Tải bản đầy đủ (.docx) (20 trang)

tieu luan triet hoc phuong tay hien dai

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (102.21 KB, 20 trang )

LỜI NÓI ĐẦU
Trong xã hội những

Khủng hoảng giá trị xuất hiện, hay như

Hegel ưa thích nói, “buổi hoàng hôn bắt đầu”, Nietzsche thì diễn tả là “Ngày
tàn của châu Âu”, Husserl thì nói rõ hơn “Khủng hoảng của loài người”. Bản
thân họ không thể tự mình luận giải thực trạng ấy và tìm ra lối thoát ra khỏi
thực trạng ấy. Triết học xuất hiện như “cứu cánh”, như “đấng cứu thế”. Bắt
đầu từ thời cận hiện đại, toàn bộ loài người ở phương Tây hào hứng bước vào
và sống trong kỷ nguyên khải hoàn của lý tính khoa học cùng với những
chuẩn mực tương ứng được triết học duy lý tạo dựng và luận chứng. Có cảm
tưởng là con người đã đạt được tất cả mọi mong ước của mình, trở thành chủ
nhân của thế giới, có được một cuộc sống thật sự dư thừa của cải vật chất,
được giải phóng khỏi mọi lực lượng đã từng nô dịch họ. Song, họ lại phải đối
mặt với một sự thực phũ phàng là “lý tính kiêu ngạo vô cùng nguy hiểm”, lối
suy nghĩ và hành động duy lý cực đoan đem lại nhiều hệ quả tai hại, triệt tiêu
những gì cao quý nhất, mà chính là tự do và trách nhiệm của con người. Triết
học hiện sinh là một trào lưu triết học dành những suy tư của mình cho chính
vấn đề cốt tử này của loài người phương Tây hiện đại.
Chủ nghĩa hiện sinh là một trong những trào lưu triết học nổi tiếng ở thế
kỷ XX. Chủ nghĩa hiện sinh không chỉ đem đế một luồng gió mới trong tư tưởng
và phương thức tư duy của nhân loại mà nó còn để lại dấu ấn sâu sắc trong đời
sống xã hội văn hoá phương Tây hiện đại. Với sự nở rộ và phát triển mạnh mẽ, chủ
nghĩa hiện sinh không chỉ dừng lại ở các học thuyết triết học mà còn trở thành một
lối sống hiện sinh phát triển rất mạnh ở phương Tây, đặc biệt ở Đức, Pháp.

1


Không chỉ là một trào lưu triết học mang tính thuần nhất mà nó đầy


phức tạp phong phú: có bao nhiêu nhà hiện sinh có bấy nhiêu chủ nghĩa hiện sinh.
Có thể nói, trong các nhà hiện sinh, Jean-Paul Satre là triết gia nổi bật, người đã
tạo ra tiếng vang lớn, tư tưởng của ông có sức ảnh hưởng mạnh mẽ tới phong trào
hiện sinh trên thế giới. Tư tưởng tồn tại hiện sinh – tồn tại tự do là vấn đề nổi bật
trong tư tưởng của ông, hơn nữa triết gia hiện sinh chủ nghĩa lừng danh này còn
được xem là đại diện của người “Trí thức phái tả phương Tây” với tất cả ý nghĩa
chân thực và lương thiện của cụm từ này. Thật vậy, với ông: “Nhà văn buộc phải
đứng về phe đông đảo nhất, phe của hai tỷ người nghèo đói…nếu không, y chỉ là
người làm mướn cho giai cấp tư sản và cũng bóc lột như giai cấp này”. Phải nói
ông không chỉ hạn định nhiệt huyết của mình cho hai tỷ người nghèo khổ mà cho
tất cả con người nói chung – “Con người động vật bị nạn”.

2


NỘI DUNG
1. Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh
1.1.

Chủ nghĩa hiện sinh là gì?
Chủ nghĩa hiện sinh là một trong những trào lưu tư tưởng triết học

phương tây hiện đại xem con người là một bản thể độc đáo, có một không hai, có
khả năng tự quyết định số phận của mình. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời vào giữa hai
cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và chiến tranh thế giới thứ hai và kéo dài đến
cuối những năm 60 của thế kỷ XX. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời góp phần vào sự
phát triển của triết học phương tây hiện đại và hệ tư tưởng của chủ nghĩa tư sản. Tư
tưởng hiện sinh không chỉ ảnh hưởng đến đời sống tinh thần ở châu âu nơi nó ra
đời mà còn có tầm ảnh hưởng trên cả thể giới, không chỉ lúc no ra đời mà còn tận
tới ngày nay.

1.2.

