Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

RỐI LOẠN GIẤC NGHỦ ở NGƯỜI CAO TUỔI

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (411.27 KB, 27 trang )

RỐI LOẠN GIẤC NGHỦ Ở NGƯỜI CAO TUỔI
Bs.Kiều Mạnh Hà
Lược dịch từ: Geriatric Sleep Disorder. Updated: Aug 13, 2019
Author: Glen L Xiong, MD; Chief Editor: Ana Hategan, MD, FRCPC more...

Mục lục
I. Tổng quan. ..........................................................................................2
1. Tóm tắt. ...........................................................................................2
2. Sinh lý bệnh. ....................................................................................3
3. Các định nghĩa về giấc ngủ: ...............................................................3
4. Nguyên nhân. ...................................................................................4
5. Dịch tễ học .......................................................................................7
6. Tiên lượng. ......................................................................................8
7. Tư vấn cho bệnh nhân: ......................................................................8
II. Đặc điểm lâm sàng của rối loạn giấc ngủ ở người cao tuổi. .......................9
1. Bệnh sử ...........................................................................................9
2. Khám thực thể. ...............................................................................11
3. Cân nhắc chẩn đoán ........................................................................13
4. Chẩn đoán phân biệt ........................................................................13
5. Tiếp cận chẩn đoán và điều trị. ......................................................... 14
III.

Điều trị. ......................................................................................... 16

1. Tóm tắt về thuốc điều trị rối loạn giấc ngủ. ........................................16
2. Thuốc ngủ ngủ / an thần...................................................................17
3. Thuốc chống trầm cảm ....................................................................19
4. Chất đồng vận melatonin .................................................................20
5. Chất đối kháng thụ thể Orexin .......................................................... 20
Tài liệu tham khảo .................................................................................21



I.
Tổng quan.
1. Tóm tắt.
Rối loạn giấc ngủ là một biểu hiện thường thấy ở người cao tuổi nhưng
không được chẩn đoán. Có rất nhiều yếu tố có liên quan đến tình trạng mất
cân bằng giấc ngủ ở người cao tuổi. Các yếu tố thuowngnf gặp là:Tình trạng
nghỉ hưu, vấn đề của các bệnh lý kèm theo, sự mất mát/ chết của người thân
trong gia đình, thay đổi nhịp sống. [2]Thay đổi thời lượng ngủ có thể là một
phần của quá trình lão hóa; tuy nhiên có rất nhiều yếu tố khi nó có sự mất cân
bằng có thể là căn nguyên bệnh sinh của tình trạng này chứ không riêng gì vấn
đề tuổi tác.
Ngoài những vấn đề về chất lượng- số lượng giấc ngủ ban đêm thì nó còn
ảnh hưởng tới chất lượng sống, hệ lụy của việc buồn ngủ quá mức vào ban
ngày, thêm vào đó là suy giảm các hoạt động thể chất, vấn đề về tâm lý, chức
năng nhận thức, rối loạn giấc ngủ dẫn tới nhiều biến chứng làm tăng thêm tỉ
lệ tử vong. Thêm vào đó là sự gia tăng số lượng các loại thuốc điều trị nhiều
loại bệnh khác nhau có sự gia tăng theo tuổi tác, những cái đó bản thân nó
cũng dẫn tới tăng tỉ lệ tàn phế, tử vong, nhiều tác dụng phụ, suy giảm nhận
thức và mất cân bằng giấc ngủ.
Khi một người nào đó có biểu hiện mất ngủ trong một khoảng thời gian
dài, họ thường sẽ tới tham vấn các bác sĩ chăm sóc sức khỏe ban đầu/ phòng
khám để được đánh giá. Sự đánh giá này bao gồm khai thác bệnh sử, thăm
khám, xét nghiệm, tìm hiểu các thuốc đang sử dụng, test MSE. Nếu qua đó
không thấy được nguyên nhân của tình trạng rối loạn giâc ngủ thì nên chuyển
bệnh nhân đến chuyên gia tâm thần hoặc chuyên gia về giấc ngủ. Tại các
phòng khám chuyên gia giấc ngủ hoặc bác sĩ tâm thần thì các thăm khám
chuyên sâu sẽ được tiến hành để có được một chẩn đoán xác định. Tìm được
căn nguyên của rối loạn giấc ngủ là vô cùng quan trọng nó giúp bác sĩ hướng
dẫn cho bệnh nhân và tăng sự tương tác trong quá trình điều trị.

