ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV
Độc lập – Tự do – Hạnh
phúc
Khoa Văn học và Ngôn ngữ
********
CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC
Ngành đào tạo: VĂN HỌC
Khối kiến thức: Cơ sở (môn bắt
buộc)
PHẦN
ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG HỌC
TIẾN
TRÌNH
VĂN
HỌC
I. MỤC TIÊU MÔN HỌC :
1.1. Về mặt lý luận, giúp sinh viên nắm vững những
luận điểm và khái niệm then chốt để tìm hiểu tiến
trình văn học như một vấn đề của lý luận văn học.
1.2. Về mặt thực tiễn, giúp sinh viên vận dụng kiến
thức về tiến trình văn học vào việc phân tích, đánh
giá các trào lưu, trường phái, phương pháp; từ đó nắm
được tính quy luật trong sự phát triển của văn học Việt
Nam và thế giới, mối quan hệ giữa truyền thống và
cách tân, tính ổn đònh và tính biến đổi, tính dân tộc và
tính quốc tế thông qua các hiện tượng văn học tiêu
biểu.
II. MÔ TẢ VẮN TẮT HỌC PHẦN:
2.1. Trình bày những luận điểm góp phần soi sáng
vấn đề tiến trình văn học như một phương diện của lý
luận văn học; giải thích nội hàm và ngoại diên của
những khái niệm có liên quan đến việc nghiên cứu
tiến trình văn học: kiểu sáng tác, khuynh hướng, trào
lưu, trường phái, phương pháp nghệ thuật, phong cách,
dòng phong cách.
2.2. Giới thiệu hoàn cảnh ra đời, lòch sử hoạt động,
đặc điểm và thành tựu của những khuynh hướng và
trào lưu văn học chủ yếu trong lòch sử văn học thế giới
và văn học Việt Nam, với những tác gia và tác phẩm
nổi bật.
III. NHỮNG NỘI DUNG CHÍNH:
- Chương 1: Tiến trình văn học – một phạm trù lý
luận:
1.1. Văn học như một hệ thống đang vận động
và phát triển:
Nhìn trên bề mặt, chúng ta thấy đời sống văn học
của dân tộc cũng như của thế giới là một thực thể
rất đa dạng với nhiều hiện tượng, nhiều sự kiện khác
nhau, đối nghòch và mâu thuẫn nhau. Nhưng đi sâu vào
thế giới phức tạp đó, có thể khái quát thành những
hệ thống nhất đònh với những tác gia và tác phẩm có
tính chất đại diện, những khuynh hướng, trào lưu và
trường pháiø, những loại thể và phong cách. Chúng ta
cũng có thể rút ra từ đó những quy luật chi phối sự
vận động của văn học. Khoa nghiên cứu văn học có
nhiệm vụ và có khả năng nghiên cứu phương diện sinh
thành và phát triển đó của văn học.
“Tiến trình văn học” là thuật ngữ lý luận văn học
dùng để chỉ: (1) Đời sống văn học của một đất nước
trong một thời kỳ lòch sử nhất đònh với toàn bộ những
hiện tượng và sự kiện của nó; (2) Sự phát triển theo
bề dày lòch sử của văn học trên quy mô toàn cầu,
toàn thế giới. Tiến trình văn học theo nghóa thứ hai của
thuật ngữ có thể trở thành đối tượng của khoa nghiên
cứu văn học so sánh.
Như vậy là với thuật ngữ “tiến trình văn học”, lý
luận văn học – với tư cách là bộ môn hợp thành của
khoa nghiên cứu văn học – không tách rời với lòch sử
văn học mà gắn liền một cách mật thiết với lòch sử
văn học. Ở đây, những khát quát lý luận văn học là
sự đúc kết từ thực tiễn văn học sinh động, đồng thời
góp phần soi sáng cho những vấn đề của lòch sử văn
học.
Sự sáng tạo và phát triển thuật ngữ “tiến trình
văn học” là một đóng góp quan trọng của các nhà lý
luận văn học ở nước Nga. Trước đây, trong các bộ giáo
trình lý luận văn học, phần này thường được đònh danh
là “Phương pháp sáng tác và trào lưu văn học” hay “Hệ
thống nghệ thuật”. Tuy nhiên khái niệm “phương pháp
sáng tác” hay “phương pháp nghệ thuật” ngày càng tỏ
ra giảm sức thuyết phục; còn khái niệm “hệ thống
nghệ thuật” thì thiên về tính ổn đònh, tónh tại mà ít cho
thấy sự vận động và phát triển của văn học. Trong
các công trình xuất bản gần đây, các nhà lý luận
văn học Nga thống nhất dùng thuật ngữ “tiến trình văn
học” theo nghóa trên đây, xem như học phần quan trọng
kết thúc bộ giáo trình lý luận văn học ở bậc cơ sở
(Xem Khalizev V.: Teorija literatury (Lý luận văn học), Vyshaja
Shkola, Moskva, 1999; Borev Yu. (chủ biên): Teorija literatury.
