lập nên nền dân chủ tư sản, nền dân
chủ này tuy chưa phải là hoàn hào, song so với thể chế chính trị trong các xã hội phong
kiến, nô lệ, vẫn tiến bộ hơn rất nhiều bởi vì nó được xây dựng trên cơ sở thừa nhận quyền
tự đo thân thể của cá nhân.
Tóm lại, chủ nghĩa tư bản ngày nay với những thành tựu và đóng góp của nó đối với sự
phát triển của nền sản xuất xã hội, là sự chuẩn bị tốt nhất những điều kiện, tiền đề cho sự


ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Nhưng bước chuyển từ chủ nghĩa tư
bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn phải thông qua các cuộc cách mạng xã hội. Dĩ nhiên, cuộc
cách mạng xã hội sẽ diễn ra bằng phương pháp nào - hòa bình hay bạo lực, điều đó hoàn
toàn tùy thuộc vào những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng nước và bối cảnh quốc tế
chung từng thời điểm, vào sự lựa chọn của các lực lượng cách mạng.
2.2 Những hạn chế của chủ nghĩa tư bản
Bên cạnh đóng góp tích cực nói trên, chủ nghĩa tư bản cũng có những hạn chế về mặt lịch
sử. Nhưng hạn chế này được C.Mác và V.I.Lênin đề cập ngay từ trong lịch sử ra đời tồn tại

và phát triển của chủ nghĩa tư bản
- Trước hết, về lịch sử ra đời của chủ nghĩa tư bản: như Mác đã phân tích chủ nghĩa tư bản
ra đời gắn liền với quá trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản. Thực chất, đó là
quá trình tích lũy tiền tệ nhờ vào những biện pháp ăn cướp, tước đoạt đối với những người
sản xuất hàng hóa nhỏ vả nông dân tự do: nhờ vào hoạt động buôn bán, trao đổi không
ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nước lạc hậu. Về quá
trình tích lũy nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản. C.Mác cho rằng, đó là lịch sử đầy máu và
bùn nhơ, không giống như một câu chuyện tình ca, nó được sử sách ghi chép lại bằng
những trang đẫm máu và lửa không bao giờ phai.
- Cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của chủ nghĩa tư bản là quan hệ bóc lột của nhà tư bản
đối với công nhân làm thuê. Mặc dù so với các hình thức bóc lột đã từng tồn tại trong lịch
sử, bóc lột tư bản chủ nghĩa cũng đã là một sự tiến bộ, song theo sự phân tích của C.Mác
và V.I.Lênin thì chừng nào chủ nghĩa tư bản còn tồn tại thì chừng đó quan hệ bóc lột còn
tồn tại và sự bất bình đẳng, phân hóa xã hội vẫn là điều không tránh khỏi.
- Các cuộc chiến tranh thế giới với mục đích tranh giành thị trường, thuộc địa và khu vực
ảnh hưởng đã để lại cho loài người những hậu quả nặng nề: hàng triệu người vô tội đã bị
giết hại, sức sản xụất của xã hội bị phá hủy, tốc độ phát triển kinh tế của thế giới bị kéo lùi
lại hàng chục năm.
- Chủ nghĩa tư bản sẽ phải chịu nách nhiệm chính trong việc tạo ra hố ngăn cách giữa các
nước giàu và các nước nghèo trên thế giới (thế kỷ XVIII chênh lệch về mức sống giữa
nước giàu nhất và nước nghèo nhất mới chỉ là 2,5 lần, hiện nay số chênh lệch ấy là 250
lần).


Trong những năm 80 của thế kỷ XX, thế giới thứ ba bị trì trệ, suy thoái. Điều này cũng đã
được Ngân hàng Thế giới khẳng định: ở châu Phi, Mỹ latinh... hàng trăm triệu người đã
nhận thấy, đi cùng với tăng trưởng là sự suy tàn về kinh tế, phát triển nhường chỗ cho suy
thoái, ở một vài nước Mỹ latinh, GNP theo đầu người hiện nay thấp hơn so với 10 năm
trước đây. Ở nhiều nước châu Phi, nò còn thấp hơn cách đây 20 năm, "... một thế giới mà
trong đó 20 năm nay ở châu Phi, từ 9 năm nay ở Mỹ latinh mức sống không ngừng giảm.

