ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
MÔN: CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
Giảng viên: GS. TS LÂM THỊ MỸ DUNG
Sinh viên
: Phạm Hải Yến- 18100400
Ngành học : Sư phạm Lịch Sử
Khóa
: QH-2018-S
Hà Nội, tháng 4, năm 2020
Phạm Hải Yến
Page 1
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam: “ Ngã tư đường của các nền văn hóa, văn minh”- theo Olor Janse. Thật
vậy, nước ta nằm ở trung tâm khu vực nhiệt đới gió mùa. Nơi đây có thiên nhiên phong
phú, nên từ xa xưa, người Việt cổ đã sống chủ yếu dựa vào tự nhiên. Vì vậy, việc thờ
cúng các nhiên thần đã sớm xuất hiện. Không chỉ vậy, Việt nam lại là ngã ba: nơi giao
lưu của nhiều tộc người, nhiều luồng văn hóa, văn minh. Vì vậy, tín ngưỡng tôn giáo của
người Việt mang nhiều đặc điểm phong phú, độc đáo. Người Việt gọi đó là tính “hỗn
dung tôn giáo”.
Ở đây, tín ngưỡng vừa là điểm tựa tinh thần của người Việt xuyên suốt trong lịch
sử, đó còn là nơi giải đáp cho những mong muốn, ước nguyện. Nó là động lực để tạo
niềm tin cho con người, gửi gắm tâm tư vào chốn thiêng mà họ tin tưởng, sùng bái. Nơi
ấy nuôi dưỡng tinh thần, khát vọng, tiếp thêm sức mạnh trong lao động của những con
người vùng lúa nước, giải thoát tinh thần bởi những khổ ải trần tục.
Tín ngưỡng, tôn giáo mang những triết lý, ý nghĩa nhân văn cao đẹp mà không xa
vời thực tế, gắn liền với nhu cầu, gần gũi với cuộc sống người Việt. Điều đó làm tâm hồn
người Việt thêm phong phú.
Phạm Hải Yến
Page 2
A. Khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo.
I. Giống nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo.
Tôn giáo và tín ngưỡng có tác dụng điều chỉnh hành vi ứng xử giữa các cá thể dựa
trên cơ sở giáo lý tôn giáo, điều mà họ tôn thờ, noi theo các đấng bậc được tôn thờ dựa
trên niểm tin vào đó.
II. Khác nhau giữa tín ngưỡng và tôn giáo.
-
Tín ngưỡng là niềm tin vào những đối tượng siêu hình, họ tin và làm theo những
giáo lý ấy, nhưng chưa có giáo luật.
Tôn giáo: Phải hội tụ đủ 4 yếu tố: giáo chủ, giáo lý, giáo luật, tín đồ.
B. Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo
I. Sự hỗn dung tín ngưỡng và tôn giáo (theo giáo sư Từ Chi)
1. Khái niệm.
Phải công nhận rằng, Việt Nam là một nước không có tôn giáo độc tôn, có hiều
tín ngưỡng tôn giáo. Những tôn giáo và tín đồ tôn giáo cùng chung sống, ảnh hưởng, tác
động qua lại lẫn nhau. Chính vì sự hỗn dung ấy do vị trí địa lí, sự giao thoa, tiếp biến văn
hóa trong quá trình lịch sử nên người Việt đa tín ngưỡng , có dị tín, mê tín, ít sùng tín và
không cuồng tín.
Điều tất yếu để một tôn giáo du nhập vào bản địa, người dân tiếp nhận, có thể
thích ứng được với tôn giáo ấy là nó phải phù hợp với lối sống, nhận thức, nhân sinh
quan của người dân bản địa. Các tôn giáo, tín ngưỡng người Việt đều mang tinh thần
khoan dung, tính nhân văn, đạo lý tốt đẹp, hướng đến cái thiện, phú hợp với truyền thống
dân tộc. Những tôn giáo lớn du nhập từ bên ngoài đều bị khúc xạ, biến thái để thích ứng
với thực tiễn xã hội , tâm linh người Việt. Đó là do người Việt có tính “không chối từ văn
hóa” và dễ tiếp nhận những luồng văn hóa từ bên ngoài một cách có chọn lọc. Dù vậy,
người Việt không bị đồng hóa, họ vẫn tự nguyện tiếp thu những nét văn hóa mới trong
văn hóa ngoại lai. Thậm chí, họ sáng tạo để phù hợp với cách sống bản địa. Đó là sức
sống mạnh mẽ và trường tồn của nền văn minh nông nghiệp lúa nước.
