Tải bản đầy đủ (.docx) (36 trang)

MỘT SỐ DẠNG NGHỊ LUẬN VỀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM TRUYỆN CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (255.17 KB, 36 trang )

CHUYÊN ĐỀ ÔN THI THPT QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
MỘT SỐ DẠNG NGHỊ LUẬN VỀ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM
TRUYỆN - CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN LỚP 12
MỤC LỤC
Nội dung

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn chuyên đề

3

2. Đối tượng,thời gian áp dụng đề tài

3

PHẦN NỘI DUNG
1. Kiến thức cơ bản và nâng cao

4

2. Các dạng đề

2.1. Dạng 1: Đề nghị luận về một nhân vật

14

2.2. Dạng 2: Đề nghị luận về một ý kiến bàn về nhân vật

18



2.3. Dạng 3: Đề nghị luận về hai ý kiến bàn về nhân vật

21

2.4. Dạng 4: Đề nghị luận về nhận vật qua đoạn văn bản

23

2.5. Dạng 5. Đề so sánh hai nhân vật

28

3. Đề tự luyện dành cho học sinh

31
PHẦN KẾT LUẬN

37


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nhân vật là yếu tố cơ bản, quan trọng của tác phẩm truyện. Nó giống như
linh hồn của mỗi truyện ngắn. Vì vậy, để hiểu giá trị tác phâm văn học nói chung,
tác phẩm truyện nói riêng thi việc khai thác thông qua nhân vật là rất cần thiết.
Làm tốt kiểu bài về nhân vật không chỉ giúp học sinh có kĩ năng làm bài thi THPT
Quốc gia mà còn giúp học sinh tiếp nhận tác phẩm tốt hơn, hiểu giá trị tư tưởng
tác phẩm đã học.
Kiểu bài nghị luận về nhân vật trong truyện ngắn chiếm vị trí quan trọng

trong nội dung ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn. Vì vậy, nghiên cứu về chuyên
đề Một số dạng nghị luận về nhân vật trong tác phẩm truyện chương trình Ngữ
văn lớp 12 sẽ giúp giáo viên và học sinh có thêm tư liệu bổ ích cho quá trình học
tập và giảng dạy.
2. Đối tượng áp dụng sáng kiến, thời gian giảng dạy.
- Học sinh lớp 12, trường THPT Hai Bà Trưng, Phúc Yên, Vĩnh Phúc
- Dự kiến số tiết bồi dưỡng: 06 tiết
+ Tiết 1: Phần Kiến thức cơ bản và nâng cao
+ Tiết 2: dạng 1: Phân tích, cảm nhận về một nhân vật.
+ Tiết 3: dạng 2: Nghị luận về một ý kiến bàn về nhân vật
+ Tiết 4: dạng 3: Nghị luận về hai ý kiến bàn về nhân vật
+ Tiết 5 : dạng 4: Nghị luận về nhân vật qua các đoạn văn bản
+ Tiết 6: dạng 5: Đề so sánh hai nhân vật.


PHẦN NỘI DUNG
1. Kiến thức cơ bản và nâng cao
1.1. Khái niệm nhân vật văn học
Trong tác phẩm văn học, nhân vật đóng vai trò rất quan trọng. Nhân vật là đối
tượng trung tâm, là linh hồn của tác phẩm văn học. Qua nhân vật, nhà văn bày tỏ
quan điểm, tư tưởng nhận thứctrước cuộc đời và con người; gửi gắm những tình
cảm, suy tư, trải nghiệm của chính lòng mình, đời mình. Đồng thời thể hiện tài
năng, cá tính, phong cách của mình.
Thực tế cho thấy, trong giới nghiên cứu phê bình văn học đã có rất nhiều
quan điểm khác nhau về nhân vật văn học .
Các tác giả “Từ điển văn học”(tập 2) định nghĩa: "Nhân vật là yếu tố cơ bản
nhất trong tác phẩm văn học, tâm điểm để bộc lộ chủ đề, tư tưởng chủ đề và đến
lượt mình nó lại được các yếu tố có tính chất hình thức của tác phẩm tập trung
khắc họa. Nhân vật là nơi tập trung giá trị tư tưởng – nghệ thuật của tác phẩm
văn học”.Với định nghĩa này, các nhà biên soạn từ điển đã nhìn nhận nhân vật tử

khía cạnh vai trò, chức năng của nó đối với tác phẩm văn học và từ mối quan hệ
của nó với các yếu tố hình thức tác phẩm. Có thể coi đây là một định nghĩa tương
đối toàn diện về nhân vật văn học .
Trong cuốn “150 thuật ngữ văn học’’, tác giả Lại Nguyên Ân đề xuất
một quan điểm khác. Ông xem xét nhân vật trong mối tương quan với cá tính
sáng tạo, phong cách nhà văn, trường phái văn học: “ Nhân vật văn học là một
trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn , một
khuynh hướng, trường phái hoặc dòng phong cách. Nhân vật văn học là hình
tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn
của con người trong nghệ thuật. Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn
là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho nhưỡng đặc
điểm giống con người” .
Như vậy, với quan niệm này, nhân vật văn học sẽ là một trong những yếu tố
tạo nên phong cách nhà văn và màu sắc riêng của một trường phái văn học.Nhà
nghiên cứu này còn chỉ ra những đối tượng tiềm tàng khả năng trở thành nhân vật
văn học.
Khái niệm "nhân vật văn học’’ còn được định nghĩa trong cuốn “Từ điển
thuật ngữ văn học” của tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi .


“Nhân vật văn học là con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học.
Nhân vật văn học có thể có tên riêng ( Tấm, Cám, Chị Dậu, Anh Pha …), cũng có
thể không có tên riêng (Thằng bán tơ …). Khái niệm nhân vật văn học có khi
được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ là một con người cụ thể mà chỉ một hiện
tượng văn học nổi bật nào đó trong tác phẩm… Nhân vật văn học là một đơn vị
đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống’’.
Quan điểm trên của nhóm tác giả cuốn “Từ điển thuật ngữ văn học’’ về
nhân vật văn học có phần thu hẹp hơn .
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu khác lại định nghĩa nhân vật dựa trên tiêu
chí chức năng phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học.Nhân vật là phương tiện

để nhà văn tái hiện đợi sống, mở rộng thế giới nghệ thuật cho tác phẩm.
“Nói đến nhân vật là nói đến con người được miêu tả, thể hiện trong tác
phẩm bằng phương tiện văn học’’
Như vậy, nhìn một cách tổng quát, các nhà nghiên cứu, nhà lý luận văn học
khi đưa ra những quan điểm, định nghĩa cụ thể về nhân vật văn học có khá nhiều
cách định nghĩa về nhân vật. Song, tựu chung lại, các ý kiến cơ bản gặp nhau
trong sự khăng định: Thứ nhất, đó phải là đối tượng mà văn học miêu tả, thể hiện
bằng phương tiện văn học. Thứ hai, đó là những con người hoặc những con vật,
sự vật, đồ vật, hiện tượng mang linh hồn con người, là hình ảnh gần gũi của con
người. Thứ ba, đó phải là đối tượng mang tính ước lệ và có cách điệu so với đời
sống hiện thực bởi nó đã được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của nhà văn.
Nghiên cứu về tác phẩm văn chương cần phải tiếp cận nhân vật để chi ra cái mới
trong ngòi bút nhà văn và đưa ra kết luận về những đóng góp riêng của nhà văn
đó.
Những quan niệm về nhân vật văn học trên đây là những chỉ dẫn cho chúng
tôi trong quá trình tìm hiểu về nhân vật, và dạy học một số dạng nghị luận về
nhân vật trong tác phẩm truyệ.
1.2. Chức năng của nhân vật văn học
Trong tác phẩm văn học, nhân vật đóng vai trò là tâm điểm của sự thể hiện
đời sống.Nhân vật không chỉ là “tiêu điểm để bộc lộ chủ đề’’ mà còn là nơi “ tập
trung giá trị nghệ thuật tư tưởng của tác phẩm’’. Một tác phẩm không thể thiếu
vắng nhân vật . Khi nhân vật xuất hiện, cái gọi là “hiện thực cuộc sống’’ không
còn tồn tại như một khái niệm khô khan trừu tượng nữa mà trở nên có hình khối
rõ ràng, để từ đó người dọc tưởng tượng, khám phá, suy ngẫm những vấn đề có ý


