60 NĂM NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM
THỰC HIỆN Ý NGUYỆN CỦA BÁC HỒ (23/7/1959- 23/7/2019)
Đảng ủy Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam
60 năm trước, vào ngày 23/7/1959, trong chuyến thăm chính thức Liên bang
Cộng hòa XHCN Xô - Viết (Liên Xô), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới khu công
nghiệp dầu khí Ba-cu, Cộng hòa XHCH Xô - Viết Azerbaijan, tại đây Bác đề nghị:
“Sau khi Việt Nam kháng chiến thắng lợi, Liên Xô nói chung và Adecbaigian nói
riêng phải giúp đỡ Việt Nam khai thác và chế biến dầu khí, xây dựng được những
khu công nghiệp dầu khí mạnh …”. Điều này cho thấy, với dự cảm thiên tài, Bác đã
hình dung và đặt mục tiêu phải xây dựng được ngành công nghiệp dầu khí hiện đại
để góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh. Tầm nhìn xa trông rộng và mong
ước của Người đã trở thành khát vọng, niềm tin và mục tiêu phấn đấu của bao thế hệ
những “người đi tìm lửa”. Ý nguyện đó là kim chỉ nam xuyên suốt trong sự chỉ đạo
của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, trong các Nghị quyết của Bộ Chính trị về chiến lược
phát triển ngành Dầu khí Việt Nam trong 60 năm qua.
Trải qua 60 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ ý nguyện của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, ngành Dầu khí Việt Nam đã đi từ “không đến có”; làm chủ được
những công nghệ tiên tiến nhất, xây dựng được một chuỗi giá trị khép kín: từ Tìm
kiếm, Thăm dò, Khai thác đến Tàng trữ, Vận chuyển và Chế biến, đóng góp vai trò
quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tại Hội thảo hôm nay, tôi xin phép được trình bày chuyên đề “60 năm ngành
Dầu khí Việt Nam thực hiện ý nguyện của Bác Hồ” cùng với các chuyên đề khác tại
Hội thảo hôm nay, khẳng định tầm nhìn xa, trông rộng của Bác đối với sự phát triển
đất nước trong đó có ngành công nghiệp Dầu khí Việt Nam; quá trình phấn đấu, xây
dựng, trưởng thành của ngành Dầu khí đều khắc ghi dấu ấn chỉ đạo thành công của
Đảng, của Bộ Chính trị và thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh.
1. Từ những dự cảm thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến sự hình
thành phát triển của ngành công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh
Quyết sách đầu tiên của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh là để phát triển ngành
dầu khí Việt Nam cần nhanh chóng đào tạo đội ngũ cán bộ. Song song với việc cử
học sinh sang các trường đại học dầu khí danh tiếng ở Liên xô, Rumani, công tác
đào tạo còn được phát triển tại chỗ thông qua sự hợp tác với Liên xô giúp tìm kiếm
và khoan ở đồng bằng Sông Hồng với phức hợp kỹ thuật, công nghệ và thiết bị khá
tiên tiến thời bấy giờ…
Đoàn Thăm dò dầu lửa 36 trực thuộc Tổng cục Địa chất được thành lập ngày
27/11/1961 theo Quyết định số 271-ĐC với nhiệm vụ tiến hành tìm kiếm, thăm dò
dầu hỏa và khí đốt trên phạm vi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sự ra đời của
Đoàn dầu lửa 36 để triển khai tìm kiếm dầu khí trong thời gian khó khăn khi đất
nước đang dốc toàn sức cho cuộc kháng chiến gian khổ và phải triển khai dưới bom
đạn Mỹ thể hiện sự quyết tâm rất lớn của Đảng, Chính phủ thực hiện ý nguyện của
Bác.
Dù với bao khó khăn, thiếu thốn do chiến tranh ác liệt kéo dài, công tác tìm
kiếm và khoan thăm dò dầu khí vẫn liên tục được duy trì ở đồng bằng Bắc bộ. Phải
sau 15 năm chúng ta mới phát hiện được dòng khí thiên nhiên và condensat có giá trị
thương mại tại giếng khoan 61 Tiền Hải - Thái Bình (18/3/1975) và những mét khối
khí đầu tiên từ mỏ khí Tiền Hải được khai thác dẫn đến trạm tua-bin khí phát điện
ngày 19/4/1981.