Phạm Hải Yến
Page 3
2. Ví dụ
- Với văn hóa Trung Quốc
+ người Việt hiện nay vẫn lưu giữ được kết cấu làng xã, vẫn tiếp tục lưu
truyền, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
+ Tuy vậy, người Việt tự nguyện tiếp thu văn hóa mới từ người Hán như:
làm thuốc Bắc, nghề làm giấy, nghề in...
-
Với văn hóa Việt Nam- Ấn Độ: văn hóa Chăm Pa:
+ Khúc xạ trong giao thoa văn hóa: thờ vua Chăm Pa là hình thức thờ cúng tổ
tiên kết hợp thần quyền, không mang tính thần thánh như của văn hóa Ấn Độ. Lý giải cho
hiện tượng này là do tính thực tế của người Việt, không đẩy thần linh ra khỏi hoạt sống
của con người
+ Với chế độ đẳng cấp Varna kiểu Ấn được người Chăm Pa biến đổi trên nền chế
độ mẫu hệ, giúp giảm thiểu phân biệt đẳng cấp, khác so với Ấn Độ. Điều này được lý giải
dựa vào nguyên lý mẹ trong văn hóa Việt Nam.
+ Trong thời ký này, người Việt cũng sáng tạo chữ Chăm cổ, duy trì tín ngưỡng
bản địa: thờ thần Rắn. Điều đó tạo nên một sắc thái mới, hình ảnh mới cho văn hóa Ấn
Độ của Đông Nam Á.
-
Với văn hóa phương Tây:
+ Là một sự đột biến trong văn hóa, người Việt biết cải biến, Việt hóa những
thành tố văn hóa mới: sân khấu, nghề in hiện đại, hội họa, báo chí,...
3. Biểu hiện hỗn dung văn hóa trong tín ngưỡng, tôn giáo:
- Người xưa có câu “ đất vua chùa làng, phong cảnh Bụt”. Chùa người Việt có ở
khắp mọi nơi trên đất nước, từng địa phương đều có chùa, có thể là từng làng/thôn,...
nhiều ngôi chùa trở thành trung tâm tín ngưỡng Phật Giáo.
- hỗn dung tín ngưỡng ấy thể hiện ngay trong các đối tượng được thờ cúng trong
chùa một cách đa dạng, đan xen nhiều lớp, chùa không chỉ thờ Phật, có thể thờ Phật với
Thần, Thánh: “tiền Phật, hậu Thánh”, “tiền Phật, hậu Thần”.
- Các loại chùa cũng rất phong phú:
+ Chùa Thầy thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh:
Phạm Hải Yến
Page 4
“Nhớ ngày mồng bảy tháng ba,
trở về hội Khám, trở ra hội Thầy”
hay
“Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ,
trai chưa vựa nhớ hội chùa Thầy”
+ Pháp Vân Tự: thờ Thích ca sơ sinh và bốn vị nữ thần: Pháp Lôi, Pháp Vũ,
Pháp Vân, Pháp Điện. Sau khi Phật Giáo du nhập vào Việt Nam, các nữ thần ấy được viết
thành Tứ Pháp trong Phật Mẫu Man Nương
+ Quán Đạo giáo thành chùa Láng- Hà Nội.
+ Chùa Hương: vừa thờ Phật, , vừa thờ Mẫu Thượng Ngàn- người cai quản
vùng rừng núi xung quanh với tên “tỳ nữ túy hồng” , người dân đến đây ngoài cầu bình
an, tài lộc, họ còn cầu con.
+ Chùa Bắc Đài, chùa Đình Quân, chùa Cả thờ ngũ hổ và tín ngưỡng cá thần.
+ Trong nghi lễ thờ cúng trong chùa Việt Nam rất phong phú và đa dạng: Lễ
Phật Đản, lễ Phật thành đạo, Lễ Vu Lan,... Đặc biệt, lễ Vu Lan là nghi lễ thẻ hiện sự biết
ơn người mẹ- người sinh thành, công lao dưỡng dục nhưng cũng thể hiện điểm tương
đồng trong giáo lý của Phật giáo và tín ngưỡng chung thờ cúng tổ tiên của người Việt.