nghĩa về cuộc đời. Nói như nhà văn Anh Đức thì sức sống của nhà văn chính là ở
việc xây dựng những nhân vật đặc sắc. Tất nhiên, đó không phải là điều đơn giản .
Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống con
người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kỳ vọng về con người, Nhân vật

văn học là hình ảnh về con người. Trong vai trò của một “ người thư ký trung
thành của thời đại’’(Banzac), văn học trở thành một phương thức khái quát, phản
ánh và thể hiện cuộc sống – bằng những hình tượng nhân vật cụ thể - vô cùng hữu
hiệu. Do vậy, vai trò, chức năng quan trọng đầu tiên phải kể đến của nhân vật văn
học là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực. Nhân vật chính là người dẫn
dắt người đọc vào thế giới riêng của đời sống trong một thời kì lịch sử nhất định.
Đọc truyện ngắn Rừng xà nu của nhà văn Nguyễn Trung thành, thế hệ sau có thể
thấy được cả một thời kì lịch sử đau thương nhưng hào hung của đồng bào Tây
Nguyên nói riêng dân tộc Việt Nam nói chung trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
Nhân vật còn có “chức năng của một chiếc chìa khóa’’ giúp nhà văn mở cánh
cửa bước vào hiện thực rộng lớn, tiếp cận những đề tài mới mẻ. Sự phát triển của
cốt truyện cũng như tình tiết truyện chính là sự xoay quanh các nhân vật trong tác
phẩm, qua đó tác giả gửi gắm những giá trị nội dung và tư tưởng. Cùng viết về
nạn đói năm 1945 nhưng nhà văn Kim Lân viết truyện ngắn Vợ nhặt với hướng
tiếp cận khác.Ông ít bàn đến cái chết, không xoáy sâu vào cái chết mà hướng đến
khát vọng sống. Ông từng nói về tác phẩm của mình: “Khi viết về nạn đói, người
ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm… Tôi muốn viết truyện ngắn với ý
khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người
ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở
tương lại”. Hay vớiVợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài, hiện thực bất công của
đồng bào miền núi có được thể hiện qua nhân vật Mị nhưng điều cốt lõi nhà văn
muốn “độc giả chú trọng đặc biệt đến nhân vật Mị” là “sự hồi sinh mãnh liệt của
con người cô” bởi “sự hồi sinh của một con người là vô cùng quý giá”” (Theo
Nguyễn Quang Thiều, Tác giả nói về tác phẩm). Như vậy, có thể khẳng định,
nhân vật sẽ quyết định việc nhà văn đi sâu vào vấn đề cốt lõi nào của đời sống và
thế giới nghệ thuật mà nó tạo nên, vì thế mà cũng có nét riêng phù hợp .
Nhân vật trong tác phẩm văn học được coi là phương tiện để khái quát các
loại tính cách xã hội.Với chức năng này, nhân vật chứng tỏ được ưu thế vô song
của mình trong việc phản ánh bản chất xã hội trong một hiện tượng mang tính
chất kết tinh là tính cách.Khi mang trong mình sự khái quát tính cách nhất định,

nhân vật vừa có nét riêng lại vừa có khả năng đại diện cho một lớp người nào


đó.Trong đời sống ta được tiếp xúc với nhiều loại tính cách khác nhau.Đây là hiện
tượng thú vị của thực tế khách quan, đòi hỏi được văn học nghiên cứu và tìm
hiểu.Mỗi nhân vật có phẩm chất riêng nổi bật.Nhân vật người đàn bà hàng chài
(Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)xuất hiện trong những tình huống
ngang trái. Chị để cho chồng đánh, nhất định bảo vệ chồng trong cuộc gặp gỡ với
chánh án, … chính vì chị là một người mẹ của hàng chục đứa con trong một gia
đình thuyền chài. Chị thương yêu và hi sinh cho con nên chị chấp nhận tất cả
những bất hạnh của cái nghèo, của bạo lực. Chị chính là điển hình cho người phụ
mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh dù cuộc
đời ngang trái, bất hạnh. Nhưng điều đặc biệt sâu sắc của nhà văn không muốn
người đọc phải thương hại con người ấy. Ta thấy, chị bình tâm đón nhận cuộc
sống đó, chị vẫn nhận ra, tận hượng những hạnh phúc giản đơn hàng ngày như
nhìn các con được ăn no.
Nhân vật văn học có chức năng biểu hiện quan niệm nghệ thuật của nhà
văn về thế giới và con người. Khi xây dựng nhân vật, nhà văn có mục đích gắn
liền nó với những vấn đề mà nhà văn muốn đề cập nó trong tác phẩm. Do đó, bên
cạnh việc xác định những tính cách của nhân vật trong tác phẩm, cần nhận ra hiện
thực và quan niệm của nhà văn mà nhân vật thể hiện.Qua cái nhìn của nhân vật
nghệ sĩ Phùng (Chiếc thuyền ngoài xa), nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi
gắm quan niệm về nghệ thuật chân chính.
Một chức năng khác của nhân vật trong tác phẩm là chức năng tạo nên mối
liên kết giữa các sự kiện trong tác phẩm và cốt truyện. Nhờ nhân vật mà kết cấu
của nhiều tác phẩm đạt được sự thống nhất, hoàn chỉnh, chặt chẽ và nhiều tiềm
năng biểu đạt của các phương tiện ngôn từ được phát lộ, để rồi tự chúng trở thành
những phương tiện nghệ thuật độc lập có thể được nghiên cứu riêng như một đối
tượng thẩm mỹ chuyên biệt.
Với vai trò, vị trí quan trọng như vậy, một lần nữa có thể khẳng định: nhân

vật là yếu tố không thể thiếu đối với tác phẩm văn chương. Hiểu được đúng đắn
chức năng của nhân vật văn học, người viết có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu
đề tài này.
1.3. Các tiêu chí phân loại nhân vật văn học
Nhân vật văn học là hiện tượng hết sức đa dạng .Những nhân vật được
xây dựng thành công là những sáng tạo độc đáo không lặp lại. Tuy nhiên, xét về
mặt nội dung, cấu trúc, chức năng có thể thấy những hiện tượng lặp đi lặp lại tạo


thành các loại nhân vật khác nhau. Để chiếm lĩnh thế giới nhân vật đa dạng, có thể
tiến hành phân loại dưới nhiều góc độ, theo nhiều tiêu chí khác nhau.
* Phân loại theo tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trong tác phẩm
(xét từ góc độ kết cấu)
Xét về vị trí và vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học có thể chia
thành: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm.
- Nhân vật chính:
Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện nhiều trong tác phẩm, tham gia hầu
hết các sự kiện chính được miêu tả, giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự
phát triển của cốt truyện và là cơ sở quan trọng để nhà văn triển khai đề tài trung
tâm hay tư tưởng nghệ thuật cơ bản của mình.
Nhân vật chính thường được tập trung miêu tả, khắc họa tỉ mỉ từ ngoại hình,
nội tâm, quá trình phát triển tính cách. Trong tác phẩm, nhân vật chính có thể có
nhiều hoặc ít tùy theo dung lượng hiện thực và những vấn đề đặt ra trong tác
phẩm .Trong “Vợ nhặt” (Kim Lân) nhân vật chính là Tràng, thị và bà cụ Tứ; Vợ
chồng A Phủ (Tô Hoài); Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành); Những đứa con
trong gia đình(Nguyễn Thi); Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu);
- Nhân vật trung tâm:
Trong một tác phẩm có nhiều nhân vât chính, nhân vật chính có vai trò quan
trọng hơn cả xuyên suốt toàn bộ tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Ở một
số tác phẩm, số lượng nhân vật trung tâm không phải chỉ có một bởi do các nhân

vật đều có vai trò tương đương nhau trong việc thể hiện những xung đột cơ bản
của tác phẩm. Chẳng hạn tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)
thì người đàn bà hàng chài là nhân vật trung tâm ; Rừng xà nu (Nguyễn Trung
Thành) là Tnú; Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) là cô Mị; Những đứa con trong gia
đình(Nguyễn Thi) là Việt và Chiến.
- Nhân vật phụ:
Trong tác phẩm văn học, hệ thống nhân vật ngoài nhân vật chính (bao hàm
trong đó cả nhân vật trung tâm) còn lại là nhân vật phụ.Nhân vật phụ giữ vai trò
thứ yếu so với nhân vật chính trong quá trình phát triển diễn biến của cốt truyện,
trong việc thể hiện chủ đề tác phẩm. Nhân vật phụ góp phần hỗ trợ bổ sung cho
nhân vật chính, không được làm mờ nhạt nhân vật chính. Có nhiều nhân vật phụ
vẫn được nhà văn miêu tả đậm nét, có cuộc đời và tính cách riêng, cùng với
những nhân vật khác trong tác phẩm tạo nên một bức tranh đời sống sinh động và
hoàn chỉnh như cụ Mết trong Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành), chú Năm trong