Nguồn gốc ra đời chủ nghĩa hiện sinh

1.2.1. Nguồn gốc kinh tế - chính trị - xã hội
Chủ nghĩa hiện sinh phản ánh bức tranh hiện thực về sự khủng hoảng tột
độ của chủ nghĩa tư bản chuyển vào giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, là sự phản ứng
tiêu cực của giới trí thức tư sản đối với sự tha hoá xã hội và mặt trái của khoa học
kỹ thuật.
Kinh tế-xã hội:
Đây là giai đoạn mà kinh tế tư bản phát triển đến giai đoạn phồn thịnh nhất,
nền sản xuất tư bản được áp dụng những thành tựu của khoa học kỷ thuật nên tạo ra
năng suất cao hơn như C.Mác nói “phương thức sản xuất tư bản đã tạo ra lượng của
cải nhiều gấp mấy làn các phương thức sản xuất trước đã tạo ra”. Nhưng lượng của
cải này không phải là lượng của cải của toàn xã hội mà tập trung trong tay cảu giai
3


cấp tư sản giai cấp thống trị xã hội. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động chính
là những người tạo ra nguồn của cải khổng lồ của chủ nghĩa tư bản nhưng chính họ
lại là những người suống dưới mức nghèo khổ chiếm phần lớn của xã hội còn giai
cấp tư sản chỉ chiếm một số lượng rất í nhưng lại chiếm phần lớn của cải xã hội,
không những thế giai cấp công nhân vào những người lao động họ không biết sẽ bị
đẩy ra ngoài đường lúc nào không biết, nguy cơ thất nghiệp là rất lớn.
Mọi người trong xã hội đặt ra câu hỏi răng khoa học kỷ thuật phát triển tạo
ra một lượng cuẩ cải khổng lồ những nền kinh tế tư bản lại không mang lại cho mọi
người cuộc sống ấm no, mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động vẫn sống cuộc
sống nghèo khổ sống trong những khu nhà ổ chuột. Họ đang sống trong nền kinh tế
tư bản đầy bất công sự giàu có thì có thừa nhưng sao họ không được hưởng thụ và
đó cũng là những công sức mà họ làm ra.

Kinh tế phát triển nhưng kế quả của sự phát triển đó là chiến tranh xảy ra
liên miên chỉ chưa đầy 1/4 thế kỷ mà đã có hai cuộc chiến tranh xảy ra trên phạm vi
thế giới. Chiến tranh đẩy nhân dân vào vòng lầm than, khổ ải. Những cuộc chiến nãy
xảy ra không một chút chính nghĩa nào chỉ là để chứng tỏ “xem ai là kẻ đi ăn cướp
được nhiều nhất” kẻ nào thể hiện được bản chất ăn cướp của mình nhất.Vì chiến
tranh mà đã làm cho tất cả mọi thứ ở trên đời này không con dù chỉ là một chút
nghĩa lý nào cả, tất cả đều vô nghĩa, con người mất đi niềm tin vào cuộc sống. Đây
chính là một chủ đề mà được các tác phẩm văn chương hay triết học trong giai đoạn
này đều mô tả và đề cập đến. Qua các tác phẩm này mỗi mỗi tác gia đều trở thành
những nhà hiện sinh, họ đều muốn tìm vào một nơi nào đó để chia sẻ sự chán
chường về cuộc sống thực tại đầy đau khổ, không lối thoát, mọi thứ trên đời trở nên
phi lý buồn bã, sự đảo lộn của xã hội, nhân sinh quan về cuộc sống của con người
trong giai đoạn này, và những tác phẩm đó họ muốn lối thoát, họ muốn chứng minh
sự tồn tại của họ với xã hội.
4


Chính trị:
Trong xã hội tư bản quyền lực chính trị tập trung trong tay của giai cấp tư
sản, những tài phiệt tư bản đã biến quyền lực chính trị trong tay mình như những trò
hề, là con rối.Các nhà tư sản có tiền thì đồng nghĩa với việc có quyền lực,và các
đảng phái tư sản thay nhau cầm quyền thống trị giai cấp công nhân và nhân dân lao
động.Giai cấp tư sản thực hiện các quyền lực chính trị chỉ để nhằm mục đích có lợi
cho giai cấp tư sản chữ không quan tâm đến lợi ích của các giai tầng khác trong xã
hội.
1.2.2. Nguồn gốc lý luận
Chủ nghĩa hiện sinh đã mượn ở Kierkegaard khái niệm “hiện sinh” ; quan
niệm về “tư duy hiện sinh” và sự đối lập của nó với tư duy khoa học. Theo quan
niệm này, không phải tư duy khoa học mà chỉ có tư duy hiện sinh mới có thể nhận
thức được và thâm nhập được và thế giới nội tâm của con người và tồn tại con người

với tư cách là hiện sinh.
Chủ nghĩa hiện sinh đã mượn một số yếu tố trong triết học đời sống, chẳng
hạn mượn ở Dilthey phương pháp chú giải học như một phương pháp đặc biệt khác
với các phương pháp khoa học, các phương pháp logic để nhận thức được cái tinh
thần hay “mượn” ở Nitzsche thái độ hạ thấp coi thường khoa học và tư duy khoa học
trong việc nhận thức đời sống bất tận với tư cách là một hiện thực đặc biệt, hay
“mượn ở Bergson với thuyết trực giác, bằng tình cảm, so với nhận thức bằng trí tuệ
lý tính và khoa học. Chủ nghĩa hiện sinh còn đi xa hơn triết học đời sống. Nếu triết
học đời sống coi tư duy khoa học là thô thiển, nhưng vẫn là phương tiện để thích
nghi với cuộc sống, thì trái lại chủ nghĩa hiện sinh khẳng định sự bất lực của nó
trong việc giải quyết vẫn đề tồn tại của con người.
5