+ Trong đám tang, người Việt còn có nghi thức cầu siêu, sám hối; họ thắp
hương vào mồng Một, ngày Rằm, nhiều người ăn chay, câu mơt đầu trong bài khấn
thường là “Nam Mô A Di Đà Phật”. Điều này thể hiện sự giao lưu hòa hợp giữa đạo
Phậtvà thờ cúng tổ tiên: “như sữa với nước”.
Phạm Hải Yến
Page 5
Hình 1: Từ Đạo quán thành chùa Láng
Hình 3: Lễ hội Chùa Hương
Hình 2: Chùa Thầy
Hình 4: Một nghi thức trong lễ Vu Lan
4. Lý giải sự hỗn dung ấy và ý kiến cá nhân.
Sự dung hợp giữa các tín ngưỡng, tôn giáo ấy bắt nguồn từ lâu trong lịch sử và nó
vẫn tiếp diễn đến ngày nay. Không ngẫu nhiên viết về đề tài văn hóa, tôn giáo tâm linh
ngày nay mà tôi lại lý giải chuyện xa xưa. Mà chỉ khi ta hiểu rõ nguyên cớ xuất phát
điểm, triết lý nhân sinh căn bản của những tín ngưỡng, tôn giáo ấy có điểm chung gì, giáo
lý trong đó phù hợp với tâm thức và nhu cầu tín ngưỡng của dân ta hay không. Khi hiểu
có điểm chung gì thì mới hiểu rõ được ‘tính không chối từ văn hóa” và “khúc xạ” như thế
nào thông qua cải biến của người Việt qua những đợt tiếp biến văn hóa ấy.
Ở văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo người Việt có nhiều nét đẹp truyền thống thấm
nhuần trong tâm thức truyền thống của mỗi người. Giáo lý Phật giáo cũng dạy con người
Phạm Hải Yến
Page 6
từ bi, hướng đến cái thiện, yêu thương đồng loại, biết luật nhân quả, sự “tùy duyên”,
tương đồng với tín ngưỡng tổ tiên, như ông cha đã dạy:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
người trong một nước phải thương nhau cùng”,
“Lá lành đùm lá rách”,
“Ở hiền gặp lành”,
“ Uống nước nhớ nguồn”
“Thương người như thể thương thân”
“ Một điều nhịn chín điều lành”,...
K.Marx nói: “bản chất của tư tưởng phong kiến nói chung là đạo đức và danh dự,
mà bản chất của Nho học là luân lý, làm tam cương, ngũ thường. Đó là hệ thống những
triết lý về lễ nghi, quy tắc, tổ chức xã hội, chuẩn mực trong Nho giáo, chủ yếu như: tam
cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức, hướng con người ta đến luân thường đạo lý; lấy
người đọc sách thánh hiền làm tiêu chuẩn , đề cao việc học hành thi cử, đỗ đạt, tôn kính
bề trên,... giống như:
“Học ăn, học nói, học gói, học mở”,
“Biết thì thưa thốt,
không biết thì dựa cột mà nghe” ,
“Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”,
“Có cày có thóc, có học có chữ”,
“Một lần bất tín, vạn lần bất tin”
-
Đạo giáo chia làm 2 loại: Đạo giáo phù thủy và Đạo giáo thần tiên.
Đạo giáo phù thủy khi vào Việt Nam đã có hòa trộn mãnh liệt với tín ngưỡng dân
gian vì có nét tương đồng với tín ngưỡng ma thuật.
Đạo giáo cũng kết hợp với Phật giáo: Chử Đồng Tử tu hành đắc đạo thành Phật,
vừa được coi là tổ sư của Đạo giáo
“Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ” : chỉ Tục thờ Đức Thánh Trần và chúa
Thượng Ngàn. Trước khi vào Việt Nam, Đạo giáo chủ trương không tham gia vào
xã hội (xuất thế), nhưng khi vào Việt Nam, được dùng làm vũ khí để chống áp
Phạm Hải Yến
Page 7
bức. Ví dụ: đời Hồ Qúy Ly có Trần Đức Huy dùng phép thuật để thu hút đông
đảo người dân theo chống lại triều đình, sau đó bị dẹp.