Những đứa con trong gia đình(Nguyễn Thi) hay người nghệ sĩ Phùng trong
Chiếc thuyền ngoài xa.
* Phân loại theo quan hệ thuận-nghịch giữa nhân vật và lí tưởng (xét từ
góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật )
Có thể chia ra nhân vật chính diện (nhân vật tích cực) và nhân vật phản diện
(nhân vật tiêu cực).
- Nhân vật chính diện: là loại nhân vật mang trong mình những phẩm chất
tốt đẹp, có thể đại diện cho những giá trị tư tưởng, đạo đức thẩm mỹ mà nhà văn
cùng thời đại nhân vật đó hướng tới. Đó là những nhân vật như Chiến, Việt trong
tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi; T nú, Mai, Dít và cụ
Mết trong Rừng Xà nu (Nguyễn Trung Thành)
- Nhân vật phản diện: là nhân vật có phẩm chất ngược lại với nhân vật
chính diện. Nhân vật phản diện bị miêu tả trong tác phẩm với thái độ phê phán.
Đó là những nhân vật như thằng Dục trong trong tác Rừng Xà nu (Nguyễn Trung

Thành); A Sử trong Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài),…
Trong quá trình phát triển của văn học, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau,
việc xây dựng các nhân vật chính diện và phản diện cũng khác nhau.Nếu như
trong thần thoại chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nhân vật chính diện và nhân
vật phản diện thì trong truyện cổ tích, các truyện thơ Nôm, các nhân vật thường
được xây dựng thành hai tuyến rõ rệt có tính chất đối kháng quyết liệt.Ở đây, hễ là
nhân vật chính diện thương tập trung vào những tính chất tốt đẹp còn nhân vật
phản diện thì hoàn toàn ngược lại. Trong các tác phẩm văn học hiện đại nhiều khi
khó phân biệt được đâu là nhân vật chính diện ,đâu là nhân vật phản diện. Vì vậy,
sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện ở đây chỉ có tính chất
tương đối .
*Phân loại theo hình thức cấu trúc nhân vật
Ở tiêu chí phân loại này, có thể nhắc tới nhân vật tư tưởng, nhân vật tâm lý.
- Nhân vật tư tưởng:
Trong tác phẩm văn học, có những nhân vật mà hạt nhân cấu trúc của nó
không phải là cá tính, cũng không phải là các phẩm chất loại hình, mà là một tư
tưởng, một ý thức.Xây dựng loại nhân vật này, các nhà văn nhằm tới việc phát
biểu hoặc tuyên truyền cho một tư tưởng nào đó về đời sống. Ví dụ như nhân vật
Việt, Chiến trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình’’ của Nguyễn Thi
hay nhân vật T nú, Dít , cậu é Heng của Nguyễn Trung Thành ,…đều mang những
nét cơ bản của nhân vật tư tưởng .


- Nhân vật tâm lý:
Ở loại nhân vật này, nhà văn tập trung vào việc tái hiện “hiện thực tâm lý"
vào những hành động bên trong chứ không phải hành động bên ngoài của nhân
vật.Nhiều khi hiện thực tâm lý đó không làm nên nhân vật mà còn làm nên chính
câu chuyện, làm nên những tác phẩm được gọi là “truyện không có cốt truyện".
Loại nhân vật này xuất hiện nhiều trong văn học hiện đại, có thể kể đến nhân vật
cô bé Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của nhà văn Thạch Lam. Những rung động

nội tâm, những diễn biến tình cảm tinh tế của nhân vật tạo nên giá trị của tác
phẩm. Còn với tác phẩm truyện ngắn lớp 12, nhân vật mang đặc điểm này là bà cụ
Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) và Mị trong Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)
*Phân loại nhân vật theo thể loại :
Có thể phân thành: nhân vật tự sự, nhân vật kịch, nhân vật trữ tình.
- Nhân vật tự sự: là loại nhân vật xuất hiện trong các tác phẩm truyện.
Đó là những con người bình thường, hàng ngày được thể hiện một cách tập trung
và sống động trong tác phẩm. Đây là loại nhân vật hành động, có đời sống nội tâm
phong phú.Có thể kể đến tất cả các nhân vật trong 5 truyện ngắn được giới thiệu
trong chương trình có bản lớp 12 môn Ngữ văn.
- Nhân vật trữ tình: là nhân vật nghiêng về cảm xúc, không có hành
động, ít được chú ý miêu tả về ngoại hình. Mọi tác động của môi trường sống chỉ
dẫn đến cảm xúc của nhân vật chứ không dẫn đến hành động.
- Nhân vật kịch: là loại nhân vật hành động, xuất hiện vào thời điểm
sóng gió nhất trong vòng xoáy cuộc đời. Mọi tác động của môi trường sống đều
dẫn đến hành động của nhân vật .
Trên đây là các loại nhân vật thường gặp.Trong văn học còn có thể gặp một
số loại nhân vật khác nữa. Sự phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối vì
trong loại này còn có thể bao hàm một số yếu tố của loại kia và ngược lại. Không
có gì khó hiểu khi ta thấy một nhân vật cụ thể nào đó có mặt trong nhiều “danh
sách’’ khác nhau. Thực tế ấy đòi hỏi việc nghiên cứu nhân vật phải tránh sự cứng
nhắc, tuyệt đối hóa .
1.4. Một số biện pháp xây dựng nhân vật
Có nhiều biện pháp khác nhau trong việc xây dựng nhân vật.Chúng ta có thể
kể đến một số biện pháp chung, chủ yếu nhấtlà : miêu tả nhân vật qua ngoại hình,
nội tâm, ngôn ngữ và hành động.
- Xây dựng nhân vật qua ngoại hình