Điều trị mất ngủ ở người cao tuổi có thể giúp cải thiện tổng trạng cho bệnh
nhân, nhưng cũng phải hết sức cẩn thận trong việc sử dụng thuốc một cách đại
trà. Điều trị mất ngủ bao gồm việc kiểm soát và điều chỉnh thuốc kê toa một
cách hợp lý. Tuy nhiên bên cạnh việc sủ dụng thuốc kê toa thì các biện pháp
không dùng thuốc được ưu tiên hàng đầu. Điều trị không dùng thuốc bao gồm
các liệu pháp điều chỉnh hành vi, kĩ thuật thư giãn, vệ sinh giấc ngủ, giới hạn
giấc ngủ, liệu pháp ánh sáng, liệu pháp hành vi, thiền, yoga, dưỡng sinh, châm
cứu, xoa bóp bấm huyệt. Bên cạnh đó FDA cũng chấp thuận một số thiết bị
hỗ trợ cho điều trị rối loạn giấc ngủ như: làm mát và bơm chất lỏng vào một


miếng dán ở trán trong suốt quá trình ngủ. Thiết bị làm giảm độ trễ cho giấc
ngủ ở giai đoạn 1 và 2.
2. Sinh lý bệnh.
Giấc ngủ bình thường được chia làm nhiều giai đoạn khác nhau. Theo các
nghiên cứu về giấc ngủ gồm hai loại chính đó là giấc ngủ có cử động mắt
nhanh (REM: rapid-eye-movement) và giấc ngủ không có cử động mắt nhanh
(non-REM).
Giấc ngủ REM (nghĩa là giấc ngủ không đồng bộ nghịch lý) là giai đoạn
của giấc ngủ trong đó trương lực cơ giảm rõ rệt; giai đoạn này được biểu hiện
với sự bùng nổ của cử động giật của mắt và trong giai đoạn này có biểu hiện
giấc mơ. Số lượng tương đối của giấc ngủ REM được duy trì cho đến tuổi già
và chúng sẽ giảm dần khi tuổi càng cao.
Giấc ngủ Non-REM được chia thành 4 giai đoạn. Các giai đoạn 1 và 2 tạo
thành giấc ngủ nông, và giai đoạn 3 và 4 được gọi là giấc ngủ sâu hoặc giấc
ngủ sóng chậm (SWS). Với sự lão hóa, sự gia tăng thời gian của giấc ngủ giai
đoạn 1 và sự gia tăng số lượng ca chuyển sang giấc ngủ giai đoạn 1 xảy ra.
Giai đoạn 3 và 4 giảm rõ rệt theo tuổi; ở tuổi càng cao (> 90 tuổi), giai đoạn 3
và 4 có thể biến mất hoàn toàn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã phát hiện ra
rằng phụ nữ cao tuổi có xu hướng ngủ bình thường hoặc thậm chí tăng giai

đoạn 3, trong khi đàn ông có giấc ngủ bình thường hoặc giảm ở giai đoạn 3.
3. Các định nghĩa về giấc ngủ:
Thời gian trên giường:
Những người già dành nhiều thời gian hơn để nằm trên giường vào ban
đêm mà không cố gắng ngủ hoặc cố gắng ngủ nhứng không thành công. Họ
cũng sử dụng giường để nghỉ ngơi và ngủ trưa trong ngày.
Tổng thời gian quá trình ngủ:
Tổng thời gian ngủ là thời gian từ lúc bắt đầu ngủ đến khi thức dậy cuối
cùng từ thời gian ngủ chính trong ngày. Tổng thời gian ngủ tăng theo tuổi vì
sự gia tăng số lần thức tỉnh.
Tổng thời gian ngủ:
Tổng thời gian ngủ là tổng thời gian ngủ trừ đi thời gian thức trong thời
gian ngủ. Các nghiên cứu đã tìm thấy tổng thời gian ngủ là giảm hoặc không
thay đổi trong dân số lớn tuổi.
Tiềm thời giấc ngủ.


Độ trễ giấc ngủ (tiềm thời giấc ngủ) là thời gian từ khi quyết định ngủ đến
khi bắt đầu ngủ. Các nghiên cứu đã tìm thấy sự thay đổi đáng kể ở các cá nhân.
Ở nữ giới, độ trễ giấc ngủ có liên quan đến việc tăng tuổi và sử dụng thuốc
hướng thần, điều này sẽ làm giảm độ trễ giấc ngủ.
Thời gian thức dậy sau khi ngủ
Thức dậy sau khi ngủ là thời gian thức từ lúc ngủ đến khi thức dậy cuối
cùng. Sự gia tăng xảy ra trong thời gian tỉnh táo sau khi ngủ ở người già. Các
nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 38% các kích thích về đêm (ví dụ, rối
loạn bàng quang, bí tiểu) gây ra tình trạng thức giấc. [13] Tình trạng đau, hội
chứng chân không yên và khó thở cũng được xác định là yếu tố kích thích
trong khi ngủ.
Hiệu quả ngủ
Hiệu quả giấc ngủ là tỷ lệ của tổng thời gian ngủ so với thời gian về đêm