II. Thờ cúng tổ tiên
1.Tầm quan trọng thờ cúng tổ tiên trong cuộc sống của người Việt
Phong tục thờ cúng tổ tiên là tục lệ thờ cúng những người thế hệ đi trước đã mất,
cùng huyết thống, hoặc có ơn sinh thành, nuôi dưỡng. Nó trở thành một đạo lý xã hội.
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã có từ ngàn xưa, truyền thống ấy chưa bao giờ bị đứt nối,
dù trong thời bị đô hộ, chiến tranh,... nó gần như được trở thành một tôn giáo nên được
gọi là “Đạo Ông Bà”.
“Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”
(Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên)
Một phần, do người Việt có quan niệm “trần sao, âm vậy”. Nó thể hiện mối quan hệ
giữa người đã khuất và những người đang sống. Tác động kép những mối quan hệ này
phụ thuộc vào thái độ ứng xử của người đang sống.
Hình 5: Một bàn thờ gia tiên ngày Tết người Việt
Phạm Hải Yến
Page 8
Việc thờ cúng tổ tiên có vai trò hết sức quan trọng. Nó giúp duy trì sợi dây liên kết
giữa các thế hệ. Đó cũng là cách thức giáo dục và bồi duỗng truyền thống gia đình, dòng
họ và cộng đồng, là chuẩn mực ứng xử và tiêu trí đạo đức, đảm bảo tính tôn ti trật tự
trong cộng đồng, thể hiện tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”. Đó là sự tiếp nối giữa quá
khứ, hiện tại, tương lai. Vì vậy, sức sống tín ngưỡng này là vô tận.
2. Đặc điểm thờ cúng tổ tiên; cấp độ, thời điểm; biểu hiện:
Người Việt trong thờ cúng tổ tiên xưa và ngày nay vẫn mang tính thực tế. Họ cầu
mong những điều có ích với cuộc sống cho bản thân và người thân của họ, chứ không xa
vời. Ngoài ra, trong văn hóa thờ cúng tổ tiên người Việt còn mang tính hòa đồng và dân
chủ.
Khái niệm thờ cúng tổ tiên được hiểu theo nghĩa rộng với các cấp độ: thờ cúng gia
đình, thờ cúng dòng họ(họ tộc), trong làng xã (thành hoàng làng), ở cấp Quốc gia ( giỗ tổ
Hùng Vương, Hai Bà Trưng,...). Dù có nhiều hình thức khác nhau giữa thờ cúng tổ tiên
của từng gia đình, dòng họ, làng xã, quốc gia, đều có những khâu, quy mô khác nhau
nhưng nó là một chỉnh thể chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau. Nó phản ánh giữa các quan hệ cá
nhân với cộng đồng, gia đình và đất nước.
Hình 7: Một phần cảnh quan, kiến trúc Đền Hùng
Phạm Hải Yến
Page 9
III. Tâm thức vật linh.
1.Khái niệm của tâm thức vật linh
Vật linh là quan niệm vạn vật đều có linh hồn, vạn vật tác đông qua lại lẫn nhau và
tác động qua lại giữa Người và Vạn vật.
2. Biểu hiện:
- Họ sùng bái các lực lượng tự nhiên, siêu nhiên như: ông Sông bà Bể, thần Sấm, thần
Sét,...
- Sùng bái con người như những người từng có công với đất nước, đánh đuổi giặc ngoại
xâm, hay Thành Hoàng làng
- Sùng bái sự sinh sản và sinh sôi nảy nở: điển hình như tín ngưỡng phồn thực. Lý giải
cho điều này vì Việt Nam là một nước nông nghiệp từ xa xưa, nên người Việt luôn mong
mùa màng, mùa vụ tươi tốt, chăn nuôi sản sinh nhiều và con người cũng được sinh sôi
nảy nở. Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức, ngay cả trên chiếc trống đồng, một
biểu tượng của sức mạnh quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn
thực.
- Tín ngưỡng vật linh này rất đa dạng, chồng nhiều lớp và phụ thuộc vafoo các điều kiện
xã hội, tộc người, tự nhiên,...
