Tải bản đầy đủ (.docx) (56 trang)

Giá trị của Hồi giáo trong phát triển du lịch

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.48 MB, 56 trang )

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
PHẦN 1. CÁC GIÁ TRỊ CỦA HỒI GIÁO......................................................1
1.1 Tổng quan về Hồi giáo............................................................................1
1.1.1 Lịch sử hình thành..............................................................................1
1.1.2 Nội dung cơ bản..................................................................................7
1.2 Các giá trị của Hồi giáo........................................................................12
1.2.1 Triết lý...............................................................................................12
1.2.2 Kiến trúc nghệ thuật.........................................................................18
1.2.3 Nghệ thuật hội hoạ............................................................................27
1.2.4 Tâm linh............................................................................................29
PHẦN 2. HỒI GIÁO VỚI PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG DU LỊCH.........32
2.1 Thị trường khách..................................................................................32
2.2 Sản phẩm du lịch...................................................................................35
2.3 Dịch vụ du lịch.......................................................................................41
2.4 Ứng xử trong du lịch.............................................................................44
PHẦN 3. KẾT LUẬN......................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................52
PHỤ LỤC...........................................................................................................53


LỜI MỞ ĐẦU
Đạo Islam khi truyền bá vào Việt Nam được gọi là đạo Hồi hay Hồi giáo.
Trong những sách sử Trung Hoa xưa, đạo Islam được gọi là Hồi giáo hoặc Hồi
Hột giáo, vì khi nó được truyền vào Trung Hoa thông qua một bộ lạc thuộc dân
tộc Hồi Hột, nên người Trung Hoa gọi Islam là đạo Hồi hoặc Hồi Hột giáo. Sự
ra đời của Hồi giáo bởi những tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội và tư tưởng ở bán
đảo Ảrập vào đầu thế kỷ VII.
Được phân công nghiên cứu đề tài “Giá trị của Hồi giáo trong phát triển du
lịch” để bản thân được tìm hiểu kỹ càng hơn về các khái niệm, triết lý của tôn
giáo lớn thứ 2 thế giới bên cạnh đó một phần quan trọng hơn là tìm hiểu giá trị


của Hồi giáo trong sự phát triển của ngành du lịch hiện nay. Mặc dù em đã hết
sức cố gắng, nhưng chắc chắn bài tiểu luận không tránh khỏi thiếu sót. Em hy
vọng nhận được nhiều đóng góp quý báu của thầy cô cả về nội dung, hình thức,
phương pháp tìm hiểu nghiên cứu và trình bày để em có thêm cơ hội nâng cao
và hoàn thiện bài tiểu luận này nhằm phục vụ hiệu quả cho bài thi cuối kỳ cũng
như giúp nâng cao cho công việc học tập và những định hướng tương lai sau
này.


PHẦN 1. CÁC GIÁ TRỊ CỦA HỒI GIÁO
1.1 Tổng quan về Hồi giáo
1.1.1 Lịch sử hình thành
Không có Thượng đế nào ngoài đức Allah;
Muhammad là ngôn sứ của Allah.
- Sách Shahadah
Tôn giáo trẻ nhất trong các tôn giáo lớn của thế giới là Hồi giáo. Hồi giáo
(tiếng Ả Rập: ‫ السلم‬al-'islām), còn gọi là đạo Hồi, đạo Islam là một tôn giáo
khởi nguồn từ Abraham, độc thần, dạy rằng chỉ có một Thiên Chúa (tiếng Ả
Rập: Allah), và Muhammad là sứ giả của Thiên Chúa.

Hình 1.1 Biểu tượng của Hồi giáo được thế giới biết đến
Tín ngưỡng cơ bản của Hồi giáo là chỉ có một Thượng đế gọi là đức Allah,
là đấng mà người Do Thái và Kitô giáo cùng thờ phượng. Đó là đấng duy nhất
và tối thượng cai quản vũ trụ. Dù đức Allah đã hiển lộ cho mọi người thông qua
các tiên tri khác vào những thời điểm khác, lần hiển lộ sau cùng và tỏ rõ nhất là
thông qua tiên tri Muhammad vào thế kỷ VII. Hồi giáo dạy rằng, mỗi người chỉ
có một kiếp sống. Cách sống của tín đồ ở đời này quyết định họ sẽ trải qua
những gì trong cuộc sống vĩnh hằng. Trong kiếp sống duy nhất này, tín đồ phải
thần phục ý chí của đấng Allah. Do đó, tín đồ của tôn giáo này được gọi là
Muslim (người thần phục Thượng đế).


1


Trên phương diện khoa học nhân văn, Hồi giáo là một tôn giáo ra đời vào
thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên, dựa trên những nền tảng có sẵn của Do Thái giáo
(Judaism) và Cơ Đốc giáo (Christianity). Đôi khi người ta cũng gọi Hồi giáo là
đạo Muhammad (Muhammadanism), theo tên của đức sáng tổ. Tuy nhiên, với
những tín đồ Hồi giáo, đạo của họ là đạo thường hằng trong vũ trụ, do Thượng
Đế tạo ra, và vì Thượng Đế vốn bất sinh bất diệt nên đạo của Ngài cũng bất sinh
bất diệt; còn Muhammad đơn thuần chỉ là một người “thuật nhi bất tác”, thuật
lại cho mọi người những mặc khải của Thượng Đế mà thôi.
Trong quan niệm của các tín đồ, Hồi giáo không khởi sinh từ Muhammad.
Với họ, con người đầu tiên do Thượng Đế tạo ra, tức Adam, là tín đồ Hồi giáo
đầu tiên, và ngay từ thuở hồng hoang, khắp đất trời đã là một vương quốc Hồi
giáo. Không chỉ người mà thôi, mà tất cả muông thú, cỏ cây đều tuân theo Hồi
giáo cả. Sở dĩ Adam và loài người được kiến tạo là để thay mặt Thượng Đế cai
quản các loài thảo cầm ở nhân gian. Và vì đẳng cấp của loài người cao như thế,
nên Thượng Đế đã dùng chính hình mẫu của mình ban cho con người.
Đến đây thì vấn đề nảy sinh. Do mang hình mẫu của Thượng Đế nên con
người có được sự tự do ý chí. Sự tự do ý chí đôi khi dẫn đến những lầm lạc, lầm
lạc dẫn đến rời bỏ Chúa (Thượng Đế), và xa dần chánh đạo. Khi Adam, con
người đầu tiên và cũng là nhà tiên tri (vị Sứ giả) đầu tiên, lìa trần, con cháu ông,
không còn ai chỉ bảo, càng lún sâu vào con đường tối. Do thế mà Thượng Đế lại
phải gửi xuống nhân gian những vị tiên tri mới để nhắc lại Thiên Đạo, đưa loài
người về đúng nẻo ngay. Trước Muhammad, đã có hằng trăm ngàn tiên tri (Sứ
giả của Allah) giảng lời mặc khải ở trần thế, trong đó có Thiên sứ Noah,
Abraham, Moses, David và Jesus Christ. Tuy nhiên, một là do loài người u mê
chưa tỉnh ngộ, hai là do khả năng của các vị cổ tiên tri (Sứ giả) còn hạn chế,
không truyền đạt hết được lời Chúa (của Thương Đế), mà chính đạo vẫn bị bóp