Literaturnyj protsess (Lý luận văn học. Tiến trình văn học).
IMLI RAN, “Nasledie”, Moskva, 2001).
Tiến trình văn học là một bộ phận hữu cơ trong sự
phát triển nghệ thuật của nhân loại. Sự vận động của
tiến trình văn học được hình thành do ảnh hưởng và tác
động của xã hội, nhưng nó cũng có những quy luật
nội tại của nó. Sự tác động của những nhân tố ngoại
tại và nội tại này làm hình thành nên tiến trình văn
học.
Tất cả đều vận động và thay đổi trong thế giới,
cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần. Bản
thân thế giới cũng không ngừng vận động và thay
đổi, các hiện tượng của nó cũng không ngừng biến
hoá. Thế giới là một tiến trình mà sự vận động và
phát triển lòch sử của văn hoá là một bộ phận của
tiến trình đó, và đến lượt mình, tiến trình văn học là
một bộ phận trong sự vận động và phát triển của
văn hoá.
Quan niệm văn học như một hệ thống đang vận động
và phát triển cho phép chúng ta hình dung trung thực và
đầy đủ về toàn cảnh sự phát triển văn hoá tinh thần
của nhân loại và tạo điều kiện giúp chúng ta hiểu biết
sâu sắc hơn bản chất của văn học cũng như giải thích
các tác phẩm nghệ thuật một cách thuyết phục hơn.
1.2. Truyền thống và cách tân trong tiến trình
văn học. Quy luật kế thừa và đổi mới của văn
học:
Sự vận động và phát triển của văn học bao giờ
cũng đặt nền tảng trên sự kết hợp những yếu tố ổn
đònh và biến đổi, truyền thống và cách tân. Từng
hiện tượng văn học cụ thể (khuynh hướng, trào lưu,
trường phái, tác phẩm…) có thể thiên về yếu tố này
hay yếu tố kia, nhưng cả một nền văn học, một tiến
trình văn học thì cần đến cả hai.
Truyền thống văn học có thể được tạo thành từ:
- Hình tượng và tư tưởng văn học (hình tượng con người,
tư tưởng yêu nước và nhân đạo); những chủ đề vónh
cửu (tình yêu, lòng chung thuỷ, đức hy sinh, sự phản bội,
hy vọng và tuyệt vọng, cái chết…); những vấn đề triết
lý-đạo đức (thiện và ác, chân lý và cái đẹp…).
- Những mẫu mực sáng tác: những giá trò văn học
đã trở thành kinh điển, những “mẫu gốc” (archétype),
những kinh nghiệm sáng tác có ý nghóa vượt thời gian…
- Những thể loại văn học đã đònh hình, điển cố, ngôn
ngữ dân tộc…
M. Bakhtin viết: “Xét về thực chất, thể loại văn học
phản ánh những khuynh hướng lâu dài và hết sức
bền vững trong sự phát triển văn học. Ở thể loại bao
giờ cũng bảo lưu những yếu tố cổ sơ bất tử. Thật ra,
cái cổ sơ này được bảo lưu ở thể loại chỉ nhờ vào sự
đổi mới thường xuyên, có thể nói là nhờ được hiện
đại hoá. Thể loại bao giờ cũng vừa là nó, vừa không
phải là nó, nó bao giờ cũng đồng thời vừa cũ kỹ
vừa mới mẻ. Thể loại được tái sinh, được đổi mới qua
từng giai đoạn phát triển văn học và qua từng tác
phẩm cá biệt của thể loại này. Đấy là sự sống của
thể loại. Bởi vậy cái cổ sơ còn được bảo lưu ở thể loại
không phải là cái cổ sơ chết cứng, mà là cái cổ sơ
vónh viễn sống động, tức là cái cổ sơ có năng lực đổi
mới. Thể loại sống bằng hiện tại, nhưng luôn luôn nhớ
đến quá khứ của mình, khởi nguyên của mình. Thể loại
là kẻ đại diện của ký ức sáng tạo trong quá trình phát
triển của văn học. Chính vì vậy thể loại có năng lực
đảm bảo tính thống nhất và tính liên tục của sự phát
triển ấy”. (M. Bakhtin: Những vấn đề thi pháp Dostoievski,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 1993. tr. 101).
