DANH MỤC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
1.
DTH - Direct To Home: Phương thức truyền dẫn tín hiệu truyền hình
qua vệ tinh tới trực tiếp từng hộ gia đình.
2.
MMDS - Multichannel Multipoint Distribution Service: Dịch vụ phân
phối đa kênh – đa điểm, một dạng kết nối băng rộng không dây siêu cao
tần nhiều kênh từ một điểm đến nhiều điểm. Công nghệ này đã được sử
dụng ở Việt Nam vào truyền hình cáp vô tuyến, thu bằng anten.
3.
SCTV: Công ti trách nhiệm hữu hạn truyền hình cáp Saigontourist.
4.
VCTV: Trung tâm kĩ thuật truyền hình cáp.
5.
VSTV: Công ti trách nhiệm hữu hạn truyền hình số vệ tinh Việt Nam.
6.
VTV: Đài Truyền hình Việt Nam.
MỤC LỤC
HƯỚNG DẪN CHI TIẾT...............................................................................91
1. Các bước kĩ thuật:....................................................................................91
Các phím nóng và tổ hợp phím:..............................................................92
2. Các yêu cầu về dịch và bắn phụ đề.........................................................92
Lời kết:............................................................................................................97
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM..................................97
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc...................................................................97
Hà nội, ngày 28 tháng 4 năm 2011.................................................................97
Kính gửi: Lãnh đạo Ban biên tập Truyền hình Cáp.....................................97
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đài Truyền hình Việt Nam là đài truyền hình quốc gia thuộc, là cơ
quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung ứng các dịch vụ công;
góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân
dân bằng các chương trình truyền hình.[12,tr1]
Đài Truyền hình Việt Nam là một cơ quan lớn và quan trọng trong hệ
thống phương tiện truyền thông đại chúng của nhà nước Việt Nam. Trong bối
cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, tăng cường hội nhập giao lưu kinh tế,
văn hóa Đài Truyền hình Việt Nam cũng không đứng ngoài xu thế toàn cầu
hóa các phương tiện thông tin đại chúng. Rất nhiều các kênh truyền hình nước
ngoài đã và đang được Đài Truyền hình Việt Nam Việt hóa phục vụ khán giả,
đặc biệt là trên hệ thống truyền hình Cáp.
Với đặc trưng hạ tầng truyền dẫn có thể truyền được rất nhiều kênh nên
bên cạnh các kênh truyền hình quảng bá của VTV, các kênh địa phương, các
kênh sản xuất trong nước dành riêng cho truyền hình Cáp thì hệ thống các kênh
truyền hình nước ngoài chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng số kênh của Truyền hình
Cáp Việt Nam. Rất nhiều trong số đó là các kênh tin tức, giải trí, giáo dục... hấp
dẫn hàng đầu thế giới như: CNN, BBC, HBO, Max, Starmovies, Discovery...
Có thể nói các kênh truyền hình nước ngoài là nội dung không thể thiếu
trong các hệ thống truyền hình cáp nói chung và trên hệ thống Truyền hình
Cáp Việt Nam nói riêng. Vấn đề đặt ra là phải Việt hóa, xử lí các kênh truyền
hình nước ngoài phục vụ khán giả truyền hình Cáp Việt Nam làm sao để vừa
đảm bảo tính giải trí hấp dẫn, bổ ích, mở mang hiểu biết, tri thức, giới thiệu
đất nước, con người, văn hóa các nước trên thế giới vừa đảm bảo đúng định
2
hướng tuyên truyền, đúng chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với
truyền thống văn hóa dân tộc, ngăn chặn những thông tin xuyên tạc, quan
điểm sai trái và yếu tố văn hóa độc hại, tiêu cực...
Việc khảo sát thực trạng “Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài
trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt Nam” sẽ giúp rút ra những bài học kinh
nghiệm trên cả góc độ lí luận và thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng Việt hóa
các chương trình truyền hình nước ngoài trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt
Nam, đảm bảo mang tới cho khán giá nhiều chương trình hay, hấp dẫn, bổ ích
nhưng lành mạnh, đúng định hướng. Đề tài luận văn này cũng hi vọng sẽ
đóng góp một phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học chuyên ngành truyền hình,
đưa ra những giải pháp để Truyền hình Việt Nam nói chung và Truyền hình
Cáp Việt Nam nói riêng thực sự là người gác cửa tin cậy của Đảng, Nhà nước
và của khán giả, góp phần gạn đục khơi trong trên hệ thống truyền hình Cáp
trong hoàn cảnh toàn cầu hóa truyền thông đại chúng hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Việt hóa các chương trình truyền hình nước ngoài trên truyền hình nói
chung có thể nói đã bắt đầu khoảng từ năm 1990, nổi bật là chương trình
VKT - một chương trình có tính tạp chí truyền hình với nội dung khai thác
chủ yếu từ đài Nga. Sau đó Việt hóa chương trình nước ngoài phát triển mạnh
khi kênh giải trí VTV3 ra đời năm 1996 với các chương trình phim truyện
nước ngoài, các chương trình tài liệu, khoa học, du lịch... và đặc biệt là khi
Truyền hình Cáp Việt Nam có kênh VCTV1, kênh đầu tiên phát sóng 24/24h năm 2003 - và kênh truyền hình đầu tiên được VCTV Việt hóa bằng hình thức
làm phụ đề tiếng Việt – Kênh HBO năm 2004.
Tuy đã có thời gian thực hiện rất dài và chiếm tỉ trọng lớn trên làn sóng
VTV nói chung và truyền hình Cáp nói riêng nhưng theo khảo sát các hoạt
động nghiên cứu khoa học về chuyên ngành truyền hình, tác giả nhận thấy
3
chưa có công trình nghiên cứu đáng kể nào được triển khai về đề tài Việt hóa
các kênh truyền hình nước ngoài trên hệ thống truyền hình Cáp Việt Nam.