Ngoại hình là dáng vẻ bên ngoài của nhân vật bao gồm y phục, dáng điệu,

nét mặt,…Ðây là yếu tố quan trọng góp phần biểu hiện rõ nhân vật. Thường miêu
tả ngoại hình không chỉ đơn giản để khắc họa đặc điểm nhận diện của con người
mà ngoại hình nhân vật cần góp phần biểu hiện hoàn cảnh, số phận, phẩm chất của
nhân vật.Ðây cũng chính là sự thống nhất giữa cái bên ngoài và cái bên trong của
nhân vật.Chúng ta có thể hình dung ra hoàn cảnh bi thảm của người vợ nhặt (Vợ
nhặt- Kim Lân) qua bộ trang phục rác như tổ đỉa của thị. Cũng có thể dự doán về
số phận của Mị trước dáng điệu buồn rười rười, lùi lũi, cúi mặt,… mỗi khi thái cỏ
ngựa hay làm bất cứ việc gì đó của Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài),…Vì vậy, khi
tính cách, đời sống bên trong của nhân vật thay đổi, nhiều nét bên ngoài của nhân
vật cũng thay đổi theo.
Khi xây dựng ngoại hình nhân vật, nhà văn cần thể hiện những nét riêng
biệt, cụ thể của nhân vật nhưng qua đó, người đọc có thể nắm bắt được những đặc
điểm chung của những người cùng nghề nghiệp, tầng lớp, thời đại...Những nhân
vật thành công trong văn học từ xưa đến nay cho thấy nhà văn bao giờ cũng chọn
lựa công phu những nét tiêu biểu nhất để khắc họa nhân vật.
-Xây dựng nhân vật qua biểu hiện nội tâm
Khái niệm nội tâm nhằm chỉ toàn bộ những biểu hiện thuộc cuộc sống bên
trong của nhân vật.Ðó là những tâm trạng, những suy nghĩ, những phản ứng tâm
lí... của nhân vật trước những cảnh ngộ, những tình huống mà nó gặp phải trong
cuộc đời.Sự biểu hiện hợp lí và sâu sắc nội tâm góp phần rất lớn tạo nên sức sống
của nhân vật. Nói như L. Tônxtôi: "Mục đích chính của nghệ thuật...là nói lên sự
thật về tâm hồn con người, nói lên những điều bí ẩn không thể diễn tả bằng ngôn
ngữ thông thường được". Ðể làm được điều đó, nhà văn phải hiểu sâu sắc cuộc
sống và con người, nắm bắt được những biểu hiện và diễn biến dù nhỏ nhặt nhất
đời sống bên trong của nhân vật.
Trong quá trình phát triển của lịch sử văn học, việc thể hiện nhân vật qua nội
tâm ngày càng có vai trò quan trọng.Các truyện ngắn hiện đại trong chương trình
lớp 12 cũng có thể coi là tác phẩm xuất sắc trong việc thể hiện diễn biến nội tâm
nhân vật.Qua diễn biến đó, người đọc thấy được vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất nhân
vật.Thấy được quan niệm nhân sinh, tài năng nghệ thuật của nhà văn.Tiêu biểu với

trong số các nhân vật đó là Mị (Vợ chồng A Phủ- Tô Hoài), bà cụ Tứ (Vợ nhặtKim Lân)
- Xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ


Khái niệm ngôn ngữ nhân vật nhằm chỉ những lời nói của nhân vật trong tác
phẩm.Lời nói đó phản ánh kinh nghiệm sống cá nhân, trình độ văn hóa, tư tưởng,
tâm lí, thị hiếu...Ðằng sau mỗi câu câu nói của mỗi con người đều có lịch sử riêng
của nó. Sêđrin cho rằng: "Từ cửa miệng một người nói ra không hề có lấy một câu
nào mà lại không thể truy nguyên đến cái hoàn cảnh đã khiến cho nó xuất
hiện...Trong cuộc sống, không thể có những hành động, những câu nói mà đàng
sau lại không có một lịch sử riêng". Quả là trong cuộc sống không thể có những
người nói hoàn toàn giống nhau, vì vậy nhà văn cần phát hiện những nét riêng của
ngôn ngữ nhân vật để thể hiện trong tác phẩm.
Trong các tác phẩm tự sự nói chung, lời nói của nhân vật thường chiếm tỉ lệ
ít hơn so với ngôn ngữ người kể chuyện nhưng lại có khả năng thể hiện sinh động
và khêu gợi cho người đọc hình dung về bản chất, tính cách của nhân vật.
Trong truyện ngắn Vợ nhặt (Kim Lân) ta thấy nhân vật được khắc họa rõ nét
qua lời nói. Buổi chiều muộn về nhà có con dâu mới, bất ngờ đấy những lúc hiểu
ra cơ sự, bà cụ Tứ ôn tồn từng lời với các con. “Ừ thì các con đã phải duyên phải
kiếp với nhau, u cũng mừng lòng,…”. “… chúng mày lấy nhau lúc này u thương
quá…”. Hình ảnh của một người mẹ hiền hậu, thấu hiểu tình cảnh gia đình thể hiện
ở những lời nói bình dị đó.Hay nhân vật thị lúc gặp lại Tràng lần hai, chị có chao
chat, chỏng lỏn đấy nhưng cũng có phần ý nhị, khéo lời. Lúc Tràng mời giầu, thị
đáp “có ăn gì ăn chứ chả ăn giầu”,…
- Xây dựng nhân vật qua hành động
Hành động nhân vật là khái niệm nhằm chỉ các việc làm của nhân vật. Ðây là
phương diện đặc biệt quan trọng để thể hiện tính cách nhân vật vì việc làm của mỗi
người là căn cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định nói lên tư cách, lí tưởng, phẩm
chất cũng như những đặc điểm thuộc về thế giới tinh thần của người đó. Hơn nữa,
trong các tác phẩm tự sự, tính cách nhân vật không phải ngay từ đầu đã được hình

thành trọn vẹn. Chính hành động có tác dụng bộc lộ quá trình phát triển của tính
cách và thúc đẩy sự diễn biến của hệ thống cốt truyện...Thông qua các mối quan
hệ, sự đối xử giữa các nhân vật trong những tình huống khác nhau, người đọc có
thể xác định được những đặc điểm, bản chất của nhân vật. Thông thường, khi miêu
tả hành động nhân vật, nhà văn thường kết hợp với những biểu hiện nội tâm tương
ứng vì đằng sau mỗi hành động, bao giờ cũng có một tâm trạng. Dùng nội tâm để lí
giải hành động, sử dụng hành động để làm sáng tỏ nội tâm là một hiện tượng phổ
biến trong việc miêu tả nhân vật. Tiêu biểu trong trường hợp này là nhân vật Mị


(Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài), ….Hành động cắt dây trói cứu A Phủ là trong đêm
đông giá rét là chi tiết quan trọng thể hiện nhân vật, tư tưởng tác phẩm.
Trên đây là những biện pháp chung nhất trong việc xây dựng nhân vật.
Ngoài những biện pháp trên, nhà văn còn có thể khắc họa nhân vật thông qua việc
đánh giá của các nhân vật khác trong tác phẩm, thông qua việc mô tả đồ dùng, nhà
cửa, môi trường xã hội, thiên nhiên...mà nhân vật sinh sống. Ở những tác phẩm tự
sự, ngôn ngữ người kể chuyện là một yếu tố rất quan trọng trong việc bộc lộ, miêu
tả và đánh giá nhân vật.Việc phân biệt các biện pháp xây dựng nhân vật như trên
chỉ có tính chất tương đối.Trong thực tế, các biện pháp này nhiều khi không tách
rời mà gắn bó chặt chẽ với nhau.
Vì vậy, rất khó chỉ ra các biện pháp xây dựng nhân vật dưới một hình thức
thuần túy và độc lập. Một điều cũng cần lưu ý là, nắm bắt các biện pháp trên đây
cũng chỉ nhằm mục đích hiểu về nhân vật trong tác phẩm văn học nói chung, tác
phẩm truyện ngắn nói riêng. Từ đó, lí giải, cắt nghĩa các giá trị của tác phẩm.
(Lưu ý: Chuyên đề mong muốn cung cấp nội dung tương đối toàn diện về nhân vật
văn học và kiến thức cơ bản về nhân vật trong các truyện ngắn 12. Thời lượng
giảng dạy 01 tiết nên giáo viên lựa chọn kiến thức hợp lí)


2. Một số dạng đề

Chuyên đề có khái quát một số dạng đề như sau:
1. Dạng 1: Đề nghị luận về một nhân vật
2. Dạng 2: Đề nghị luận về một ý kiến bàn về nhân vật
3. Dạng 3: Đề nghị luận về hai ý kiến bàn về nhân vật
4. Dạng 4: Đề nghị luận về nhận vật qua đoạn văn bản
5. Dạng 5: Đề so sánh hai nhân vật
2.1. Dạng 1. Phân tích/ Cảm nhận về một nhân vật
2.1.1. Dàn ý chung
a. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu vấn đề nghị luận,nhân vật cần nghị luận.
b. Thân bài: Phân tích/ cảm nhận về nhân vật theo yêu cầu đề.
Ý cơ bản như sau:
b1. Khái quát chung về nhân vật
b2.Phân tích/cảm nhận về một nhân vật
- Tình huống xuất hiện của nhân vật
- Đặc điểm nhân vật:ngoại hình; phẩm chất, tính cách, số phận,... của nhân vật: thể
hiện qua các yếu tố như lời nói, hành động, diễn biến tâm lí, mối quan hệ với các
nhân vật khác,...
b3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Miêu tả bằng lời nói, hành động,…
- Miêu tả diễn biến tâm lí,…
- Đặt nhân vào vào tình huống, vào mối quan hệ,..
b4. Đánh giá: Ý nghĩa, vai trò của nhân vật:
- Ý nghĩa xã hội: nhân vật đại diện cho tầng lớp nào trong xã hội
- Vai trò trong tác phẩm: thể hiện giá trị hiện thực, nhân đạo
- Thể hiện quan niệm, tài năng của nhà văn,…
c. Kết bài:
- Đánh giá chung về nhân vật đó;
- Khẳng định giá trị của tác phẩm, vị trí, tài năng của nhà văn.