Cách tân văn học không phải từ hư vô mà xuất
phát từ truyền thống, nhằm bổ sung, cải biến hay làm
mới truyền thống. Có cách tân về nội dung và cách
tân về hình thức. Văn học nói riêng, văn hoá nói
chung, là chuyện trăm năm chứ không phải là chuyện
ngày một ngày hai trước mắt. Truyền thống là sự có
mặt của quá khứ trong hiện tại và tương lai. Còn cách
tân là mầm mống của tương lai trong hiện tại, nó tác
động đến cả cách nhìn và tiếp thu của con người đương
đại với quá khứ.
Quy luật kế thừa và đổi mới luôn luôn hành chức
trong quá trình vận động và phát triển của văn học.
Không thể kế thừa đích thực nếu không đồng thời tiến
hành đổi mới; cũng không thể đổi mới thành công
nếu xem nhẹ, thậm chí phủ nhận sự kế thừa. Không có
quỹ thừa kế thì tiến trình văn học không thể phát triển
được, sự đổi mới cũng không thể triển khai được. Kinh
nghiệm cho thấy mọi sự phủ đònh “sạch trơn”, không tính
đến sự kế thừa, sẽ dẫn đến thất bại. Những phủ đònh,
nếu có, cũng là nhằm hướng đến sự chuẩn bò để
sáng tạo những giá trò mới. Trái lại, không có đổi mới,
thì truyền thống chỉ là một thứ vốn cố đònh bò đóng
băng, đông cứng. Trên tinh thần biện chứng, đó là
chuỗi mắt xích: Đề (Thèse) – Phản đề (Anti-thèse) – Hợp
đề (Synthèse).
1.3. Vấn đề phân kỳ lòch sử tiến trình văn học:
Nghiên cứu tiến trình văn học từ góc độ lý luận là
nghiên cứu một cách lý thuyết, dưới hình thức khái
quát, nhưng không tách rời với tư liệu cụ thể của lòch
sử văn học, với những sự kiện tiêu biểu trong sự phát
triển của nó. Ở đây, cần phải chú ý đến sự phân
kỳ tiến trình văn học, tức là chia tiến trình văn học ra
thành những thời kỳ của nó, và trong mỗi thời kỳ
phải xem xét các khuynh hướng văn học cũng như sự
tác động, ảnh hưởng, tranh chấp của chúng đối với
nhau. Những nguyên tắc và các yếu tố hợp thành của
sự phân kỳ lòch sử này có ý nghóa quan trọng, nó cần
được miêu tả khái quát và làm sáng tỏ những đặc
điểm khu biệt của từng thời kỳ nhất đònh.
Theo Averintsev, lòch sử văn học thế giới có thể được
chia thành ba thời kỳ lớn:
- Thời kỳ cổ xưa (từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất
trước Công nguyên trở về trước): Đây là thời kỳ thời
kỳ của tư duy thần thoại, con người hiệp nhất với tự
nhiên, nghệ thuật gắn liền với truyền thống văn hóa
dân gian. Văn học miêu tả thế giới đònh mệnh của con
người như là một phần của tự nhiên. Nghệ thuật đồng
nhất với ma thuật và thần thoại. Con người chưa phân
biệt nghệ thuật với hiện thực, còn đồng nhất sự miêu
tả với bản thân đối tượng được miêu tả. Thời kỳ này,
con người chưa có phản ứng đối với nghệ thuật ngôn
từ, do đó, chưa có lý luận, phê bình văn học, chưa có
cương lónh, tuyên ngôn về sáng tạo nghệ thuật.
- Thời kỳ truyền thống (từ giữa thiên niên kỷ thứ
nhất trước Công nguyên đến giữa thế kỷ XVIII): Đây là
thời kỳ đề cao những giá trò truyền thống trong ý thức
nghệ thuật, trong việc xây dựng và phát triển các thể
loại, phong cách. Thời kỳ này gồm thời cổ đại (con
người tìm hiểu tự nhiên), thời trung đại (con người hiệp
thông với Thượng đế) và thời Phục hưng (con người khôi
phục những giá trò trong văn hoá Hy-La cổ đại và khẳng
đònh giá trò của chính mình).
Hai thời kỳ trên có đặc điểm chung là tính phổ biến
của văn học gắn liền với việc thực hiện các chức
năng ngoài nghệ thuật như chức năng nghi lễ và thờ
cúng về tôn giáo, thông tin và lao động; sáng tác văn
học truyền khẩu kết hợp với văn học viết.
- Thời kỳ cận đại và hiện đại (từ giữa thế kỷ XVIII
đến nay): Đây là thời kỳ mà ý thức nghệ thuật gắn
liền với sáng tạo cá nhân, với vai trò thi pháp của tác
giả. Văn học viết giữ vai trò áp đảo so với văn học
truyền khẩu.