Có một đề tài nghiên cứu thuộc Đài Truyền hình Việt Nam có liên quan
là đề tài: “Nâng cao chất lượng phụ đề tiếng Việt trên truyền hình Cáp Việt
Nam” của Thạc sĩ Phạm Quỳnh Chi – Ban Biên tập Truyền hình Cáp. Đề tài
khảo sát thực trạng việc làm phụ đề tiếng Việt ở Ban Biên tập Truyền hình
Cáp, tham khảo kinh nghiệm thực tế ở các nước trong khu vực, đề ra quy
trình, bài học kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng phụ đề tiếng Việt cho
các kênh truyền hình nước ngoài trên truyền hình Cáp Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của đề tài là phân tích đánh giá thực trạng để tìm ra những
điểm đã làm tốt và những điểm còn hạn chế trong quá trình Việt hóa các kênh
truyền hình nước ngoài trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt Nam trên cơ sở đó
đưa ra những giải pháp để nâng cao chất lượng Việt hóa các kênh truyền hình
nước ngoài trên truyền hình Cáp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, người nghiên cứu cần xác định những nhiệm vụ
cơ bản sau:
- Phân tích và làm rõ vai trò ý nghĩa của việc Việt hóa các kênh truyền
hình nước ngoài trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt Nam trong bối cảnh toàn
cầu hóa truyền thông đại chúng. Những đóng góp của các kênh Việt hóa từ
góc độ chuyên môn và góc độ khán giả.
- Khảo sát quy trình Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài từ góc
độ của công tác quản lí; quy trình sản xuất và các nguồn lực thực hiện để thấy
được các khâu này có ảnh hưởng thế nào đến nội dung, hình thức thể hiện
cũng như hiệu quả của các chương trình này.
4
- Khảo sát phân tích các khâu trong quá trình Việt hóa, chỉ ra các điểm
đã làm tốt và những điểm còn hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân và đề ra giải
pháp để thực hiện tốt hơn các khâu: biên dịch, biên tập, hiệu đính, duyệt nội
dung...
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Việt hóa các chương trình truyền
hình nước ngoài trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt Nam” là quy trình thực
hiện Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài trên hệ thống Truyền hình Cáp
Việt Nam.
- Đối tượng khảo sát: Nhóm các kênh truyền hình nước ngoài được
Việt hóa bằng hình thức làm phụ đề tiếng Việt, nhân lực thực hiện chương
trình (người quản lí, biên tập viên, biên dịch viên, người hiệu đính, duyệt nội
dung...)
- Phạm vi nghiên cứu: Các kênh truyền hình nước ngoài được Việt hóa
trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt Nam.
- Thời gian khảo sát: từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 7 năm 2011
5. Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu
Tính nguyên tắc trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn là dựa
trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc; Chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề hội
nhập quốc tế, định hướng phát triển ngành truyền hình Việt Nam. Luận văn
còn dựa trên cơ sở lí luận của triết học Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử,
Xã hội học… và các môn khoa học khác.
Trong quá trình thực hiện luận văn này, tác giả sẽ sử dụng các phương
pháp phân tích - tổng hợp, so sánh, phỏng vấn trong đó phương pháp chủ đạo
là phân tích - tổng hợp. Bám sát quan điểm đổi mới của Đảng Cộng sản Việt
5
Nam trên các lĩnh vực trong đó có báo chí, Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
huy vai trò quần chúng trong sự nghiệp cách mạng. Ngoài ra luận văn còn sử
dụng các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo, báo và tạp chí... có liên
quan tới vấn đề nghiên cứu công chúng báo chí để tham khảo.
Các phương pháp cụ thể:
Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng phương pháp này phân tích các
quy trình, các khâu trong thực tế thực hiện Việt hóa các kênh truyền hình nước
ngoài, tổng hợp rút ra các bài học kinh nghiệm, khái quát các vấn đề lí luận.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Phương pháp này áp dụng với các chuyên
gia trong lĩnh vực liên quan, cụ thể là lãnh đạo, quản lí, phụ trách các đơn vị
thực hiện Việt hóa chương trình, những người trực tiếp hoạt động trong lĩnh
vực này để nắm được các quan điểm đa chiều nhằm tìm ra quy trình, biện
pháp phù hợp, các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng Việt hóa các kênh
truyền hình nước ngoài.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của đề tài
Mặc dù đã thực hiện Việt hóa các chương trình truyền hình nước ngoài
từ lâu và với tỉ trọng lớn trên làn sóng song hiện tại Đài Truyền hình Việt
Nam nói riêng và ngành truyền hình Việt Nam nói chung vẫn chưa có một
quy trình Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài chuẩn mực, khoa học và
hợp lí. Đề tài sẽ khảo sát, phân tích chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu trong
các khâu, các công đoạn từ đó đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện quy
trình Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài trên truyền hình Việt Nam nói
chung và Truyền hình Cáp Việt Nam nói riêng. Bên cạnh đó đề tài cũng góp
phần tổng kết thực tiễn đóng góp vào sự phát triển của lí luận chuyên ngành
truyền hình.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo, luận văn chia
làm 3 chương:
6
Chương 1: Những vấn đề lí luận về Việt hóa các kênh truyền hình nước
ngoài trên hệ thống truyền hình cáp Việt Nam
Chương 2: Thực trạng Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài trên
hệ thống truyền hình Cáp Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng Việt hóa các kênh truyền
hình nước ngoài trên hệ thống Truyền hình Cáp Việt Nam
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN
VỀ VIỆT HÓA CÁC KÊNH TRUYỀN HÌNH NƯỚC NGOÀI
TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và các công đoạn Việt hóa các kênh truyền hình
nước ngoài
1.1.1. Khái niệm
Khái niệm Việt hóa có thể được coi là khá mới mẻ trong tiếng Việt hiện
đại. Hiện khái niệm này vẫn có một số cách hiểu khác nhau. Thứ nhất, người
ta hay nói đến việc Việt hóa các kịch bản, format... phim truyện, chương trình
truyền hình, ở đây được hiểu là chuyển ý tưởng kịch bản, cốt truyện, nhân vật,
kết cấu... của các chương trình hay, ăn khách của nước ngoài sang thành câu
chuyện, nhân vật, phong cách Việt Nam. Hình thức Việt hóa này có thể từ
việc lấy ý tưởng(có hoặc không được sự đồng ý của người sở hữu bản quyền)
tới việc tuân thủ chặt chẽ kịch bản, kết cấu, thậm chí việc bài trí sân khấu, âm
thanh, ánh sáng của chương trình(các TV Shows mua bản quyền: Chiếc nón
kỳ diệu, Việt Nam Idol...). Với hình thức này khái niệm Việt hóa đôi khi được
dùng để đánh tráo khái niệm đánh cắp ý tưởng, vi phạm bản quyền.