Trong khi đó mức sống trong các vùng khác tiếp tục tăng lên đó là điều hoàn toàn không
thể chấp nhận được".
Các cường quốc tư bản độc quyền hàng mấy thế kỷ nay đã tăng cường vơ vét tài nguyên,
bóc lột nhân công các nước nghèo và tìm cách khống chế họ trong vòng phụ thuộc thông
qua các con đường xuất khẩu tư bản, viện trợ, cho vay... Kết quả là các nước nghèo không
những bị cạn kiệt về tài nguyên mà còn mắc nợ không trả được, điển hình là các quốc gia
ở châu Phi, Mỹ latinh. Ở Braxin, người ta tính ra riêng số lãi mà Braxin phải trả trong năm
1988 bằng 288 triệu suất lương tối thiểu hay bằng khoản xây nhà cho 30 triệu người,
trong khi đó ước tính khoảng 2/3 dân Braxin thiếu ăn
3. Những biện pháp giải quyết những hạn chế của chủ nghĩa tư bản
3.1 Những biện pháp vĩ mô
- Để giải quyết hạn chế đầu tiên đó là chủ nghĩa tư bản ăn cướp, tước đoạt đối với những
người sản xuất hàng hóa nhỏ và nông dân tự do nhờ vào hoạt động buôn bán, trao đổi
không ngang giá qua đó mà thực hiện sự bóc lột, nô dịch đối với những nước lạc hậu.
Đối với những nước bị bốc lột thì cần đẩy mạnh nội thương để có thể giữ được giá ổn
định, không chịu chấp nhận bán giá thấp, hòa vốn hay chịu lỗ cho các nước tư bản.
Không những vậy đối với những nước cùng bị những nước tư bản chủ nghĩa áp bức
bóc lột có thể cùng liên kết với nhau tạo thành một liên minh, tạo thành một khu vực tư
do giao thương buôn bán như vậy các nước vừa có thể bảo vệ lợi ích kinh tế cho chính
nước mình vừa có một thị trường hoàn hảo để buôn bán. Không những vậy nếu các
nước lạc hậu , bị bóc lột liên kết, liên minh với nhau thì các nước tư bản cũng khó có
thể bóc lột một cách dễ dàng được
- Không chỉ vậy ngày nay xu hướng toàn cầu hóa - quá trình liên kết các quốc gia về kinh
tế, văn hóa, khoa học,… cũng có thể coi là môt trong những biện pháp giáp để giải


quyết sự áp bức bóc lột , mất cân bằng giữa các nước. Bên cạnh đó cũng làm tăng tốc
độ phát triển ngoại thương cao, hình thành mạng lười liên kết tài chính. Một số tổ chức
đã được hình thành và phát triển đến ngày nay như là tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), các tổ chức tài chính toàn cầu IMF, WB… đóng vai trò to lớn trong nền kinh tế

- xã hội thế giới, các tổ chức liên kết kinh tế khu vực được hình thành như là EU,
APEC, ASEAN, NAFTA …
- Đối với hạn chế thứ hai mà chủ nghĩa tư bản gây ra đó chính là quan hệ bóc lột thì ở Việt
Nam nhà nước cũng đã có những biện pháp cụ thể để giải quyết vấn đề này như nhà
nước đặt ra những quy định cụ thể về giờ làm, ngày nghỉ, trung bình một tuần phải làm
bao nhiêu tiếng đặt ra những biện pháp như vậy để đảm bảo để đảm bảo cả đời sống
vật chất và đời sống tinh thần của công nhân viên chức. Không chỉ vậy còn có những
chính sách khen thưởng kịp thời trong các dịp lễ tết để khuyến khích cho nhân viên làm
việc tích cực hơn, còn đối với những người có hoàn cảnh khó khăn, có con nhỏ thì
cũng có những chính sách rất hợp lý để tạo điều kiện hết mức có thể. Ví dụ như là nghị
định mới nhất của cả chính phủ được áp dụng từ ngày 1/12/2019. Nghị định
76/2019/NĐ-CP về chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và
người hưởng lương trong lực lượng vũ trang công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã
hội đặc biệt khó khăn bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, 5 chính sách chính về ưu đãi, hỗ trợ
các đối tượng nêu trên sẽ được áp dụng. Một ,Phụ cấp công tác lâu năm ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đối tượng nêu trên sẽ được hưởng phụ cấp
hàng tháng tính theo mức lương cơ sở và thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn như sau: Mức 0,5 áp dụng đối với người có thời gian
thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 5 năm đến
dưới 10 năm, mức 0,7 áp dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có
điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm đến dưới 15 năm, mức 1,0 áp
dụng đối với người có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn từ đủ 15 năm trở lên. Hai ,trợ cấp lần đầu khi nhận công tác ở vùng
có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn .Người nhận công tác lần đầu ở cơ quan,
tổ chức, đơn vị thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng


trợ cấp, như sau: Trợ cấp lần đầu bằng 10 tháng lương cơ sở tại thời điểm nhận công
tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trường hợp có gia đình cùng
đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì ngoài trợ cấp