Chú ý:
- Mỗi nhân vật được nhà văn xây dựng theo một phương thức riêng … có nhân vật
thiên về diễn biến tâm trạng và hành động ( Mị- Vợ chồng A phủ ), hoặc có nhân
vật lại thiên về diễn biến tâm trạng ( bà cụ Tứ- Vợ Nhặt ),....Bởi vậy khi phân tích


nhân vật, chúng ta không nhất thiết phải phân tích hết những yếu tố trên. Phân tích
nhân vật phải đặt trong mối tương quan với các nhân vật khác, với toàn bộ thiên
truyện.
- Có những đề phân tích, cảm nhận về nhân vật có kèm theo câu hỏi phụ, người
viết cần xác định được yêu cầu đó để bổ sung cho bài viết thêm toàn diện (đề số 2)
2.1.2. Đề minh họa
Đề 1.Cảm nhận của anh/chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm
Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.
a. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa, nhân
vật người đàn bà hàng chài.
b. Thân bài
b1.Khái quát: Người đàn bà hàng chài lànhân vật trung tâm trong truyện ngắn
Chiếc thuyền ngoài xa. Chị được khắc họa rõ nét trong tác phẩm. Qua nhân vật
này, nhà văn phát hiện vẻ đẹp cuộc sống, thể hiện những quan niệm nhân sinh mới
mẻ, tích cực.
b2.Cảm nhận nhân vật người đàn bà hàng chài
* Tình huống xuất hiện nhân vật: đầu tác phẩm, dưới sự quan sát của nghệ sĩ
Phùng; chị chịu để cho chồng đánh.
->tạo sự tò mò với độc giả; ấn tượng về người phụ nữ bất hạnh, chịu đựng khác
thường.
*Tên tuổi:không tên tuổi cụ thể, gọi phiếm định "người đàn bà hàng chài",
"mụ".Cách gọi tên nhân vật này cũng giống như nhân vật thị trong truyện ngắn Vợ
nhặt của nhà văn Kim Lân.Chỉ là một người vô danh như bao người đàn bà vùng

biển khác nhưng số phận con người ấy lại được tác giả tập trung thể hiện và được
người đọc quan tâm nhất trong truyện ngắn này.
->cái tên gắn với nghề, công việc vốn không dành cho những người phụ nữ chân
yếu tay mềm. Chị đại diện cho số phận những người phụ nữ miền biển (tên gọi có
ý nghĩa xã hội)
*Vóc dáng, ngoại hình:
+ Thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng xuất hiện với khuôn mặt mệt mỏi; lưng áo bạc
phếch và rách rưới; dáng vẻ lúng túng, …
->đó là hình ảnh một con người lam lũ, nghèo khổ; cam chịu, nhẫn nhục; luôn tự ti.


->Nhà văn thể hiện nỗi xót thương cho số phận con người ngay khi miêu tả ngoại
hình, dáng vẻ của nhân vật.
*Số phận đau khổ, bất hạnh
+ Trước khi có gia đình: chịu thua thiệt về nhan săc, không ai lấy.
+ Khi đã có gia đình: đông con, cuộc sống lênh đênh trên biển và nghèo khổ.
-> Nỗi khổ của cơm áo gạo tiền, gánh nặng gia đình.
+Bị chồng đánh, chửi, xúc phạm, dọa nạt,…
->Một người đàn bà bất hạnh, nhẫn nhục chịu đựng,đau đớn về thể xác, tổn thương
về tinh thần, … gánh nặng trên vai bao nỗi nhọc nhằn và luôn nơm nớp lo sợ con
cái bị tổn thương khi phải chứng kiến cảnh bạo lực gia đình.
*Vẻ đẹp tâm hồn và tính cách
- Vẻ đẹp của một người từng trải sâu sắc (đặc biệt nhất)
+ Thấu hiểu nguyên nhân vũ phu của người chồng: do hoàn cảnh ép buộc, chứ
không phải bản chất.
- Chị thấu hiểu hoàn cảnh, cuộc sống của con người miền biển: mỗi gia đình hàng
chài cần một người đàn ông trên thuyền để chèo chống khi phong ba bão táp, cùng
làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa.
- Chị có trải nghiệm và cảm nhận sâu sắc về cuộc sống: với chị, hạnh phúc thật
giản dị, đó là khi được nhìn “đàn con ăn no”.

->thấu hiểu lẽ đời, chiêm nghiệm cuộc sống, luôn hướng đến những điều đẹp đẽ
nhất trong hoàn cảnh éo le, thiếu thốn.
- Vẻ đẹp khoan dung, nhân hậu, độ lượng:
+ Chị không trách chồng mà nhận lỗi về phía mình
+ Chị chấp nhận những trận đòn để giải tỏa những bức bách, u uất trong lòng
chồng
+ Chị thấy trong chuyện này mình là người có lỗi “giá mình đẻ ít đi hoặc sắm
được thuyền rộng hơn,…”
->hi sinh cao cả, chị hiểu chồng mình, vị tha với chồng.
- Vẻ đẹp tình mẫu tử thiêng liêng
+Chị thương con: chị đau đớn, dặn vặt khi để thằng Phát thấy cảnh trái ngang.
+ Không muốn con bị tổn thương, tìm mọi cách để các con chị được lớn lên bình
thường nhất: chị xin chồng đưa lên bờ đánh bởi chị không muốn các con phải
chứng kiến những cảnh tượng đáng sợ đó, không muốn các con bị ám ảnh, sợ hãi.
Chị gửi thằng Phát lên ngược cũng là vì lẽ đó.


+ Hi sinh bản thân vì con: thân xác con người ai cũng biết đau đớn nhưng chị chấp
nhận cái đau đớn đó là vì con.
+ Chị tâm niệm sống là vì các con "Đàn bà ở thuyền chúng tôi phải sống cho con
chứ không phải sống cho mình như ở trên đất được"
+ Khi nhắc đến cảnh hòa thuận trên thuyền, chị hạnh phúc khi "ngồi nhìn đàn con
chúng nó được ăn no", "khuôn mặt xấu xí vcủa mụ chợt ửng sáng lên như một nụ
cười".
+ Thấy điều hạnh phúc của gia đình: cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống
hòa thuận, vui vẻ.
-> Chị vui niềm vui của con, hạnh phúc bằng hạnh phúc của con.
b3. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Có thể thấy, người đàn bà hàng chai đã được xây dựng mang tính chất điển hình
cho số phận người phụ nữ bị bảo hành trong xã hội hiện đại và điển hình cho vẻ

đẹp người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Dù có éo le, ngang trái đến đâu, chị vẫn
chấp nhận và sống vì con.
- Nhà văn đã đặt nhân vật người đàn bà hàng chài vào những tình huống đặc biệt,
éo le. Xuất hiện trong những trận đòn roi của chồng và xuất hiện ở tòa án là những
tình huống để nhân vật này bộc lộ số phận đáng thương, những phẩm chất đáng
quý, đáng trân trọng. Từ đó nhà văn khám phá, phát hiện về về cuộc sống và con
người.Đem đến cái nhìn toàn diện hơn cho người đọc về số phận con người, về
quan niệm nhân sinh.
- Nhân vật người đàn bà hàng chài được xây dựng chủ yếu qua ngoài hình, lời nói,
cử chỉ, hành động
- Vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn chị được bộc lộ rõ nhất khi đặt trong mối qua hệ với
nhân vật khác.Đó là mối quan hệ gia đình và mối quan hệ xã hội.
b4. Đánh giá
Qua nhân vật người đàn bà hàng chài, nhà văn:
- Thể hiện mối quan tâm sâu sắc với số phận con người trong cuộc sống đời tư- thế
sự, phản ánh một phần hiện thực xã hội thời trước đổi mới.
- Bộc lộ sự cảm thông và niềm xót thương sâu sắc của nhà văn với số phận con
người trong cuộc mưu sinh nhọc nhằn, trong hành trình gian nan, đau khổ kiếm tìm
hạnh phúc và sự bình yên.
- Nhà văn đã phát hiện vẻ đẹp khuất lấp trong tâm hồn con người.