Cách hiểu thứ hai, khá thông dụng trong tiếng Việt hiện đại, đơn giản là
sự chuyển ngữ từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Chẳng hạn các chương
trình máy tính được Việt hóa, các trò chơi điện tử được Việt hóa thì có nghĩa
là ngôn ngữ được sử dụng trong chương trình ấy, trò chơi ấy là tiếng Việt
được dịch từ tiếng nước ngoài.
Khái niệm Việt hóa được nói tới trong luận văn này là sự cụ thể hóa, cá
biệt hóa của khái niệm địa phương hóa(hay bản địa hóa, tiếng Anh là
8
Localization) trong mối quan hệ với khái niệm Toàn cầu hóa(globalization)
hay Quốc tế hóa(Internationalization). Có thể hiểu Địa phương hóa là quá
trình thích ứng sản phẩm với một địa phương nhất định về ngôn ngữ, chuẩn
mực về giá trị văn hóa cũng như nhu cầu và kì vọng của một thị trường mục
tiêu nhất định. Bên cạnh việc chuyển ngữ, vốn là một phần chính của việc Địa
phương hóa, còn phải tính đến các yếu tố khác như chính trị, văn hóa, tập
quán, hay các yếu tố kĩ thuật như múi giờ, đơn vị đo lường, tiền tệ...
Như vậy Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài được hiểu là việc
kiểm soát, biên tập, biên dịch các kênh truyền hình nước ngoài theo đúng
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước phù hợp với truyền
thống văn hóa dân tộc giúp khán giả dễ dàng tiếp cận, thưởng thức những nội
dung giải trí lành mạnh, bổ ích, hấp dẫn của các kênh truyền hình nước ngoài,
tiếp nhận thông tin, mở mang tri thức, làm giàu vốn sống, tăng cường giao lưu
văn hóa giữa các dân tộc.
Ở một góc độ khác việc Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài đồng
nghĩa với việc ngăn chặn các tác phẩm có nội dung chống đối Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động bạo lực, tuyên truyền chiến tranh
xâm lược, gây hận thù giữa các dân tộc và nhân dân các nước, kích động dâm
ô, đồi trụy, tội ác, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam.
Với cách hiểu như vậy và theo Quy chế Quản lí hoạt động truyền hình
trả tiền thì tất cả các kênh truyền hình nước ngoài phát sóng ở Việt Nam cần
phải được Việt hóa(ở những mức độ khác nhau). Một bộ phận kênh chương
trình rất thu hút khán giả trên hệ thống truyền hình cáp là các kênh thể thao.
Do tính đặc thù, các kênh thể thao thường chỉ dừng lại ở việc Bình luận viên
bình luận trực tiếp bằng tiếng Việt và việc bình luận dựa chủ yếu vào diễn
biến hình ảnh chứ không dựa vào nội dung bình luận gốc. Chính vì vậy trong
9
nghiên cứu này, các kênh thể thao không được xét đến với tư cách là đối
tượng các kênh được Việt hóa.
Khái niệm “kênh truyền hình nước ngoài” chưa được xác định cụ thể rõ
ràng trong các văn bản chính thức của các cơ quan có thẩm quyền Việt Nam.
Trong khuôn khổ của nghiên cứu này “kênh truyền hình nước ngoài” được
hiểu là một kênh truyền hình thuộc sở hữu của pháp nhân nước ngoài, được
đóng gói, hoàn thiện ở nước ngoài và phát sóng với tư cách một kênh toàn
vẹn và độc lập ở Việt Nam.
Hệ thống truyền hình cáp Việt Nam trong luận văn này được hiểu là
toàn bộ hệ thống hạ tầng truyền dẫn tín hiệu truyền hình(hệ thống đường cáp
quang, cáp đồng trục tới từng hộ gia đình, hệ thống thu phát truyền hình số vệ
tinh DTH) của các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền trực thuộc Đài
truyền hình Việt Nam bao gồm các đơn vị: Trung tâm kĩ thuật truyền hình cáp
– VCTV, Công ti trách nhiệm hữu hạn truyền hình số vệ tinh Việt Nam –
VSTV, Công ti trách nhiệm hữu hạn truyền hình cáp Saigontourist – SCTV và
Ban biên tập truyền hình cáp là đơn vị chịu trách nhiệm nội dung.
1.1.2. Về đơn vị thực hiện Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài
ở Việt Nam
Trước khi Quy chế quản lí hoạt động truyền hình trả tiền được ban
hành, đơn vị thực hiện Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài chủ yếu là
Ban Biên tập truyền hình Cáp – Đài truyền hình Việt Nam - trong đó tập trung
vào hai đơn vị Phòng Biên tập chương trình – thực hiện chức năng đạo diễn
phát sóng, kiểm soát nội dung các kênh nước ngoài và phòng Phụ đề, nay là
Phòng Khai thác – đơn vị thực hiện biên dịch, biên tập, làm phụ đề các kênh
HBO, CineMax, Starmovies, AustraliaNetwork, Arirang... Ngoài ra còn có
các doanh nghiệp tham gia một phần công tác Việt hóa như Công ti trách
10
nhiệm hữu hạn Giải trí – Truyền thông Q.net thực hiện biên dịch, biên tập,
làm phụ đề các kênh Discovery, National Geographic, Disney Channel,
AXN... Công ti trách nhiệm hữu hạn giải trí Thảo Lê thực hiện biên dịch, biên
tập, làm phụ đề các kênh National Geographic, Starworld... và một số các đơn
vị khác. Tuy nhiên việc kiểm soát nội dung kênh và nội dung Việt hóa, do quy
định về quản lí báo chí, vẫn do Ban Biên tập truyền hình cáp thực hiện.
