Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Tiểu luận Cao học xây dựng Đảng môn Nghiệp vụ công tác tổ chức cán bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (151.3 KB, 18 trang )

1
MỞ ĐẦU
Mỗi một cơ quan, tổ chức khi thành lập đều được xác định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và được quy định mang tính pháp lý. Cơ
quan, tổ chức, đơn vị bước vào hoạt động nghĩa là nó bắt đầu sống trong một
không gian pháp luật và các mối quan hệ rất đa dạng, phong phú và thậm chí
khá phức tạp không chỉ bên trong cơ quan, tổ chức mà còn các mối quan hệ
với các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở bên ngoài.
Để cơ quan, tổ chức, đơn vị hoạt động đúng trong khuôn khổ pháp luật,
thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất thiết cơ quan, tổ chức
đơn vị đó phải có những quy định quy ước bắt buộc phải tuân thủ trong hoạt
động thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và xử sự trước mọi mối quan
hệ để giải quyết công việc.
Các quy định, quy ước, quy chế, nội quy, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo
đức nghề nghiệp điều chỉnh quan hệ xử sự cụ thể bên trong và quan hệ giữa
cơ quan, tổ chức đơn vị, công chức viên chức, nhân viên với nhau và với cơ
quan, tổ chức và công dân gồm: Quy chế hoạt động; Nội quy của cơ quan;
Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức; Quy tắc đạo đức nghề nghiệp…
Xuất phát từ lý do đó, em lựa chọn đề tài “Những nội dung cơ bản về
nghiệp vụ xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức” làm tiểu luận kết thúc
học phần Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ của Đảng, chương trình Cao học
chuyên ngành Xây dựng Đảng và chính quyền nhà nước.


2
NỘI DUNG
1. Một số vấn đề chung về quy chế hoạt động của tổ chức
1.1. Khái niệm quy chế hoạt động của tổ chức
Hoạt động của tổ chức là quá trình thực thi những chức năng, nhiệm vụ
hướng tới mục tiêu của tổ chức. Hoạt động của tổ chức là tổng hợp các quá
trình vận động, tương tác giữa các yếu tố, bộ phận trong cơ cấu tổ chức bộ


máy, giữa các thành viên của tổ chức.
Quy chế là những điều quy định thành chế độ để mọi người thực hiện
trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Quy chế hoạt động của một tổ chức là hệ
thống những điều khoản quy định thành chế độ của tổ chức cũng như những
bộ phận của tổ chức để mọi người tuân theo trong quá trình thực hiện chức
trách và nhiệm vụ của mình. Quy chế gắn liền với tổ chức, dù là tổ chức chính
trị, kinh tế hay văn hoá, xã hội… đều cần có qui chế hoạt động với những qui
định cụ thể để các bộ phận và mọi thành viên của tổ chức tuân theo, tạo nên
sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động của tổ chức.
Trong hệ thống chính trị của nước ta hiện nay, quy chế hoạt động của
một tổ chức (hay còn gọi là quy chế làm việc) là văn bản cụ thể hóa nhiệm vụ,
quyền hạn, chế độ hoạt động, các mối quan hệ công tác trong hoạt động của tổ
chức để mọi người chấp hành, do tổ chức, cơ quan có thẩm quyền xây dựng
và phê duyệt, nhằm tăng cường kỷ luật, nâng cao trách nhiệm và chất lượng
công tác của tổ chức.
Quy chế hoạt động của một tổ chức trong hệ thống chính trị chính là cụ
thể hoá những nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế
hoạt động của tổ chức.
1.2. Vai trò, tác dụng của quy chế hoạt động của tổ chức
Quy chế hoạt động là rất cần thiết đối với tổ chức nói chung và mỗi tổ
chức trong hệ thống chính trị nói riêng. Tầm quan trọng đó xuất phát từ bản


3
chất, quy luật vận động của tổ chức, từ sự phong phú, đa dạng của thực tiễn
hoạt động của tổ chức.
1.2.1. Quy chế hoạt động góp phần hiện thực hoá các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của tổ chức
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống
chính trị, như: nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ

trách, tự phê bình và phê bình… bảo đảm cho Đảng, Nhà nước, các đoàn thể
chính trị - xã hội vừa phát huy vai trò của tổ chức mình vừa bảo đảm sự thống
nhất, kỷ luật nghiêm minh, thường xuyên tự chỉnh đốn, phát triển. Nhưng nội
dung, tác dụng đó của các nguyên tắc đó chỉ trở thành hiện thực khi có các
quy định thành chế độ cụ thể buộc tổ chức và các thành viên phải tuân theo.
Thông thường, các nguyên tắc được ghi nhận ngắn gọn trong các văn bản có
tính pháp lý cao nên khó đi vào thực tiễn hoạt động, nếu không cụ thể hóa
bằng quy chế thì nhiều nguyên tắc không phát huy vai trò trong thực tiễn.
Thực tế cho thấy, nếu không xây dựng và thực hiện tốt quy chế hoạt động thì
các cấp ủy sẽ không rõ chức trách, nhiệm vụ của tập thể và cá nhân, không
thể phân định roc thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu và các thành
viên lãnh đạo trong cấp ủy, cơ quan lãnh đạo của chính quyền, các đoàn thể.
Vì vậy, để thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình, mỗi tổ
chức phải xây dựng và hoạt động theo quy chế.
1.2.2. Quy chế hoạt động là công cụ lãnh đạo, quản lý, là cơ sở bảo đảm
sự thống nhất hành động của các thành viên trong tổ chức
Hoạt động lãnh đạo, quản lý, ngoài những văn bản được Trung ương ban
hành, quy chế hoạt động là một văn bản có tính pháp lý của bản thân tổ chức
với những điều quy định thành chế độ mang tính bắt buộc mọi người phải tuân
theo trong quá trình thực hiện chức trách và nhiệm vụ của mình, quy chế chính
là một công cụ để lãnh đạo, quản lý và điều hành hoạt động của tổ chức.


4
Tổ chức là một tập hợp người với sự đa dạng, phong phú về trình độ, năng
lực, sở trường, thói quen... để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt
được mục tiêu nhất định. Để thực hiện mục đích chung, ngoài yếu tố tự
nguyện, tự giác, quy chế hoạt động nhằm hướng sự đa dạng của từng thành
viên vào mục tiêu chung của tổ chức. Quy chế hoạt động chính là điều kiện
đảm bảo cho các thành viên trong tổ chức thống nhất trong hoạt động thực hiện

nhiệm vụ, chức trách của mình để đạt những mục tiêu đã xác định. Tổ chức
không có quy chế hoạt động thì tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” là
điều khó tránh khỏi. Khi đó tổ chức sẽ không còn là tổ chức, sẽ mất đi sức
mạnh, và do đó không thể thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức.
Sức mạnh của tổ chức được hình thành bởi nhiều yếu tố, như: nguyên tắc
tổ chức, cơ cấu tổ chức, chế độ hoạt động, chất lượng con người, phương tiện
hoạt động… Trong đó, nguyên tắc, chế độ hoạt động bảo đảm cho một bộ
máy vận hành theo một cơ chế hợp lý, hiệu quả là yếu tố quan trọng có tính
quyết định. Có xây dựng được cơ chế hoạt động hợp lý mới phát huy được
sức mạnh, năng lực sáng tạo của mỗi thành viên; mới bảo đảm sự phối kết
hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, tạo nên sức mạnh thống nhất của tổ chức. Vì
vậy, muốn phát huy sức mạnh của tổ chức, phải chăm lo xây dựng và hoàn
thiện quy chế hoạt động của tổ chức, cụ thể hoá, thể chế hoá nguyên tắc, cơ
chế hoạt động cho mọi thành viên cùng thực hiện.
Sức mạnh của tổ chức đảng nằm ở sự thống nhất cả chính trị, tư tưởng và
tổ chức, sự thống nhất cả nhận thức, ý chí và hành động. Xây dựng quy chế
hoạt động của tổ chức đảng là nhân tố bảo đảm cho sự thống nhất của đảng về
cả chính trị, tư tưởng và tổ chức, tạo điều kiện để biến sức mạnh chính trị, tư
tưởng thành sức mạnh vật chất của Đảng.
1.2.3. Quy chế hoạt động là văn bản có tính pháp lý góp phần giải quyết
mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức và giữa các tổ chức trong hệ
thống chính trị


5
Khi tổ chức được thiết lập bao giờ cũng có tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ,
quyền hạn của tổ chức, các bộ phân trong tổ chức và các thành viên của tổ
chức. Để mỗi thành viên, mỗi bộ phận của tổ chức phát huy tốt vai trò của
mình, tổ chức phải xây dựng quy chế hoạt động, quy định cụ thể có tính pháp
lý trách nhiệm, quyền hạn của các thành viên và các bộ phân của tổ chức; cụ