lần đầu, còn được trợ cấp tiền tàu xe, cước hành lý cho các thành viên trong gia đình
cùng đi tính theo giá vé, giá cước thực tế của phương tiện giao thông công cộng hoặc
thanh toán theo mức khoán trên cơ sở số kilômét đi thực tế nhân với đơn giá phương
tiện vận tải công cộng thông thường (tàu, thuyền, xe ô tô khách), ngoài ra, đối tượng
nêu trên còn được trợ cấp 12 tháng lương cơ sở cho hộ gia đình, trợ cấp một lần khi
chuyển công tác ra khỏi vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi
nghỉ hưu , người đang công tác và có thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện
kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn từ đủ 10 năm trở lên, khi chuyển công tác ra khỏi
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc khi nghỉ hưu, thì được hưởng
trợ cấp một lần tính theo thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn do cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trả lương trước khi chuyển công
tác hoặc khi nghỉ hưu chi trả. Ba, trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ. Đối tượng được hưởng trợ cấp tham quan, học tập, bồi dưỡng chuyên môn,
nghiệp vụ như sau: Trường hợp được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền cử đi học
bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tham quan, học tập trao đổi kinh
nghiệm thì được hỗ trợ tiền mua tài liệu học tập và hỗ trợ 100% tiền học phí, chi phí đi
lại từ nơi làm việc đến nơi học tập; trường hợp công tác tại vùng dân tộc ít người tự
học tiếng dân tộc để phục vụ nhiệm vụ được giao thì được hỗ trợ tiền mua tài liệu và
tiền bồi dưỡng cho việc tự học tiếng dân tộc ít người bằng số tiền hỗ trợ cho việc học
tập ở các trường, lớp chính quy. Bốn , phụ cấp ưu đãi theo nghề .Phụ cấp ưu đãi theo
nghề bằng 70% mức lương hiện hưởng (theo bảng lương do cơ quan có thẩm quyền
của Đảng và Nhà nước quy định) cộng với phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm
niên vượt khung (nếu có) áp dụng đối với thời gian thực tế làm việc ở vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của các đối tượng nêu trên, gồm: Công chức,
viên chức và người lao động là nhà giáo, viên chức quản lý giáo dục trong các cơ sở
giáo dục, cơ sở giáo dục nghề nghiệp; công chức, viên chức và người lao động trực tiếp


làm công tác chuyên môn y tế trong các cơ sở y tế của Nhà nước bao gồm: Trạm y tế
cấp xã; Trạm y tế cơ quan, trường học; Phòng khám đa khoa khu vực; Nhà hộ sinh,

Trung tâm y tế, Bệnh viện và các cơ sở y tế khác từ cấp xã trở lên; sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng, nhân viên quân y trực tiếp làm chuyên môn y tế
tại các Trạm y tế kết hợp quân dân y.
- Hạn chế thứ ba mà chủ nghĩa tư bản gây ra đó chính là sự phân hóa giàu nghèo. Ở thế kỉ
XVIII, sự chênh lệch giữa nước giàu và nước nghèo chỉ là 2,5 lần thì đến hiện nay con
số này đã tăng lên là gấp 250 lần. Vì vậy nhà nước cũng đã có những biện pháp để giải
quyết tình trạng này. Như là tạo công ăn việc làm cho những người thất nghiệp để giảm
tỉ lệ thất nghiệp, đối với Việt Nam ta là một nước nông nghiệp, những hộ nghèo lại
thường tập trung chủ yếu ở nông thôn. Mặt khác, hấy hết những người nông dân muốn
phát triển kinh tế thì đều không có vốn hoặc không giám mạo hiểm. Chính vì vậy
chúng ta cần có chính sách cho vay ưu đãi và có bảo hiểm nông nghiệp thì nền nông
nghiệp nước ta mới phát triển và mới giảm bớt sự đói nghèo
- Tạo ra môi trường chính trị ổn định để phát triển và tăng cường kinh tế, đồng thời thực
hiện công bằng xã hội, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tức là tạo môi trường
dân chủ, công bằng cho nhân dân lao động, trong đó có người nghèo, để họ nhóm đối
tượng trở thành chủ thể có vị trí trong xã hội. Đồng thời phát huy tính tích cực của
người lao động nói chung, người nghèo nói riêng vượt qua nghèo đói, vươn lên làm
giàu một cách chính đáng cho bản thân và hòa vào sự phát triển chung của toàn xã hội.
Chính môi trường dân chủ công bằng là đảm bảo chắc chắn nhất cho các quyền cơ bản
của công dân: Dân sinh, dân trí, dân quyền…..Trên cơ sở đó tạo nên sự đồng thuận xã
hội làm nền tảng cho khối đại đoàn kết dân tộc.
3.2 Những biện pháp cá nhân
- Có lẽ từ lâu đến đến nay thì những biện pháp như bãi công, biểu tình để đòi quyền lợi
vẫn luôn được áp dụng. Do những hạn chế của chủ nghĩa tư bản đã sinh ra quan hệ
bóc lột. Làm cho những những người công nhân không được trả lương đúng với sức
lao động mà họ bỏ ra nên họ đã bãi công, biểu tình để đòi lại quyền lợi cho mình.
Những cuộc bãi công đầu tiên đó là Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không
được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi



công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi
công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức
mít-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ "Từ hôm nay không người thợ nào làm
việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui
chơi!" Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm
đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với
340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston... hơn
125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ phải làm 8 giờ. Cho đến nay vẫn còn
đang được áp dụng, ngày 26/3/2018 gần 4.000 công nhân của Công ty TNHH Yamani
Dynasty, đóng tại cụm công nghiệp Nam Hồng (huyện Nam Trực, Nam Định) nghỉ
việc tập thể, đứng tập trung trước sân nhà xưởng phản đối, yêu cầu lãnh đạo công ty
cải thiện các chế độ, điều kiện lao động
-Không những vậy để xóa khoảng cách giàu nghèo cái mà chủ nghia xã hội đã gây ra thì
mỗi người chúng ta cũng cần phải tự thân, nhanh nhạy, tìm lối thoát cho chính mình.
Đối với những người chưa có việc làm còn đang thất nghiệp thì cần nhanh chóng tìm
được việc làm để có thêm thu nhập để nhanh xóa đi khoảng cách, không chỉ vậy còn
đối với những người nông dân, những người được hưởng chính sách hỗ trợ của xã hội
thì cần nắm bắt nhanh chóng thông tin để có thể tận dụng tối đa những chính sách mà
mình được hộ trợ
-Cũng để xóa đi khoảng cách giàu nghèo thì những người dân cũng cần mạnh dạn vay vốn
đầu tư mở rộng diện tích kinh doanh đưa từ kinh doanh cá thể nhỏ lẻ lên thành trang
trại, khu chăn nuôi…thay thế cách canh tác thuần nông thành quy trình đạt tiêu chuẩn
như vậy vừa có lợi cho cho người dân vừa nhanh chóng đẩy nhanh quá trình nước ta
đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa
-Đối với công nhân viên chức, công nhân làm ở các công ty tư nhân thì cần đòi quyền lợi
sao cho đúng với sức mà mình bỏ ra. Nếu phải làm thêm giờ thì yêu cầu thêm tiền
lương, ngoài ra cũng phải cần yêu cầu khen thưởng trong những dịp lễ tết để có thể có
thể đảm bảo tốt nhất cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần
-Đối với những công ty tư bản nước ngoài vào nước ta khai thác, thì chúng ta còn một
nhiệm vụ rất quan trọng nữa đó chính là bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nước ta,



không cho các công ty đó khai thác quá mức, kiệt quệ. Nếu phát hiện công ty nào có
những biểu hiện trên cần kịp thời báo với cơ quan chính quyền để còn kịp thời ngăn
chặn và xử lý

KẾT LUẬN
Trong thời đại ngày nay, chiến tranh vẫn là sự kế tục của chính trị bằng con đường bạo
lực; xu hướng phát triển của chủ nghĩa đế quốc vẫn là xu hướng bạo lực và sức mạnh quân
sự vẫn là chỗ dựa để nó đạt tới vị trí siêu cường trên thế giới. Việc răn đe, gây sức ép quân
sự và tính chất phiêu lưu quân sự trong giải quyết vấn đề khu vực của chủ nghĩa đế quốc
vẫn tiếp tục tăng lên. Đó cũng là bản chất của chúng trong tình hình mới mà những người
cách mạng phải thấy rõ để không lơ là cảnh giác khi mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, phải thấy rằng, âm mưu của chủ nghĩa đế quốc xuất phát từ bản chất của chúng,
nhưng âm mưu đó có thực hiện được hay không, điều đó không chỉ phụ thuộc vào chúng
mà còn phụ thuộc vào đường lối, sách lược của Đảng ta, sự đối phó của nhân dân ta và
phong trào đấu tranh của loài người tiến bộ. Chúng ta tin tưởng rằng, với đường lối, sách
lược đúng đắn của Đảng và sự nỗ lực phấn đấu của toàn dân, chúng ta nhất định đối phó có
hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch.



×