Bộ phận trực kênh nước ngoài của Phòng Biên tập chương trình gồm
10 người chia ca, kíp thực hiện trực 24/7. Ca trực sẽ làm việc tại khu vực phát
sóng, với sự trợ giúp của hệ thống phát chậm, các biên tập viên sẽ phải theo
dõi, giám sát toàn bộ các kênh nước ngoài, biên tập xử lí cắt bỏ các chi tiết,
tin, bài, chương trình không phù hợp.
Phòng Khai thác gồm 15 người, không kể đội ngũ cộng tác viên làm
công tác biên dịch, phần lớn đảm nhiệm việc biên tập, làm phụ đề, kiểm soát
nội dung Việt hóa của các đơn vị ngoài Đài.
1.1.3. Các công đoạn
Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài là cả một quá trình với nhiều
công đoạn chặt chẽ:
- Thẩm định mua kênh:
Trong rất nhiều yếu tố được xem xét để mua một kênh đưa vào hệ
thống truyền hình Cáp thì yếu tố phù hợp với điều kiện khán giả Việt Nam là
cực kì quan trọng. Một thực tế trong lĩnh vực truyền hình trả tiền là các kênh
truyền hình thương mại hấp dẫn chủ yếu thuộc sở hữu của các tập đoàn
truyền thông lớn của Mỹ và Phương Tây. Chưa nói đến sự nhạy cảm về chính
trị thì những sự khác biệt về văn hóa, tập quán, lối sống, tôn giáo... khiến các
đơn vị cung cấp dịch vụ ở Việt Nam cũng phải hết sức thận trọng trong việc
lựa chọn kênh để mua cho hệ thống của mình. Chẳng hạn kênh FashionTV là
11
một kênh về thời trang rất thu hút giới trẻ trung lưu tuy nhiên rất nhiều các
hình ảnh trang phục quá thoải mái với Phương Tây lại được coi là nhạy cảm
với phần nhiều khán giả Việt Nam; vì vậy kênh này sau một thời gian đã bị
loại khỏi hệ thống của VCTV.
- Thẩm định nội dung từng kênh theo lịch phát sóng hàng tháng trên cơ sở
tên chương trình, tóm tắt nội dung mà đối tác cung cấp. Việc thẩm định nội
dung kênh theo lịch phát sóng hàng tháng thường chỉ áp dụng hiệu quả đối
với các kênh có sản phẩm đóng gói hoàn thiện từ trước như các kênh phim
truyện, tài liệu, ca nhạc, thể thao... không áp dụng được với các kênh tin tức.
Thường thì các kênh phim truyện, tài liệu, ca nhạc, thể thao... sẽ phát lại các
chương trình nhiều lần với các khung giờ khác nhau nên đơn vị kiểm soát nội
dung có thể biết trước được khi nào chương trình “nhạy cảm” được phát sóng
để can thiệp. Tuy nhiên các kiểm soát này cũng chưa thật triệt để và cần sự hỗ
trợ của công đoạn tiếp theo.
- Trực kiểm soát nội dung kênh nước ngoài: Đơn vị kiểm soát nội dung tổ
chức các nhóm trực kiểm soát kênh nước ngoài gồm những người thông thạo
một số ngoại ngữ phổ biển, chia ca – kíp trực 24/7. Tín hiệu vệ tinh được thu
xuống đưa qua thiết bị làm chậm để nhóm trực theo dõi và có thể được cắt bỏ
các nội dung nhạy cảm trước khi được đưa trở lại bộ phận phát sóng để đưa
lên hệ thống. Đây là khâu đặc biệt hiệu quả với các kênh tin tức, trực tiếp...
những nội dung luôn mới mẻ, cập nhật và không thể biết trước.
- Tổ chức biên dịch, biên tập và trình bày nội dung bằng tiếng Việt.
Đây là công đoạn quan trọng nhất, chủ yếu nhất và mạng lại hiệu quả rõ ràng
thiết thực nhất trong toàn bộ quá trình Việt hóa các kênh truyền hình nước
ngoài. Cũng bởi thế nên khi nói tới Việt hóa người ta thường nghĩ ngay đến
việc biên dịch, biên tập, làm phụ đề.
12
Với đặc thù của truyền hình, việc trình bày nội dung bằng tiếng Việt có
thể được thể hiện bằng 2 cách: giọng nói(đọc thuyết minh-voice-over và lồng
tiếng-dubbing) và chữ viết – Phụ đề(subtitle).
Đối với mỗi cách thể hiện có những yêu cầu khác nhau trong khâu biên
dịch, biên tập. Chẳng hạn đối với phụ đề cần dịch ngắn gọn nội dung chính
của câu thoại ngôn ngữ gốc vì nếu để câu dài khán giả sẽ khó theo dõi, sẽ mệt
vì phải đọc nhiều; đối với thuyết minh tiêu chí dịch biên tập cũng là ngắn gọn
những không cần khắt khe như làm phụ đề. Dịch, biên tập để lồng tiếng đòi
hỏi vừa phải đảm bảo nội dung, sắc thái, đảm bảo sự tương đương số âm tiết,
những từ lặp, đệm không cần dịch ở phụ đề và thuyết minh thì lại rất cần
thiết, thậm chí phải thêm vào để làm cho câu thoại được tự nhiên.
Do thực tế việc đọc thuyết minh và lồng tiếng hiện không được, hoặc
rất ít được sử dụng để phục vụ Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài ở
Việt Nam nên trong nghiên cứu này tác giả sẽ tập trung đi sâu vào hình thức
Việt hóa bằng cách làm phụ đề, cách Việt hóa(địa phương hóa) phổ biến nhất
ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay.