Chủ nghĩa hiện sinh đã sử dụng phương pháp hiện tượng học của Husserl,
phương pháp hướng vào việc nhìn thấu một cách trực tiếp bản chất của sự vật trong
quá trình trải nghiệm sự vật đó sau các giai đoạn quy giảm hiện tượng học và quy
giảm tiên nghiệm trên cơ sở phân tích ý hướng tính. Chủ nghĩa hiện sinh đã bản thể
luận hóa hiện tượng học của husserl hay hiện tượng học hóa bản thể luận của
kierkegaard, cố gắng qua đó tìm ra được cấu trúc tiên nghiệm của tồn tại con người
Kierkegaard xem xét tồn tại con người, hiện sinh như một đối tượng triết
học, ông xác định cấu trúc hiện sinh với khái niệm “sợ hãi”, “sự tuyệt vọng” và “tính
cương quyết”. Theo Kierkegaard, chỉ có tư duy hiện sinh, chữ không phải là lý tính,
tư duy khoa học có khả năng tiếp cận nhận thức thế giới nội tâm của con người và
thâm nhập được vào tồn tại con người với tư cách hiện sinh, bởi vì tư duy khoa học
chỉ xuất phát từ sự quan tâm thuần túy, trừu tượng và vô tình, còn tư duy hiện sinh
liên quan đến những tình cảm khởi thủy nhất của con người và đời sống nội tâm của
con người. Chủ nghĩa hiện sinh sau này đã tiếp nhận ở kierkegaard luận điểm này.
Do vậy kierkegaard đã thực sự trở thành cha đẻ của chủ nghĩa hiện sinh nói chung.
Triết học đời sống là một xu hướng triết học phi lý ở Đức và Pháp từ nửa

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, cố gắng làm sáng tỏ các vẫn đề về ý nghĩa, mục tiêu
và giá trị của cuộc sống. Triết học đời sống, xem xét mọi tồn tại như là biểu hiện của
cuộc sống, biểu hiện của một khởi nguyên nào đó không đồng nhất với cả vật chất
lẫn tinh thần và hiện thực đó có thể là nhận thức được nhờ trực giác.
Triết học đời sống có thể xem là một cố gắng khắc phục những hạn chế của
duy vật máy móc đó từ lập trường của chủ nghĩa duy tâm, từ quan điểm của chủ
nghĩa phi duy lý, chủ nghĩa hư vô, chủ nghĩa bài khoa học. Như vậy, triết học đời
sống bênh vực tình cảm, bản năng chống lại lý trí, trí tuệ, bênh vực trực giác chống
lại khái niệm, bênh vực cái sáng tạo chống lại cái máy móc.

6


Có hai nhóm chủ yếu trong triết học đời sống : Nhóm thứ nhất gồm có các
đại diện tiêu biểu chủ yếu như A.Schopenhauer (1788-1860), F.Nitzsche(18441900).W.Dilthey(1833-1911). Nhóm này xem cuộc sống như là ý chí, cảm tính bên
trong, như là trò chơi phi lý của các thế lực tinh thần. Nhóm này chống lại việc xem
xét các hiện tượng tinh thần, ý thức từ quan điểm của khoa học tự nhiên. Nhóm thứ
hai với đại diện là Bergson (1859-1941) xem xét cuộc sống dưới góc độ sinh học
cho toàn bộ hiện thực. Đưa ra thuyết trực tính, khoa học. Chủ nghĩa hiện sinh đã tiếp
nhận ít nhiều các yếu tố này ở các đại biểu khác nhau của triết học đời sống.
Về mặt nhận thức, chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng đối với chủ nghĩa duy
lý với các hình thái khác nhau của nó như tư tưởng khai sáng châu Âu và tư tưởng
triết học cổ điển Đức. Theo các nhà tư tưởng hiện sinh, đặc trưng cơ bản của tư duy
duy lý là ở chõ nó xuất phát giữa chủ thể và khách thể, chia thế giới thành hai lĩnh
vực là khách quan và chủ quan. Kết quả là, đối với nhà duy lý, toàn bộ thế giới hiện
thực, kể cả con người chỉ được xem như một đối tương hay bản chất nào đó của nền
khoa học và triết học khách quan. Sự tồn tại đặc thù của con người như một nhân
cách tư do đã không hề được chú ý đến. Nguồn nhận thức của tư tưởng hiện sinh
chính là sự khủng hoảng của nền khoa học, sự bất lực của nó đối với về ý nghĩa của
con người.

Một xu hướng cho rằng khoa học vai trò vạn năng của khoa học, khoa học
có thể giải quyết tất cả các vẫn đề về nhân sinh, rằng vũ trụ không có gì là huyền
nhiệm, với sự phát triển của khoa học kỷ thuật thì nhất định con người có thể thỏa
mãn tất cả các nhu cầu về tinh thần và vật chất. Tuy nhiên sự phát triển của khoa học
kỷ thuật không đồng nhất với sự phát triển của xã hội. Lý trí khoa học đã không cải
thiện được nhân sinh. Khoa học bị rơi vào cuộc khủng hoảng nền tảng sâu sắc. Cuộc
khủng hoảng này gắn liền với cuộc khủng hoảng trong vật lý và sự ra đời của thuyết
tương đối của Anxtanh. Khoa học còn tỏ ra bất lực trước vẫn đề tồn tại của con
7