Ngay sau khi hòa bình lập lại, thực hiện ước nguyện của Bác, dựa trên đánh
giá tiềm năng lớn về dầu khí thềm lục địa Việt Nam, Bộ Chính trị đã có quyết định
quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, ra Nghị quyết số 244 - NQ/TW, quyết định thành
lập Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt với nhiệm vụ xây dưng nền công nghiệp dầu khí
đồng bộ từ thăm dò, khai thác đến chế biến dầu khí, phát huy nội lực và mở rộng
hợp tác quốc tế… Nhiều hợp đồng dầu khí được ký kết để tìm kiếm thăm dò dầu khí
ở thềm lục địa phía Nam của Việt Nam với kỳ vọng nguồn dầu khai thác sẽ là động
lực vực nền kinh tế đất nước đi lên sau chiến tranh. Nhưng do cấm vận và đặc biệt
cuộc chiến tranh biên giới đã làm gián đoạn, các công ty tư bản đã ra đi, chấm dứt
các hợp đồng thăm dò dầu khí năm 1979.
Kỳ vọng về nguồn dầu khai thác từ thềm lục địa Việt Nam tưởng chừng sụp
đổ, nhưng với quyết tâm kiên trì xây dựng ngành dầu khí làm động lực để công
nghiệp hóa và phát triển nền kinh tế, Bộ Chính trị đã quyết định ký Hiệp định hợp
tác chiến lược với Liên xô, trong đó có việc xây dựng liên doanh hợp tác thăm dò và
khai thác dầu khí trên một số lô ở thềm lục địa phía Nam Việt Nam. Quyết sách
quan trọng này đã tạo bước ngoặt lịch sử làm tiền đề để xây dựng nền công nghiệp
dầu khí ngày nay.
Năm 1981 cũng là năm ký Hiệp định thành lập Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí
Việt Xô (nay là Liên doanh Việt Nga - Vietsovpetro) tại Vũng Tàu theo Hiệp định
hợp tác tìm kiếm thăm dò khai thác dầu khí ở thềm lục địa Nam Việt Nam giữa
Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên Xô.
Sau khi Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro được thành lập, hoạt động xây
dựng căn cứ trên bờ được đẩy mạnh. Sau 3 năm chuẩn bị, ngày 25/12/1983, tàu
Mikhain Mirchink đã khoan giếng thăm dò BH-5 đầu tiên tại mỏ Bạch Hổ và 20 giờ
ngày 30/4/1984, đúng 9 năm sau ngày Giải phóng miền Nam, các chuyên gia Việt
Nam và Liên Xô trên tàu khoan Mikhain Mirchink phát hiện thấy tầng dầu và 21 giờ
ngày 26/5/1984, tầng dầu này được xác định là tầng dầu công nghiệp, ngọn lửa dầu
đã rực sáng trên biển ngoài khơi Vũng Tàu.
Ngày 26/6/1986 Xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Vietsovpetro khai thác tấn dầu
đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ, ghi tên Việt Nam vào danh sách các nước khai thác và xuất
khẩu dầu thô thế giới.
Ngày 6/9/1988 việc phát hiện và tổ chức khai thác hiệu quả với sản lượng cao
tầng dầu trữ lượng lớn trong đá móng nứt nẻ mỏ Bạch Hổ đã đi vào lịch sử khai thác
dầu khí thế giới. Đó là tiền đế để thực hiện Nghị Quyết số 15 NQ/TW của Bộ Chính
trị năm 1988 tạo bước ngoặt lịch sử quan trọng tiếp theo - định hướng chiến lược
xây dựng và phát triển nền công nghiệp dầu khí Việt Nam đồng bộ, đa ngành, hiện
đại với chuỗi hoàn chỉnh các khâu công nghệ, xây dựng nội lực và hội nhập quốc tế
sâu rộng. Công nghiệp khí và chế biến dầu khí được hình thành với việc đưa khí vào
bờ năm 1995, đưa vào hoạt động nhà máy Đạm năm 2003 hình thành khu khí điện
đạm Phú Mỹ, Cà Mau, và các nhà máy Lọc - hóa dầu Dung Quất và Nghi Sơn...