trên giường. Hầu hết các nghiên cứu đã tìm thấy hiệu quả giấc ngủ sẽ giảm
trong dân số lớn tuổi.
Hoạt động cương cứng dương vật
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự suy giảm dần dần về cương cứng dương
vật về đêm (NPT) trong giấc ngủ REM xảy ra theo tuổi tác, mặc dù thời gian
của giấc ngủ REM vẫn không đổi cho đến tuổi già.
Những thay đổi khác
Một số dữ liệu mô tả những thay đổi tim mạch trong khi ngủ ở người già.
Zepelin nhận thấy rằng ngưỡng đánh thức thính giác từ giấc ngủ giai đoạn 4
thấp hơn đáng kể trong giấc ngủ đêm đầu tiên trong phòng thí nghiệm giấc
ngủ ở những người đàn ông lớn tuổi hơn ở những người đàn ông trẻ tuổi.[14]
Người già dành nhiều thời gian trên giường hơn để có được cùng một giấc
ngủ so với khi họ còn trẻ; tuy nhiên, tổng thời gian ngủ, hầu hết chỉ giảm một
chút, với sự gia tăng thức tỉnh về đêm và ngủ trưa vào ban ngày. Họ thường
báo cáo có thời gian đi ngủ sớm hơn và độ trễ giấc ngủ tăng (tiềm thời gian
ngủ), nhưng buồn ngủ ban ngày quá mức không phải là một phần của lão hóa
thông thường. Người cao tuổi đã được quan sát thấy dễ bị đánh thức hơn từ
giấc ngủ bởi các kích thích thính giác, cho thấy sự nhạy cảm tăng lên đối với
các kích thích môi trường.
4. Nguyên nhân.
Hai rối loạn giấc ngủ nguyên phát tăng theo tuổi là ngưng thở khi ngủ do
tắc nghẽn (OSA) và cử động tay chân chu kỳ trong giấc ngủ (PLMS).


OSA là tình trạng suy giảm hô hấp trong khi ngủ, và nó có thể do bị tắc
nghẽn (tắc nghẽn đường hô hấp trên), trung ương (bệnh thần kinh nguyên phát)
hoặc hỗn hợp. Những người bị OSA có thể bị đánh thức khi thở hổn hển, giật
mình trong đêm và đập mạnh trong khi ngủ.
Bởi vì bệnh nhân bị OSA phải thức giấc để giải quyết vấn đề ngưng thở,
do đó nên tránh thuốc an thần và thuốc ngủ ở những bệnh nhân này bởi vì các

tác nhân như vậy có thể làm giãn thêm các cơ vùng hầu họng, do đó làm cho
OSA nặng thêm. Martin và cộng sự phát hiện ra rằng trong số những người
lớn tuổi khỏe mạnh sống trong môi trường cộng đồng, tỷ lệ mắc OSA (được
xác định bằng hơn 5 lần ngưng thở mỗi giờ) là 28% ở nam và 20% ở nữ. [15]
Họ cũng nhận thấy rằng trong số một mẫu bệnh nhân ngẫu nhiên điều trị nội
trú thì tỷ lệ mắc OSA cao hơn (33%). [15]Điều này có thể là do tỷ lệ mắc bệnh
suy tim sung huyết (CHF) cao trong nhóm này. Đáng kể, nhiều bệnh nhân nội
trú cao tuổi được kê đơn thuốc ngủ, có thể làm trầm trọng thêm OSA. OSA
xảy ra ở 42% những người mắc chứng mất trí nhớ sống trong viện dưỡng lão
và tương quan với chức năng nhận thức.
Có một sự liên quan giữa OSA và sự suy giảm nhận thức của chứng mất
trí nhớ. [16,17,18] Thuốc an thần – thuốc ngủ có thể sẽ làm trầm trọng thêm
chứng ngưng thở khi ngủ và không được khuyên dùng ở bệnh nhân mắc OSA.
OSA có thể dẫn đến chứng mệt mỏi quá mức vào ban ngày, tăng huyết áp hệ
thống, rối loạn nhịp tim, bệnh phổi đồng mắc và đột tử.
PLMS, hay chứng giật cơ về đêm, lặp đi lặp lại, một bên hoặc hai chân rập
khuôn khiến người bệnh không ngủ được. Trong một mẫu ngẫu nhiên gồm
427 tình nguyện viên lớn tuổi, 45% có PLMS; thống kê này tương quan với
sự không hài lòng với giấc ngủ, ngủ một mình và đá vào ban đêm. Tỷ lệ mắc
bệnh giật cơ về đêm tăng theo tuổi và những than phiền về giấc ngủ có liên
quan mật thiết với tình trạng này.
Trạng thái hoàng hôn
Hội chứng hoàng hôn là một hiện tượng hành vi liên quan mật thiết đến
nhịp sinh học bị xáo trộn [19] với tỷ lệ lên tới 66% ở những bệnh nhân mắc
chứng mất trí nhớ và những người trong viện dưỡng lão. [20,21,22,23] Về mặt
hành vi, nó được đặc trưng bởi sự kích động, hung hăng, nhầm lẫn, mất
phương hướng và rối loạn tâm lý. [22,24] Hội chứng hoàng hôn phản ánh rằng
nó thường được quan sát vào cuối buổi chiều hoặc buổi tối. Các hành vi của
nó có liên quan đến suy giảm chức năng, suy giảm nhanh chóng về nhận thức,
phí tài chính, gánh nặng của người chăm sóc và tăng nguy cơ phải chăm sóc

ở viện dưỡng lão. [23,25].