người, trước cảm giác sợ hãi, chán chường và bế tắc, bất lực của con người. Đặc biệt
khoa học và lý tính bị tố cáo là sai lầm, vì đã xem con người là một hiện tương vật lý
thuần túy, không thấy được vị trí đặc biệt của con người. Yếu tố này đã đặt cơ sở cho
tư tưởng hiện sinh- chủ nghĩa hiện sinh ra đời, xu hướng nghiên cứu tồn tại đặc biệt
của con người, vẫn đề tự do, vẫn đề ý nghĩa sự tồn tại của con người, giải đáp các
vẫn đề ý nghĩa tồn tại của con người, giải đáp các vẫn đề khủng hoảng xã hội v.v…
Vì vậy, sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh đã có sưc hấp dẫn kỳ lạ đối với
các tầng lớp trí thức trẻ, nhất là giới sinh viên, vì nó đánh trúng tâm tư nguyện vọng
của họ muốn lý giải và thay đổi số phận của mình, không muốn tiếp tục tha hóa khỏi
bản chất của mình trong một thế giới buồn chán và phi lý, phá bỏ mọi quy tác trật tự
của xã hội tư bản chủ nghĩa, để đặt được tự do tuyệt đối cho cá nhân, đặt được bản
săc cá nhân độc đáo của mình.
1.3. Những đặc điểm chính của chủ nghĩa hiện sinh
Xuất phát điểm của chủ nghĩa hiện sinh là hiện sinh với tư cách là hạt nhân
của cái tôi, của tồn tại con người. Để tiếp cận đến được tính độc đáo, tính không lặp
lại bản sắc riêng của hiện sinh, của đời sống, của đời sống nội tâm của cái tôi cá
nhân theo chủ nghĩa hiện sinh, không thể dựa vào khoa học, vào sự phân tích lý tính.
Việc nhận thức bản thân mình với tư cách là hiện sinh ở con người chỉ có thể trong
những tình huống đặc biệt nhất của cuộc đời, tình huống giới hạn, chẳng hạn như

thời điểm con người bị hấp hối. phương pháp thâm nhập vào thế giới của hiện sinh
chính là trực giác hay linh cảm, là thông hiểu. Ở chủ nghĩa hiện sinh có thể nhận
thấy sự kế thừa phương pháp hiện tượng học cảu husserl được lý giải theo hướng phi
duy lý.
Chống lại phương pháp tư duy duy lý, chủ nghĩa hiện sinh đưa ra phương
pháp và hình thức thể hiện độc đáo. Các nhà tư tưởng hiện sinh thường có xu hướng
trình bày các tư tưởng của mình chủ yếu thông qua các phương pháp, các loại hình
8


nghệ thuật, thơ, kịch, nhật ký v.v..., chứ không phải không phải ở dang lý thuyết hệ
thống thế nên các nhà nghiên cứu hiện sinh cho rằng có bao nhiêu nhà hiện sinh thì
có bấy nhiêu nhà chủ nghĩa hiện sinh. Nhờ đó, mà tư tưởng hiện sinh dễ đi vào lòng
người, đễ phổ cập trong lòng xã hội, và sức lan tỏa rộng lớn. Vì thế mà mặc dù cũng
là các luân điểm triết học nhưng chủ nghĩa hiện không khô khan như các tư tương
triết học khác.
Chống lại quan điểm coi con người chỉ là những đồ vật hay phương tiện nào
đó, chủ nghĩa hiện sinh cho rằng với tính cách là một phương thức sống hay thái độ
sống độc đáo ở con người là cái có trước bản chất, hơn nữa, còn sinh ra bản chất, có
thể tạo cho mình bản chất nào đó. Theo các nhà hiện sinh, khác biệt căn bản của con
người với các sự vật các sinh vật khác được xác định trước là ở điểm này : nếu só
phận và bản chất trong quá trình tồn tại của mình.Nói khác đi, nếu ở các sự vật hay
sinh vật, bản chất có trước tồn tại, thì ở con người sáng tao ra bản thân,bản chất của
mình một cách tự do, chẳng hạn người ta tự do tạo cho mình một bản chất là một kẻ
hèn nhát hay bản chất một người anh hùng. Theo tư tưởng hiện sinh, chính mỗi cong
người chữ không phải do hoàn cảnh lịch sử xã hội quyết định bản chất của mình. Số
phận con người nằm trong tay mình và do chính mình quyết định bản chất của mình
thông qua các dự án của cá nhân, các thiết kế, các chương trình hành động cho cuộc
đời mình. Để nâng cao tính chủ quan tuyệt đối và bản sắc độc đáo của con người cá
nhân, tư tưởng hiện sinh lên tiếng chống lại kiểu con người đại chúng, con người

không có bản sắc riêng, con người bị tha hóa khỏi cuộc sống đích thực của mình.
Trong tư tưởng hiện sinh, vấn đề tự do có vị trí đặc biệt. Với tính cách là sự
lựa chọn một trong vô số các khả năng, tự do năng lực đặc biệt chỉ có ở con người,
một đặc trưng phân biệt con người với các đồ vật và sinh vật khác.Nhấn mạnh tính
siêu việt của con người, đòi hỏi luôn vượt lên chinh mình để đạt được tự do của bản
thân, tư tưởng hiện sinh đòi hỏi tự do tuyệt đối cho mỗi cá nhân, thoát khỏi mọi sự
9