thể hoá mối quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận trong tổ chức và cách
thức giải quyết các mối quan hệ đó cho phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của tổ
chức, nhằm bảo đảm cho các thành viên tự điều chỉnh hành vi của mình, giải
quyết mối quan hệ với các thành viên khác trong tổ chức theo đúng nhiệm vụ,
quyền hạn được giao phó. Quy chế hoạt động không được xây dựng và thực
hiện nghiêm túc sẽ dẫn tới sự lơi lỏng trách nhiệm, không làm đúng thẩm
quyền, dân chủ không được phát huy, kỷ luật lỏng lẻo và do đó chất lượng, hiệu
quả hoạt động của tổ chức sẽ bị suy giảm, thậm chí tan rã tổ chức.
Trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền, Đảng vừa là một bộ phận
của hệ thống chính trị, vừa lãnh đạo hệ thống đó, mối quan hệ giữa Đảng với
Nhà nước và các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị là một vấn đề quan
trọng nhưng nhạy cảm, rất khó phân định rành mạch. Kinh nghiệm thực tiễn
cho thấy, việc xây dựng và thực hiện đúng qui chế làm việc là biện pháp rất
hiệu quả để giải quyết đúng mối quan hệ phức tạp đó, vừa giữ vững được sự
lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy được vai trò trách nhiệm, tính chủ động,
sáng tạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị, giúp ngăn ngừa, khắc phục
cả hiện tượng chồng chéo, “lấn sân”, bao biện làm thay và tình trạng đùn đẩy
trách nhiệm, buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng.
Như vậy, quy chế hoạt động có vai trò, tác dụng nhiều mặt đối với tổ
chức và việc xây dựng cũng như từng bước hoàn thiện quy chế hoạt động là
vấn đề rất cần thiết của các tổ chức Đảng, Nhà nước và các tổ chức thành viên
trong hệ thống chính trị.


6
1.3. Nguyên tắc xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức
1.3.1. Quy chế hoạt động phải xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của tổ
chức và phục vụ việc thực hiện thắng lợi chức năng, nhiệm vụ đó
Việc xây dựng quy chế hoạt động là quá trình cụ thể hóa chức năng,
nhiệm vụ của tổ chức trong điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Vì vậy, xây dựng quy

chế hoạt động phải từ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mà xác định các quy
định, chế độ cho phù hợp hướng cho tổ chức hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ.
Các nội dung trong quy chế hoạt động của tổ chức phải lấy nhiệm vụ của
tổ chức làm căn cứ, bảo đảm cho cả bộ máy, trong quá trình vận hành đều
hướng vào thực hiện nhiệm vụ trung tâm. Quy chế phải đề cao trách nhiệm và
tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành viên của tổ chức phát huy năng lực sáng
tạo trong qúa trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Quy chế hoạt động của tổ chức không phải là khuôn mẫu cố định, bất
biến, mà nó luôn cần được bổ sung, phát triển theo yêu cầu nhiệm vụ và
những điều kiện, hoàn cảnh trong từng giai đoạn cách mạng.
1.3.2. Quy chế hoạt động phải có tính pháp lý, đồng bộ và hệ thống
Quy chế hoạt động là văn bản ghi nhận cả thẩm quyền và trách nhiệm
của tổ chức, các bộ phận và từng thành viên, có tính bắt buộc phải tôn trọng
và chấp hành – đây chính là yêu cầu tính pháp lý của quy chế hoạt động.
Tính pháp lý yêu cầu quy chế hoạt động của tổ chức phải phù hợp với
các qui định của pháp luật, của cấp trên, điều lệ của tổ chức. Quy chế cần
được xây dựng, ban hành theo một quy trình chặt chẽ với thể thức chuẩn.
Tính pháp lý còn đòi hỏi quy chế hoạt động của tổ chức phải do cấp có
thẩm quyền thông qua, trở thành văn bản mang tính pháp lý bắt buộc mọi
thành viên của tổ chức phải tuân theo. Đồng thời, khi phát sinh hành vi sai
phạm, quy chế hoạt động sẽ là căn cứ để xem xét trách nhiệm của những tổ
chức và cá nhân liên quan.


7
Quán triệt tính hệ thống, đồng bộ, qúa trình xây dựng quy chế hoạt động
của một tổ chức phải hướng vào giải đáp những câu hỏi sau: tổ chức mình
đứng ở vị trí nào? làm chức năng, nhiệm vụ gì? để làm tròn chức năng nhiệm
vụ đó phải quan hệ với những cá nhân tổ chức nào? Như vậy, trong xây dựng
quy chế hoạt động, các chủ thể cần nắm chắc quy định của pháp luật, quy