Trong văn học Việt Nam cũng có thể nói đến ba thời
kỳ lớn:
- Thời kỳ văn học truyền khẩu (trước thế kỷ X ):
Đây là thời kỳ văn học dân gian giữ vai trò tuyệt đối,
văn học viết chưa xuất hiện.
- Thời kỳ cổ điển (từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ
XIX): Đây là thời kỳ văn học viết ra đời, từng bước hình
thành các gía trò truyền thống. Văn tự là chữ Hán, rồi
thêm sự ra đời của chữ Nôm. Văn học dân gian vẫn
phát triển và lưu hành bằng con đường truyền khẩu.
- Thời kỳ cận đại và hiện đại (từ đầu thế kỷ XX
đến nay): Chữ quốc ngữ la-tinh hoá ra đời, bắt đầu tiến
trình hiện đại hoá văn học. Giao lưu văn học với thế giới
từng bước được mở rộng. Lý luận, phê bình văn học
dần dần khẳng đònh vai trò của mình trong đời sống
văn học.
1.4. Sự thay đổi cấu trúc tiến trình văn học trong
các thời kỳ chuyển tiếp:
Các thời kỳ văn học kế tiếp nhau vừa có sự liên
tục, tiếp nối, vừa có sự gián đoạn, đứt quãng. Nhưng
giữa chúng không có một ranh giới tuyệt đối, dứt
khoát. Trong mỗi thời kỳ đều có dấu vết của thời kỳ
trước, cũng như cái chồi, cái nụ tiên báo và chuẩn bò
cho thời kỳ sau. Sự chuẩn bò này thường là một quá
trình lâu dài, tạo thành một quãng đệm giữa hai thời
kỳ lớn, có thể được gọi là thời kỳ chuyển tiếp.
Trong văn học phương Tây, văn học Phục hưng là thời
kỳ chuyển tiếp giữa văn học trung đại và văn học cậnhiện đại. Đó cũng là sự chuyển tiếp giữa văn học bò
chi phối bởi ý thức hệ phong kiến và văn học bò chi
phối bởi ý thức hệ tư sản. Nhưng trước khi bản thân
thời Phục hưng xuất hiện cũng đã có một quá trình
chuẩn bò, nghóa là một thời kỳ chuyển tiếp nhất đònh.
Không phải ngẫu nhiên mà trong Thần khúc của Dante
và trong trơ trữ tình của Petrarca có sự đan xen, chuyển
hoá của những yếu tố thần linh và những yếu tố
nhân văn.
Trong văn học Việt Nam, ba thập niên đầu thế kỷ
XX có thể được xem là thời kỳ chuyển tiếp giữa văn
học cổ điển và văn học hiện đại. Sáng tác của Tản
Đà, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Lê
Hoằng Mưu…; khảo cứu của Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn
Vónh, Phan Kế Bính… là sự chuẩn bò tinh thần cho sự nở
rộ của văn học trên quỹ đạo hiện đại hoá sau 1930.
Thậm chí, có thể tính sự chuẩn bò này xa hơn, với
Nguyễn Trọng Quản, Trương Vónh Ký, Huỳnh Tònh Của vào
cuối thế kỷ XIX.
Do tính chất quá độ như vậy mà các thời kỳ
chuyển tiếp luôn chứng kiến sự thay đổi trong cấu trúc
của tiến trình văn học. Trước hết, đó là sự thay đổi
trong cấu trúc của tư duy nghệ thuật. Kế đó là sự thay
đổi trong hệ thống các khuynh hướng văn học. Và sau
nữa là sự thay đổi trong cấu trúc các thể loại. Ngoài ra,
còn có thể nói đến sự thay đổi trong cấu trúc các thế
hệ nhà văn và cấu trúc các loại hình người đọc.
Một thí dụ gần đây nhất trong văn học Việt Nam có
thể chứng minh cho sự thay đổi ấy là thời kỳ chuyển
tiếp từ văn học chiến tranh sang văn học đổi mới. Sau
1975, tư duy sử thi tuy vẫn còn giữ vai trò nhất đònh trong
đới sống văn học, nhưng không còn vò trí độc tôn mà
dần dần nhường chỗ cho tư duy thế sự và đời tư. Khuynh
hướng hiện thực xã hội chủ nghóa vẫn được tiếp nối
trong sáng tác của nhiều nhà văn, nhưng đồng thời có
sự tái sinh của các khuynh hướng lãng mạn và hiện
thực phê phán và sự manh nha của một số khuynh
hướng hiện đại chủ nghóa. Về mặt thể loại, vào những
năm 80 các thể loại văn học sự kiện bộc phát khá
mạnh mẽ, thu hút sự chú ý của người đọc.