ràng buộc của quy tắc và trật tự xã hội. Tự do tuyệt đối là cái cao nhất của con
người. Tư do gắn liền với hiện sinh, với trách nhiệm về những gì mà bản thân đã
chọn và thực hiện. Con người không thể biện minh cho sai lầm của mình bằng hoàn
cảnh. Tự do không thể giải thích bằng lý trí.
Tư tưởng hiện sinh dương như xuất phát từ cái nhìn bi quan về thân phận
của co người. Con người được xem là con vật bị bỏ rơi, bị ruồng rẫy, bị ném vào
trong thế giới một cách bơ vơ, cô đơn với nỗi kinh hoàng khủng khiếp, để rồi lặng lẽ
đi vào cái chết hay sống tuyệt vong, vì không lý giải được về sự tồn tại của mình
trong cuộc sống này được coi là vô nghĩa và phải tự lo liêu về số phận của minh, sự
khủng hoảng về cuộc sống. Điều này ta có thể nhận thấy rất rõ những bài hát của
Trịnh Công Sơn đầy rẫy những tâm lý tuyệt vọng về cuộc sống một cuộc sống lặng
lẽ rồi “cát bụi trở về với cát bụi”.
Tư tưởng hiện sinh không thừa nhận sự tách rời giữa chủ thể và khách thể.
Con người không tách biệt với thế giới, mà gắn liền với thế giới riêng của mình. Đó
là quan hệ lưỡng hợp của chủ thể và khách thể, trong đó đối tượng bị quy định bởi
tình ý hướng của chủ thể, của ý thức và ý thức bao giờ cũng là ý thức về đối tượng.

2. Chủ nghĩa hiện sinh của Jean-Paul Satre
2.1.

Cuộc đời và sự nghiệp của Jean-Paul Satre

Jean-Paul Sartre (21/06/1905 - 15/4/1980) là một trong những nhà triết học

nổi tiếng nhất của thế kỷ XX. Ông đã tưng đoạt giải Nobel văn hoc năm 1964, là
nhà văn nhà triết học người Pháp. Jean-Paul Sartre được trao giải vì sự nghiệp sáng
tác chứa đựng những ý tưởng phong phú, tinh thần tự do xuyên suốt, những kiếm
tìm chân lí không mệt mỏi có ảnh hưởng to lớn đến thời đại chúng ta.

10


Bên cạnh đó ông còn là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị - xã hội.
Công trình triết học chính của ông, Tồn tại và hư vô, đã trở thành thánh kinh với
lớp trẻ trí thức Pháp. Trọng tâm triết lí của ông trong toàn bộ sáng tác là con người
tự do đánh giá ý nghĩa cuộc đời mình, tự chịu trách nhiệm về những hành động của
mình. Jean-Paul Sartre là con một kĩ sư hàng hải, bố mất khi cậu bé mới một tuổi,
mẹ đưa về ở với ông bà ngoại ở ngoại ô Paris. Năm 1911, ông ngoại thành lập học
viện Ngôn ngữ Hiện đại, đưa J. P. Sartre về Paris, mời gia sư về dạy, nhưng năm
1917 mẹ lấy chồng khác và đưa con về miền Nam nước Pháp. Từ năm 1924 1929, J. P. Sartre học tại trường Sư phạm, trở thành giáo sư triết học tại Le Havre
năm 1931. Trong thời gian này ông làm quen với Simon de Beauvoir, một nhà văn
lớn sau này trở thành học trò và bạn đời của ông. Năm 1932, ông theo học triết học
của Edmund Husserl và Martin Heidegger. Sau khi tiếp tục dạy ở Le Havre và ở
Lyon, J. P. Sartre dạy ở trường trung học Pasteur ở Paris trong thời gian từ năm
1937 - 1939.
Cuối những năm 30 J. P. Sartre bắt đầu viết những tác phẩm lớn của đời
mình, trong đó có Buồn nôn (1938), Bức tường (1938), những cuốn sách tiêu biểu
cho dòng văn học phi lí đã giúp J. P. Sartre trở thành một trong những nhà văn hóa
lớn nhất của nước Pháp thời kì này. Trong Thế chiến II, do mắt kém, ông không
nhập ngũ nhưng vẫn tham gia kháng chiến, bị bắt làm tù binh, sau đó bị nhốt vào
trại tập trung. Năm 1941, J. P. Sartre trở về Paris tiếp tục dạy học, viết văn, làm
quen với A. Camus. Sau khi Thế chiến II kết thúc, ông thôi dạy học và chuyên tâm

vào sáng tác văn học.
J. P. Sartre là một trong số các nhà văn coi quan điểm triết học là trung
tâm của hoạt động sáng tạo. Tác phẩm triết học chính Tồn tại và hư vô (1943) là sự
tổng hợp quan điểm chính của ông về cuộc sống. Chủ nghĩa nhân đạo hiện sinh mà
11