Rối loạn tâm thần
Các bệnh tâm thần như mất trí nhớ và trầm cảm thường liên quan đến chứng
mất ngủ. [26,27,28 ] Trong số những bệnh nhân cao tuổi bị rối loạn trầm cảm
nặng, 50% cho biết họ bị suy giảm giấc ngủ đáng kể. Nên sử dụng các công
cụ lâm sàng như Bảng Kiểm tra Trạng thái Tâm thần Mini (MMSE) và / hoặc
Thang đo Trầm cảm Lão khoa (GDS). Đây là một bước quan trọng nên được
thực hiện để quản lý tình trạng cơ bản trước khi bắt đầu điều trị cho giấc ngủ.
Một bệnh nhân bị trầm cảm có thể bị tăng độ trễ giấc ngủ, giảm độ trễ
REM, giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (REM) kéo dài, tăng thức giấc vào
ban đêm, giảm giấc ngủ sóng chậm (SWS) và thức giấc sớm.
Bệnh nhân mắc chứng mất trí nhớ, đặc biệt là những người mắc bệnh
Alzheimer, có hiệu quả giấc ngủ thấp hơn; sự gia tăng thời lượng của giấc ngủ
giai đoạn 1; giảm giai đoạn 3, giai đoạn 4 và giấc ngủ REM; gián đoạn giấc
ngủ nhiều hơn và thức tỉnh nhiều hơn; Có những lúc thức dậy đi lại về đêm;
và tăng thời gian ngủ trưa vào ban ngày.[29]
Rối loạn nhân cách và tình cảm có thể dẫn đến giấc ngủ kém hoặc phàn
nàn chủ quan về giấc ngủ kém. Điều này có thể biểu hiện rõ hơn là thức dậy
sớm vào buổi sáng, giảm giấc ngủ giai đoạn 4 và độ trễ REM ngắn, rõ rệt hơn
ở dân số lớn tuổi. Rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, rối loạn căng thẳng
sau chấn thương (PTSD) và rối loạn lo âu có thể dẫn đến khó bắt đầu và / hoặc
duy trì giấc ngủ.
Thuốc
Bệnh nhân lớn tuổi dùng trung bình 5 loại thuốc hàng ngày, một số trong
đó có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ và sự tỉnh táo. Thuốc chống trầm cảm, an
thần (ví dụ amitriptyline) và thuốc an thần kinh (ví dụ, chlorpromazine,
clozapine) có thể gây suy giảm hiệu quả giấc ngủ và gây buồn ngủ ban ngày.
Tránh amitriptyline ở người lớn tuổi vì tác dụng kháng cholinergic và có thể

gây nhầm lẫn. Thuốc chẹn beta, đặc biệt là các hợp chất lipophilic (ví dụ
metoprolol, propranolol), có thể gây khó ngủ, tăng số lần thức giấc và có
những giấc mơ sống động.
Việc sử dụng dài ngày thuốc an thần – gây ngủ thường làm rối loạn chức
năng đánh thức giấc ngủ bình thường vì tác dụng kéo dài của thuốc hoặc buồn
ngủ ban ngày. Các xanthines theophylline và caffeine là những chất kích thích
làm tăng sự tỉnh táo trong khi chúng làm giảm SWS và tổng thời gian ngủ.
Tác dụng của caffeine có thể kéo dài tới 8-14 giờ và có thể rõ rệt hơn ở những
bệnh nhân lớn tuổi vì giảm độ thanh thải caffeine với chức năng gan giảm.


Hơn nữa, caffeine có mặt trong nhiều loại thuốc không kê đơn, bao gồm thuốc
giảm đau, thuốc chữa cảm lạnh hoặc dị ứng và thuốc ức chế sự thèm ăn.
Nicotine cũng là một chất kích thích và ảnh hưởng đến giấc ngủ theo cách
tương tự như caffeine. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng những người ở mọi
lứa tuổi hút thuốc có rối loạn giấc ngủ nhiều hơn những người không hút
thuốc, chủ yếu khó ngủ và giảm thời gian ngủ.
Nguyên nhân khác
Các nguyên nhân khác gây rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân lão khoa bao gồm:
Tình trạng đau mãn tính (ví dụ, viêm xương khớp, bệnh di căn) là một trong
những lý do phổ biến nhất được thấy ở người già có giấc ngủ kém; viêm xương
khớp gây ra cứng khớp vào ban đêm làm cho việc cử động trong khi ngủ khó
khăn và đau đớn hơn.
Suy thất trái liên quan đến chứng khó thở và chứng khó thở về đêm có thể
dẫn đến thức tỉnh thường xuyên.
Kiểu thở của Cheyne-Stokes do nguyên nhân tim hoặc não (điều trị rối loạn
này bằng thuốc kích thích hô hấp hoặc liệu pháp oxy về đêm thường có thể
cải thiện giấc ngủ)
Bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) bị thiếu oxy máu
về đêm, xảy ra chủ yếu trong giấc ngủ REM