1.2. Vai trò, ý nghĩa việc Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài
Ngay từ khi truyền hình cáp xuất hiện tại Việt Nam, thì trong gói kênh
truyền hình cáp đã bao gồm các kênh nước ngoài. Và ngay khi hệ thống
truyền hình Cáp Việt Nam được tổ chức lại với các đơn vị SCTV và VCTV
trở thành 2 đơn vị kinh doanh độc lập và đặc biệt với sự ra đời của Ban Biên
tập truyền hình cáp thì việc Việt hóa các kênh truyền hình đã được triển khai.
Số lượng, chất lượng các chương trình, các kênh Việt hóa ngày càng được
nâng cao. Vậy tại sao việc Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài lại quan
trọng như vậy?
13
1.2.1.Đáp ứng nhu cầu của khán giả, phát triển thuê bao
Thực sự các kênh truyền hình nước ngoài đã xuất hiện một cách hạn
chế ở Việt Nam từ những năm cuối thế kỉ 20 tại một số khách sạn lớn và ở
một số gia đình qua hệ thống cáp vi-ba MMDS của Đài Truyền hình Việt
Nam. Nhưng có vẻ như thời gian đó sự xuất hiện các kênh truyền hình nước
ngoài chỉ để phục vụ một số ít người nước ngoài ở Việt Nam và một số các cơ
quan cần khai thác tin tức nước ngoài. Đến những năm đầu thế kỉ 21, với sự
phát triển mạnh mẽ của hai đơn vị truyền hình cáp mạnh ở Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh là VCTV và SCTV, mạng lưới truyền hình trả tiền (lúc đầu
là cáp đồng trục, sau phát triển cả truyền hình vệ tinh DTH) ngày càng phát
triển, số kênh tiếng Việt và kênh nước ngoài không ngừng tăng thêm. Nhưng
ngay cả đến lúc này các kênh truyền hình nước ngoài vẫn chưa phải là một
yếu tố thu hút khán giả(trừ một số kênh thể thao như ESPN và STARSPORT
lúc này phát sóng Giải Ngoại hạng Anh vào cuối tuần) bởi thực tế là trình độ
ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh của đại đa số khán giả không đủ để theo dõi
các chương trình truyền hình nước ngoài. Chính vì vậy trong giai đoạn đầu số
lượng thuê bao truyền hình cáp còn rất khiêm tốn.
Tình hình đã có sự thay đổi rõ rệt vào cuối năm 2004 đầu năm 2005 khi
HBO kênh phim truyện nước ngoài hàng đầu và đầu tiên được làm phụ đề
tiếng Việt. Lúc này khán giả đã có thể thưởng thức các bộ phim truyện hàng
đầu của Hollywood được biên dịch và làm phụ đề một cách chuyên nghiệp,
khác hẳn với các đĩa DVD lậu có chất lượng hình ảnh và phụ đề rất kém
ngoài chợ đen. VCTV và SCTV đã có sự phát triển bùng nổ thuê bao cuối
năm 2005 đầu 2006 khi các kênh HBO và Starmovies được đưa ra khỏi gói
Premium(khóa mã) để đông đảo khán giả truyền hình cáp có thể được thưởng
thức các bộ phim đặc sắc của các Hãng phim hàng đầu ở Hollywood và các
nền điện ảnh tiên tiến khác.
14
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của truyền hình trả tiền hiện nay có
thể nói sự phát triển theo hướng có thật nhiều kênh đã không còn là xu hướng
phù hợp. Bên cạnh việc đầu tư, hợp tác sản xuất các kênh tiếng Việt có chất
lượng thì việc tăng cường Việt hóa là xu thế tất yếu và cũng là yêu cầu bắt
buộc đối với các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền.
Trong bối cảnh phát triển rất mạnh của truyền hình trả tiền ở Việt Nam,
thời gian qua đã có sự phát triển bùng nổ các nhà cung cấp dịch vụ truyền
hình trả tiền. Ngoài các hệ thống VCTV, SCTV, VSTV của Đài truyền hình
Việt Nam, còn nhiều đơn vị khác như truyền hình cáp Hà nội, Thành phố Hồ
Chí Minh, truyền hình kĩ thuật số VTC, truyền hình Cáp CES, MyTV của
VNPT, IPTV của tập đoàn FPT, ngoài ra còn rất nhiều các nhà cung cấp nhỏ ở
các địa phương. Tuy nhiên so với khu vực thì con số thuê bao truyền hình cáp
của Việt Nam vẫn còn rất khiên tốn. Tổng số thuê bao của tất cả các hệ thống
khoảng 2,5 triệu, trong đó khoảng 43% các hộ gia đình ở các đô thị lớn sử
dụng truyền hình Cáp và mới có khoảng 18% hộ nông thôn dùng đầu thu tín
hiệu vệ tinh. Như vậy tiềm năng thu hút thuê bao của truyền hình cáp là còn
rất lớn bởi ở nhiều nước có đến 50 -60% số hộ gia đình sử dụng truyền hình
cáp. Để thu hút khán giả, tăng thuê bao thì xu hướng tăng thật nhiều kênh, cả
kênh trong nước và kênh nước ngoài sau một thời gian rất thịnh hành nay đã
không còn phù hợp. Chẳng hạn đối VCTV từ chỗ chỉ có một kênh tự sản xuất
VCTV1 năm 2004 đến 2010 đã có đến 15 kênh tự sản xuất và liên kết sản
xuất(xã hội hóa). Tuy nhiên đến nay gần như chưa có kênh nào trở thành kênh
thương mại hấp dẫn, hoặc ít nhất là phát huy hiệu quả cao. Xu hướng tăng
kênh có thể nói đã kết thúc, thậm chí vì một số lí do tế nhị nên một số đơn vị
chưa tính đến giảm kênh nhưng điều này sẽ xảy ra trong thời gian sắp tới bởi
những quy định của Quy chế Quản lí hoạt động truyền hình trả tiền. Các đơn
15
vị giờ đây sẽ phải tập trung nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của khán giả, cạnh tranh thu hút thuê bao.