ông truyền bá trong tiểu luận nổi tiếng Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân
đạo cũng được thể hiện rõ trong tiểu thuyết Những con đường của tự do (1945 1949). Từ giữa những năm 1940, ông nghiên cứu chủ nghĩa Marx, thành lập tạp
chí Thời mới (Les temps modernes), tuyên truyền các ý tưởng cách mạng, hoạt
động xã hội.
Năm 1964 J. P. Sartre được Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải
Nobel nhưng ông từ chối nhận giải vì không muốn mình biến thành một thiết chế
xã hội ảnh hưởng đến công việc hoạt động chính trị cấp tiến. J. P. Sartre nhiệt tình
ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Algeria, Trung Quốc, Cuba,
cùng với B. Russell thành lập ủy ban chống tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
Những năm cuối đời J. P. Sartre bị mù, không viết được nhưng vẫn trả lời vô số
phỏng vấn, thảo luận các vấn đề chính trị với bạn bè. Ông cũng được biết đến
nhiều với tư cách một nhà viết kịch phi lí. Ông nổi tiếng với các vở
kịch Ruồi và Kín cửa. Ngoài ra, J. P. Sartre còn viết phê bình văn học và các bài
nghiên cứu về Baudelaire (1947), Jean Genet (1952). Cuốn sách viết về thời niên
thiếu của ông, Lời nói, được xuất bản năm 1964.
* Một số tác phẩm của ông:
Đề cương lí thuyết tình cảm (Esquisse d’une théorie des émotions, 1939), khảo cứu
[Outline of a theory of the emotions].
Cái tưởng tượng (L’Imaginaire, 1940), nghiên cứu tâm lí [Psychology of
imagination].
Buồn nôn (La nausée, 1938), tiểu thuyết [Nausea].
Bức tường (Le mur, 1938), truyện [Intimacy].
12



Tồn tại và hư vô (L’Etre et le néant, 1943), tác phẩm triết học [Being and
nothingness].
Ruồi (Les mouches, 1943), kịch [The flies].
Kín cửa (Huis clos, 1944), kịch.
Con đĩ biết lễ nghĩa (La putain respectueuse, 1946), kịch.
Chết không mai táng (Mort sans sépulture, 1947), tập kịch ngắn.
Chủ nghĩa hiện sinh là chủ nghĩa nhân đạo (L’Existentialisme est un humanisme,
1946), tiểu luận [Existentialism is a humanism].
Sự đã rồi (Les jeux sont faits, 1947).
Guồng máy (L’engrenage, 1948).
Những bàn tay bẩn (Les mains sales, 1948), kịch.
Những con đường của tự do (Les chemins de la liberté, 1945 - 1949), tiểu thuyết
[The roads to freedom].
Phê phán lí trí biện chứng (La Critique de la raison dialectique, 1960), khảo luận.
Những người bị cầm tù ở Altona (Les sequestres d’Altona, 1960), kịch.
Lời nói (Les mots, 1964), hồi kí [The words].

13


2.2.

Tư tưởng hiện sinh của Jean Paul Satre về tồn tại hiện sinh – tồn tại
tự do

Triết học Sartre nhấn mạnh: Hiện sinh là tôi đang sống đây, bất kể người ta
nói gì chăng nữa, thì việc tôi hiện hữu “như thế này” là một thực tế; do vậy, điều
tôi quan tâm trước hết là tôi đang tồn tại, đang sống theo đúng nghĩa “hiện sinh”

chứ không phải là chỉ “hiện hữu” như tảng đá, cái cây hoặc những loài cầm thú.
Những quan niệm trên đã được nhà hiện sinh chủ nghĩa Lavelle (La – ven) minh
xác rất hay “Tôi cảm thụ vậy thì tôi tồn tại ”. Câu nói này của ông rõ ràng, sâu sắc
hơn câu “Tôi tư duy vậy thì tôi tồn tại” của Descartes (Đề – các); bởi lẽ cảm thụ cụ
thể hơn tư duy, đúng như nhà văn Balzac (Ban – Dắc) cũng từng nói “Sự sống của
con người được đo bằng cảm thụ sống, chứ không phải bằng thời gian sống”. Tuy
nhiên với Kirkegard tồn tại cũng đồng nghĩa với lo âu, do đó “tôi lo âu vậy thì tôi
tồn tại”. Còn đối với A. Camus là lòng phẫn nộ “Tôi phẫn nộ vậy thì tôi tồn tại”
mỗi người một vẻ. Song có thể nói, những triết gia đó đã nói về ‘hiện sinh’ rõ hơn
Sartre nhiều, còn như việc Sartre nổi tiếng hơn, tiêu biểu hơn, thời thượng hơn….
vì ông đã nêu lên một cách hăng hái nhất về tính thực tế đầu tiên của “tôi đang
sống đây” , bằng định nghĩa “Chủ nghĩa hiện sinh chủ trương nơi con người và chỉ
nơi con người, nó khẳng định hiện sinh có trước bản chất”. Bằng định nghĩa trên ,
ông tự xem mình như một nhà vô địch về chủ nghĩa nhân văn, đã dành cho thực
tiễn nhân sinh tất cả trái tim khối óc của mình. Nói như Simone De Beauvoir (Si –
Mon - Đơ - Bô - Voa) “Chỗ nổi bật của Sartre là toàn tâm toàn lực chú trọng đến
thực tại". Phải nói Sartre chú trọng đến thực tại, không chỉ có nghĩa ông quan sát,
theo dõi hay phân tích để hiểu thực tại, mà theo nghĩa bao trùm tất cả ;đó là “hành
động”: Không có ai và không có cái gì tạo ra con người, ngoại trừ chính hành động
của họ. Do đó “Con người là một dự tính của chính mình và tự tạo ra mình, chính
14


việc làm mới mặc khải hữu thể”. Có thể xem những lời trên là tuyên ngôn cho
thuyết hiện sinh hành động của Sartre.
Jean Paul Satre cho rằng con người từ khi sinh ra đã bị quẳng vào những
hoàn cảnh không do họ tạo ra. Những cái đó có ảnh hưởng tới con người ở mức đọ
nhất định. Nhưng xu hướng tồn tại người là luôn vượt khỏi chính mình, vượt khỏi
những rằng buộc về hoàn cảnh để bộc lộ-thể hiện sự tồn tại của mình.
Xét dưới góc độ bản thể luận, quan niệm của ông về tồn tại người có hai