định của Đảng và các tổ chức khác để tránh tính phiến diện hoặc không phù
hợp với quy định riêng của các tổ chức liên quan.
1.3.3. Quy chế hoạt động phải thống nhất tính kỷ cương với tính dân
chủ, sáng tạo
Tổ chức muốn hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình một mặt
phải duy trì nghiêm ngặt kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm tính thống nhất, nghiêm
túc trong mọi hoạt động hướng vào thực hiên các mục tiêu chung của tổ chức,
đồng thời phải phát huy năng lực sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của mỗi thành
viên. Việc coi nhẹ mặt này, đề cao mặt kia đều ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả
hoạt động của tổ chức. Vì vậy, quy chế hoạt động của tổ chức phải bảo đảm sự
kết hợp giữa tính dân chủ, sáng tạo và tính kỷ luật chặt chẽ, nghiêm túc.
Quá trình xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức phải thể hiện rõ chế
độ trách nhiệm của các thành viên, lề lối, nguyên tắc làm việc, nội dung hoạt
động, biện pháp, thời gian thực hiện... để mọi thành viên có nghĩa vụ phải
chấp hành theo chức danh, nhiệm vụ được phân công. Đồng thời, những quy
định mang tính pháp lý đó phải tạo điều kiện thuận lợi để các thành viên phát
huy tính chủ động và năng lực sáng tạo trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Nếu
nội dung quy chế chỉ nhấn mạnh tính kỷ luật, hạn chế tính dân chủ thì không
khơi dậy được tính năng động, sáng tạo trong tổ chức, có thể làm thui chột tài
năng. Ngược lại, nếu chỉ đề cao tính dân chủ sáng tạo, lơi lỏng kỷ cương sẽ
dẫn tới vô chính phủ, không tập trung được sức mạnh và tổ chức không thể
hoàn thành chức năng nhiệm vụ với chất lượng cao.


8
Sự thống nhất của tính kỷ luật với tính dân chủ, sáng tạo phải được thể
hiện trong từng quy định, từng nội dung của tổ chức, từng chức trách của mỗi
thành viên trong tổ chức.
1.3.4. Quy chế hoạt động phải đảm bảo tính khả thi, hiệu quả
Quy chế hoạt động của tổ chức là để cho mọi người đều có thể thực hiện

được nhằm đảm bảo cho tổ chức hoạt động có kết quả tốt nhất, vì vậy quy chế
đó phải có tính khả thi và hiệu quả. Nếu qui chế đề ra những qui định không
cụ thể, không phù hợp với thực tế và thẩm quyền được giao thì quy chế sẽ
không thể đi vào cuộc sống, không có hiệu quả.
Nguyên tắc này đòi hỏi xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức phải
luôn đảm bảo tính khoa học, khả thi, tức là phải xuất phát từ đặc điểm, tình
hình khách quan, chủ quan của tổ chức, nhất là những điều kiện, khả năng
thực tế của tổ chức mà định ra các chế độ, lề lối làm việc cho cụ thể, phù hợp,
nhằm đạt hiệu quả tối ưu, bảo đảm cho tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ
của mình với chất lượng cao nhất trong điều kiện cho phép.
Những nguyên tắc trên tạo thành một chỉnh thể chỉ đạo quá trình xây
dựng và thực hiện quy chế hoạt động của một tổ chức, bảo đảm cho mỗi tổ
chức phát huy vai trò sức mạnh của mình trong thực tiễn. Mọi biểu hiện coi
thường, xem nhẹ hoặc chỉ nhấn mạnh một trong các nguyên tắc đó đều là sai
lầm, ảnh hưởng không tốt đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức.
1.4. Các loại quy chế hoạt động của tổ chức trong hệ thống chính trị
Quy chế hoạt động của tổ chức được quy định bởi chức năng, nhiệm vụ,
đặc điểm của tổ chức đó, tùy thuộc vào cách phân loại có nhiều loại quy chế
hoạt động khác nhau. Có thể xác định ba loại quy chế hoạt động chính như sau:
- Quy chế hoạt động của cơ quan lãnh đạo của tổ chức:
Trong tổ chức đảng có quy chế hoạt động của cấp uỷ, như: quy chế làm
việc của Ban Chấp hành Trung ương, quy chế làm việc của tỉnh uỷ, huyện


9
uỷ… Trong cơ quan lãnh đạo của Nhà nước có quy chế làm việc của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, quy chế làm việc của Chính phủ, quy chế làm việc của
uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện, xã… Đây là loại quy chế hoạt động quan trọng
nhất của một tổ chức. Phần lớn các tổ chức trong hệ thống chính trị xã hội chủ
nghĩa đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ quan