Bên cạnh đó số lượng kênh nước ngoài được Việt hóa, đặc biệt là thời
lượng Việt hóa chưa nhiều. Có thể kể ra các kênh Việt hóa: HBO, Starmovies,
Max, AXN, Disney Channel, KidsCo, Discovery, National Georgraphic, Diva,
Starworld, Australianetwork, Arirang, KBS, TV5... thời lượng chương trình
Việt hóa mới trong ngày kênh cao nhất trung bình 3 giờ/ ngày(HBO), các
kênh khác từ 1 đến 3 giớ ngày(Do phim phát lại nhiều nên tổng thời lượng
phim Việt hóa/ ngày của HBO, Starmovies và Max có thể lên tới 20, 22 giờ).
Vì vậy có thể nhận thấy tiềm năng cho việc Việt hóa các kênh truyền hình
nước ngoài còn rất lớn.
Nhận rõ xu thế này, Chính phủ, Bộ Thông tin – Truyền thông đã có
những quy định hết sức chặt chẽ trong việc kiểm soát nội dung và thực hiện
biên tập, biên dịch các kênh truyền hình nước ngoài trong Quy chế quản lí
hoạt động truyền hình trả tiền được ban hành ngày 24 tháng 3 năm 2011 trong
đó quy định rất chặt chẽ về vấn đề Việt hóa các kênh truyền hình nước ngoài
phát sóng ở Việt Nam:
Điều 11. Các kênh chương trình nước ngoài trên truyền hình trả tiền
Các kênh chương trình nước ngoài cung cấp trên truyền hình trả
tiền tại Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu sau:
1. Có nội dung phù hợp với nhu cầu lành mạnh của người dân, không
vi phạm những quy định của pháp luật về báo chí của Việt Nam.
....
4. Được biên tập, biên dịch bởi một đơn vị được cấp phép biên tập
kênh chương trình nước ngoài theo quy định tại Điều 13 Quy chế
này. [38,tr8]
16
Điều 13. Biên tập, biên dịch kênh chương trình nước ngoài trên
truyền hình trả tiền
1. Tất cả các kênh chương trình nước ngoài trên truyền hình trả
tiền tại Việt Nam phải được biên tập bảo đảm nội dung các kênh
chương trình không trái với quy định của pháp luật Việt Nam về
báo chí và quảng cáo, trừ việc tường thuật trực tiếp các trận thi
đấu thể thao, lễ khai mạc, lễ bế mạc các giải thi đấu thể thao quy
mô khu vực và thế giới.
2. Việc biên dịch được thực hiện tùy theo loại kênh chương trình
nước ngoài, cụ thể như sau:
a) Đối với kênh phim truyện: biên dịch 100% nội dung kênh chương
trình;
b) Đối với kênh tin tức: lược dịch 100% nội dung kênh chương trình;
c) Đối với kênh khoa học, giáo dục: biên dịch 100% nội dung
chương trình tin tức;
d) Đối với kênh tổng hợp, kênh giải trí tổng hợp, kênh thể thao, ca
nhạc: biên dịch 100% các chương trình tin tức, phóng sự, tài liệu.
Bộ Thông tin và Truyền thông quyết định việc phân loại kênh
chương trình nước ngoài trên truyền hình trả tiền.[38,tr11]
Các kênh nước ngoài là một phần không thể thiếu, phát triển thuê bao
là điều sống còn đối với các hệ thống truyền hình trả tiền vì thế sự phát triển
hoàn thiện quy trình Việt hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả là
điều cực kì quan trọng đối với các hệ thống truyền hình trả tiền nói chung và
hệ thống truyền hình cáp của Đài Truyền hình Việt Nam nói riêng.
1.2.2.Mang đến cho khán giả các chương trình giải trí, giáo dục bổ
ích, hấp dẫn, lành mạnh
17
Với việc ngày càng nhiều các kênh truyền hình nước ngoài được Việt
hóa, khán giả ngày càng có nhiều sự lựa chọn dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận
thông tin, giải trí, tăng cường hiểu biết tri thức, vốn sống. Với rất nhiều các
kênh chuyên biệt nhằm tới tất cả các khán giả thuộc mọi lứa tuổi, các kênh
nước ngoài không chỉ là phương tiện giải trí thú vị mà thực sự còn là trường
học cộng đồng rộng mở đế khán giả có thể nhìn ra khắp thế giới, học hỏi những
điều hay, nét đẹp của các dân tộc khác, tiếp cận, khai thác kho tàng tri thức
khổng lồ của nhân loại. Với phụ đề tiếng Việt, khán giả Việt Nam giờ đã có thể
thoải mái thưởng thức các kênh phim truyện hàng đầu trên thế giới như HBO,
Starmovies... các chương trình giải trí, phim tại liệu khoa học đặc sắc nổi tiếng
trên các kênh Discovery, National Geographic... Trẻ em cũng có những kênh
giải trí giáo dục dành riêng như Kidsco, DisneyChannel...Tuy nhiên như đã đề
cập ở trên, việc phần lớn các chương trình phim truyện, giải trí, khoa học, giáo
dục, tin tức... hoặc được thực hiện, hoặc thuộc sở hữu của các tập đoàn truyền
thông lớn của Phương Tây nên bên cạnh những ưu thế về công nghệ, khoa học
kĩ thuật tiên tiến, chuyên nghiệp các chương trình truyền hình cũng thể hiện sự
khác biệt tương đối lớn về vấn đề quan điểm tư tưởng, văn hóa, lối sống... Để
các chương trình có thể được khán giả thưởng thức dễ dàng thuận lợi thì bên
cạnh việc thực hiện biên dịch, biên tập một cách nghiêm túc, công phu, những
người thực hiện Việt hóa còn phải kịp thời can thiệp loại bỏ các chương trình,
các chi tiết không phù hợp để phát sóng ở Việt Nam.