méo như thường. Rốt cuộc, đến thế kỷ thứ 7, Thượng Đế quyết định khải thị cho
Muhammad, và biến ông trở thành vị tiên tri (Sứ giả) hoàn hảo nhất trước nay,
hơn hẳn những tiên tri (Sứ giả) tiền nhiệm. Do đó mà đạo của Muhammad (đạo
2


Islam) truyền bá cũng là hoàn hảo nhất, không thể bị bóp méo như trước kia.
Muhammad trở thành vị tiên tri (Sứ giả) cuối cùng, và bất cứ ai dám xưng tiên
tri (Sứ giả) sau Muhammad đều là kẻ tà giáo.
Như đã thấy ở trên, Abraham, sáng tổ Do Thái Giáo, và Jesus Christ, sáng
tổ Cơ Đốc Giáo, đều có vị trí tiên tri (Sứ giả) trong Hồi giáo. Như vậy, Thượng
Đế mà ba tôn giáo này thờ phượng chỉ là một. Nói về Hồi giáo, chúng ta vẫn
thường hay nhắc Thánh Allah, nhưng gọi như thế là sai, vì Allah trong tiếng
Arab mang nghĩa là Thượng Đế. (Những tín đố Cơ Đốc người Arab khi cầu
nguyện cũng gọi Đức Chúa Cha là Allah). Thượng Đế dĩ nhiên phải cao hơn
Thánh, vả lại trong đạo Hồi chính thống hoàn toàn không có khái niệm Thánh.
Người Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo cũng được tín đồ Hồi Giáo tương đối
coi trọng và gọi là Giáo Dân Thánh Thư (People of The Book). Kinh Thánh Cơ
Đốc cũng là sách thiêng trong Hồi giáo, có điều người ta coi nó không đầy đủ và
hoàn thiện như Koran.
Tiểu sử của Muhammad
Vì Hồi giáo là một trong những tôn giáo trẻ nhất thế giới, những chi tiết về
cuộc đời của nhà sáng lập ra nó sẵn có hơn những nhà sáng lập tôn giáo khác.
Không ai thật sự nghi ngờ gì tính lịch sử của một nhân vật sống vào thế kỷ VII
là Muhammad. Ông sinh vào năm 570 thuộc dòng họ Hashim, bộ tộc Quraish,
nhóm kiểm soát khu Ka’ba ở Mecca. Cha ông, Abd-Allah, chết trước khi
Muhammad được sinh ra, và mẹ ông mất trước khi ông được sáu tuổi. Sau đó
Muhammad được người chú là Abu-Talib, trưởng bộ tộc Quraish, nuôi nấng.
Cuộc đời của một đứa trẻ mồ côi thời ấy thật là khó khăn. Không có cơ hội nào
để được học hành đàng hoàng, và Hồi giáo coi việc không biết chữ của

Muhammad là vô cùng quan trọng. Do đó mà việc mặc khải kinh Qur’an của
ông lại càng có tính chất phép lạ hơn. Vào thế kỷ VI, thương nhân Mecca kiểm
soát những đoàn thương buôn di chuyển giữa biển Ấn Độ và Địa Trung Hải.
Điều này cùng với khu Ka’ba, đem lại sự giàu sang thịnh vượng cho thành phố

3


Mecca và cho phép chàng trai trẻ Muhammad có cơ hội làm việc và đi lại cùng
những đoàn thương buôn. Có thể trong những chuyến đi này mà Muhammad đã
tiếp xúc với những đại diện của những tôn giáo và những nền văn hóa Trung
Đông. Rảo khắp bán đảo Ả Rập và đến những thành phố thuộc Byzantine như là
Damascus, chắc chắn ông đã gặp những người Kitô giáo, Do Thái giáo, và có lẽ
cả những người Bái Hỏa giáo. Các tôn giáo này đều có một số điểm chung và
chắc hẳn đã có ảnh hưởng đến Muhammad. Tất cả các tôn giáo đó đều tin vào
Thượng đế; tất cả đều tin Kinh Thánh là lời của Thượng đế. Thuyết tận thế của
họ đều dạy là, thế giới sẽ có ngày chấm dứt và người công chính sẽ được tưởng
thưởng, trong khi kẻ ác sẽ bị hành hạ dưới địa ngục. Muhammad dường như đã
bị tác động đặc biệt bởi thuyết tận thế, và ông trở nên quan tâm đến tương lai
của dân tộc mình, là dân tộc thờ rất nhiều thần và ngẫu tượng. Trong những năm
này, một người làm việc cho một đoàn thương buôn đã tạo cơ hội cho
Muhammad gặp một người phụ nữ, sau này thành vợ ông: Khadija, người chủ
của một đoàn thương buôn. Trong những năm sau khi kết hôn với Khadija,
Muhammad bắt đầu đi lên những ngọn đồi xung quanh Mecca để chiêm nghiệm
về số phận của dân tộc mình. Ông đặc biệt quan tâm đến việc thờ ngẫu tượng
của dân tộc mình, và số phận mà họ phải đối mặt trong ngày phán xét khi tận
thế. Trong thời gian nghiền ngẫm như vậy, ông được một thiên sứ hiện đến,
người mà sau này gọi là Gabriel (xuống được đề cập đến trong Kinh Thánh của
Do Thái giáo và Kitô giáo). Truyền thống kể rằng, trong tháng chay Ramadan,
trong hang trên núi Hira, Gabriel đã mang đến cho ông mệnh lệnh sau đây của

Thượng đế:
Hãy tụng niệm: Nhân danh Thượng đế ngươi, đấng đã tạo ra, Tạo ra con
người từ một hòn máu.
Hãy tụng niệm: Và Thượng đế của ngươi, là đấng nhân từ nhất.
Người dạy bằng Bút,
Dạy con người những điều chưa biết