Các triệu chứng đường tiết niệu dưới (LUTS), bao gồm phì đại lành tính
tuyến tiền liệt và mất chức năng cơ thắt bằng quang có thể góp phần vào giấc
ngủ kém.
Bệnh nhân mắc bệnh Parkinson có thể gặp phải tình trạng rối loạn tiết niệu
và khó khăn trong việc lật và ra khỏi giường, dẫn đến sự phân mảnh giấc ngủ.
Rối loạn nhịp tim
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)
Táo bón
Tình trạng ngứa da.
5. Dịch tễ học
Hơn 50% người cao tuổi bị mất ngủ. [30] Rối loạn giấc ngủ hoặc mất ngủ
là than phiền phổ biến đứng hàng thứ ba của bệnh nhân, xếp sau đau đầu và
cảm lạnh thông thường. Khoảng 15% dân số trưởng thành ở Hoa Kỳ bị mất
ngủ với mức độ nghiêm trọng đủ nặng để tìm kiếm sự chăm sóc y tế. Trong


dân số Hoa Kỳ, 1,7% nhận được đơn thuốc an thần hàng năm và 0,8% khác
mua thuốc hỗ trợ giấc ngủ không cần kê toa. Năm mươi triệu người Mỹ thỉnh
thoảng dùng một số loại thuốc ngủ.
Phụ nữ lớn tuổi dễ bị mất ngủ hơn đàn ông lớn tuổi. Trong một nghiên cứu
dịch tễ học lớn ở những người trên 70 tuổi, 35% phụ nữ cho biết mất ngủ từ
trung bình đến nặng, so với chỉ 13% nam giới. [31] Hơn một nửa số người
trên 64 tuổi sống tại nhà và hai phần ba số người trên 64 tuổi sống trong một
cơ sở chăm sóc dài hạn có một số dạng của rối loạn giấc ngủ.
6. Tiên lượng.
Ngoài việc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, rối loạn giấc ngủ có liên
quan đến tăng tỷ lệ tử vong. Hai rối loạn giấc ngủ nguyên phát có sự gia tăng
theo tuổi là ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA) và cử động tay chân định
kỳ trong giấc ngủ (PLMS). OSA có thể dẫn đến quá mẫn vào ban ngày, tăng
huyết áp hệ thống, rối loạn nhịp tim, bệnh phổi đồng mắc và đột tử. Trong một

mẫu ngẫu nhiên gồm 427 tình nguyện viên lớn tuổi, 45% bị PLMS và họ có
sự than phiền không hài lòng với giấc ngủ, phải ngủ một mình và vung vẫy
tay chân vào ban đêm. Yaffe và cộng sự gợi ý rằng phụ nữ lớn tuổi bị rối loạn
nhịp thở khi ngủ (SDB), được đặc trưng bởi các cơn kích thích tái phát từ giấc
ngủ và có sự thiếu oxy máu ngắt quãng, những người này có nguy cơ bị suy
giảm nhận thức. [32]
Trong một nghiên cứu về SDB và rối loạn nhịp tim về đêm ở nam giới lớn
tuổi, Mehra và cộng sự đã phát hiện ra rằng khả năng rung nhĩ hoặc ngoại tâm
thu thất (CVE) tăng cùng với mức độ nghiêm trọng của SDB. Ngoài ra, các
dạng SDB khác nhau có liên quan đến các loại rối loạn nhịp tim khác
nhau.[33].
Đa ký giấc ngủ (Polysomnography) ở 2.911 người tham gia cho thấy tỷ lệ
rung nhĩ và ngoại tâm thu thất tăng lên khi tăng tứ phân vị của chỉ số rối loạn
hô hấp (một chỉ số chính bao gồm tất cả các cơn ngưng thở và giảm thông
khí). Ngưng thở khi ngủ trung ương có liên quan mạnh mẽ hơn với rung nhĩ
so với ngoại tâm thu thất. Ngược lại, ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn và thiếu
oxy có liên quan đến ngoại tâm thu thất; những người tham gia trong nhóm
thiếu oxy cao nhất có tỷ lệ CVE tăng so với những người trong nhóm thấp
nhất. Kết quả cho thấy những căng thẳng khác nhau liên quan đến giấc ngủ có
thể góp phần gây ra chứng loạn nhịp nhĩ và thất ở những người đàn ông lớn
tuổi.[33]
7. Tư vấn cho bệnh nhân:


Cần giải thích và tư vấn cho mọi người nên hiểu rằng không nhất thiết phải
ngủ đủ 8 tiếng mỗi đêm. Nhu cầu ngủ mang tính cá thể. Mặc dù có người có
thể cần 9 giờ ngủ, nhưng một người khác có thể chỉ cần 5 giờ. Ngoài ra, số
lượng giấc ngủ cần thiết có thể thay đổi theo tuổi. Nếu có một sự thay đổi về
thời lượng giấc ngủ xảy ra nhưng không có sự xáo trộn trong hoạt động hàng
ngày thì không nên lo lắng. Khi những xáo trộn đáng kể trong hoạt động hàng