Ngành dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao được phát triển với các công trình khai thác
dầu khí biển tiêu chuẩn quốc tế, chế tạo dàn khoan tự nâng hiện đại có khả năng
khoan thăm dò ở độ sâu hơn 100 mét nước.
Phải khẳng định rằng Nghị Quyết số 15 NQ/TW của Bộ Chính trị năm 1988
đã tạo bước phát triển kỳ diệu cho ngành công nghiệp dầu khí để có những đóng góp
quan trọng có tính lan tỏa cho kinh tế đất nước, vượt qua khủng hoảng về năng
lượng, thiều hụt ngân sách thập kỷ 90 thế kỷ trước.
Đến năm 2006, sau khi thực hiện thành công Nghị Quyết 15 của Bộ Chính trị,
ngành dầu khí Việt Nam bước sang một thời kỳ lịch sử mới. Kết luận số 41KL/TW của Bộ Chính trị và Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tiếp
tục định hướng và tạo thuận lợi hình thành, phát triển mô hình Tập đoàn kinh tế đa
ngành, hoàn chỉnh chuỗi giá trị công nghiệp dầu khí, đầu tư ra nước ngoài, xây
dựng thương hiệu quốc tế.
Đây là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất, mạnh mẽ nhất, tạo nên một nền công
nghiệp dầu khí hoàn chỉnh như ngày hôm nay. Ngành Dầu khí đã xây dựng được hệ
thống công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác đến
phát triển công nghiệp khí - điện - chế biến và dịch vụ dầu khí, góp phần quan trọng
đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước, xây dựng đội ngũ kỹ thuật lành nghề làm
chủ được khoa học công nghệ, quản lý điều hành nhiều khâu trong chuỗi công nghệ
dầu khí. Ngành Dầu khí Việt Nam đã có đóng góp to lớn cho sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện hiệu quả vai trò là đầu tàu kinh tế, là công cụ
điều tiết kinh tế vĩ mô của Chính phủ.
Những sự kiện và thành quả quan trọng đó đã khẳng định tầm nhìn chiến lược
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm nền tảng để xây dựng và phát triển ngành công
nghiệp Dầu khí hiện đại của Việt Nam. Trên từng giai đoạn phát triển thời gian qua,
ở các bước ngoặt lịch sử của sự trưởng thành đều ghi nhận dấu ấn và sự chỉ đạo
thành công của Đảng, Bộ Chính trị, thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ.
Để tiếp tục thực hiện ý nguyện của Bác phát triển ngành Dầu khí trong giai
đoạn mới đầy biến động và thách thức, ngày 23/7/2015 Bộ Chính trị đã có Nghị
Quyết 41-NQ/TW về Chiến lược phát triển ngành Dầu khí trong giai đoạn mới.
Niềm tin và ước vọng của Bác đã thành hiện thực khi mỗi bước phát triển của
ngành Dầu khí đã góp phần tạo chuyển biến cho nền kinh tế đất nước. Đến nay, Tập
đoàn đã hoạt động theo mô hình Tập đoàn kinh tế nhà nước, thực hiện tái cơ cấu
doanh nghiệp, với: Công ty Mẹ là: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (hình thức hoạt động
là Công ty TNHH 1 TV); 03 đơn vị nghiên cứu khoa học, đào tạo; 28 công ty con,
công ty liên kết (trong đó: 16 công ty con và 12 công ty liên doanh, liên kết).
- Ngành Dầu khí đã khai thác được gần 400 triệu tấn dầu thô và 150 tỷ m3 khí
đáp ứng nhu cầu năng lượng cho sản xuất 170 tỷ kWh điện (chiếm khoảng 15%
tổng công suất lắp đặt và 30% tổng sản lượng điện cả nước), 55 triệu tấn sản phẩm
xăng dầu (chiếm 33% tổng nhu cầu cả nước). Tỷ trọng đóng góp của dầu khí trong
cơ cấu năng lượng Việt Nam rất cao, bình quân 40% tổng cung cấp năng lượng sơ
cấp, khoảng 35% tổng nhu cầu tiêu thụ năng lượng cuối cùng trong giai đoạn từ
năm 2005 đến nay.
- Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã xây dựng được hệ thống cơ sở vật
chất công nghiệp dầu khí hoàn chỉnh, đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác, chế
biến dầu khí, công nghiệp khí, điện và dịch vụ dầu khí. Tính đến năm 2018, tổng
doanh thu đạt trên 374 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước trên 105 tỷ USD. Tổng tài
sản của Tập đoàn không ngừng tăng, chỉ tính riêng từ khi bắt đầu hoạt động theo mô
hình Tập đoàn kinh tế năm 2006, tổng tài sản của Tập đoàn ước gần 147.000 tỷ
đồng, thì đến đến 30/6/2019, con số này là trên 829.200 tỷ đồng; vốn chủ sở hữu từ
hơn 98.000 tỷ đồng năm 2006, đã đạt hơn 466.000 tỷ đồng năm 2019.
- Tập đoàn đã xây dựng được đội ngũ những người làm dầu khí hùng hậu, với
số lượng lao động hiện có trên 60 nghìn người (trong đó 5,5 nghìn người có trình
độ trên đại học, 30 nghìn người có trình độ đại học và cao đẳng và trên 24,5 nghìn
công nhân kỹ thuật) hình thành đội ngũ lao động có trình độ cao, đủ khả năng làm
chủ các hoạt động dầu khí ở trong và ngoài nước.
- Tập đoàn đã tích cực phát huy và thực hiện hiệu quả vai trò là “đầu tàu” kinh
tế của đất nước. Tập đoàn đã trở thành nòng cốt, là hạt nhân trong việc hình thành
các khu công nghiệp tập trung tại: Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai - Hiệp Phước, Cà
Mau, Dung Quất - Quảng Ngãi, Vũng Áng - Hà Tĩnh, Nghi Sơn – Thanh Hóa...
- Tập đoàn tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Nơi nào có
hoạt động dầu khí, có giàn khoan đặt chân, ở đó chủ quyền quốc gia được khẳng
định.
- Tập đoàn luôn ý thức, trách nhiệm cao trong chia sẻ với cộng đồng, hằng năm
đóng góp vào công tác an sinh xã hội hàng trăm tỉ đồng.
- Hàng ngàn lượt tập thể và hàng chục ngàn lượt cá nhân đã được tặng thưởng
huân - huy chương, kỷ niệm chương, bằng khen các loại và nhiều danh hiệu thi đua
các cấp như: 03 giải thưởng Hồ Chí Minh và 01 giải thưởng Nhà nước về Khoa học
công nghệ; 09 tập thể và 05 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động;
12 Huân chương Độc lập các hạng; 02 Huân chương Quân công; 03 Huân chương
Bảo vệ Tổ quốc; đặc biệt Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và một số tập thể đã
vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và Huân
chương cao quý nhất: Huân chương Sao Vàng.
Có thể khẳng định rằng, qua 60 năm không ngừng nỗ lực từ những sơ khai
ban đầu để xây dựng và phát triển được một hệ thống công nghiệp dầu khí hoàn
chỉnh, đồng bộ từ tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí đến vận chuyển, chế biến,
lọc hóa dầu và phân phối tiêu thụ, ngành Dầu khí đã thực hiện được ý nguyện của
Bác Hồ, chiến lược của Đảng và Nhà nước, trở thành biểu tượng năng lượng cho
phát triển đất nước.
2. Những bài học kinh nghiệm
Một là, luôn có khát vọng thực hiện thành công mong ước của Bác Hồ và
của cả dân tộc Việt Nam là phải “xây dựng được những khu công nghiệp dầu khí
mạnh”; tuân thủ tuyệt đối sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các quy định của pháp
luật; giữ mối quan hệ chặt chẽ và tranh thủ tối đa sự hỗ trợ, giúp đỡ của các bộ,
ban, ngành Trung ương và các địa phương liên quan. Phát triển đúng định hướng
Chiến lược đề ra với đường lối, chủ trương, chính sách phù hợp điều kiện thực tế
trong nước và hoàn cảnh quốc tế là yếu tố quyết định để nắm bắt các cơ hội, phát
huy nội lực, tăng cường hợp tác quốc tế, đẩy mạnh hoạt động dầu khí trong nước;
đồng thời đầu tư, tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí ở nước ngoài là yêu cầu tất
yếu để phát triển bền vững.
Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng, xây
dựng cấp ủy và đội ngũ cán bộ quản lý, quản trị doanh nghiệp, đội ngũ chuyên gia
kỹ thuật các cấp ngang tầm nhiệm vụ. Xác định tổ chức cơ sở đảng các cấp là hạt
nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách
pháp luật của Nhà nước; thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chính trị; không ngừng nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công nhân viên và người lao động, thực
hiện tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước; xây dựng Đảng bộ, chi bộ trong sạch vững
mạnh, góp phần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng đội ngũ, giai cấp công nhân
ngày càng vững mạnh.
Ba là, làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện,
chấn chỉnh, uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm; đồng thời đề ra giải pháp hữu
hiệu nhằm xử lý, giải quyết triệt để, nhất là những hành vi vi phạm.
Bốn là, nguồn nhân lực được đào tạo toàn diện, nhất là về trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, quản lý, khoa học công nghệ, tay nghề. Có chính sách đúng đắn, cụ
thể, thống nhất, ổn định, bình đẳng và gắn bó về con người. Tập thể lãnh đạo phải có
tri thức khoa học, kỹ năng quản lý, có tinh thần đoàn kết, thống nhất, dám nghĩ, dám
làm, dám chịu trách nhiệm vì mục tiêu phát triển bền vững của Tập đoàn và đất nước.
Năm là, dầu khí - tài nguyên không tái tạo, do đó phải tổ chức khai thác, chế
biến và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên trong nước và tăng cường đầu tư tìm
kiếm thăm dò, khai thác dầu khí ở nước ngoài.
Sáu là, xây dựng và phát triển bền vững ngành công nghiệp Dầu khí có ý
nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do vậy, đồng thời với việc nâng cao năng
lực cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược
phát triển, cần thực hiện tốt vai trò của Tập đoàn kinh tế hàng đầu của đất nước,
tăng cường hợp tác, hỗ trợ các ngành, địa phương cùng phát triển.
Bảy là: Thống nhất nhận thức từ lãnh đạo đến toàn thể người lao động về
các giá trị chung của Tập đoàn, khơi dậy niềm tự hào về truyền thống, tạo nên bản
sắc của Văn hóa Dầu khí, mà người lao động Dầu khí phải trân trọng, gìn giữ và
phát triển với phương châm hành động “Bản lĩnh – Đoàn kết – Đổi mới – Hành
động”.
3. Thách thức – Giải pháp
* Thách thức
Hiện nay, hoạt động dầu khí phải đối mặt với tình trạng thuận lợi ít đi, khó
khăn và thách thức nhiều hơn. Làm thế nào để tiếp tục thực hiện ý nguyện của Bác
- duy trì sự phát triển bền vững của ngành dầu khí Việt Nam?
Điều kiện môi trường, địa bàn hoạt động tìm kiếm thăm dò gặp nhiều khó
khăn. Nhiều mỏ Dầu truyền thống chủ lực đóng góp sản lượng quan trọng cho Tập
đoàn DKVN, sau 20 - 30 năm khai thác đã qua giai đoạn khai thác đỉnh, sản lượng
khai thác hiện nay suy giảm, đòi hỏi phải đầu tư thêm các giải pháp công nghệ để
tận thu hồi dầu, trong khi các mỏ mới được đưa vào khai thác chậm do thiếu vốn,
vướng mắc các thủ tục đầu tư, gây khó khăn để duy trì và gia tăng sản lượng khai
thác, mở rộng thăm dò.
Các cơ chế chính sách cho ngành dầu khí đang tồn tại vẫn nhiều bất cập,
chưa kịp thời thay đổi, có nhiều quy định trong các Luật chi phối hoạt động dầu
khí như Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư, Luật Xây dựng cơ bản, Luật Dầu khí, thông lệ
dầu khí quốc tế, không phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng, biến động
của kinh tế chính trị dầu khí thế giới, khu vực đang là rào cản, làm chậm bước đi
của Tập đoàn.
Nghiêm túc nhìn nhận về chủ quan, nội tại Tập đoàn có những khuyết điểm,
hạn chế, tồn tại, dồn tích qua nhiều năm chưa được xử lý, khắc phục, một số cán bộ
lãnh đạo quản lý trong Tập đoàn vi phạm pháp luật phải xử lý đã làm ảnh hưởng tới
uy tín, thương hiệu Petrovietnam và danh dự của người dầu khí.