4


Cách khoảng đều đặn, trong khoảng đời còn lại của ông. Muhammad nhận
được những mặc khải từ Thượng đế theo cách này. Truyền thống Hồi giáo dạy
rằng, cảm hứng mặc khải đến như là tiếng chuông đinh tai nhức óc làm
Muhammad toát mồ hôi trán. Có những lúc, những khải tượng đến với ông trong
giấc ngủ. Muhammad nhớ những thánh điệp đó, và dạy lại cho các bạn bè; cuối
cùng, họ viết những thông điệp ấy ra thành Kinh Thánh của Hồi giáo, là kinh
Qur’an (Koran).
Với tư cách là tiên tri của đấng Allah, Muhammad bắt đầu rao giảng sự
hiểu biết mới của ông về tôn giáo cho những công dân thành Mecca. Ông nhận
được ít sự khuyến khích của đồng bào ông; thật ra có nhiều sự bất mãn và ngay
cả thù nghịch công khai. Ông giảng rằng, chỉ có một Thượng đế, không được
thờ phượng chung với ngẫu tượng. Điều này đi ngược lại với nguồn sống của
người dân thành Mecca, dựa vào những người hành hương đến Mecca để sùng
bái ngẫu tượng ở khu Ka’ba. Người đầu tiên cải sang đạo của Muhammad là
Khadija, vợ ông.
Vào năm 615, khoảng 15 gia đình Hồi giáo chạy trốn khỏi Mecca đến lánh
nạn tại vương quốc Kitô giáo Abyssinia (Ethiopia ngày nay). Nhà tiên tri và
những người Hồi giáo còn lại ở Mecca tiếp tục rao giảng và đối mặt với sự bách
hại. Sự bách hại này diễn ra dưới hình thức người dân thành Mecca tẩy chay
chống lại Muhammad và toàn dòng tộc của ông, nhưng vô hiệu.

Vào năm 619, Muhammad đau buồn vì cái chết của hai ân nhân vĩ đại nhất
là người chú abu-Talib và người vợ thân yêu Khadija.
Một trong những biến cố có ý nghĩa nhất đối với lịch sử của Hồi giáo xảy
ra vào năm 620, khi một nhóm sáu người du hành từ thành phố Yathrib (sau này
cải tên lại là Medina để tôn vinh Nhà tiên tri), nằm cách Mecca 250 dặm về phía
bắc, đến Mecca để họp với Muhammad. Họ bị ấn tượng về sự chân chính, ý thức
công lý, và cá tính mạnh mẽ của ông, Yathrib là một thành phố bị tàn phá do
chiến tranh bộ tộc và tranh giành nội bộ. Nó cần có sự phân xử công tâm để giải

5


quyết tranh chấp và phái đoàn tin rằng, Muhammad có thể là người phân xử đó.
Năm sau, mười hai phái đoàn đến từ Yathrib để gặp Nhà tiên tri. Mười trong
mười hai đoàn đó là từ các bộ tộc Do Thái, một vài bộ tộc trong số đó tin rằng
Muhammad có thể là đấng cứu tinh. Ông được mời làm nhà cai trị thành phố.
Chỉ tới năm 622, Muhammad phải rời Mecca vì một nhóm ám sát thề sẽ
giết ông, ông phải thận trọng lánh họ.
Vào người 24 tháng năm 622, Muhammad đến làm người phân xử của
thành phố Yathrib. Cuộc hành trình từ Mecca đến Yathrib được gọi là Hijrah (di
cư), và đó chính là thời điểm mà từ đó người Hồi giáo ghi lịch của họ. Ngày
tháng đó được ghi như là A. H. (anno hegirae).
Năm 632, Muhammad dẫn đầu những người Hồi giáo trong một cuộc hành
hương khác đến Mecca. Vào lúc này, ông đã 62 tuổi và sức khỏe đã kém, không
bao giờ được hoàn toàn hồi phục do ảnh hưởng của chất độc mà ông đã ăn mấy
năm về trước. Khi trở về Medina, ông gởi thông điệp vĩnh biệt cho những người
Hồi giáo và chết trong vòng tay của bà vợ Aishah. Vì ông không sắp đặt ai là
người kế vị mình, cho nên trong một thời gian, có sự không rõ ràng về quyền
lãnh đạo trong những người Hồi giáo. Cuối cùng, người ta đồng ý rằng, abuBakr là caliph, tức là người kế vị. Tại tang lễ của Muhammad, những lời sau
đây, được cho là của abu-Bakr, tóm lược sự hiểu biết của người Hồi giáo về Nhà

tiên tri: “Hỡi chúng dân, nếu ai thờ phượng Muhammad, thì Muhammad chết,
nhưng nếu ai thờ phượng Thượng đế, thì Muhammad sống chứ không chết.”

6


Hình 1.2 Bức tranh minh họa Inferno (thế kỷ 19) của William Blake cho
thấy Muhammad đang phanh ngực đã bị một con quỷ rạch đôi để tượng trưng
cho vai trò của ông là một " tiên tri giả ".
1.1.2 Nội dung cơ bản
Hồi giáo do ba bộ phận cấu thành, tức là tín ngưỡng tôn giáo (Imani), cụ
thể chỉ tin Allah, tin sứ giả, tin thiên sứ, tin thiên kinh, tin hậu thế; nghĩa vụ tôn
giáo (Ipatato), chỉ năm vấn đề của bài học tôn giáo mà Muslim cần phải thực
hành; thiện hành (Ybad) chỉ những quy phạm đạo đức mà Muslim buộn phải tôn
trọng. Tín ngưỡng thuộc về phương diện lý luận thế giới quan và tư tưởng, nghĩa
vụ tôn giáo và hành thiện thì thuộc về phương diện thực tiễn và hành vi. Hai
phương diện kết gợp lại cấu thành giáo lý cơ bản của đạo Hồi. Là một Muslim
phải hiểu biết và thừa nhận tín điều cơ bản của đạo Hồi, về hành vi phải tuân thủ
năm chế độ tôn giáo, hơn thế còn phải hành thiện trừ ác.
 Kinh Qur’an
Kinh Thánh của Hồi giáo được gọi là Qur’an. Từ Qur’an nghĩa đen là
“đọc” hay là “tụng”, do đó tên sách nói lên đức tin cơ bản của người Hồi giáo về
quyển sách này, đó là sự tụng niệm một Kinh Thánh vĩnh hằng, được viết trên
trời và được mặc khải, từng chương một cho Muhammad. Tên sách cũng phản
7