ngày đã xảy ra do rối loạn giấc ngủ, điều quan trọng là xác định nguyên nhân
của rối loạn giấc ngủ và thảo luận về các lựa chọn điều trị có sẵn phù hợp với
tùng bệnh nhân cụ thể.
Một loạt các lựa chọn điều trị có sẵn cho chứng mất ngủ và không nhất
thiết phải bao gồm việc sử dụng thuốc theo toa. Tuy nhiên, nếu thuốc theo toa
được khuyến cáo thì có nhiều sự lựa chọn. Một số loại thuốc nên tránh sử dụng
ở người cao tuổi (xem Thuốc ).
Các chuyên gia đề nghị kiểm soát các tác nhân kích thích,[34] có nghĩa là
chỉ sử dụng giường cho việc ngủ và quan hệ tình dục. Nếu mọi người đã quen
đọc hoặc xem tivi trên giường, họ được khuyến khích rời khỏi phòng ngủ và
tham gia vào một hoạt động thư giãn ở nơi khác cho đến khi họ buồn ngủ và
sẵn sàng trở lại giường.
Dạy bệnh nhân các kỹ thuật thư giãn cơ bắp để giảm căng thẳng và thúc
đẩy giấc ngủ cũng hữu ích. Bất kể các nguyên nhân nào gây ra chứng mất ngủ,
thì các thói quen chung mà có lợi cho giấc ngủ nên được thực hiện để có giấc
ngủ ngon.
Bệnh nhân nên được hướng dẫn đi ngủ theo một thời gian cố định, thức
dậy cùng một giờ và tránh ngủ trưa, caffeine, bữa ăn nặng, nicotine, rượu và
tập thể dục khi chuẩn bị lên giường đi ngủ. Người cao tuổi ít vận động nên
được khuyến khích bắt đầu một chương trình tập thể dục hàng ngày vào buổi
sáng, vì tập luyện vừa phải (60 phút / ngày) đã được chứng minh là cải thiện
chất lượng giấc ngủ. [35] Một giải pháp hữu ích khác là biến phòng ngủ thành
một môi trường yên tĩnh, tối và mát mẻ và có tác dụng thúc đẩy giấc ngủ.
Các trang web dưới đây cung cấp giáo dục thêm về chứng mất ngủ. Những
trang web này có thông tin về các dấu hiệu và triệu chứng, nguyên nhân, biện
pháp phòng ngừa, biến chứng, phương pháp điều trị và thậm chí đăng các thử
nghiệm lâm sàng cho chứng mất ngủ. Institute of Mental Health. American
Academy of Sleep Medicine. Holisticonline.com . ClinicalTrials.gov
II.
Đặc điểm lâm sàng của rối loạn giấc ngủ ở người cao tuổi.

1. Bệnh sử


Đánh giá rối loạn giấc ngủ ở bệnh nhân cao tuổi phải bắt đầu với một bản
khai thác lịch sử giấc ngủ một cách đầy đủ và tỉ mỉ. Có sự đánh giá và tiếp cận
đa ngành một cách chi tiết. Các vấn đề liên quan đến giấc ngủ ở người cao
tuổi bao gồm ểu oải , mất phương hướng, lơ mơ, suy giảm trí tuệ, giảm nhận
thức, phàn nàn về tâm lý, tăng tai nạn và té ngã.[36] Trong dân số lão khoa,
những phàn nàn thường gặp nhất là các vấn đề của việc bắt đầu hoặc duy trì
giấc ngủ.[37]
Bất cứ khi nào có thể, nên hỏi người ngủ cùng giường, bởi vì họ thường
nhận thấy vấn đề với giấc ngủ của bệnh nhân mà nhiều khi bệnh nhân không
biết.
Một lịch sử giấc ngủ tốt bao gồm các câu hỏi liên quan đến giấc ngủ điển
hình vào ban đêm; hoạt động ban ngày; các chăm sóc y tế hiện có ở bệnh nhân;
uống caffeine, rượu, thuốc hoặc thực phẩm trước khi đi ngủ; và lịch sử rối loạn
tâm thần và tâm lý.
Các câu hỏi sau đây cũng có thể được tham khảo:
Bạn có đi ngủ vào cùng một thời điểm mỗi tối?
Mất bao lâu để ngủ? (ngủ trễ)
Bạn có sử dụng giường cho các mục đích khác, chẳng hạn như xem TV và đọc
sách?
Bao nhiêu lần bạn thức dậy mỗi đêm?
Các kiểu ngủ của bạn có giống nhau trong các ngày trong tuần và cuối tuần
không?
Là thời gian thức dậy của bạn không thường xuyên?
Bạn làm gì khi thức dậy vào ban đêm?
Thời gian ước tính dành cho việc ngủ vào ban đêm là bao nhiêu?
Bạn có ngủ trưa không?
Bạn có buồn ngủ khi đọc sách, xem tivi, nói chuyện với bạn bè hoặc lái xe

không? (đánh giá tình trạng buồn ngủ ban ngày quá mức)
Bạn có ngáy, thở hổn hển, ngừng thở hoặc thức dậy bối rối? (phân biệt chuyển
động chân tay định kỳ trong giấc ngủ [PLMS] với ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn
[OSA])
Bạn có bị đau đầu buổi sáng không? (OSA)