lãnh đạo, chấp hành quyền lực của các tổ chức này giữa hai kỳ đại hội, kỳ bầu
cử, kỳ họp định kỳ, được tổ chức uỷ quyền thực hiện ý chí, mục tiêu, nhiệm
vụ của tổ chức. Vì vậy, hoạt động của các tổ chức phụ thuộc chủ yếu vào chất
lượng hoạt động của các cơ quan lãnh đạo. Trong khi đó, chất lượng hoạt
động của các cơ quan lãnh đạo này lại tuỳ thuộc một phần quyết định ở tính
khoa học, chặt chẽ của quy chế hoạt động và việc duy trì thực hiện quy chế ấy
trong thực tiễn.
- Quy chế của một hoạt động, một nhiệm vụ, một lĩnh vực công tác quan
trọng của tổ chức:
Để triển khia nhiệm vụ của tổ chức, mỗi tổ chức đều có nhiều mặt hoạt
động, nhiều mặt công tác mỗi mặt, mỗi lĩnh vực có những yêu cầu riêng, để
đảm bảo thực hiện tốt, phải có những quy chế riêng cho từng hoạt động, từng
mặt công tác đó. Các tổ chức trong hệ thống chính trị đều có nhiều loại quy
chế này, như: quy chế tiến hành đại hội đảng ở các cấp, quy chế bầu cử, quy
chế xây dựng và thực hiện nghị quyết, quy chế nhận xét, đánh giá cán bộ, quy
chế đề bạt cán bộ, quy chế quản lý đảng viên, hay quy chế thi tuyển công
chức, quy chế bảo mật… Loại quy chế hoạt động này bảo đảm cho một hoạt
động, một nhiệm vụ, một loại công tác được tiến hành thống nhất, đạt hiệu
quả cao, ngăn ngừa sự tuỳ tiện, tiêu cực.
- Quy chế hoạt động của các bộ phận chuyên môn trong một tổ chức:
Phần lớn các tổ chức trong hệ thống chính trị đều có các cơ quan chuyên
môn để phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý của các tổ chức. Trong cơ quan


10
lãnh đạo của Đảng, đoàn thể có các ban tham mưu, trong cơ quan nhà nước
cũng có nhiều cơ quan chuyên môn. Xây dựng quy chế hoạt động của các cơ
quan chuyên môn này nhằm bảo đảm cho các lĩnh vực công tác chuyên môn
của tổ chức được thực hiện có nền nếp, đúng chức năng, nhiệm vụ, đạt chất
lượng cao, phòng tránh sai sót, tiêu cực.

2. Nội dung và quy trình xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức
2.1. Nội dung quy chế hoạt động của tổ chức
Trong hoạt động của tổ chức có nhiều loại quy chế khác nhau, mỗi tổ
chức có thể có nhiều loại quy chế hoạt động. Mỗi loại quy chế có những nội
dung đặc thù.
Trên cơ sở những luận giải trên, tất cả các tổ chức đảng, nhà nước và các
tổ chức khác trong hệ thống chính trị, từ Trung ương đến cơ sở đều cần xây
dựng quy chế hoạt động của tổ chức mình.
Quy chế hoạt động của một tổ chức trong hệ thống chính trị thường bao
gồm các nội dung chính sau:
Một là, xác định trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan lãnh đạo, của các
bộ phận và của các thành viên trong tổ chức. Chẳng hạn, quy chế hoạt động
của ban chấp hành đảng bộ thường xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của
ban chấp hành, ban thường vụ, thường trực cấp uỷ; phạm vi trách nhiệm và
quyền hạn của các uỷ viên ban chấp hành, của bí thư, các phó bí thư, các uỷ
viên thường vụ... hoặc trong quy chế hoạt động của uỷ ban nhân dân thường
quy định rõ: chế độ trách nhiệm phạm vi giải quyết công việc của uỷ ban, chủ
tịch, các phó chủ tịch, uỷ viên ủy ban; chế độ, thẩm quyền ban hành văn bản
của uỷ ban nhân dân, của chủ tịch uỷ ban nhân dân; chế độ tổ chức thực hiện
các nghị quyết, quyết định của uỷ ban nhân dân…
Hai là, xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận, các thành viên trong
tổ chức và với các tổ chức có liên quan.


11
Trong quy chế hoạt động của một cấp uỷ thường xác định mối quan hệ
giữa ban thường vụ với ban chấp hành, giữa thường trực với ban thường vụ
và ban chấp hành; giữa thường vụ, thường trực đảng với hội đồng nhân dân,
uỷ ban nhân dân và thường trực uỷ ban nhân dân và quan hệ giữa ban chấp
hành, ban thường vụ, thường trực đảng với ban chấp hành các đoàn thể nhân