- Thể hiện những quan niệm đúng đắn, nhất quán về nghệ thuật và cuộc đời: nghệ
thuật chân chính phải luôn gắn với cuộc đời, vì cuộc đời; người nghệ sĩ phải nhìn
nhận cuộc sống, con người một cách toàn diện, sâu sắc.
c. Kết bài
- Cảm nghĩ về nhân vật: đáng thương, đáng trân trọng
- Khẳng định tài năng, vị trí của nhà văn: khám phá, phát hiện vẻ đẹp của cuộc
sống.Xứng đáng là người mở đường tinh anh cho văn học Việt Nam thời kì đổi
mới.

Đề 2. Cảm nhận của anh/chị về nhân vật người đàn bà hàng chài trong tác phẩm
Chiếc thuyền ngoài xa của nhà văn Nguyễn Minh Châu.Từ đó nhận xét vềgiá trị
nhân đạo của tác phẩm.
Gợi ý
a. Mở bài
- Giới thiệu Nguyễn Minh Châu, truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa.
- Nêu vấn đề nghị luận: nhân vật người đàn bà hàng chài và giá trị nhân đạo của tác
phẩm.
b. Thân bài
b1. Cảm nhận nhân vật(tham khảo đề 1, chú trọng đặc điểm về cuộc sống, số
phận và phẩm chất tình cách nhân vật)
b2. Nhận xét về giá trị nhân đạo của tác phẩm:
- Khái quát về giá trị nhân đạo: long thương người, hướng đến con người với cái
nhìn nhân văn; biểu hiện cơ bản giá trị nhân đạo.
- Nhận xét giá trị nhân đạo qua nhân vật ngời đàn bà hàng chài:
+ Thấu hiểu, thương xót, đồng cảm với số phận bất hạnh của người đàn bà hàng
chài nói riêng và người phụ nữ nói chung.
+Lên tiếng phê phán nạn bạo hành trong gia đình – một mảng tối của xã hội đương
đại.
+ Phát hiện và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ.
+ Trân trọng khát vọng hạnh phúc gia đình, khát vọng cao đẹp, nhân văn.
- Đánh giá giá trị nhân đạo: toàn diện; mang tính phát hiện (vẻ đẹp khuất lấp)
c. Kết bài
- Cảm nghĩ về nhân vật, giá trị nhân đạo của tác phẩm;
- Khẳng định tài năng của nhà văn, chiều sâu của tác phẩm.
2. 2. Dạng 2: Đề nghị luận về một ý kiến bàn về nhân vật


2.2.1. Dàn ý chung
a. Mở bài:

- Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật cần nghị luận;
- Nêu vấn đề, dẫn ý kiến.
b. Thân bài:
b1. Giải thích ý kiến: giải thích những từ ngữ then chốt và rút ra ý nghĩa của ý
kiến.
b2. Phân tích nhân vật làm sáng tỏ ý kiến: Trong quá trình phân tích cần bám sát
và làm nổi bật nhận định.
b3. Bình luận ý kiến:Làm nổi bật sự đánh giá của bản thân, chốt lại ý kiến đó
đúng hay sai; hoặc có điểm nào cần phải bàn thêm; ý kiến đó có đóng góp gì cho
quá trình tìm hiểu nhân vật trong tác phẩm văn học.
c. Kết bài: Tóm lược lại vấn đề, khẳng định ý kiến, nhận đinh.
2.2.2. Đề minh họa
Đề 1. Về nhân vật Mị trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài, có
ý kiến cho rằng: “Đó là một người phụ nữ lao động miền núi Tây Bắc vừa rất đáng
thương vừa rất đáng khâm phục”.
Từ sự cảm nhận về nhân vật Mị, anh/chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
(Nguồn tham khảo: Đề khảo sát THPT QG Vĩnh Phúc năm 2017)
Gợi ý:
a. Mở bài
- Giới thiệu chung: Tác giả Tô Hoài, tác phẩm Vợ chồng A Phủ và nhân vật Mị.
- Nêu vấn đề, trích dẫn ý kiến: “Đó là một người phụ nữ lao động miền núi Tây
Bắc vừa rất đáng thương vừa rất đáng khâm phục”.
b. Thân bài
b1. Giải thích ý kiến
- Là người phụ nữ lao động miền núi đáng thương: nghèo khổ, số phận bất hạnh,
sống kiếp nô lệ, chịu sự áp bức bóc lột của bọn phong kiến, chúa đất.
- Là người phụ nữ lao động miền núi đáng khâm phục: có ý thức phản kháng và
sức sống tiềm tàng mãnh liệt.
=>Ý kiến khẳng định về nhân vật Mị là một người phụ nữ có số phận bất hạnh
đáng thương nhưng lại có sức sống mãnh liệt đáng khâm phục.

b2. Phân tích, chứng minh làm sáng tỏ ý kiến qua nhân vật Mị
* Mị là người phụ nữ lao động miền núi rất đáng thương:


- Mị bị đặt vào hoàn cảnh nghèo khổ, đáng thương: cha mẹ nghèo, vay nợ đám
cưới mà trả đến hết đời không xong. Mị buộc phải trở thành con dâu gạt nợ cho
nhà thống lí Pá tra.
- Số phận chị bất hạnh:
+Mị rơi vào bi kịch khi làm dâu cho nhà giàu: mất hoàn toàn tự do, mất tình yêu,
hạnh phúc.
+ Mị bị bóc lột đến tận cùng về sức lao động. Thân phận là con dâu nhưng Mị
không khác gì con ở. Đến mức, ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi
+ Mị bị chà đạp về thể xác: bị đánh, bị trói đứng tàn nhẫn
+ Mị bị giam hãm về tinh thần: nhiều mùa xuân qua, Mị không được đi chơi. A Sử
không cho Mị đi,…
-> Dưới sự áp chế của cường quyền, thần quyền, Mị từ một cô gái trẻ trung, yêu
đời, rơi vào kiếp sống câm lặng, vô cảm – lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa;
lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi…
* Mị là người phụ nữ lao động miền núi rất đáng khâm phục
- Mị có sự phản kháng mãnh liệt khi biết mình phải làm con dâu gạt nợ cho nhà
thống lí: từ chối cuộc hôn nhân, làm nương để trả nợ; bị bắt về làm dâu, hàng tháng
trời đêm nào Mị cũng khóc; Mị có ý định ăn lá ngón để tự tử…
- Mị có sức sống tiềm tàng, khao khát tình yêu, hạnh phúc: Trong đêm tình mùa
xuân, cùng men rượu, ngheâm thanh của tiếng sáo gọi bạn, Mị thức dậy lòng yêu
đời, yêu sống, Mị thấy mình còn trẻ. Mị muốn đi chơi.
- Mị có sức sống mãnh liệt, khát vọng tự do và sự công bằng:
+ Trong đêm đông Mị cởi trói cho A Phủ, khi chứng kiến giọt nước mắt của A Phủ,
Mị thương mình, thương người, phẫn nộ trước áp bức, bất công – chúng nó thật
độc ác/ người kia việc gì mà phải chết… Điều đó thôi thúc Mị vượt lên trên cả nỗi
sợ hãi cường quyền để cắt dây trói cho A Phủ.