Bạn có đá lặp đi lặp lại vào ban đêm? (PLMS)
Những dữ liệu này giúp xác định mô hình giấc ngủ của bệnh nhân, mức độ
nghiêm trọng của rối loạn và các nguyên nhân có thể dẫn đến rối loạn giấc
ngủ. Chúng cũng giúp phân biệt giữa SA và PLMS.
Nên khai thác nhật ký giấc ngủ trong vài tuần trước khi đến đánh giá. Điều
này cung cấp một cái nhìn tổng quan và đáng tin cậy về tình trạng của bệnh
nhân đối với bác sĩ lâm sàng và bệnh nhân tìm hiểu thêm về kiểu ngủ của
mình.
Hãy nhớ rằng những người mắc chứng rối loạn này có nguy cơ tự tử, điều
này cần phải lưu ý. Tìm hiểu về ý tưởng tự tử trong mỗi lần thăm khám là rất
quan trọng. Ngoài ra, người thăm khám nên hỏi về các hành vi tự làm hại hoặc
bạo lực trong quá khứ.
Đặt các loại câu hỏi sau đây khi xác định ý tưởng hoặc ý định tự tử:
Bạn có bất kỳ suy nghĩ muốn làm hại hoặc tự sát?
Bạn có suy nghĩ rằng bạn sẽ tốt hơn khi chết?
Nếu câu trả lời là có khả năng là bệnh nhân có ý định tự tử thì nên hỏi thêm
về kế hoạch cụ thể như thư tuyệt mệnh, lịch sử gia đình (ký ức ảnh hưởng
nhất), kiểm soát hưng phấn và tiếp cận với súng đạn. Nếu bệnh nhân có ý nghĩ
tự tử phải ghi vào bảng về tình trạng bệnh nhân không có kế hoạch ngay lập
tức hoặc bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện tâm thần.[38]
Hỏi về ý tưởng hoặc ý định giết người trong mỗi cuộc phỏng vấn bệnh
nhân cũng rất quan trọng. Đặt các loại câu hỏi sau để giúp xác định ý tưởng
hoặc ý định giết người:

Bạn có suy nghĩ muốn làm tổn thương ai không?
Bạn có bất kỳ cảm xúc hoặc suy nghĩ muốn ai đó chết?
Nếu câu trả lời cho một trong những câu hỏi này là có, hãy hỏi bệnh nhân
xem họ có kế hoạch cụ thể nào để gây thương tích cho ai đó không và làm thế
nào để họ kiểm soát những cảm xúc này nếu chúng xảy ra lần nữa.
Nếu bệnh nhân có ý tưởng giết người, hãy chuyển bệnh nhân ngay lập tức
để nhập viện tâm thần.
2. Khám thực thể.
Khám thực thể và Kiểm tra tình trạng tâm thần có thể đưa ra manh mối về
nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ (ví dụ: béo phì với kết quả là ngưng thở


khi ngủ do tắc nghẽn [SA], trầm cảm). Ngoài ra, các biến chứng tiềm ẩn của
rối loạn giấc ngủ, chẳng hạn như tăng huyết áp do SA tắc nghẽn, cũng có thể
được phát hiện.
Có được một lịch sử y tế đầy đủ, và thực hiện Kiểm tra Tình trạng Tâm
thần hoàn chỉnh, kiểm tra thể chất và kiểm tra thần kinh để hỗ trợ đánh giá và
loại trừ các quá trình bệnh khác.
Do sự đa dạng của biểu hiện rối loạn giấc ngủ nên cần một bảng thăm khám
đầy đủ tất cả các biểu hiện cũng như triệu chứng của bệnh nhân. Ví dụ:các
mục để đánh giá trong Bài kiểm tra Tình trạng Tâm thần được liệt kê dưới
đây.
Ngoại hình: Phạm vi từ chải chuốt đến nhăn nhó
Giao tiếp bằng mắt: Thích hợp, tăng hoặc giảm
Biểu cảm trên khuôn mặt: Trung tính, giận dữ, hưng phấn, buồn bã
Vận động: Có thể kích động tâm lý hoặc chậm phát triển
Hợp tác: Có thể hợp tác hoặc có thể không hợp tác
Tâm trạng: Euthymic, trầm cảm hoặc hưng cảm
Phản ứng: Phạm vi từ thích hợp đến vô cảm.
Ngôn ngữ: Phạm vi từ nghèo nàn đến những ý tưởng hay áp lực

Ý tưởng tự sát: Có thể có hoặc không có mặt
Ý tưởng sát nhân: Có thể có hoặc không có mặt
Định hướng: Để gợi ra các câu trả lời liên quan đến định hướng (ví dụ:
người, địa điểm, thời gian, tình huống), hãy đặt câu hỏi cho bệnh nhân như
sau: Tên đầy đủ của bạn là gì? Bạn có biết bạn đang ở đâu? Tháng, ngày, năm,
ngày trong tuần và thời gian là gì? Bạn có biết tại sao bạn ở đây?
Ý thức: mức độ ý thức được xác định bởi người phỏng vấn và được đánh
giá là (1) hôn mê, đặc trưng bởi sự không đáp ứng; (2) lơ mơ, đặc trưng bởi
giảm phản ứng với cơn đau; (3) ngủ gà, đặc trưng bởi buồn ngủ; và (4) tỉnh
táo, đặc trưng bởi nhận thức đầy đủ.
Sự tập trung và chú ý: Yêu cầu bệnh nhân làm phép 100 trừ 7; tiếp theo,
yêu cầu bệnh nhân đánh vần từ world tiến và lùi.