ánh những lời của surah hay chương thứ nhất, được mặc khải, “Hãy tụng niệm:
Nhân danh Thượng đế của người, đấng đã sáng tạo ra…”.
Có lẽ không có Kinh Thánh nào có ảnh hưởng đến người dân của mình như

kinh Qur’an Chắc chắn không có Kinh Thánh nào được đọc nhiều và tưởng nhớ
đến như thế. Cho dù người Kitô giáo, người Do Thái giáo coi trọng Kinh Thánh
của họ, dù được khải thị, tác quyền của con người vẫn được xác nhận. Đối với
Hồi giáo thì khác. Kinh Qur’an là lời của Chúa Trời: Nó vĩnh hằng, tuyệt đối, và
không thể đảo ngược. Kinh Qur’an được người ta tin là lời sau cùng của Chúa
Trời cho loài người. Người Hồi giáo kính trọng Kinh Thái của người Do Thái
giáo và Kitô giáo như kinh Qur’an được hiểu là thông điệp hoàn chỉnh của
Thượng đế. Kinh ấy được mặc khải chính xác cho Muhammad, người chỉ làm
người ghi tốc ký hay cái loa phóng thanh cho đấng Allah, và có vẻ hầu như được
phát đi không hề thay đổi từ thời Nhà tiên tri. Tụng niệm Kinh Qur’an là một
việc làm có tính nghi lễ quan trọng và là nguồn ân sủng của đấng Allah bởi vì nó
tái lập thánh ngôn của Người. Những điều đầu tiên mà người Hồi giáo được
nghe khi họ sinh ra là những đoạn văn tuyển trích từ kinh Qur’an. Kinh Qur’an
là nguồn giáo dục và là sách giáo khoa để học tiếng Ả Rập. Những bài thờ từ
kinh Qur’an được ghi lên tường trong nhà người Hồi giáo để trang trí; lời kinh
thường là những lời cuối cùng mà người hấp hối được nghe trước khi chết. Đối
với người Hồi giáo, nhớ được toàn bộ kinh Qur’an được coi là hành động ngoan
đạo tối thượng. Bất cứ ai làm được điều này thì được phong chức danh dự là
hafiz.
Các mặc khải làm nên kinh Qur’an được sắp xếp thành 114 chương gọi là
surah. Các surah chứa 6.000 câu thơ gọi là aya. Toàn bộ kinh hơi ngắn hơn Tân
Ước của Kitô giáo. Ngoại trừ bài tựa ngắn gọn, toàn bộ kinh ấy được sắp xếp
theo độ dài của các surah, theo thứ tự từ trên xuống. Do đó, những người không
phải Hồi giáo đôi khi khó hiểu vì không có sự sắp xếp tài liệu theo chủ đề hay
biên niên. Các mặc khải rất giống như những tư liệu mà người ta tìm thấy trong
những sách tiên tri của Kinh Thánh Hebrew, tuyển tập tư liệu của các tiên tri, mà
8


không chú ý đến việc sắp đặt. Surah dài nhất có 287 câu thơ, surah ngắn nhất chỉ

có ba.
 Bản chất của Thượng đế
Vì kinh Qur’an là lời của Thượng đế, các thông điệp của Kinh ấy là đáng
tin cậy đối với người Hồi giáo về Thượng đế, cách mà Thượng đế muốn con
người sống, và số phận vĩnh cửu của nhân loại. Đấng Allah được mặc khải là
Thượng đế tối cao của toàn vũ trụ. Hồi giáo đòi hỏi tính chất độc thần nghiêm
ngặt, và yêu cầu tín đồ của mình phải nói mỗi ngày, “Chỉ có đấng Allah là
Thượng đế duy nhất; Muhammad là “sứ giả của đấng Allah”. Trái với những
người đa thần ở Mecca và những người Kitô giáo Byzantine tranh cãi nhau về
vai trò của đức Giê su trong bản chất (ba ngôi) của Thượng đế, người Hồi giáo
công nhận chỉ có một Thượng đế, hoàn chỉnh, vĩnh hằng và bất khả phân. Trong
tất cả các tôn giáo trên thế giới, chỉ có Do Thái giáo là nhấn mạnh đến tính chất
độc thần tuyệt đối như vậy.
 Tiền định
Kinh Qur’an khải thị rằng, con người là tạo vật của đấng Allah và phải
vâng lời Người. Những ai công chính sẽ được ân sủng và phải tuân phục ý chí
của Người. Vì việc nhấn mạnh này vào quyền năng và quyền tối thượng của
Thượng đế mà thuyết định mệnh và Tiền định được dùng để miêu tả Hồi giáo.
 Tận thế
Việc đấng Allah phán xét loài người vào ngày tận thế là một trong những
tín điều của Hồi giáo. Kinh Qur’an nói rằng, khi người ta chết, thân thể trở về
với đất và linh hồn ở trong trạng thái ngủ cho đến ngày sống lại. Vào ngày này,
thiên thần của đấng Allah sẽ thổi kèn, đất nứt ra, và xác sẽ kết nối lại với hồn.
Những người sống dậy sẽ được đấng Allah phán xét. Những người trung thành,
đức hạnh được tưởng thưởng, những ai độc ác sẽ bị trừng phạt. Tất cả mọi người
đều bị phán xét căn cứ vào những ghi chép về việc làm của họ trong một quyển
sách dùng vào việc này.
9