3.Một số tín ngưỡng chính của tâm thức vật linh
3.1.Tín ngưỡng phồn thực.
Để cầu mong được sự sinh sôi nảy nở, những trí tuệ sắc sảo đã tìm ra những quy
luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xây dựng được triết lý âm dương, còn những
trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phông thực. “Phồn” ở đây nghĩa là nhiều, “thực”
nghĩa là nảy nở. Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan
sinh dục của nam, nữ ( như linga và yoni) và thờ hành vi giao phối. Điều này khác biệt so
với văn hóa Ấn, chỉ thờ sinh thực khí của nam.
Dễ thấy rằng, tín ngưỡng phồn thực rất phổ biến. Từ chiếc trống đồng, hình dáng
của trống đồng ấy phát triển từ cối giã gạo; cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đập
lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo. Tâm trống là hình Mặt Trời biểu tượng cho
sinh thực khí nam (tính dương) , xung quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu tượng cho
sinh thực khi của nữ. Xung quang mặt trống đồng còn gắn tượng cóc, biểu hiện của tín
ngưỡng phồn thực (“con Cóc là cậu ông Trời”)
Phạm Hải Yến
Page 10
Không chỉ thờ sinh thực khí, trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam còn thờ hành vi
giao phối, điển hình cho sự chú trọng đến văn hóa nông nghiệp vùng Đông Nam Á. Điển
hình là các hình nam nữ đang giao phối tìm thấy trên mặt trống đồng làng Đào Thịnh (ở
Yên Bái, có niên đại 500 trước công nguyên); các loài động vật như cá sấu, gà, cóc,...
cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ. Ta không mấy xa lạ vào những dịp hội
đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa “tùng dí”, gọi thế vì sau mỗi tiếng trống
“tùng”, thanh niên nam nữ lại cầm trong tay sinh thực khí biểu trưng cho giới đó và “dí”
hai vật đó vào với nhau. Những phong tục như “giã cối đón dâu” cũng là biểu tượng cho
tín ngưỡng phồn thực. “Chày” và “cối” là biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực vì biểu
tượng cho sinh thực khí nam, nữ. Một số nơi còn có tục, vừa giã cối vừa hát giao duyên.
3.2.Thờ Thành Hoàng làng
Nguồn gốc: việc thờ Thành Hoàng làng của người Việt rất phong phú, đa dạng,
phức tạp, nó phụ thuộc vào nhiều lớp theo vùng sinh thái/ lịch sử. Người Việt có tín
ngưỡng thờ Thần như Nhân Thần (những nhân vật lịch sử nổi tiếng, những nhân vật theo
truyền thuyết, một số nhiên thần được nhân thần hóa); Thần có nguồn gốc từ đạo Phật,
đạo Lão,...; Thần tự nhiên( thiên thần/ nhiên thần, thường có thần tích rất “người”); thần
có nguồn gốc từ tín ngưỡng phồn thực; thần là người có công lập làng( tiền hiền, hậu hiền
khai canh khai khẩn).
Thần Thành Hoàng vốn là thần của thành trì từ trung ương đến địa phương ở
Trung Quốc từ thời Tam Quốc. Thời Bắc thuộc, Thành hoàng với tư cách là thần bảo trợ
cho các trị sở.
Hình 8: Một lễ nghi của thờ Thành hoàng làng
Phạm Hải Yến
Page 11
Hình 9: thờ Thành hoàng làng.
Thành hoàng làng ở Việt Nam chủ yếu theo hệ “phi chính thống”. Đây là dòng
chủ thẻ chủ yếu phản ánh bản chất tư duy tôn giáo tín ngưỡng của Việt Nam, hệ thống
này được “cấy” ồ ạt vào hệ thống làng Việt thế kỉ XV, do nhu cầu tăng cương sức mạnh
của vương quyền và thần quyền địa phương . Thành hoàng được thờ là vì thường có công
với làng đó. Tuy nhiên một số làng còn thờ những người lý lịch không rõ ràng như trẻ
con, ăn xin, ăn mày, trộm cắp... nhưng họ chết vào “giờ thiêng”.