1.2.3.Ngăn chặn các nội dung đi ngược với chỉ đạo của Đảng, chủ
trương chính sách của nhà nước, văn hóa, phong tục tập quán tốt đẹp của
dân tộc
Sự bùng nổ của truyền hình trả tiền ở Việt Nam cũng nằm trong xu thế
chung của khu vực, một lĩnh vực phát triển mạnh mẽ và dễ nhận thấy nhất
18
trong quá trình toàn cầu hóa truyền thông đại chúng. Tuy nhiên quá trình này
lại không phát triển đồng đều, với thế mạnh về kinh tế, khoa học kĩ thuật, các
tập đoàn truyền thông ở các nước phát triển là những người được hưởng lợi
và có nhiều ưu thế nhất trong quá trình toàn cầu hóa. Qua đó họ dễ dàng chi
phối dòng chảy thông tin, hướng các thông tin tiêu cực bất lợi đến các quốc
gia mà họ coi là đối tượng. Sự nhiễu loạn thông tin dẫn đến sự mất phương
hướng dư luận xã hội, thậm chí làm mất ổn định chính trị, xã hội, can thiệp
vào các vấn đề, tiến trình, sự kiện chính trị xã hội phục vụ các mục đích chính
trị. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay các thế lực thù địch đang ra sức chống
phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, ráo riết thực hiện âm mưu “ diễn
biến hòa bình”, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa, sử dụng những
phương tiện thông tin hiện đại nhằm lật đổ ta từ bên trong, ra sức tuyên truyền
về tự do, dân chủ, nhân quyền theo quan niệm và dụng ý xấu của họ, cổ vũ
chế độ đa nguyên, đa đảng, kích động làm mất uy tín của Đảng, gây nghi ngờ
chia rẽ nội bộ, làm mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Có thể nhận thấy các xu hướng chính gồm:
Các chương trình phủ nhận những thành tựu của chủ nghĩa xã hội đã
mang lại cho nhận loại nói chung và Việt Nam nói riêng, phê phán đường lối
đi lên chủ nghĩa xã hội, gán ghép chủ nghĩa xã hội với chế độ độc tài, mất dân
chủ. Rất hay gặp là các phim truyện, phim tài liệu xét lại, phê phán vai trò của
Liên xô, của các lãnh tụ cộng sản, của Hồng quân Liên xô trong Chiến tranh
thế giới thứ 2 và trong giai đoạn chiến tranh lạnh sau này.
Các chương trình cái nhìn một chiều, phiến diện, thậm chí là bóp méo
sự thật về chiến tranh Việt Nam, trong đó quân đội Việt Nam được mô tả như
19
một đội quân tàn bạo, man rợ, dân tộc Việt Nam bị coi là hiếu chiến, xâm
phạm các hiệp ước quốc tế.
Các chương trình ghê rợn, có xu hướng hoặc kích động bạo lực.
Các chương trình có các yếu tố văn hóa ngoại lai không phù hợp, đặc
biệt là các chương trình có liên quan đến vấn đề tình dục.
Đối với các chương trình trên nếu có “vấn đề” về hình ảnh thì sẽ được
cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ chương trình. Nếu có “vấn đề” về ngôn ngữ thì
trong quá trình biên dịch, biên tập sẽ được chỉnh sửa cho phù hợp với chuẩn
mực phát sóng trên truyền hình ở Việt Nam.
1.2.4.Cơ hội tăng cường trau dồi nghiệp vụ cho những người làm
truyền hình
Thực tế ngành Truyền hình Việt Nam còn tương đối non trẻ so với khu
vực và thế giới. Chỉ trong thời gian gần đây mới có sự đào tạo bài bản,
chuyên nghiệp. Có một thực tế không thể phủ nhận là trong giai đoạn đầu,
nghiệp vụ truyền hình là thứ được truyền dạy theo kinh nghiệm của lớp trước
cho lớp sau và nguồn kinh nghiệm trực quan từ các chương trình, các kênh
truyền hình nước ngoài là điều hết sức quý giá đối với những người làm
truyền hình Việt Nam. Không khó để nhận thấy hiện nay có khá nhiều các
chương trình có format, cấu trúc nội dung tương tự như một số chương trình
nước ngoài. Tất nhiên, một số các format đặc biệt thu hút khán giả và đòi hỏi
tính chuẩn mực nghiêm ngặt như Chiếc nóng kì diệu, Trò chơi âm nhạc, Việt
Nam Idol phải mua bản quyền của nước ngoài. Người làm truyền hình Việt
Nam học hỏi được rất nhiều từ các kênh nước ngoài cách thể hiện tin bài qua
hình ảnh, lời bình, các yêu tố phi ngôn ngữ... các tổ chức bản tin, bố cục, thể
loại chương trình, khuôn hình, cỡ cảnh, cách dựng hình, cách sử dụng ánh
sáng, âm thanh, cách bố trí máy quay... Những người làm truyền hình theo dõi
20
các kênh truyền hình nước ngoài không chỉ với tư cách khán giả đơn thuần, từ
góc độ nghề nghiệp mỗi người làm truyền hình có thể có những góc tiếp cận
riêng, nhìn nhận đánh giá, học hỏi, rút ra những bài học bổ ích cho mình, hoặc
đơn giản chỉ tự đặt ra những câu hỏi kiểu như: tại sao họ làm như vậy? Họ đã
làm như thế nào? và đi tìm câu trả lời. Rõ ràng là khi các chương trình được
Việt hóa thì bản thân những người đã và sẽ làm truyền hình dễ tiếp cận và học
hỏi hơn.
21
Chương 2
THỰC TRẠNG VIỆT HÓA CÁC KÊNH TRUYỀN HÌNH NƯỚC
NGOÀI TRÊN HỆ THỐNG TRUYỀN HÌNH CÁP VIỆT NAM
2.1. Về công tác tư tưởng, văn hóa
Công tác tư tưởng văn hóa là một mặt trận tác nghiệp quan trọng của
Đài truyền hình Việt Nam nói chung và truyền hình cáp Việt Nam nói riêng.
Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác tuyên truyền chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, truyền hình cáp Việt Nam còn
thực hiện tốt vai trò là người gác cổng tin cậy, bảo vệ một biên giới vô hình
nhưng cực kì quan trọng đó là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Rất nhiều các kênh
truyền hình nước ngoài – phần lớn có nguồn gốc từ phương Tây - đến với
khán giả Việt Nam qua hệ thống truyền hình cáp cần phải được đảm bảo an
toàn về tư tưởng, lành mạnh về văn hóa theo phương châm: mở cửa hội nhập
đón gió mát lành, ngăn gió độc hại.