Và Quyển sách sẽ được để riêng; và ngươi sẽ thấy những kẻ tội lỗi sợ hãi
với những gì trong đó, và nói,
Ôi! Làm thế nào mà Quyển sách này có hết, không sót một điều, nhỏ hay
lớn, mà còn đánh số?
Và họ sẽ thấy mọi điều họ làm, và Thượng đế của ngươi sẽ không lầm một
ai
Các tín điều Hồi giáo liên quan đến thiên đàng và địa ngục tương tự như
các hệ thống tận thế luận của Bái Hỏa giáo, Do Thái giáo, Kitô giáo. Chỉ có
những điểm khác biệt là những tính chất đặc biệt cuốn hút hay là gớm ghiếc đối
với cư dân trong sa mạc. Thiên đàng là một khu vườn đẹp có nước chảy và bóng
mát. Người công chính được đãi rượu nho – thường là cấm đối với các tín đồ
Hồi giáo – thường không gây nhiễu các giác quan và không làm cho người uống
váng vất. Địa ngục là nơi khủng khiếp đầy gió nóng hầm hập, khói đen và nước
mặn.
 Lịch hồi giáo và những ngày lễ
Hồi giáo có lịch riêng của mình, gồm 12 tháng âm lịch với mỗi tháng 29
ngày hay tổng cộng 354 ngày mỗi năm. Để bù vào sự khác biệt giữa năm âm
lịch và dương lịch, một ngày được cộng vào tháng cuối năm, mười một lần mỗi
30 năm. Tuy nhiên, dù đã cộng thêm ngày như thế, 103 năm Hồi giáo vẫn tương
đương với 100 năm dương lịch. Người Hồi giáo ghi lịch của mình từ Hijrah, do
đó ngày mất của Nhà tiên tri được biết không phải vào năm 632 C.N. Nhưng là
vào năm 10 A.H.
Trong số năm trụ cột của Hồi giáo, người Hồi giáo được lệnh cầu nguyện
năm lần mỗi ngày, ăn chay trong tháng thánh Ramadan, và phấn đấu hành hương
đến Mecca một lần trong đời. Do đó, những thời gian thánh này được thiết lập
cho người Hồi giáo như là cơ bản cho tôn giáo của họ. Ngoài những thời gian
thánh này, người Hồi giáo được yêu cầu tham dự các bữa tiệc hàng năm.
Lễ Thôi Ăn Chay (‘Id al-Fitr)
10



Lễ này được giữ vào ngày đầu tiên của tháng Shawwal, tháng sau
Ramadan, mừng việc trở lại đời sống bình thường sau một thời gian ăn chay kéo
dài. Đó là thời gian tiệc tùng và có thể kéo dài trong ba ngày. Trong nhiều xã hội
Hồi giáo, đây là dịp tặng quà lẫn nhau, thăm viếng bạn bè và người thân, và tỏ
lòng ngưỡng mộ vong nhân. Ngày nay, người Hồi giáo cững thường gởi thiệp
“Id al-Fitr cũng giống như người Thượng đế giáo gởi thiệp Giáng sinh.
Hy Lễ (‘Id al-Adha)
Lễ này vào ngày 10 tháng dhul-Hijah, tháng hành hương. Lễ ấy là một
trong những yêu cầu của hajj, nhưng cũng được giữ trong toàn thế giới Hồi giáo.
Đây là ngày tưởng nhớ khi Abraham được lệnh Thượng đế hiến tế con trai mình
là Ishmael.276 Khi Thượng đế biết được lòng trung thành của Abraham, Thượng
đế cho một con cừu để tế thay. Vào ngày này, trong năm Hồi giáo, người đứng
đầu của mỗi hộ gia đình phải giết một con thú và đãi tiệc. Một số thức ăn được
phân phát cho những người thiếu thốn, trong cộng đồng.
Năm mới
Tháng Muharram là bắt đầu năm Hồi giáo. Lễ ấy cũng được ăn mừng vì tin
là tháng của Hijrah. Trong những cộng đồng người Sunni, ngày 10 tháng
Muharram là ngày ăn chay, gọi là Ashura (mười). Trong những người Shi-a,
ngày 10 tháng Muharram tưởng nhớ trận đánh Karbala.
Sinh nhật của Nhà tiên tri Muhammad (Mawlid an-Nabi)
Là ngày lễ truyền thống mừng sinh nhật của Muhammad, được quy định
vào ngày 12 tháng thứ ba. Phổ biến nhất trong ngày lễ này là đọc tiểu sử của
Nhà tiên tri và cầu nguyện cho ông. Ở nhiều nơi, cũng có những đám rước, tiệc
tùng, và cầu nguyện cộng đồng đặc biệt. Người Wahhabi, cực kỳ bảo thủ ở
ẢRập, không mừng ngày này, vì họ cho ngày sinh nhật ấy là một sáng chế hiện
đại. Những vị thánh Hồi giáo, đặc biệt là những nhà sáng lập phái Sufi, được
nhiều cộng đồng Hồi giáo tưởng nhớ vào ngày sinh của họ.

11



1.2 Các giá trị của Hồi giáo
Hồi giáo được chia làm ba dòng chính: dòng Sunni là dòng chính thống
chiếm đến trên 80% dân số đạo hồi, dòng Shia chiếm khoảng 18% và dòng
Sufím (Hồi giáo khổ hạnh) chỉ chiếm 1-2%. Về giáo lý của đạo Hồi, cơ bản
cũng như mười điều răn của Cơ Đốc giáo có những điều luật rất tiến bộ và hợp
đạo lý ví dụ: hiếu kính với cha mẹ, tôn trọng quyền của người khác, giữ mình
khiêm tốn và trong sạch, không ngoại tình với vợ chồng người khác, thương xót
và giúp đỡ người nghèo khổ, trẻ mồ côi, không rượu chè, không trộm cắp,
không nói dối,…
Đặc biệt đạo Hồi, mặc dù chỉ tin vào Allah là đức chúa trời duy nhất,
nghiêm cấm việc phân biệt chủng tộc và tôn giáo. Người Hồi giáo không được
phán xét hay phê bình người thuộc tôn giáo khác vì phán xét là quyền của chúa
trời chứ không phải của con người. Rõ ràng nếu xét những tiêu chí trên, Hồi
giáo là một tôn giáo có nhiều tư tưởng tiến bộ. Một số quốc giá Hồi giáo theo
khuynh hướng dân chủ như Pakistan, Bangla Desh hay quốc gia siêu giàu Ả rập
không hạn chế một cách khắc nghiệt những ảnh hưởng của văn hoá phương tây.
Thậm chí Pakistan đã từng có nữ thủ tướng là bà Benazhir Bhutto trong những
năm 90. Đa phần người Hồi giáo ghét chiến tranh và những tội ác do con người
gây ra.
1.2.1 Triết lý
Đặc điểm giáo lý của Hồi giáo là rất đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi rất
phức tạp và nghiêm khắc thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi nó vượt ra
khỏi phạm vi tôn giáo và trở thành một chuẩn mực pháp lý của xã hội. Trong
Hồi giáo khó thấy ranh giới giữa cái thiêng và cái tục.
Giáo lý cơ bản của Hồi giáo là Kinh Qur’an (Qur’an theo nguyên nghĩa
tiếng Ảrập là “tụng đọc”) vì đó là những lời nói của Muhammad được ghi lại và
những lời này do thánh Allah thông qua thiên sứ Gabrien “khải thị” cho
Muhammad. Kinh Qur’an tổng cộng có 30 quyển, 114 chương hơn 6200 tiết (là


12


những đoạn thơ). Nội dung Kinh Qur’an vô cùng phong phú đại thể bao gồm
những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi và những ghi chép về
tình hình xã hội trên bán đảo Ảrập đương thời cùng với những chính sách về chủ
trương xã hội, quy phạm luân lý đạo đức… Giáo lý Hồi giáo gồm các điểm cơ
bản sau:
-

Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah).
Vinh danh và kính trọng cha mẹ.
Tôn trọng quyền của người khác.
Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo.
Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*).
Cấm ngoại tình.
Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi.
Hãy cư xử công bằng với mọi người.
Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần.
Hãy khiêm tốn

Trường hợp đặc biệt được phép giết người mà không bị trọng tội là:
1) Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ lùng giết người
đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo. Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương
thiên sứ Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông kẻ bại trận.
2) Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành.
Ngoài ra tín đồ Hồi giáo có một số luật lệ:
- Về quan hệ gia đình, đạo Hồi thừa nhận chế độ đa thê nhưng chỉ cho lấy
nhiều nhất 4 vợ.