3.3 Thờ Mẫu.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng
ngoại lai từ Đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẹ: mẹ Tổ quốc, mẹ Việt Nam anh
hùng, mẹ quê hương làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho
con người, giới tính hóa mang khuôn hình của người Mẹ gửi gắm những ước vọng giải
thoát cho mình khỏi những thành kiến, ràng buộc bởi Nho giáo phong kiến. Đạo Mẫu đã
theo chân người Việt đi cư vào phương Nam trong quá trình Nam tiến. Tín ngưỡng thờ
Mẫu của người Việt đã giao thoa, tiếp biến với các tục thờ Mẫu người Chăm, Khơ Me,
người Lào, từ đó có các dạng thức thờ hác nhau giữa các địa phương trong tín ngưỡng
Thờ Mẫu ở ba miền Bắc bộ, Trung bộ và Nam bộ.
Hình 10: Điện thờ Mẫu Liễu Hạnh
Phạm Hải Yến
Hình 11: Điện thờ Tam phủ Tứ phủ
Page 12
Hình 12: Bàn thờ Mẫu Thượng ngàn
Hình 13: Tháp Bà Po Nagar Nha Trang
Nhắc tới tín ngưỡng thờ Mẫu, không thể không nhắc tới nghi lễ Trầu Văn, mới
đây được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
Theo nhiều nguồn tài liệu tham khảo, tín ngưỡng này được hình thành và phát
triển trên nền thờ Nữ thần và Mẫu thần bản địa, sau khi tiếp thu những ảnh hưởng Đạo
giáo Trung Hoa để đạt đến đỉnh cao là đạo thờ Mẫu Tam phủ Tứ phủ. Tới thế kỷ XVII –
XVIII, khi mẫu Tam phủ Tứ phủ được hình thành và phát triển thì nó lại Tam phủ, Tứ
phủ hóa tục thờ Nữ thần, Mẫu thần.
Ở Bắc bộ, thời phong kiến một số nữ thần đã được cung đình hóa và lịch sử hóa
như những danh xưng: Quốc Mẫu, Vương Mẫu, Thánh Mẫu như hiện tượng thờ Âu Cơ,
Quốc Mẫu Tây Thiên, mẹ Thánh Gióng, Tứ vị Thánh nương,...từ sau thế kỷ XV trở đi,
hình thức thờ mẫu Tam phủ, Tứ phủ được phát triển mạnh, xuất hiện các nhân vật như
Thánh Mẫu Liễn Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Cô Đôi Thượng Ngàn,... với các nghi thức
ảnh hưởng từ Đạo Giáo
Ở Trung bộ, dạng thức tiêu biểu thường thấy là ở Nam Trung Bộ. Nơi đây, không
có sự hiện diện của Mẫu Tam phủ, tứ phủ mà chỉ có hình thức thờ Nữ thần và Mẫu thần.
Hình thức thờ Nữ thần như thờ Tứ vị Thánh nương, bà ngũ hành; hình thức thờ Thánh
Mẫu như thờ Thiên Y A Na, Po Nagar.
Ở Nam Bộ, sự phân biệt Nữ thần và Mẫu thần ít rõ rệt hơn. Do Nam Bộ là vùng
đất mới của người Việt, khi di cư vào đây họ mang các truyền thống tín ngưỡng cũ lại
vừa tiếp nhận giao lưu ảnh hưởng của cư dân sinh sống từ trước tạo nên sự đa dạng trong
Phạm Hải Yến
Page 13
tín ngưỡng. Những Nữ thần được thờ phụng trong Nam bộ như Bà Ngũ Hành, Bà Thủy
Long, Bà Tổ Cô và những Mâu thần được thờ phụng như Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Bà Thiên
Hậu,...
Ở Hà Nội, có những di tích thờ Mẫu tiêu biểu như Phủ Tây Hồ, đền Bà Kiệu, đền
Dầm,...
IV. Một số vấn đề về tín ngưỡng, tôn giáo trong xã hội Việt Nam ngày nay và đề
xuất giải pháp:
Người Việt ta là một cộng đồng có nét văn hóa tín ngưỡng phong phú và độc đáo.
Bổn phận là một công dân, dù theo tôn giáo nào, bản thân mỗi người nên giữ gìn, tiếp nối
và phát huy bản sắc văn hóa ấy. Đó không chỉ thể hiện lòng yêu nước, mà còn thể hiện sự
trân trọng nền văn hóa dân tộc, những gì ông cha ta đã gây dựng và để lại.