+ Khi nhìn thấy A Phủ vùng chạy, niềm khao khát sống đã thôi thúc Mị “cắt” nốt
sợi dây trói của thần quyền và tự giải phóng cho chính mình: Mị đứng lặng trong
bóng tối…. A Phủ, cho tôi đi với, ở đây thì chết mất
b3. Bình luận, đánh giá
- Ý kiến trên hoàn toàn đúng đắn, làm nổi bật nhân vật Mị là một người phụ nữ có
số phận bất hạnh nhưng lại có sức sống tiềm tàng mãnh liệt và ý thức sâu sắc về
giá trị một cuộc sống có ý nghĩa.
- Để làm nổi bật hình tượng, nhà văn đã đặt nhân vật vào hoàn cảnh, tình huống
đặc biệt, khai thác triệt để các chi tiết nghệ thuật, đi sâu miêu tả tâm lí nhân vật:


những trạng thái tâm lí mâu thuẫn, phức tạp được lí giải logic trong sự tương tác
giữa tính cách với hoàn cảnh
- Nhân vật Mị tiêu biểu cho cuộc đời, số phận và những phẩm chất tốt đẹp của con
người lao động miền núi dưới ách áp bức bóc lột của bọn phong kiến, chúa đất.
- Nhà văn vừa bộc lộ tình yêu thương, sự đồng cảm vừa thể hiện những khám phá
mới mẻ - phát hiện và khẳng định sức sống, khả năng cách mạng của những con
người lao động nhỏ bé.
c. Kết bài
- Khái quát về nhân vật Mị
- Giá trị tác phẩm và vị trí của tác giả
2. 3. Dạng 3: Đề nghị luận về hai ý kiến bàn về nhân vật
2.3.1. Dàn ý chung
a. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm;
- Nêu vấn đề, dẫn hai ý kiến.
b. Thân bài:
b1. Giải thích ý kiến: giải thích từng ý kiến, rút ra ý nghĩa của hai ý kiến khi bàn
về nhân vật.
b2. Phân tích nhân vật làm sáng tỏ hai ý kiến:

+ Phân tích đặc điểm nhân vật theo một logic nhất định (Đã gợi ý trong ý kiến)
+ Phân tích nghệ thuật thể hiện nhân vật;
+ Ý nghĩa, vai trò của nhân vật
b3. Bình luận ý kiến:
+ Ý kiến đúng, sai, hoàn toàn đúng hay có bổ sung cho nhau,...
+ Làm nổi bật sự đánh giá của bản thân
c. Kết bài: Tóm lược lại vấn đề, khẳng định ý nghĩa của ý kiến, nhận đinh.
2.3.2. Đề minh họa
Đề 1.Về nhân vật thị trong tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân, có ý kiến cho
rằng: Đó là người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường và liều lĩnh. Nhưng ý kiến
khác lại nhấn mạnh: Thị là người giàu nữ tính và khát vọng.
Từ cảm nhận của mình về nhân vật, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.
a. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm;
- Nêu vấn đề, dẫn hai ý kiến.


b. Thân bài:
b1. Giải thích ý kiến
- Người phụ nữ cùng đường, liều lĩnh: Người phụ nữ bị dồn đẩy vào hoàn cảnh
nghiệt ngã, không lối thoát, trở nên táo bạo trong ngôn ngữ và hành động, dường
như không còn để tâm đến nhân cách, phẩm giá của mình.
- Người phụ nữ giàu nữ tính và khát vọng: Người phụ nữ có nhiều nét đẹp dịu
dàng, nhân hậu của nữ giới, nhiều mơ ước, khát khao.
b2. Cảm nhận nhân vật làm sáng tỏ hai ý kiến:
* Người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường và liều lĩnh:
- Thị là người phụ nữ lao động nghèo, cùng đường:
+ Không có công ăn việc làm: thị cùng mấy người con gái khác phải “ngồi vêu” ở
cửa nhà kho có thể để nhặt hạt rơi hạt vãi, có khi chờ ngời ta thuê.
+ Nạn nhân thể thảm của cái đói: ngoại hình của thị tiều tụy với áo quần tả tơi như

tổ đỉa, gầy sọp, trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt.
=>Nhân vật bị đặt vào tình huống éo le, nghiệt ngã. Phải đứng trước bờ vực của sự
sống và cái chết.phải tìm mọi cách để sống sót qua ngày.
- Thị là người phụ nữ liều lĩnh:
+ Vì đói mà thị gợi ý được ăn một cách sống sượng. Rồi thị lại ăn một cách thô tục
“Thế là thị sà xuống ăn thật. Thị cắm đầu ăn một chặp 4 bát bành đúc liền chẳng
chuyện trò gì”
+ Gặp Tràng lần thứ hai, bám vào những lời nói vu vơ nửa đùa nửa thật của Tràng
mà thị theo không Tràng về làm vợ.
=>Để sống sót qua ngày, thị đã phải liều lĩnh sống, liều lĩnh giao phó đời mình cho
một người đàn ông xa lạ.
* Người phụ nữ giàu nữ tính và khát vọng:
- Thị giàu nữ tính:
+ Ở tỉnh chao chat, chỏng lỏn là thế mà từ khi thành vợ Tràng, thị khác hẳn: trên
con đường từ chợ về nhà, thị rón rén, e thẹn đi sau Tràng; trước những cặp mắt đổ
dồn về phía mình, thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia;
+ Về nhà Tràng, thị ngồi mớm ở mép giường;
+ Bà cụ Tứ về, thị lễ phép chào u;
+ Vẻ nữ tính còn thể hiện rõ hơn vào buổi sáng hôm sau, thị trở nên hiền hậu, đúng
mực. Thị biết vun vén, chăm sóc gia đình.
- Thị giàu khát vọng:


+ Đó là khát vọng vượt qua nạn đói thê thảm, có một tổ ấm gia đình đơn sơ, hạnh
phúc và một tương lai tốt đẹp.
+ Đặc biệt, niềm khát khao đổi đời của người phụ nữ nông dân khốn khổ thể hiện
một cách kín đáo qua lời kể của thị với mẹ chồng về việc người dân Thái Nguyên,
Bắc Giang phá kho thóc Nhật ở cuối truyện.
* Nghệ thuật thể hiện:
- Nhân vật được đặt vào một tình huống truyện độc đáo, lối trần thuật tự nhiên, hấp

dẫn.
- Nhân vật được khắc họa sinh động, thể hiện qua diễn biến tâm lý tinh tế, ngôn
ngữ mộc mạc, giản dị nhưng đậm cá tính.
- Nhân vật khắc họa trong mối quan hệ gia đình - người đã cưu mang thị lúc thị
cùng đường. Họ vừa là người thân vừa là ân nhân của thị.
b3. Bình luận ý kiến:
Hai ý kiến đề cập đến những phương diện khác nhau về tính cách nhân vật.
Ý kiến thứ nhất nhấn mạnh đến hoàn cảnh trớ trêu đối với thân phận con người, ý
kiến thứ hai khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam dẫu bị đẩy
vào đường cùng vẫn khát khao hạnh phúc, hướng tới tương lai.
Hai ý kiến tuy khác nhau nhưng không đối lập mà bổ sung cho nhau giúp
người đọc có cái nhìn sâu sắc và thấu đáo hơn về vẻ đẹp của nhân vật và tư tưởng
của nhà văn.
c. Kết bài:
- Khái quát nhân vật; khẳng định vai trò của nhân vật trong tác phẩm;
- Giá trị tác phẩm, vị trí tác giả.
2. 4. Dạng 4: Nghị luận về nhận vật qua 2 đoạn văn
2.4.1. Dàn ý chung
a. Mở bài
- Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu nhân vật, đặc điểm nhân vật qua đoạn văn.
b.Thân bài:
b1. Phân tích nhân vật qua đoạn văn thứ nhất
* Vị trí đoạn trích, hoàn cảnh nhân vật xuất hiệnnhân vật
* Từ đó làm rõ đặc điểm nhân vật (số phận, tính cách, phẩm chất, …)
* Phân tích nghệ thuật thể hiện nhân vật (lời nói, cử chỉ, hành động, tâm trạng,…)
*Ý nghĩa nhân vậttrong đoạn trích
b2. Phân tích nhân vật đoạn văn thứ hai