- Đàn ông Hồi giáo cũng có thể lấy người theo đạo Kito hoặc Do Thái
nhưng không được lấy người theo đa thần giáo. Tuy cho lấy nhiều vợ
nhưng đạo Hồi cấm không cho phép lấy nàng hầu trừ Mohamet thì ngoại
lệ ( ông có 10 vợ và 2 nàng hầu )
- Một lần trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng với
điều kiện họ không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi, họ phải lo
cho gia đình vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ
vắng mặt hành hương.

13


- Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo
-

nghi thức; không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật ô uế.
Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men.
Nghiêm cấm cờ bạc.
Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi.
Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp (như chó, mèo,

chuột, v.v.).
- Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt halal, tức là thịt đã được giết mổ theo
nghi thức của đạo Hồi.
- Tuy nhiên, trong trường hợp tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi
thứ để duy trì sự sống.
- Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết
thương xót người nghèo.
- Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh sáng
Mặt Trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong

tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần
nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và
phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan.
- Hồi giáo nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ Hồi giáo không
được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác. Đó là việc của Allah
Đấng Toàn Năng.
Năm Trụ cột
Những điều mà người ta cần phải làm để là người Hồi giáo tốt thường gọi
là “năm trụ cột của Hồi giáo”. Năm trụ cột hay nghĩa vụ này là lặp lại giáo điều,
kinh cầu nguyện hàng ngày, bố thí, và tháng chay Ramadan, và hành hương về
Mecca.
Lặp lại giáo điều (shahadah). Hành động tôn giáo phổ biến nhất của tín đồ
Hồi giáo là lặp lại giáo điều của Hồi giáo: La ilaha illa Allah; Muhammad rasul
Allah. (Không có Thượng đế nào ngoài đấng Allah; Muhammad là sứ giả của
Người.) Câu này được gọi là Shahadah (bày tỏ đức tin). Đây là những lời đầu
tiên mà một đứa trẻ Hồi giáo nghe được, và có lẽ cũng là những lời cuối cùng

14


mà người Hồi giáo đang hấp hối nói ra. Người tín đồ thuần thành nói câu này
hàng ngày càng nhiều càng tốt, và chỉ nói câu này thôi cũng đủ cho người nói là
một tín đồ Hồi giáo.
Cầu nguyện hàng ngày (salaht). Ngoài việc lặp lại tín điều, tín đồ Hồi giáo
còn được mong đợi cầu nguyện năm lần một ngày. Năm lần cầu nguyện được
chấp nhận là lúc bình minh, giữa trưa, xế, mặt trời lặn và đêm xuống. Trong
nhiều cộng đồng Hồi giáo những người đàn ông giọng khỏe gọi là muezzins leo
lên các đỉnh tháp trang nhã được gọi là minarets năm lần một ngày và la lên, đến
giờ cầu nguyện. Ở những cộng đồng khác lời gọi cầu nguyện được phát lên ở lối
vào đền. Bất cứ là người Hồi giáo đang ở bất kỳ đâu, họ phải tạm dừng để cầu

nguyện, theo quy định. Tuy nhiên, trước khi cầu nguyện họ rửa ráy và gột sạch
những thứ bất tịnh. Các đền thờ phượng được xây dựng với các phương tiện để
rửa tay, chân và mặt, trước khi cầu nguyện. Nếu không có sẵn nước, tín đồ Hồi
giáo làm sạch mình bằng cát. Làm sạch mình xong, người cầu nguyện quỳ
xuống hướng mặt về Mecca và dâng lời cầu nguyện. Đàn ông và đàn bà có thể
không cầu nguyện cùng nhau, vì có khả năng có những va chạm thân thể không
thích hợp. Ở một số quốc gia Trung Đông, cầu nguyện trong đền thờ chỉ dành
cho đàn ông. Trong nhiều nước châu Á, đền thờ được chia ra khu dành cho đàn
ông và khu dành cho đàn bà.

15


Hình 1.3 Tín đồ Islam lễ bái
Bố thí (zakaht). Người Hồi giáo được yêu cầu san sẻ của cải của mình cho
người nghèo, góa phụ, trẻ mồ côi. Của bố thí có thể được sử dụng để tài trợ cho
những định chế tôn giáo, học giả, sinh viên. Làm từ thiện là một nghĩa vụ theo
luật Hồi giáo và được tính như là thuế lên đến con số từ 2,5 đến 10% của tài sản
của một người. Vì chú trọng đến bố thí, Hồi giáo không bao giờ coi thường
người ăn xin như là đáng khinh. Nhận và cho của bố thí được coi là nguồn ân
phước của Thượng đế.
Ăn chay (sawm). Nhiều tôn giáo yêu cầu ăn chay dưới hình thức này hay
hình thức khác trong năm, nhưng thường trong thời gian ngắn. Ví dụ người Do
Thái giáo ăn chay vào ngày Ăn năn (yom kippur). Những tôn giáo khác giới hạn
một số thức ăn vào những thời gian cụ thể nào đó. Ví dụ Kitô giáo La Mã yêu
cầu giữ một số ngày chay và tránh ăn thịt trong mùa Vọng. Tuy nhiên Hồi giáo
yêu cầu ăn chay nghiêm ngặt và dài nhất so với các tôn giáo. Trong năm, trong
tháng Ramadan, người Hồi giáo được yêu cầu không ăn, uống, hút thuốc và giao
hợp trong những giờ ban ngày. Việc ăn chay được tuân giữ để tưởng nhớ tháng
mà Nhà tiên tri, lần đầu tiên, nhận được mặc khải. Bởi vì lịch Hồi giáo là âm