Tuy vậy, trong xã hội Việt Nam hiện đại, xuất hiện những giáo phái mà nhà nước
cấm truyền giáo gọi đó là Tà đạo. Ta hiểu tà đạo là một giáo phái phản văn hóa, phi đạo
đức. Họ lợi dụng những thuyết không có cơ sở như: ngyaf tận thế. Những giáo phái này
hoạt động vì lợi ích giáo chủ (những người cốt cán) yêu cầu tín đồ đóng hội phí giá cao,
bán kinh sách. Giáo lý những đạo này mê muội, cuồng tín, chà đạp lên nhân phẩm con
người. Điển hình như năm 2018, cách đây hai năm, xuất hiện một hiện tượng là Hội
Thánh Đức Chúa Trời ở Việt Nam. Đạo này đã khuyên và kêu gọi tín đồ đập bỏ bàn thờ,
thậm chí, sinh viên bỏ học để theo đạo, không ăn đồ thắp hương ở nhà, đập bỏ bàn thờ,...
Có gia đình vợ vừa sinh con, bỏ gia đình, bỏ con cho chồng để đi nghe thuyết giáo và
hành đạo. Vụ việc ở xã Ngọc Sơn, Tứ Kỳ, Hải Dương: cậu con trai đang học lớp 12,
nhưng bỏ học, trốn tiết bỏ nhà ra đi biền biệt để đi theo “Đức Chúa trời” (theo nguồn từ
VTC 14). Từ khi xuất hiện hiện tượng này đã làm dư luận hoang mang, nhiều luồng ý
kiến từ mạng xã hội và nhiều bài đăng tin giả mạo làm mất trật tự an toàn xã hội. Mỗi
người thêm thắt một ít về thứ “nước màu đỏ” mà những người trong đạo này cho tín đồ
của họ uống.
Điểm chung của Tà đạo là đều làm cho con người quên đi nhiệm vụ, bổn phận của
bản thân. Một phần do nhận thức, nhẹ dạ, cả tin và sự tuyên truyền mạnh mẽ từ những
người đứng đầu giáo phái này. Những giáo phái này hoạt động trong bóng tôi, không dám
công khai, chia thành từng tốp, nhóm nhỏ, chứng tỏ mục đích không trong sáng. Khi
những người cốt cán trong đạo này dụ thêm tín đồ để tham gia, họ sẽ được hưởng phần
trăm hoa hồng. Vậy nên họ rất tích cực và đi truyền đạo bất kể ngày đêm. Một bộ phận
lớn đi truyền đạo này có tiền án hình sự như trộm cắp, sử dụng, buôn bán ma túy, ...
Phạm Hải Yến
Page 14
“Phòng bệnh còn hơn chữa bệnh”. Vậy nên, mỗi cá nhân nên nâng cao nhận thức
bản thân, thật sáng suốt khi theo bất kì một tín ngưỡng, tôn giáo nào để tránh bị lợi dụng,
vi phạm pháp luật; nên phối hợp với cơ quan chức năng, nâng cao ý thức người dân. Nhà
nước nên thiết lập hệ thống luật đầy đủ, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm, bồi
dưỡng, tập huấn cho các cán bộ chính trị, phổ biến cho nhân dân.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tín ngưỡng dân gian:
/>n_Vi%E1%BB%87t_Nam
2. Cơ sở VHVN – THẦY Trần Ngọc Thêm,
3. Cơ sở văn hóa Việt Nam: thầy Trần Quốc Vượng , Tô Ngọc Thanh,...
4. Hội thánh đức Chúa trời:
/>
5. Tín ngưỡng phồn thực:
/>SXfjxT3G-MKEXMLjWs-Z_JSmVWTzzhgoUkt-LCQJqAGcc,
/>6. Tín ngưỡng thờ Mẫu:
youtube.com/watch?v=m7AZlZO5YDY&fbclid=IwAR33cYNCMMX8Z2csQtgToNAEZk2GBj9AYMaewquGmXqDxZ1ewJXUjPV-78
7. Tục thờ Thành Hoàng làng:
/>
8. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên:
/> /> />Phạm Hải Yến
Page 15