dân... hoặc trong quy chế hoạt động của uỷ ban nhân dân thường xác định rõ
mối quan hệ giữa uỷ ban nhân dân với các ban ngành cấp trên, quan hệ với
thường trực, ban thường vụ cấp uỷ đảng cùng cấp và quan hệ với hội đồng
nhân dân cùng cấp…
Ba là, quy chế hoạt động sẽ quy định về chế độ làm việc, phương pháp
công tác.
Quy chế của cấp uỷ đảng phải quy định cụ thể chế độ hội nghị và ra
nghị quyết của cấp uỷ; chế độ kiểm tra, chế độ thông tin, báo cáo, chế độ tự
phê bình và phê bình; hay chế độ tiếp dân, đi cơ sở... Quy chế làm việc của uỷ
ban nhân dân phải qui định rõ về chương trình công tác, phiên họp của uỷ ban
nhân dân, cách thức giải quyết công việc của chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban,
cách thức tổ chức họp của các cơ quan chuyên môn, thủ tục trình, ban hành
văn bản, chế độ kiểm tra thi hành văn bản, chế độ tiếp khách, đi công tác, chế
độ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tổ chức tiếp dân, công tác thông
tin, báo cáo…
Bốn là, quy chế có thể quy định thẩm quyền, trách nhiệm trong sử dụng,
khai thác cơ sở vật chất, kỹ thuật, các nguồn lực của tổ chức.
Tùy thuộc nhiệm vụ của tổ chức mà nội dung quy chế có thể cụ thể hóa
việc sử dụng, khai thác các nguồn lực như sử dụng, khai thác, cung cấp thông
tin; sử dụng trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác; huy động nguồn
nhân lực từ các bộ phận để thực hiện một nhiệm vụ của tổ chức...
2.2. Quy trình xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức


12
Quy chế hoạt động là văn bản mang tính pháp lý của một tổ chức. Vì
vậy, quá trình xây dựng quy chế hoạt động của tổ chức phải tuân theo một quy
trình chặt chẽ để vừa bảo đảm phát huy dân chủ, kết tinh trí tuệ của tập thể,
của các thành viên của tổ chức, vừa được cơ quan có thẩm quyền xem xét,
thẩm định, phê chuẩn.

Quy trình ban hành quy chế hoạt động của một tổ chức cần tuân thủ theo
các bước sau:
Bước 1: Công tác chuẩn bị
Chuẩn bị xây dựng quy chế làm việc cần tập trung vào ba nội dung:
Chuẩn bị về nhân lực: tùy loại quy chế, cơ quan có thẩm quyền cần xác
định cá nhân, bộ phận nào sẽ giữ vai trò chủ trì xây dựng quy chế, bộ phận
nào tham gia.
Chuẩn bị về nội dung: cần sưu tầm, khảo sát những bản quy chế của tổ
chức đã được ban hành trước đó, các quy định của pháp luật, quy định của
Đảng và các đoàn thể liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; nghiên
cứu, xem xét bản quy chế mẫu (nếu có) của cấp có thẩm quyền ban hành...
Chuẩn bị về điều kiện vật chất: dự kiến những chi phí phát sinh, trang
thiết bị, phương tiện phục vụ cho quá trình xây dựng quy chế để có đề xuất,
xây dựng dự trù kinh phí cho từng công việc.
Bước 2: Soạn văn bản quy chế dự thảo
Khi xây dựng quy chế hoạt động của một tổ chức, trước hết, các tổ chức
cần thành lập ban soạn thảo quy chế dưới sự lãnh đạo trực tiếp của tập thể
lãnh đạo hoặc người lãnh đạo cao nhất của tổ chức. Xây dựng quy chế hoạt
động của ban chấp hành đảng bộ thì ban thường vụ, trực tiếp là thường trực
cấp uỷ cấp ấy chủ trì trực tiếp lãnh đạo ban soạn thảo quy chế dự thảo. Xây
dựng quy chế hoạt động của uỷ ban nhân dân thì thường trực uỷ ban phải trực
tiếp chỉ đạo ban soạn thảo quy chế.


13
Ban xây dựng bản dự thảo quy chế phải gồm những người am hiểu chức
năng, nhiệm vụ của tổ chức, nắm vững Hiến pháp, pháp luật; nắm vững điều
lệ, nguyên tắc tổ chức, hoạt động của tổ chức; có tri thức, kinh nghiệm thực
tiễn ở lĩnh vực quy chế đề cập.
Trước khi soạn thảo, phải xác định rõ phạm vi điều chỉnh của quy chế và