lịch nên tháng Ramadan thay đổi theo năm. Có những năm, tháng Ramadan rơi
16


đúng vào mùa hè, khi mà nhịn uống ban ngày rất khó khăn. Theo truyền thống
Hồi giáo, tất cả thức ăn, thức uống đều phải ngừng lại khi có đủ ánh sáng vào
buổi sáng để phân biệt chỉ trắng và chỉ đen. Việc ăn uống có thể tái tục khi màn
đêm buông xuống, lúc mà các sợi chỉ không thể phân biệt. Những người Hồi
giáo duy nhất được miễn trừ ăn chay là người bệnh, người đi du lịch, người mẹ
đang nuôi con, và trẻ nhỏ. Khi tháng Ramadan kết thúc, người Hồi giáo ăn
mừng bằng một bữa tiệc kéo dài ba ngày. Người ta tin rằng đấng Allah sẽ xá tội
cho những ai hoàn thành tháng chay.
Hành hương (hajj). Hành hương về Mecca là một phần của tôn giáo Ả Rập
trước khi có Hồi giáo Nó có vai trò quan trọng trong lịch sử sơ khai của Hồi
giáo, và được đề cập trong kinh Qur’an như là một bổn phận mang tính nghi lễ.
Nhà tiên tri Muhammad thanh lọc khu Ka’ba khỏi tất cả các hình, tượng và theo
truyền thống Hồi giáo, tái lập khu ấy thành Điện thờ Thượng đế duy nhất. Người
Hồi giáo nào có đủ chi phí cho chuyến đi, thì nên hành hương về Mecca một lần
trong đời. Cuộc hành hương diễn ra trong tháng đặc biệt trong lịch Hồi giáo, gọi
là tháng Dhu al-Hijah. Trong tháng này, tất cả những người hành hương trên
khắp thế giới đổ xô về Mecca. Người nghèo đôi khi dành tiền dành dụm cả đời
đài thọ cho chuyến đi này. Trước khi có máy bay du lịch, người cao tuổi và
người bệnh bắt đầu chuyến đi này mà ít có hy vọng trở lại nhà, nhưng không
một tín đồ Hồi giáo nào có thể trông mong một cái chết thánh thiện hơn là chết
trên đường hành hương đến Mecca. Bên ngoài Mecca, những người hành hương
phải bỏ lại tất cả các phương tiện giao thông mà họ đã sử dụng để đi bộ hết đoạn
đường còn lại. Họ phải mặc đồ đơn giản của người hành hương không có trùm
đầu, và chỉ mang dép đơn sơ, do đó người giàu, người nghèo không thể phân
biệt qua trang phục. Trong hầu hết các cuộc hành hương, người hành hương phải
ăn chay vào ban ngày, không được giao hợp, không cắt móng tay, móng chân.

Trong những ngày hành hương, du khách thăm Mecca thăm giếng
Zamzam, được tin là do Hagar và Ishmael thiết lập. Họ đi bảy vòng xung quanh
khu Ka’ba và hôn tảng đá đen linh thiêng. Họ hiến tế một con cừu hay con dê
17


vào ngày thứ mười của cuộc hành hương để tưởng nhớ ý muốn của Abraham
hiến tế con trai mình theo lệnh. Sau khi làm xong những bổn phận này, họ có thể
viếng Medina để tỏ lòng tôn kính mộ phần của Nhà tiên tri Muhammad và viếng
đền thờ của ông. Khi hành hương trở về, họ có thể kèm theo tước hiệu haji cùng
với tên mình để cả thế giới đều biết là họ đã hoàn thành nghĩa vụ tôn giáo này.

Hình 1.4 Hành hương tại Mecca, Ả Rập Saudi
1.2.2 Kiến trúc nghệ thuật
Hồi giáo là cái nôi của một trong những nền kiến trúc nổi tiếng bậc nhất thế
giới. Kiến trúc Hồi giáo nổi bật với màu sắc rực rỡ, họa tiết phong phú, và kết
cấu đối xứng. Lối tiếp cận khác biệt này xuất hiện phổ biến trong vô vàn tác
phẩm kiến trúc của người Hồi giáo kể từ thế kỷ thứ 7.
Mặc dù kiến trúc Hồi giáo là sự kết hợp của các phong cách đa dạng trên
thế giới, có một số đặc điểm là nổi bật hơn cả, xuất hiện xuyên suốt các tác
phẩm. Hiểu rõ những đặc điểm này, ta sẽ có một cái nhìn sâu sắc hơn về giá trị
của kiến trúc Hồi giáo, trên phương diện mỹ học và lịch sử.
Do không thờ ngẫu tượng, nên kiến trúc Islam giáo có nhiều nét khác biệt
so với một số tôn giáo khác như Phật giáo, Công giáo,... Kiến trúc Islam giáo
18


gồm: thánh đường, nhà cầu nguyện, trường học tôn giáo, đạo tràng Sufi, trong
đó thánh đường là cơ bản nhất. Ngoài thánh đường được gọi là Masjid, còn có
thánh đường được gọi là Jamir (nơi tu tập của dân chúng).

Buổi đầu, kiến trúc thánh đường đơn sơ, vật liệu là cây chà là; có nhà cầu
nguyện, sân và tường vây quanh, không có hốc nhỏ chỉ hướng Mecca và bục
giảng, cũng không có tháp Minaret, tiêu biểu là các thánh đường Tiên tri, Basra,
Kufa,... ở Medina.
Dần dần, quy mô kiến trúc thánh đường được hoàn chỉnh. Thánh đường lớn
có lễ đường cầu nguyện, sảnh chính, sảnh bên, hốc nhỏ chỉ hướng Mecca, bục
giảng, tháp Minaret, thậm chí cả nhà tắm hoặc thư viện. Dưới thời Caliph
Omail, các tướng lĩnh ở Basra, Kufa và Ai Cập được yêu cầu dùng Masjid làm
nơi cầu nguyện hằng ngày, Jamir dùng làm nơi cử hành lễ tập thể vào ngày thứ
sáu. Thời Umayyad, Jamir được dùng để chỉ thánh đường do Caliph hoặc người
đại diện Caliph làm Imam cử hành lễ cầu nguyện, đồng thời còn dùng làm
trường học tôn giáo, nơi phân xử tranh chấp tôn giáo và dân sự. Vì vậy, Jamir
được gọi là thánh đường quan phương.
Cùng với sự lớn mạnh của đế quốc Islam giáo, việc xây dựng thánh đường
ngày càng trở nên hiện đại và quy mô to lớn. Vật liệu kiến trúc được dùng bằng
bê tông hay những tấm đá lớn với kỹ thuật thi công đặc biệt. Bên trong thánh
đường trang trí đèn chùm, đèn tường, bục giảng được trang trí bằng những câu
kinh lấy trong Kinh Qur’an đúc bằng vàng luôn phát ra ánh sáng lấp lánh. Nhiều
thánh đường có quy mô không hề thua kém nhà thờ Kitô giáo và Do Thái giáo,
chẳng hạn như Thánh đường Umaya ở Damascus.
Cơ sở thờ tự của phái Sufi được gọi là đạo tràng Sufi (Khanqa). Khanqa là
tiếng Ba Tư có nghĩa là nhà. Nguyên ủy, các trưởng lão phái Sufi dùng nhà của
mình làm nơi cầu nguyện và tu hành. Đạo tràng Sufi thời Osman được gọi là
Taji’a, bố cục và kết cấu giống như một gia đình, gồm một phòng lớn, các phòng
ngủ, gian thờ cúng, nhà tắm, nhà bếp, v.v… Sống trong những ngôi nhà này