Để tiếp tục thực hiện ý nguyện của Bác phát triển ngành Dầu khí trong giai
đoạn mới đầy biến động và thách thức, câu hỏi đặt ra ngành Dầu khí cần làm gì và
cần những giải pháp gì cho ngành Dầu khí ?
* Một số giải pháp
Cần nghiêm túc đánh giá việc triển khai thực hiện nghị quyết 41-NQ/TW
của Bộ Chính trị về Chiến lược phát triển ngành Dầu khí Việt Nam đến năm 2025
và tầm nhìn đến năm 2035; kiến nghị Bộ Chính trị ban hành kết luận để tiếp tục
thực hiện có hiệu quả nghị quyết 41-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Tháo gỡ, hoàn thiện thể chế phát triển ngành Dầu khí. Xây dựng cơ chế,
chính sách phù hợp cho hoạt động Dầu khí theo thông lệ quốc tế và thực tế tiềm
năng, điều kiện hoạt động Dầu khí hiện nay
- Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về dầu khí,
trong đó quy định rõ về hoạt động dầu khí từ thượng nguồn, trung nguồn, hạ
nguồn. Rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù
hợp để thúc đẩy hoạt động ngành Dầu khí, Tập đoàn Dầu khí; phân định rõ chức
năng quản lý nhà nước về Dầu khí.
- Tăng cường phân công, phân cấp quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa
phương, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả, tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi, bình đẳng
cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong lĩnh vực dầu khí.
- Xây dựng cơ chế chính sách tăng cường thu hút nguồn lực từ các thành
phần kinh tế, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước để phát triển ngành Dầu
khí. Xây dựng cơ chế, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển ngành
Dầu khí trong nước.
Chiến lược phát triển ngành Dầu khí không thể tách rời chiến lược phát triển
đất nước, chiến lược Biển Việt Nam, chiến lược phát triển năng lượng quốc gia. Do
đó, chúng tôi rất mong các Bộ, ngành sớm có những quyết sách cho ngành Dầu khí,
để ngành Dầu khí phát triển bền vững cùng sự phát triển của đất nước.
Tái cấu trúc toàn diện, xây dựng cơ chế quản trị tiên tiến, hiệu quả, tập trung
các lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính; lấy hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác
dầu khí làm cốt lõi
- Tiếp tục thực hiện tái cơ cấu bảo đảm vận hành đầy đủ, đúng đắn cơ chế thị
trường, phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế.
- Tái cấu trúc mạnh mẽ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, tiết giảm chi phí
giá thành, chi phí hoạt động; thực hiện tiết giảm chi phí sản xuất tối ưu.
- Thoái vốn/chuyển nhượng tại các dự án có hiệu quả chưa cao để tập trung
nguồn lực cho các hoạt động cốt lõi, hoạt động chính của ngành; đẩy mạnh công tác cổ
phần hóa, thu hút nguồn lực bên ngoài và chia sẻ rủi ro trong công tác đầu tư.
Nâng cao chất lượng nguồn lực dầu khí
- Bảo đảm nguồn vốn, chủ động đề xuất các cơ chế huy động vốn thực hiện
các mục tiêu chiến lược; đề xuất Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành xem xét, cân đối
nguồn lực cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đảm bảo yêu cầu đầu tư, phát triển của
Tập đoàn.
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về lĩnh vực chuyên
môn, về năng lực quản trị, …để đáp ứng yêu cầu của ngành Dầu khí trong bối cảnh
hội nhập sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Xây dựng, đề xuất các cấp có
thẩm quyền phê duyệt và thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách khác
đặc thù áp dụng cho các hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí ở trong
nước và nước ngoài.
- Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng, chuyển giao công
nghệ phục vụ phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên, môi trường và nâng cao khả
năng cạnh tranh của ngành dầu khí; đẩy mạnh việc sử dụng nhiên liệu sạch, giảm
lượng chất thải trong ngành dầu khí và nghiên cứu phát triển các giải pháp của toàn
ngành nhằm chủ động ứng phó với biển đổi khí hậu và nước biển dâng. Áp dụng các
giải pháp công nghệ tiên tiến kết hợp với các chính sách khuyến khích phù hợp để
gia tăng hệ số thu hồi dầu cũng như đưa các mỏ nhỏ, mỏ cận biên vào phát triển khai
thác. Nắm bắt thời cơ, thách thức của cách mạng công nghiệp 4.0 để ứng dụng có
hiệu quả đối với ngành dầu khí.