thẩm quyền ban hành. Cần xây dựng các nội dung cụ thể thành các điều
khoản rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện, dễ kiểm tra.
Bản dự thảo quy chế hoạt động phải được tập thể ban chỉ đạo thông qua.
Bước 3: Tổ chức thảo luận quy chế dự thảo, lấy ý kiến đóng góp của
quần chúng, nhất là những đối tượng có liên quan.
Bước này nhằm phát huy dân chủ, tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm của
quần chúng, bảo đảm cho quy chế hoạt động đạt được tính khoa học, đồng bộ,
hệ thống và tính khả thi cao.
Khi tiến hành bước này, bản dự thảo quy chế hoạt động cần được công
bố cho tất cả các thành viên của tổ chức góp ý kiến, đồng thời phải gửi lấy ý
kiến của các đối tượng có liên quan. Ví dụ, dự thảo quy chế làm việc của một
ban chấp hành đảng bộ tỉnh trước hết phải được gửi tới các thành viên ban
chấp hành đảng bộ tỉnh, đồng thời phải lấy ý kiến đóng góp từ các cơ quan
tham mưu của tỉnh ủy.
Đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị lấy tập trung dân chủ là
nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và sinh hoạt thì bước lấy ý kiến đóng góp
rộng rãi này là không thể thiếu được. Thực hiện tốt bước này sẽ tạo nên sự
thống nhất giữa lãnh đạo với các đối tượng bị lãnh đạo, bảo đảm sự thống
nhất giữa ý chí, quyết tâm với điều kiện, khả năng thực tế, giữa định hướng
của lãnh đạo với lòng dân, từ đó sẽ tạo nên sự thống nhất, nghiêm túc, tự giác
cao trong quá trình thực hiện quy chế.
Bước 4: Cơ quan có thẩm quyền thông qua quy chế hoạt động


14
Sau khi thu thập ý kiến của các đối tượng, ban soạn thảo quy chế phải
nghiên cứu, bổ sung, hoàn chỉnh bản dự thảo quy chế trước khi trình cơ quan
có thẩm quyền thông qua.
Quy chế hoạt động của một tổ chức phải được phê duyệt và và ban hành
kèm theo một văn bản quy phạm đúng thẩm quyền. Đây là yếu tố bảo đảm

tính pháp lý của quy chế.
Tuỳ từng tổ chức, từng loại quy chế mà thẩm quyền thông qua và ra
quyết định ban hành quy chế được xác định cụ thể. Có loại quy chế do tập thể
lãnh đạo của tổ chức thông qua và ra quyết định ban hành, có loại phải trình
lên cấp trên trực tiếp ra quyết định ban hành.
Quy chế làm việc của ban chấp hành, ban thường vụ và các cơ quan
chuyên môn thuộc cấp uỷ đảng thì do chính tập thể ban chấp hành thông qua
và bí thư cấp uỷ ký. Quy chế làm việc của uỷ ban nhân dân phải do uỷ ban
nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định ban hành.
Bước 5: Ban hành quy chế
Sau khi có quyết định ban hành, phải tổ chức quán triệt, phổ biến rộng
rãi quy chế hoạt động của tổ chức tới tất cả các thành viên và các đối tượng có
liên quan cũng như báo cáo tới cơ quan cấp trên.gia
Bước 6: Tổ chức thực hiện quy chế
Khi tổ chức thực hiện quy chế, cần có sự kiểm tra, giám sát một cách
chặt chẽ, bảo đảm việc thực hiện quy chế một cách nghiêm túc. Đồng thời có
những điều chỉnh, bổ sung kịp thời cho phù hợp với thực tế.
2.3. Một số vấn đề đặt ra từ việc thực hiện quy chế hoạt động của tổ
chức hiện nay
Từ thực tế của việc xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động của các cơ
quan, tổ chức và nhất là của các cấp ủy đảng trong giai đoạn hiện nay có thể
rút ra một số vấn đề sau:


15
Một là, trong quá trình xây dựng và thực hiện quy chế hoạt động, mỗi tổ
chức phải nhận thức đúng, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của tổ
chức, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá
nhân phụ trách. Đặc biệt ở các cấp ủy cần phân biệt rõ chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của tập thể cấp uỷ và của từng đồng chí ủy viên. Cần phải phân