19


không chỉ có người tu hành theo phái Sufi, mà còn cả người không có công ăn

việc làm từ nơi khác tới.
Theo Vương Tuấn Vinh: “Đặc điểm chủ yếu của nghệ thuật kiến trúc Islam
là được cấu tạo từ các dạng hình học, hình hoa văn và hình chữ viết. Kết cấu
kiến trúc mỗi nơi có một phong cách khác nhau. Hình thức của Thổ Nhĩ Kỳ là
có nhiều tháp nhọn, nhiều nóc tròn đứng san sát nhau, các tháp tuyên lễ ở Châu
Phi thì có hình vuông, ở Syria có hình đa giác, kiến trúc ở Iran gắn với hình thức
của khu vực Trung Á, trong khi đó ở Ấn Độ có phong cách của thời đại vua
Muwol. Nhà thờ Islam giáo ở Indonesia không có tháp nhọn, không có sân rộng,
có bể nước, chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo”.
Kiến trúc của Islam giáo còn có trường học tôn giáo và lăng mộ. Trường
học tôn giáo (Madrasa) xuất hiện vào nửa cuối thế kỷ XI ở phần phía đông của
thế giới Islam giáo. Sang thế kỷ XII, phần phía tây cũng xây dựng Madrasa.
Loại hình kiến trúc này thường có một sảnh lớn ở chính giữa, một số phòng bên
làm lớp học, chủ yếu dùng để nghiên cứu và giảng dạy các phương diện tôn
giáo, xã hội, tư pháp trên cơ sở Kinh Qur’an và thánh huấn. Loại trường học này
rất phổ biến ở Bagdah, Basra, Isfahan, Mosul, Syri và Ai Cập. Các trường học
tôn giáo ở phần phía đông do phái Shiite xây dựng, dùng vào việc giảng dạy
giáo thuyết của phái này. Các trường tôn giáo ở phía tây do phái Sunni xây dựng
vào thế kỷ XII, dùng làm nơi tuyên truyền học thuyết bốn giáo luật lớn của phái
Chính thống. Ví dụ, ở Alexandra, Ai Cập, có trường học của phái Shiite xây
dựng, còn ở Cairô có trường học do phái Sunni xây dựng. Hình thức trường học
tôn giáo phổ biến ở Ai Cập thời vua Ayyub, riêng Cairô có tới 24 trường. Bên
cạnh đó, trong trường học tôn giáo còn có nơi cầu nguyện, nơi ăn ở.
Kiến trúc lăng mộ có đặc trưng là nóc tròn, về sau nóc tròn được áp dụng
vào xây thánh đường. Các thánh đường thời Đế quốc Osman nhìn chung đều có
nóc tròn rất lớn, ngoài nóc tròn lớn trên gian sảnh chính giữa quay về một hướng
ra, còn có những nóc tròn nhỏ khác ở các phía còn lại. Điển hình cho loại kiến

20



trúc này là Nhà thờ Muhammad Ali ở Ai Cập và Nhà thờ Sultan Ahmad ở
Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ.
Tháp giáo đường
Tháp giáo đường là những ngọn tháp cao với mái vòm hình nón hoặc củ
hành, với những ô cửa sổ nhỏ và một chiếc cầu thang kín bên trong tháp. Tháp
giáo đường có mặt tại hầu hết các giáo đường Hồi giáo, được coi là một trong
những đặc trưng lâu đời nhất của kiến trúc Hồi giáo. Các giáo sĩ Hồi giáo
thường sử dụng ngọn tháp này để nhắc nhở các tín đồ về thời gian cầu nguyện:
bình minh, buổi trưa, giữa chiều, xế chiều, và buổi tối. Đây cũng chính là công
dụng chính của nó.

Hình 1.5 Khung cảnh giáo đường lúc xế chiều
Từ thế kỷ 11, một số giáo đường Hồi giáo đã được thiết kế với nhiều ngọn
tháp, theo yêu cầu ban đầu của một vị vua.

21


Hình 1.6 Nhà thờ Hồi giáo Sultan Ahmed ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ
Kiến trúc mái vòm
Tương tự một số trào lưu kiến trúc khác xuất hiện ở thời kỳ cổ đại như
Phục hưng Ý, kiến trúc Hồi giáo cũng xuất hiện thiết kế hình mái vòm.
Mái vòm đá, ngôi đền Hồi giáo được xây dựng vào thế kỷ thứ 7, nằm trên
núi Đền ở thành phố cổ Jerusalem là công trình kiến trúc Hồi giáo đầu tiên áp
dụng thiết kế mái vòm. Mái vòm đá mang hơi hướng kiến trúc Hy Lạp với kết
cấu bát giác và mái vòm gỗ, được mạ vàng vào thế kỷ 16. Khác với thiết kế mái
vòm khác, Mái vòm đá nằm trên một mặt phẳng được chống đỡ bởi 16 cột trụ
ngang dọc.


22


Hình 1.7 Mái vòm đá, núi Đền, Jerusalem, Israel
Công trình mái vòm cho phép đặt một vòm tròn trên một căn phòng hình
vuông hoặc một mái vòm hình elip trên một căn phòng hình chữ nhật. Trong
kiến trúc Hồi giáo, công trình mái vòm thường được trang trí với gạch vuông
hoặc muqarnas – một loại hình điêu khắc.

Hình 1.8 Họa tiết mái vòm nhà thờ Sultan Ahmed

23


×