1.5. Quan điểm lòch sử như một nguyên tắc
nghiên cứu tiến trình văn học:
Việc nghiên cứu tiến trình văn học luôn luôn yêu
cầu phải kiên trì quan điểm lòch sử: những hiện tượng
văn học cần được xem xét và đánh giá gắn liền với
bối cảnh lòch sử xã hội và lòch sử văn hoá khi nó ra
đời và phát triển. Nếu tách hiện tượng ra khỏi hoàn
cảnh và tình thế của nó, chúng ta dễ rơi vào quan
điểm phi lòch sử.
D. Likhatchev viết: “Nguyên tắc lòch sử trong nghiên
cứu tác phẩm văn học thể hiện ở chỗ tác phẩm
phải được xem xét (1) trong sự vận động riêng của nó;
(2) trong mối liên hệ với sự phát triển của tác giả, như
một nhân tố của tiểu sử sáng tạo; (3) với tư cách
một sự biểu hiện của lòch sử văn học đang vận động,
một hiện tượng trong sự phát triển văn học ở một thời
kỳ nhất đònh”.
Các thời kỳ của tiến trình văn học dân tộc thường
được xem như phụ thuộc váo các thời kỳ của lòch sử
nhân loại. Tuy nhiên, cần phải chú ý một cách thích
đáng đến những đặc điểm khu vực và dân tộc, nhất
là đối với tiến trình văn học ở các nước phương Đông.
Nhà nghiên cứu văn học theo chủ nghóa lòch sử luôn
luôn có ý thức khắc phục cách nhìn “dó u vi trung”
(lấy châu u làm trung tâm, Eurocentrisme), vốn để lại
những hệ l không nhỏ trong việc làm biến dạng bức
tranh văn học của các dân tộc Á-Phi.
1.6. Tính cộng đồng loại hình trong sự phát triển
của văn học:
Mỗi nhà văn tài năng là một cá tính sáng tạo,
một phong cách độc đáo. Mỗi tác phẩm có giá trò là
một hiện tượng độc đáo không lặp lại. Tuy nhiên, yêu
cầu của nhận thức khoa học đòi hỏi người nghiên cứu
phân loại những hiện tượng văn học và sắp xếp nó
theo một số loại hình nhất đònh, căn cứ trên những tiêu
chí nhất quán. Cơ sở lý luận của việc phân loại này là
mối liên hệ nội tại, những khuynh hướng, đặc điểm và
yếu tố chung tạo nên tính cộng đồng loại hình của từng
nhóm hiện tượng riêng lẻ. Ở đây, cái chung, cái phổ
quát luôn được đặt trong mối tương quan với cái riêng,
cái cá biệt. Nói cách khác, tính cộng đồng loại hình là
cái chung, cái giống nhau được khảo sát trong mối quan
hệ nội tại với cái riêng, cái dò biệt.
Khi nghiên cứu một khuynh hướng văn học, ta cần
chú ý những đặc điểm có ý nghóa loại hình học, đồng
thời những yếu tố mang nội dung lòch sử-cụ thể. Trong
mỗi khuynh hướng lại có thể phân ra thành những loại
hình nhỏ hơn.
Chẳng hạn, chủ nghóa hiện thực Nga nửa đầu thế
kỷ XIX có thể chia thành hai trào lưu chủ yếu:
- Trào lưu tâm lý, còn gọi là trường phái Pushkin,
gồm các nhà văn Lermontov, Turghenev, Ghersen,
Gontsarov… Trào lưu này có những tìm tòi trong phân tích
tâm lý cá nhân gắn liền với việc thể hiện nội dung
xã hội, đặc biệt qua việc khắc hoạ hình tượng con người
thừa.
- Trào lưu xã hội, còn gọi là trường phái Gogol, với
các tên tuổi như Nekrasov, Tchernyshevski, Santykov-Sedrin,
Pomialovski, Uspenski… Trào lưu này tập trung miêu tả tình
cảnh cùng khốn của nhân dân; nêu bật nhu cầu của
nhân dân và dân tộc trong thế xung đột với chế độ
xã hội đang tồn tại.
Còn chủ nghóa hiện thực Nga nửa sau thế kỷ XIX thì
thường được chia thành ba loại hình:
- Chủ nghóa hiện thực tâm lý-sử thi mà đỉnh cao là
L. Tolstoi, có sự kết hợp hài hoà giữa cách phân tích
tâm lý theo biện chứng pháp tâm hồn với lối tự sự sử
thi ở quy mô rộng lớn.
- Chủ nghóa hiện thực tâm lý-triết học mà đỉnh cao
là F. Dostoievski, miêu tả tính bi kòch, trong đó có bi kòch
tha hoá, của hiện sinh con người trong sự đan kết của
những yếu tố xã hội, yếu tố tâm lý và yếu tố triết
học.