định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý điều hành của
Nhà nước, phát huy vai trò làm chủ của mặt trận, các đoàn thể chính trị - xã
hội, từ đó mới nâng cao được năng lực, vai trò lãnh đạo của Đảng, tăng cường
sự đoàn kết thống nhất nội bộ.
Hai là, các tổ chức lãnh đạo, quản lý ở cấp trên cần thường xuyên tiến
hành kiểm tra việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế hoạt động của tổ
chức cấp dưới để làm rõ những ưu điểm và kịp thời uốn nắn việc làm chưa
đúng, những thiếu sót, tùy tiện và việc làm vi phạm quy chế, lợi dụng chức
quyền, lợi dụng danh nghĩa tập thể để giải quyết công việc theo động cơ cá
nhân, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.
Ba là, mỗi cán bộ, đảng vên, mỗi thành viên của tổ chức phải nêu cao ý
thức trách nhiệm, vai trò tiền phong, gương mẫu, chấp hành nghiêm chỉnh các
quy định trong quy chế hoạt động của tổ chức. Đặc biệt là người đứng đầu
của các tổ chức, người đứng đầu gương mẫu thì mới làm gương cho các thành
viên trong tổ chức noi theo. Trong các cấp ủy đảng thì bí thư, các phó bí thư,
các ủy viên thường vụ trong giải quyết công việc phải đặt lợi ích chung trên
lợi ích cá nhân, luôn có sự phối hợp chặt chẽ, vận dụng xử lý linh hoạt các
mối quan hệ, khắc phục tư tưởng "quyền tôi, quyền anh”.
Bốn là, trong quá trình xây dựng, nhất là thực hiện quy chế hoạt động
các cơ quan tham mưu giúp việc cần thường xuyên giúp các cơ quan, tổ chức
rà soát phát hiện những điều cần sửa đổi và bổ sung, kịp thời đưa vào quy chế
những nội dung mớị phù hợp và đặc biệt là khi thấy cấp uỷ giải quyết công


16
việc chưa đúng với quy chế cần phải kịp thời góp ý, đề xuất tham mưu để
giúp lãnh đạo chấn chỉnh, sửa chữa không mắc sai lầm. Đối với người đứng
đầu các cơ quan, tổ chức; các đồng chí đảng viên được phân công lãnh đạo
cấp uỷ cần phải biết lắng nghe và xử lý tốt các thông tin để có quyết định
chính xác, đúng đắn.

Năm là, cần có sự thống nhất và quy định rõ về quy trình, thủ tục, cấu
trúc, nội dung, yêu cầu của quy chế để các cơ quan, tổ chức, nhất là các cấp
ủy đảng có cơ sở để rà soát, bổ sung, hoàn thiện. Việc xây dựng quy chế hoạt
động của một tổ chức cần bảo đảm tính khoa học, tính thực tiễn và tính cụ thể,
đây là những yêu cầu rất quan trọng đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, các cấp ủy
đảng cần nghiên cứu kỹ những căn cứ xây dựng quy chế. Đó là các văn bản
pháp luật, thông tư, hướng dẫn của Nhà nước; Điều lệ Đảng, những nguyên
tắc, quy định, hướng dẫn của Trung ương...; đặc điểm của cơ quan, đơn vị,
chức trách của từng thành viên trong tổ chức, từ đó xây dựng dự thảo quy chế.


17
KẾT LUẬN
Quy chế hoạt động của tổ chức là một thể loại văn bản cụ thể hóa, chi
tiết hóa giúp cho mỗi tổ chức xác định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ, chế độ
công tác, các mối quan hệ giữa các bộ phận; xác định rõ hơn thẩm quyền,
trách nhiệm trong hoạt động; làm cơ sở cho sự phối hợp đồng bộ, mối đoàn
kết thống nhất trong tổ chức nhằm mục đích nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động của tổ chức.
Xây dựng và thực hiện tốt quy chế hoạt động của tổ chức là việc làm
quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động
của mỗi một cơ quan, tổ chức, nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo tập thể, phát
huy tốt trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu và giải quyết tốt các mối
quan hệ công tác. Đặc biệt là, mặc dù các cơ quan, tổ chức đã xây dựng được
quy chế hoạt động nhưng trong quá trình thực hiện ở nhiều nơi vẫn chưa
chuẩn, chưa đúng với quy định đề ra, thậm chí còn vi phạm.
Do đó, mỗi cơ quan, tổ chức nói chung và cán bộ, công chức, thành viên
của các tổ chức nói riêng cần có nhận thức đúng, đầy đủ về quy chế hoạt động
của tổ chức. Từ đó, nâng cao tính tích cực, tự giác và chủ động thực hiện
nghiêm túc quy chế hoạt động của tổ chức để góp phần nâng cao hiệu quả

hoạt động của tổ chức./.


18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tài
liệu môn học Nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ của Đảng.
2. PGS. TS Nguyễn Minh Tuấn - PGS. TS Trần Khắc Việt, 350 thuật
ngữ xây dựng Đảng, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2018.
3. Nguyễn Khắc Quyền, Một số vấn đềề̉ về xây dựng và thực hiện quy chế
làm việc của cấp uỷ đảng, Tạp chí điện tử Xây dựng Đảng, du
ngdang.org.vn/Home/To-chuc/2011/3328/Mot-so-van-de-ve-xay-dung-va-thuc
-hien-quy-che.aspx



×