dạng: một là, tồn tại như những sự vật khác , hai là tồn tại được tạo nên bởi ý thức.
Vậy theo Jean Paul Satre, tự do là gì? Tự do bao gồm nhiều nghĩa, ví dụ như có thể
hiểu là giải phóng về chính trị hay các quyền về kinh tế. Nó cũng ám chỉ sự xoá bỏ
của những đe doạ hay can thiệp từ những người khác. Ông bàn nhiều về vấn đề tự
do, trong đó tư tưởng chủ đạo của ông là mỗi cá nhân có thể kiểm soát những
quyết định và hành vi của họ, tức là đời sống cá nhân của riêng họ. Ông phản đối
quyết định luận, tức là quan niệm cho rằng những quyết định và hành vi của con
người bị chi phối, quy định bởi quá khứ cá nhân và những quy luật tự nhiên. Theo
ông, không gì quyết định được cách tôi hành động.
Cần phân biệt tự do tiêu cực/ bị động và tự do tích cực / chủ động. Tự do mà
chủ nghĩa quyết định luận theo đuổi là tự do bị động/tiêu cực – tự do thoát khỏi
những rằng buộc, lệ thuộc. Tuy nhiên, tự do cần được hiểu ở cấp đọ cao hơn, tự do
chủ động/ tích cực - tự do, tự chủ hướng tới những mục tiêu của mình. Tự do theo
ông là tự do tuyệt đối, không giới hạn. Đó là quan niệm tuyệt đối hoá tự do. Tuy
nhiên, chúng ta thấy rằng cuộc sống hình như không vận hành theo cách đó. Hiện
nay, hầu hết những người theo chủ nghĩa tự do chỉ chấp nhận một tự do “ có giới
hạn ” và “trung hoà” hơn so với quan niệm của ông.
Jean Paul Satre tranh luận về tự do, ông đưa ra hai luận điểm quan trọng để
chứng minh con người là thực thể tự do tuyệt đối. Luận điểm 1 – xuất phát từ kinh
15


nghiệm trực tiếp. Ông cho rằng những sự thực kinh nghiệm cho chúng ta thấy
chúng ta sở hữu tự do, nhưng ông không nghĩ chúng ta biết được điều đó thông qua
sự phản tư vè những ý nghĩ hay tình cảm của mình, ông phủ nhận rằng chúng ta có
thể nhin sâu vào trong bản ngã của mình và tháy được bản ngã của mình thực hiện
những lựa chọn tự do như thế nào. Vì thế ông dựa vào một loại kinh nghiệm khác,
như kinh nghiệm cả xúc, hay nỗi đau đơn tính thần/bất hạnh. Ông cho rằng thông
qua trải nghiệm về nỗi đau đớn tinh thần/ bất hạnh, chúng ta nhận thức được sự tự
do cực độ của mình.

Theo Jean Paul Satre đau đớn tinh thần/bất hạnh khác với sợ hãi. Nỗi sợ hãi
được tạo ra bởi những sự kiện bên ngoài và thường có đối tượng cụ thể. Tôi sợ rắn
hay sợ kẻ điên có sung, nỗi đau đơn tinh thần, tuy nhiên, lại hướng vào chính tôi và
tình huống hành động trong thế giới. Chúng ta cảm thấy đau đớn tinh thần vì chúng
ta không biết mình sẽ làm gì và bởi vì tương lai của chúng ta thực sự rộng mở.
Có thể thấy luận điểm của ông chưa thực sự thuyết phục. Chúng ta có thể
trải nghiệm nỗi đau đớn tinh thần, nhưng nguyên nhân thực sự của nỗi đau đơn đó
có thể là do môi trường hoặc do những quá trình sinh hoá trong não của tôi. Chúng
ta có thể suy tính, cân nhắc một vấn đề, nhưng sự xuất hiện của quyết định luận có
thể phủ nhận những suy tính của tôi là tự do. Ông dường như muốn nói rằng chúng
ta trải nghiệm nỗi đau đớn tinh thần hay chúng ta suy tính, cân nhắc dựa trên
những khẳ năng mở. ông cho rằng chúng ta nhận thức thực sự này một cách trực
tiếp. Tuy nhiên luận điểm của ông đã có ý nghĩa nhất định, ngay cả nếu nó không
chưng minh được về tự do tuyệt đối.
Luận điểm 2 – xuất phát từ ý thức. Jean Paul Satre chứng minh sự tự do của
con người xuất phát từ bản chất của ý thức và bản ngã. Ông cho rằng: thật là vô
vọng khi cố giả vờ tìm ra quy luật của ý thức. Do bản chất đó của ý thức, nên
chúng là tự do. Đối với Jean Paul Satre có ý thức – tức là nhận thức và cảm giác về
16