- Chủ nghóa hiện thực tâm lý-đời thường mà đỉnh
cao là A. Tchekhov, với sự phân tích tâm lý sắc sảo và
tinh tế những hiện tượng của cuộc sống thường ngày.
Chủ nghóa hiện thực trong văn học Việt Nam những
năm 1930-1945 cũng có thể chia ra thành ba loại hình:
- Chủ nghóa hiện thực tâm lý với Nam Cao, Thạch Lam.
- Chủ nghóa hiện thực phong hoá với Ngô Tất Tố,
Trần Tiêu.
- Chủ nghóa hiện thực trào phúng với Nguyễn Công
Hoan, Vũ Trọng Phụng.
Phương pháp so sánh loại hình giúp ta khám phá mối
liên hệ giữa các nền văn học khác nhau, khám phá
những ảnh hưởng và những tác động qua lại giữa các
nền văn học ấy; đồng thời phát hiện những nét đặc
thù của nền văn học một dân tộc.
1.7. Sự tiến bộ trong văn học:
Bàn về vấn đề có hay không có sự tiến bộ trong
văn học, hiện nay có hai quan điểm khác nhau: (1) Phủ
nhận sự tiến bộ trong văn học và (2) Khẳng đònh sự
tiến bộ trong văn học.
Những người theo quan điểm thứ nhất cho rằng chỉ
có thể nói đến sự tiến bộ trong khoa học, kỹ thuật và
công nghệ, vì ở đây có sự thừa kế mà tiến lên, cái
sau hiện đại, tinh xảo, tiện dụng hơn cái trước. Còn
nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng, lúc nào cũng
ở một “trình độ” như nhau, vì người nghệ só sáng tạo
bằng nội tâm mình, mà nội tâm thì lúc nào cũng bất
biến. Ngày nay ai có thể nói mình viết hay hơn Nguyễn
Du, hay hơn Dostoievski?
Những người theo quan điểm thứ hai thì tin rằng có sự
tiến bộ trong văn học và nghệ thuật, tuy rằng tiến bộ
không có nghóa là tác phẩm sau bao giờ cũng hay hơn
tác phẩm trước. Sự tiến bộ trong văn học có thể được
nhận thấy qua các phương diện sau đây:
- Tư duy nghệ thuật ngày càng đa dạng hơn, sâu sắc
hơn.
- Thể loại văn học: có thể loại phát triển mạnh mẽ,
có thể loại mới ra đời.
- Các phương tiện biểu đạt và thủ pháp nghệ thuật
ngày càng hoàn thiện.
- Sự thụ hưởng văn học của người đọc thời đại sau
phong phú hơn thời đại trước.
- Nghiên cứu lý luận và phê bình văn học thế kỷ XX
phát triển hơn các thế kỷ trước, từ đó sự khám phá
ý nghóa của tác phẩm văn học trở nên sâu sắc hơn.
Sự tiến bộ trong văn học có thể diễn ra dưới hình thái
tiệm tiến, từng bước hay nhảy vọt, đột biến. Và tất
nhiên cũng có những giai đoạn nhất đònh, trong một
nền văn học nào đó, có thể có những bước thụt lùi
hay chững lại. Văn học cũng như một dòng sông, có
những đoạn thác ghềnh, có những khúc ngoặt. Nhưng
cuối cùng dòng sông bao giờ cũng mang phù sa ra biển.
- Chương 2 : Những khái niệm liên quan đến tiến
trình văn học:
2.1. Phương thức sáng tác (Kiểu sáng tác):
Khái niệm ‘phương thức sáng tác” hay “kiểu sáng
tác” dùng để khái quát hoá một loạt đặc điểm trong
sáng tạo nghệ thuật vốn không chòu sự quy đònh trực
tiếp của hoàn cảnh lòch sử-cụ thể và của lập trường,
quan điểm nhà văn. Đó là những nét chung khiến ta có
thể xếp nhiều khuynh hướng, trào lưu, trường phái, tác
gia, tác phẩm… vào cùng một trong hai kiểu sáng tác:
tái hiện hay tái tạo, hiện thực hay lãng mạn, khách quan
hay chủ quan. Đó là hai cách thức, hai khả năng, hai
thiên hướng phổ biến trong việc tiếp cận đời sống và
xây dựng hình tượng. Kiểu thứ nhất thiên về quan sát,
phản ánh thực tế và những biện pháp tả thực; kiểu
thứ hai thiên về chiêm nghiệm, biểu hiện nội tâm và
những biện pháp ước lệ, tượng trưng.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng giữa hai kiểu sáng tác này
không có ranh giới tuyệt đối mà chúng tác động qua
lại và quan hệ mật thiết với nhau, thậm chí có trường
hợp cùng một nhà văn hay cùng một tác phẩm có sự
hiện diện của cả hai phương thức nói trên.