Phát triển ngành Dầu khí Việt Nam gắn liền với nhiệm vụ quốc phòng - an
ninh - đối ngoại
Nhìn lại chặng đường đã qua: Ngành Dầu khí mà chủ lực là Tập đoàn dầu khí
quốc gia Việt Nam luôn được lãnh đạo Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ đặc biệt
quan tâm. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù là thời kỳ kháng chiến, cho tới các giai
đoạn về sau, Đảng ta rất chú trọng xây dựng ngành Dầu khí. Sự quan tâm đó không
chỉ thể hiện qua các Nghị quyết, chỉ thị, mà Đảng còn chú trọng đến công tác xây
dựng nguồn nhân lực, tổ chức lực lượng xây dựng ngành Dầu khí… sau khi Giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng đã điều các đơn vị quân đội ưu tú, các
tướng lĩnh giỏi về xây dựng ngành dầu khí.
Và một điều quan trọng và thiêng liêng là khi ngành dầu khí gặp khó khăn, có
thể là do khách quan, nhưng cũng có khi do chủ quan thì bao giờ cũng được sự chia
sẻ, động viên và tháo gỡ của lãnh đạo Đảng Nhà nước và đặc biệt là sự chỉ đạo từ
Bộ chính trị.
Với tinh thần cầu thị và ý chí quyết tâm vượt qua thử thách, trong giai đoạn
khó khăn gần đây, tập thể cán bộ, đảng viên, công nhân viên lao động dầu khí vẫn
luôn đoàn kết, nỗ lực phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế
hoạch được giao. Các sản phẩm của Tập đoàn là dầu thô, xăng dầu, khí thiên nhiên,
khí hóa lỏng, điện, đạm… đóng vai trò chủ lực với tỷ trọng lớn góp phần rất quan
trọng trong phát triển kinh tế – xã hội đất nước và đảm bảo an ninh năng lượng quốc
gia. Bên cạnh phát triển kinh tế, Tập đoàn góp phần rất tích cực trong việc khẳng
định, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của Tổ quốc trên Biển Đông. Chú trọng
công tác an sinh xã hội, xây dựng văn hóa doanh nghiệp. Luôn phát huy hiệu quả vai
trò là trụ cột, đầu tàu của nền kinh tế đất nước.
Nhìn lại 60 năm quá trình thực hiện ý nguyện của Bác, những thành tựu kỳ
diệu của ngành dầu khí rất đáng tự hào và trân trọng. Đó là thành quả của tầm nhìn
vĩ đại, thiên tài của Bác, là trí tuệ và quyết tâm, sự chỉ đạo sáng suốt kịp thời của
Bộ Chính trị, Chính phủ, là kết quả của lao động sáng tạo, kiên trì, lòng kính yêu
đối với Bác của nhiều thế hệ người dầu khí.
Hơn lúc nào hết, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam mong mỏi tiếp tục được đón
nhận sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, kịp thời tháo gỡ khó khăn của các
Bộ, Ban, Ngành; ủng hộ, chia sẻ, hợp tác của đoàn thể, địa phương và doanh nghiệp
bạn. Đặc biệt, Tập đoàn mong có được sự cảm thông, bao dung từ dư luận xã hội và
các tầng lớp nhân dân để tập thể sáu vạn người lao động yên tâm công tác và cống
hiến. Người lao động Dầu khí luôn ý thức rằng: thương hiệu Tập đoàn gắn với
thương hiệu quốc gia, lợi ích của Tập đoàn là lợi ích của đất nước; vậy nên trong bất
luận hoàn cảnh nào, người lao động Dầu khí cũng không ngừng nỗ lực phấn đấu, lao
động và sáng tạo xứng đáng với mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Những người dầu khí quyết tâm lao động sáng tạo, phát huy tiềm năng nội
lực với tình thần đổi mới để xây dựng ngành công nghiệp dầu khí tiếp tục phát triển
trong giai đoạn mới ổn định, hiện đại, có uy tín trên thị trường thế giới, xứng đáng
với sự kỳ vọng của Bác Hồ đã trao cho các thế hệ người lao động dầu khí./.