2.1.1. Kiểm soát nội dung
Sự xuất hiện của truyền hình, đặc biệt là từ khi truyền hình cáp, truyền
hình vệ tinhh trở nên phổ biến, thực sự là một cuộc cách mạng trong thông tin
đại chúng, tạo ra những khả năng tuyệt vời cho báo chí thực hiện chức năng
khai sáng – giải trí. Truyền hình đã thực sự trở thành một loại nhà hát, trường
học nhân dân, người hướng dẫn văn hóa đại chúng, thành phương tiện nghỉ
ngơi, giải trí có sức hấp dẫn lớn đối với các tầng lớp nhân dân.
Tuy nhiên, với sự dễ dàng tiếp cận nhiều kênh truyền hình nước ngoài
thì cùng với những giá trị văn hóa đích thực của nhân loại, những tác phẩm
văn hóa độc hại, những quan điểm lối sống không lành mạnh cũng dễ dàng
tràn qua biên giới bất chấp các hàng rào an ninh hữu hình và vô hình. Các thế
lực thù địch điên cuồng lợi dụng sự toàn cầu hóa truyền thông để thực hiện
22
“Diễn biến hòa bình”. Đặc biệt từ khi Đảng ta khởi xướng là lãnh đạo công
cuộc đổi mới đất nước, các thế lực thù địch càng tăng cường các hoạt đống
chống phá trên nhiều lĩnh vực, nhất là trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Mũi
nhọn thâm độc của chúng là tiến công vào Chủ nghĩa Mác Lê nin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh, vào chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam bằng những thủ đoạn tinh vi xảo quyệt.
Để đảm bảo mang lại cho khán giả những chương trình thông tin, giải
trí, giáo dục phong phú, hấp dẫn từ khắp nơi trên thế giới trong khi vẫn đảm
bảo bộ lọc tin cậy chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn các yếu tố độc hại,
đi ngược lại với thuần phong, mĩ tục của dân tộc việc kiểm soát nội dung các
chương trình truyền hình nước ngoài về mặt tư tưởng văn hóa cần phải được
thực hiện hết sức nghiêm ngặt.
2.1.1.1 Kiểm soát nội dung về tư tưởng, chính trị
Trong bối cảnh thế giới và Việt Nam hiện nay việc thực hiện kiểm soát
chặt chẽ nội dung tư tưởng, chính trị của các kênh truyền hình nước ngoài ở
Việt Nam là điều cực kì quan trọng. Như chúng ta đều biết, sau sự tan rã của
Liên xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, các thế lực thù định tập trung
vào một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, trong đó có Việt Nam; đẩy mạnh
tuyên truyền, thúc đẩy tự diễn biễn, thực hiện diễn biến hòa bình. Lợi dụng
thế mạnh truyền thông, các thế lực thù địch thực hiện cuộc chiến truyền thông
cực kì đa dạng, tinh vi và nham hiểm. Một trong những phương tiện đặt biệt
được quan tâm trong cuộc chiến này là truyền hình. Với đặc thù phát trên hệ
thống truyền hình cáp hoặc vệ tinh được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ cho nên
hình thức của cuộc chiến trên mặt trận tư tưởng trên truyền hình đa dạng, tinh
vi và khó nhận diện hơn so với phát thanh, internet... các kênh truyền hình
nước ngoài không phép về mặt nguyên tắc là không thể thâm nhập lãnh thổ
Việt Nam. Không giống như các đài phát thanh Châu Á tự do, VOA, các trang
23
tin điện tử có thể được truy cập thông qua Internet với các tin bài tấn công
trực tiếp công khai, cách thức tiến hành qua các kênh truyền hình có tính chất
thương mại được tiến hành kín đáo tinh vi hơn, theo kiểu mưa dầm thấm lâu.
Tuy nhiên có thể nhận diện các yếu tố “nhạy cảm” trong nội dung chương
trình theo các nhóm kênh sau:
- Nhóm kênh tin tức:
Nhóm kênh này chủ yếu là các kênh thời sự chính trị như CNN, BBC...,
một số kênh thông tin tài chính CNBC, một số kênh thông tin đối ngoại của
một số nước như NHK World của Nhật bản, TV5 của Pháp, DW của Đức,
KBS của Hàn quốc, CCTV9 của Trung quốc... Vấn đề “nhạy cảm” trên các
kênh này chủ yếu là:
+ Các tin tức xét lại, phê phán lí tưởng Cộng sản. Đặc biệt là với sự sụp
đổ của Liên xô và Đông Âu thì họ luôn gắn với sự sai lầm của đường lối đi
lên xã hội chủ nghĩa; tấn công phê phán các lãnh tụ cộng sản, phê phán chủ
nghĩa Mác Lê nin.
+ Đưa tin về các cuộc cách mạng “màu” theo hướng ủng hộ cổ vũ dưới
hình thức ủng hộ tiến trình dân chủ, kích động người dân bằng chiêu bài dân
chủ gây mất lòng tin trong nhân dân, mất ổn định xã hội.
+ Đưa tin về các sự kiện mà các thế lực thù địch gọi là “mất dân chủ”
diễn ra tại Việt Nam. Các sự kiện được khai thác theo chiều hướng thổi
phồng, phiến diện thậm chí xuyên tạc sự thật nhằm hạ thấp uy tín của Việt
Nam trên cộng đồng quốc tế, khiến người dân trong và ngoài nước hoang
mang dao động, mất lòng tin. Cụ thể trong thời gian gần đây bộ phận trực
quốc tế đã phải cắt bỏ nhiều tin bài nói về vụ Mường Nhé, về vụ xét xử ông
Cù Huy Hà Vũ...
+ Đưa tin, nhận định không trung thực, khách quan về hoạt động tài
chính, ngân hàng, về việc điều hành nền kinh tế của chính phủ làm người dân