2.2. Khuynh hướng văn học:
Khuynh hướng văn học hay khuynh hướng nghệ thuật
là khái niệm thường được sử dụng theo hai nghóa:
- Trước hết, khuynh hướng văn học dùng để chỉ một
hướng đi có tính chất tự phát nhưng bền vững trong hoạt
động của một nhà văn, chẳng hạn khi nói đến một
nhà văn có khuynh hướng lãng mạn hay khuynh hướng
hiện thực.
- Khuynh hướng văn học cũng dùng để nói đến đònh
hướng nghệ thuật có tính chất tập thể của một nhóm
nhà văn, một dân tộc hay một thời đại. Khái niệm
này thường được dùng trong trường hợp nói đến đònh
hướng của một tập thể ít có tính chất tổ chức và
không phải là kết quả của một sự chọn lựa có ý
thức và tự nguyện. Đây là đặc điểm phân biệt khuynh
hướng với trào lưu. Nói cách khác, so với trào lưu,
khuynh hướng ít có tính chất tổ chức hơn.
2.3. Trào lưu văn học:
Trào lưu văn học là khuynh hướng văn học theo nghóa
hẹp, liên kết một nhóm nhà văn có chung lập trường
chính trò-xã hội, chung quan điểm tư tưởng- thẩm mỹ và
chung quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người.
Trào lưu văn học thường là một phong trào nghệ thuật
hoàn chỉnh bao gồm sáng tác và lý luận, phê bình,
được tổ chức nhằm đấu tranh cho sự thắng lợi của
đường hướng văn học đã được lựa chọn.
Văn học cách mạng, văn học hiện thực, văn học lãng
mạn giai đoạn 1930-1945 là những trào lưu như vậy.
2.4. Trường phái văn học:
Trong trào lưu văn học thường có một tổ chức trung
tâm giữ vai trò đề ra một cương lónh nghệ thuật với
những yêu cầu về mặt lý thuyết hay tổng kết những
kinh nghiệm trong quá trình sáng tác. Tổ chức trung tâm
này thường được hình thành xung quanh một tạp chí, một
nhà xuất bản, một salon văn học… Khi đã có một tổ
chức nòng cốt phát huy được sức mạnh chủ đạo của
nó, thì trào lưu văn học có thể được gọi là trường phái
văn học. Cũng có thể một trào lưu văn học bao gồm
nhiều trường phái khác nhau.
Trong trào lưu văn học lãng mạn 1930-1945, Tự Lực
văn đoàn (với Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch
Lam, Tú Mỡ, Trần Tiêu, Xuân Diệu…), Xuân Thu Nhã
Tập (với Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn
Lương Ngọc) và nhóm Dạ Đài (Trần Dần, Trần Mai Châu,
Vũ Hoàng Đòch…) có thể được xem là những trường
phái, tuy tầm ảnh hưởng ở những mức độ khác nhau.
Trong văn học cũng như trong các ngành nghệ thuật,
trường phái là khái niệm dùng để chỉ những người
nghệ só cùng theo đuổi một nguyên tắc sáng tạo,
cùng cày xới những chất liệu thẩm mỹ và cùng sử
dụng những biện pháp kỹ thuật giống nhau. Giữa
trường phái với trào lưu và khuynh hướng còn khác
nhau ở chỗ trong khái niệm trường phái thường có ý
tưởng về vai trò của một bậc thầy, người gợi ra và
truyền niềm cảm hứng sáng tạo cho các môn đệ,
người tiêu biểu cho một nguyên tắc và một truyền
thống trong sáng tạo.
2.5. Phương pháp nghệ thuật:
Phương pháp nghệ thuật hay phương pháp sáng tác
là khái niệm được giới lý luận xô-viết đề xuất sau
Cách mạng Tháng Mười, cùng lúc với khái niệm chủ
nghóa hiện thực xã hội chủ nghóa.
Có thể xem phương pháp nghệ thuật là một hệ
thống hoàn chỉnh gồm những nguyên tắc tư tưởngnghệ thuật được xác đònh bới một thế giới quan nhất
đònh, nhằm để lựa chọn, phản ánh, bình giá, khái quát
cuộc sống bằng hình tượng. Nhà văn đi theo một phương
pháp nghệ thuật nào, đó là việc hoàn toàn tự giác.
Sự khác nhau giữa các phương pháp sáng tác bắt
nguồn từ sự khác nhau về thế giới quan và nhân sinh
quan của nhà văn, đồng thời, từ sự khác nhau về nghệ
thuật điển hình hoá và xây dựng hình tượng. Phương
pháp sáng tác chính là lý thuyết tổng quát của một
trào lưu hay trường phái văn học.