sự vật – liên quan tới việc giải thích thế giới, thể hiện nó ra đối với bản thân chúng
ta theo một cách nào đó. Như vậy ý thức về sự vật tuỳ thuộc vào mỗi chúng ta, và
điều này quyết định ảnh hưởng cảu sự vật đối với chúng ta. Do đó, chúng ta là tự
do. Nếu chúng ta chứng minh được ý thức về sự vật tuỳ thuộc vào bản thân chúng
ta thì chúng ta là tự do tuyệt đối. Ông phủ nhận mọi kiểu nhân cách cảm xúc khát
vọng động cơ….quy định hành vi chúng ta. Jean Paul Satre cũng lưu ý rằng, chúng
ta đôi khi nghĩ về mình như kẻ không thể tự kiểm soát được, như kẻ bị quyết định
bởi những lực lượng tâm lý nào đó, như một người phải làm như thế này hay như
thế khác…ông gọi đó là niềm tin sai lầm – cố phủ nhận rằng chúng ta tự do bằng

cách đối xử với chính mình không khác gì một sự vật, một hòn đá chẳng hạn. Ông
cho rằng niềm tin sai lầm liên quan tới việc mắc một lỗi sai về nhận thức bản thân,
tức là bám lấy quyết định luận về chính chúng ta và cố tìm ra những kiểu mẫu cho
hành vi tự do của chúng ta và sau đó coi chúng như những nguồn tất yếu của hành
vi. Ông phủ nhận kiểu mẫu này, cái mà người ta hay goi là kiểu nhân cách, có thể
là nguyên nhân của vấn đề.
Jean Paul Satre cũng phủ nhận khi phân loại con người thành con người rụt
rè và con người năng động. Ông cho rằng: “Tôi là những gì tôi hành động” và
“chúng tự mang trong mình ý nghĩa định đoạt”.
Ông quan niệm sự tự do của con người có tác động rất quan trọng tới mọi
mặt cuộc sống của chúng ta. Chúng ta thấy rừng tự do có thể dẫn đến nỗi đau đớn
tinh thần/sự bất hạnh, vì tự do thật là đáng sợ. Chúng ta cũng có thể thấy sự tự do
có thể dẫn chúng ta đến những niềm tin sai lầm hay chính là chấp nhận những cách
sống và quan điểm có thể làm chúng ta từ bỏ sự tự do của mình. Vì vậy chúng ta cố
thu mình vào cái gọi là vị trí xã hội, quá khứ của chúng ta vầ vân vân và giả vờ
rằng chúng ta không là gì ngoài những thứ đó. Làm như vậy tức là chúng ta đang

17


cố tránh một sự thực rẳng sự tự do của chúng ta khiến chúng ta phải có trách nhiệm
với hành vi của mình.
Như vậy, song song với quan niệm về tự do, ông gắn nó với trách nhiệm cá
nhân khi thực hiện hành vi tự do. Đây là một tư tưởng rất sâu sắc về mối quan hệ
giữa tự do và trách nhiệm đạo đức. Đây là điểm tương đồng giữa nhiều nhà triết
học hiện sinh khác nhau.
Tóm lại, tồn tại người theo quan niệm của Jean Paul Satre là tồn tại tự do
tuyệt đối, không bị rằng buộc bởi bất kỳ khuôn khổ nào. Và sự tự do của con người
luôn gắn với nó là trách nhiệm cá nhân sâu sắc. Có thể thấy lập luận của ông về tự
do còn mang tính duy tâm chủ quan sâu sắc, tự do mà ông nói đến có ý nghĩa về

mặt tinh thần nhiều hơn, đồng thời phủ nhận nội dung khách quan của sự phản ánh
của ý thức. Bên cạnh đó, những phân tích của ông về tự do tinh thần, tự do lựa
chọn, về mối quan hệ giữa tự do và trách nhiệm là sâu sắc và rất đáng suy nghĩ.

18


KẾT LUẬN

Jean Paul Satre không chỉ là nhà triết học hiện sinh mà ông còn nhà
soạn kịch, nhà biên kịch, tiểu thuyết gia và là nhà hoạt động chính trị người
Pháp. Ông là một trong những nhân vật nòng cốt trong hệ thống triết học của
chủ nghĩa hiện sinh, và một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong
nền triết học Pháp thế kỷ 20 và chủ nghĩa Mac. Tác phẩm của ông cũng đã ảnh
hưởng đến xã hội học, lý thuyết phê bình, lý thuyết hậu thuộc địa, phê bình văn
học, và vẫn còn tiếp tục ảnh hưởng đến các ngành này. Chủ nghĩa hiện sinh của
Jean Paul Satre khác xa với triết học cổ điển tư sản, song thực chất thế giới quan
duy tâm như nhau, chủ nghĩa hiện sinh thực sự chỉ là biến tướng của chủ nghĩa
duy tâm chủ quan, được đẩy đến khuynh hướng phi lý tính. Chủ nghĩa duy tâm
này khác với chủ nghĩa duy tâm đề cao lý tính trong truyền thống. Nó đào sâu
mặt xúc cảm, những trạng thái tâm lý khác nhau cảu chủ thể trong thời đại diễn
ra những biến cố dồn dập khôn lường. Tuy nhiên, giá tri tư tưởng triết học của
Jean Paul Satre để lại không chỉ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới chủ nghĩa Mác mà
còn ảnh hưởng đến rất nhiều nước trên thế giới.

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Triết học phương tây hiện đại – Khoa Triết học, Hoc viên Báo chí và Tuyên
truyền
2. Phạm Đình Cầu (dịch - 1994), Triết học phương Tây hiện đại - Tập III, Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
3. Nguyễn Tiến Dũng (2006), Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự hiện diện ở Việt
Nam, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Hồ Chí Minh

20



×