* Vị trí đoạn trích, hoàn cảnh nhân vật xuất hiện nhân vật
*Làm rõ đặc điểm nhân vật (số phận, tính cách, phẩm chất, …)
* Phân tích nghệ thuật thể hiện nhân vật (lời nói, cử chỉ, hành động, tâm trạng,…)
* Ý nghĩa nhân vật trong đoạn trích
b3. Nhận xét:
- Điểm chung của đoạn văn khi khắc họa nhân vật: cách thể hiện, đặc điểm nhân
vật.
- Điểm riêng của hai đoạn văn khi khắc họa nhân vật.Lí giải nguyên nhân của sự
khác biệt.
b4. Đánh giá
- Tính logic trong xây dựng tính cách, phẩm chất nhân vật
- Tài năng nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả.
c. Kết luận
- Khái quát chung về nhận vật
- Khẳng định tài năng, vị trí của nhà văn.
2.4.2. Đề minh họa
Đề 1.Trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài đã miêu tả hành động
trỗi dậy của nhân vật Mị qua hai đoạn văn sau:
- “Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ
thêm vào đĩa đèn cho sáng. Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo.Mị muốn đi chơi,
Mị cũng sắp đi chơi. Mị quấn lại tóc, với lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách…”
-“Lúc ấy trong nhà đã tối bưng, Mị rón rén bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng
Mị tưởng như A Phủ đương biết có người bước lại… Mị rút con dao nhỏ cắt lúa,
cắt nút dây mây. A Phủ cứ thở phè từng hơi, không biết mê hay tỉnh. Lần lần, đến
lúc gỡ được hết dây trói ở người A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào
được một tiếng “Đi ngay …”
Cảm nhận của anh/chị về nhân vật Mị qua hai đoạn văn trên.Từ đó nhận xét
về sức sống tiềm tàng của nhân vật này.
a. Mở bài
Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm

- Tô Hoài là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn xuôi Việt Nam hiện đại.
- “Vợ chồng A Phủ”trích trong tập “Truyện Tây Bắc”. Tác phẩm phản ánh bức
tranh bi thảm của người dân nghèo miền núi dưới ách áp bức, bóc lột của bọn


phong kiến, thực dân và là bài ca về phẩm chất, vẻ đẹp, về sức sống mãnh liệt của
người lao động.
- Giới thiệu nhân vật Mị
Mị là cô gái xinh đẹp, có tài thổi sáo, có nhiều chàng trai theo đuổi. Vì món
nợ truyền kiếp, Mị đã bị bắt về cúng ma và làm con dâu gạt nợ nhà thống lí, trở
thành nô lệ, dần dần tê liệt về tinh thần. Thế nhưng với phẩm chất tốt đẹp của
người lao động, sức sống cứ tiềm tàng, âm ỉ rồi bùng cháy mãnh liệt khiến Mị có
thể trỗi dậy giải thoát cho A Phủ và cho chính mình.
b.Thân bài:
b1. Nhân vật Mị trong đoạn văn thứ nhất:
* Vị trí đoạn trích, hoàn cảnh xuất hiện nhân vật: Sau khi uống rượu, lắng nghe
tiếng sáo trong không khí mùa xuân đang về, tâm trạng Mị có sự thay đổi. Từ kiếp
sống nô lệ, cam chịu, tâm hồn Mị đã có sự hồi sinh.Mị muốn đi chơi và sửa soạn
để đi chơi.
* Cảm nhận về nhân vật Mị
- Hành động: Bây giờ Mị cũng không nói. Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một
miếng bỏ vào đĩa đèn cho sáng”
+Lời kể tác giả “Mị không nói”là điều hàng ngày vẫn diễn ra như thế. Nhân vật
này rất ít khi nói
->Sống trong thân phận làm dâu gạt nợ, tinh thần Mị tưởng như đã bị tê liệt hoàn
toàn.
+ Hành động của Mị: “Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ vào đĩa đèn
cho sáng”. Căn buồng chỉ có một ô vuông nhỏ ánh sang tưởng như cả đời Mị ở
trong đó đến nay có thâm ánh sang từ chính tay Mị thắp lên.
-> Chứng tỏđêm tình mùa xuân đến, tiếng sáo gọi bạn, tiếng sáo kí ức và hơi men

nồng nàn đã đánh thức khát khao trong Mị tâm hồn Mị đang hồi sinh. Mị đang
muốn thắp sáng lại căn phòng cũng là thắp sáng cho tâm hồn và cuộc đời đầy đau
khổ, tăm tối của mình.
-Đan xen cùng hành động là chuyển biến trong tâm thứcMị biểu hiện bằng những
câu văn ngắn, ngắt nhịp liên tiếp: ‘trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo.Mị muốn
đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi.Mị quấn lại tóc, Mị với lấy cái váy hoa vắt ở phía
trong vách.
+ Tiếng sáo là biểu tượng cho tình yêu, hạnh phúc, khát vọng tuổi trẻ và là biểu
tượng cho cuộc sống tự do.


+ Tiếng sáo từ ngoại cảnh trở thành tiếng sáo trong tâm tưởng, vẫn rập rờn trong
đầu Mị như thúc giục Mị đi theo tiếng gọi của tình yêu, hạnh phúc.
+ Những khát khao ấy cho thấy Mị đã thực sự sống lại với quá khứ tươi đẹp ngày
trước. Trong những đêm tình mùa xuân, Mị đã từng hẹn hò đi chơi với người yêu
qua âm thanh tiếng sáo.
+ Mị dường như quên đi sự có mặt của A Sử. Những câu văn ngắn, nhịp điệu
nhanh, nêu ra ước muốn và các hành động liên tiếp của Mị thể hiện sự thôi thúc
như một sự chuẩn bị tất yếu cho một sự trỗi dậy mạnh mẽ hơn.
-Nghệ thuật thể hiện:trong đoạn trích, nhân vật được khắc họa diễn biến tâm trạng
tinh tế. Tâm trang đó lại được nhà văn miêu tả bằng những cử chỉ, hành động liên
tiếp và dứt khoát.
- Ý nghĩa: Mị có sức sống tiềm tàng, khao khát tình yêu, hạnh phúc.
b2. Nhân vật Mị trong đoạn thứ hai
* Vị trí, hoàn cảnh xuất hiện nhân vật
- Trong những đêm làm bạn với bếp lửa, Mị đã bắt gặp A Phủ bị trói đứng.
- Ban đầu Mị thản nhiên, lạnh lùng nhưng khi nhìn thấy một dòng nước mắt lấp
lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ, từ thương cho mình Mị
thương cho A Phủ.
- Mị quyết định cắt dây cởi trói và sẵn sàng chịu chết thay cho A Phủ.

*Cảm nhận về nhân vật Mị
-Tình huống tạo nên hành động của Mị: “Lúc ấy trong nhà tối bưng, Mị rón rén
bước lại, A Phủ vẫn nhắm mắt, nhưng Mị tưởng như A Phủ đương biết có người
bước lại…
->Sự gặp gỡ của Mị và A Phủ là sự gặp gỡ của những con người cùng cảnh ngộ.
Nếu Mị là thân phận con dâu gạt nợ thì A Phủ là kẻ ở không công. Chỉ vì để hổ ăn
mất một con bò mà A Phủ bị thống lí Pá Tra trói đứng.
-> Nhà văn đã tạo ra thời điểm thuận lợi cho sự trỗi dậy của Mị. Đó là lúc trong
nhà “tối bưng” với không gian yên tĩnh, vắng vẻ.
-Hành động của Mị: Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây.
-> Hành động cứu người nhanh lẹ. Trong tình huống nguy cấp nên nó cũng rất táo
bạo,
->Thể hiện sự phản kháng tất yếu của một con người đã bị áp bức, bóc lột tàn
nhẫn.
-Tâm trạng Mị và lời nói dứt khoát: Lần lần, đến lúc gỡ được hết dây trói ở người
A Phủ thì Mị cũng hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay…”…”


×