2.6. Phong cách và dòng phong cách:
Khái niệm phong cách thường được hiểu theo hai cách
sau đây:
- Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như
về nghệ thuật thể hiện thành những phẩm chất thẩm
mỹ trong sáng tác của những nhà văn ưu tú.
- Phong cách là hệ thống những đặc điểm về mặt
hình thức, bao gồm các thủ pháp nghệ thuật, các
phương tiện diễn đạt, tạo nên tính độc đáo của một
hiện tượng văn học và khu biệt hiện tượng này với
hiện tượng khác.
Trong những giai đoạn lòch sử nhất đònh, cùng một
trào lưu hay một trường phái, có thể có những nhà
văn mang phong cách gần nhau, tạo nên một dòng phong
cách, chẳng hạn dòng phong cách trữ tình trong văn
xuôi cách mạng Việt Nam 1945-1975.
- Chương 3 : Những khuynh hướng và trào lưu văn
học:
- Chủ nghóa cổ điển ( Classicism)
- Chủ nghóa tình cảm ( Sentimentalism)
- Chủ nghóa lãng mạn ( Romanticism)
- Chủ nghóa hiện thực ( Realism)
- Chủ nghóa hiện thực phê phán ( Critical Realism)
- Chủ nghóa tự nhiên ( Naturalism)
- Chủ nghóa hiện thực xã hội chủ nghóa ( Socialist
Realism)
- Chủ nghóa ấn tượng ( Impressionism)
- Chủ nghóa tượng trưng ( Symbolism)
- Chủ nghóa vò lai ( Futurism)
- Chủ nghóa đa đa ( Dadaism)
- Chủ nghóa siêu thực ( Surrealism)
- Chủ nghóa biểu hiện ( Expressionism)
- Chủ nghóa hiện sinh ( Existentialism)
- Chủ nghóa tân hiện thực ( Neorealism)
- Chủ nghóa hiện thực huyền ảo (Magical Realism)
- Chủ nghóa hiện đại ( Modernism)
- Chủ nghóa hậu hiện đại ( Postmodernism).
(Trong mỗi khuynh hướng hay trào lưu văn học, sinh
viên cần nắm vững hoàn cảnh ra đời, quan điểm nghệ
thuật và nhũng đặc điểm chủ yếu, một số tác gia và
tác phẩm tiêu biểu, vò trí và ảnh hưởng đối với văn
học Việt Nam).
- Kết luận: Tính thống nhất và đa dạng trong sự phát
triển của các khuynh hướng và trào lưu văn học.
V. TÀI LIỆU HỌC TẬP:
1. Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu,
Trần Hữu Tá (chủ biên): Từ điển văn học bộ mới, NXB
Thế giới, Hà Nội, 2004.
2. Fragonard M.: Văn hoá thế kỷ XX. Từ điển lòch sử
văn hóa (Chu Tiến nh dòch), NXB Chính trò Quốc gia, Hà
Nội, 1999.
3. Gulajev N. A. : Lý luận văn học (Lê Ngọc Tân dòch),
NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982.
4. Hà Minh Đức (chủ biên): Lý luận văn học, NXB
Giáo dục, Hà Nội, 1995.
5. Lại Nguyên n: 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 1999.
6. Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương: Lý luận văn
học – vấn đề và suy nghó, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997.
7. Phương Lựu (chủ biên): Lý luận văn học, NXB Giáo
dục, Hà Nội, 2002.
8. Petrov S. : Chủ nghóa hiện thực phê phán (Nguyễn
Đức Nam, Phạm Văn Trọng và Anh Đào dòch), NXB Đại học
và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1986.
9. Pospelov G. N. (chủ biên) : Dẫn luận nghiên cứu
văn học (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà
dòch), NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.
10. Larrissy E.: Romanticism and Postmodernism, Cambridge
University Press, London, 1999.
11. Richard J.-P.: tudes sur le romantisme, Ed. du Seuil, Paris,
1970.
12. Rosen Ch. & Zerner H. : Romanticism and Realism, W. W.
Norton & Company, New York & London, 1984.
13. Borev Yu. (chủ biên): Teorija literatury. Literaturnyj
protsess (Lý luận văn học. Tiến trình văn học). IMLI RAN,
“Nasledie”, Moskva, 2001.
14. Khalizev V.: Teorija literatury (Lý luận văn học), Vyshaja
Shkola, Moskva, 1999.
15.Nikolajev P.: Sovjetskoie literaturovedenie i sovremennyj
literaturnyj protsess (Khoa nghiên cứu văn học xô-viết và
tiến trình văn học hiện đại), Khudozhestvennaja literatura,
Moskva, 1987.