Đọc và viết: Yêu cầu bệnh nhân viết một câu đơn giản (danh từ / động từ);
sau đó yêu cầu bệnh nhân đọc một câu (ví dụ: "Nhắm mắt lại."); phần này của
Kiểm tra tình trạng tâm thần đánh giá khả năng trình tự của bệnh nhân.
Trí nhớ: Đối với trí nhớ xa, hãy hỏi bệnh nhân, tên của giáo viên lớp một
của bạn là gì? Đối với trí nhớ gần đây, hãy hỏi bệnh nhân, bạn đã ăn gì cho
bữa tối tối qua? Để ghi nhớ ngay, yêu cầu bệnh nhân nhắc lại 3 từ: bút, ghế,
cờ. Sau đó, bảo bệnh nhân nhớ những từ này, và sau 5 phút, yêu cầu bệnh nhân
lặp lại các từ đó.
Hoang tưởng: Bất kỳ loại nào cũng có thể (ví dụ, hoang tưởng, suy nghĩ bị
bó méo, hoành tráng, kỳ quái)
Ảo giác: Bất kỳ loại nào cũng có thể (phổ biến nhất là thính giác, ít phổ
biến nhất là khí lực)
Thông tin chi tiết: Phạm vi khác nhau
Phán quyết: Phạm vi khác nhau
3. Cân nhắc chẩn đoán
Nhiều bất thường của chu kỳ ngủ-thức biểu hiện là rối loạn giấc ngủ.

Những điều kiện này bao gồm:
Hiện tượng lệch múi giờ (Jet lag): một nghiên cứu được thực hiện trên các
phi công của hãng hàng không hoạt động trên các tuyến đường xuyên biên
giới cho thấy phi công càng lớn tuổi, mất ngủ tích lũy càng lớn
Mất ngủ cấp tính và mãn tính do công việc
Các hội chứng pha ngủ trễ
Hội chứng giai đoạn ngủ cao
Nhịp sinh học không theo 24 giờ.
Rối loạn nhịp sinh học.
Mất ngủ do tâm sinh lý có liên quan đến xung đột hoặc phản ứng cảm xúc
cấp tính và thoáng qua trong tự nhiên. Nếu nó liên quan đến sự thất vọng khi
ngủ, do đó dẫn đến hưng phấn, nó có thể tồn tại trong tự nhiên.
4. Chẩn đoán phân biệt
Rối loạn lo âu
Rối loạn lưỡng cực


Ngưng thở khi còn nhỏ
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD)
Mê sảng
Trầm cảm
Bệnh trào ngược dạ dày thực quản
Các hội chứng Parkinson-Plus
Rối loạn vận động Limb định kỳ
Rối loạn tâm lý sau chấn thương tâm lý
Hội chứng chân tay bồn chồn
Tâm thần phân liệt
5. Tiếp cận chẩn đoán và điều trị.
Sau khi có tiền sử chi tiết về bệnh lý cũng như bức tranh lâm sàng về tình
trạng rối loạn giấc ngủ của bệnh nhân, bác sĩ lâm sàng sẽ xem xét việc chuyển

bệnh nhân đến trung tâm rối loạn giấc ngủ để đánh giá ngưng thở khi ngủ. Hay
làm các chẩn đoán chức năng như: polysomnogram ghi lại sóng não bằng điện
não đồ (EEG); chuyển động mắt bằng kỹ thuật điện quang (EOG); đánh giá
trương lực căng cơ cằm và cử động chân bằng phương pháp điện cơ (EMG);
nhịp tim bằng điện tâm đồ (ECG); và mức độ bão hòa oxy trong máu bằng
phương pháp đo độ bão hòa oxy.
Các thiết bị ghi cầm tay cũng được sử dụng làm công cụ sàng lọc. Các thiết
bị này được đặt trên bệnh nhân vào buổi chiều, và sau đó bệnh nhân được đưa
về nhà để ngủ trên giường vào ban đêm. Các hệ thống này thuận tiện hơn và
ít tốn kém hơn so với một polysomnogram trong phòng thí nghiệm.
Nồng độ Ferritin dưới 50 ng / mL đã được tìm thấy có mặt ở những bệnh
nhân cao tuổi mắc hội chứng chân không yên.
Dân số lão khoa là nhóm lớn nhất của những người sử dụng thuốc hướng
thần. Những người trên 60 tuổi sử dụng tới 33% của tất cả các đơn thuốc
hướng thần, mặc dù họ chỉ chiếm 14% tổng dân số. Việc sử dụng thuốc ngủ,
an thần của người cao tuổi có liên quan đến té ngã, gãy xương hông và các
triệu chứng nặng nề - mệt mỏi ban ngày. Khi đánh giá một bệnh nhân, loại trừ
các rối loạn giấc ngủ nguyên phát và xem xét các loại thuốc và các bệnh lý có
liên quan khác.


Giáo dục bệnh nhân về những thay đổi liên quan đến tuổi tác trong giấc
ngủ và vệ sinh giấc ngủ tốt có thể là phương pháp điều trị đầy đủ cho nhiều
người cao tuổi. Nếu bệnh sử ban đầu và kết quả kiểm tra thể chất không tiết
lộ nguyên nhân nghiêm trọng tiềm ẩn, một thử nghiệm về cải thiện vệ sinh
giấc ngủ là phương pháp ban đầu tốt nhất cho bệnh nhân.
Các biện pháp được khuyến nghị phổ biến bao gồm:
Duy trì thời gian thức dậy thường xuyên vào đúng một thời điểm.
Duy trì thời gian ngủ đều đặn
Giảm hoặc loại bỏ những giấc ngủ ngắn vào ban ngày

Tập thể dục hàng ngày nhưng không nên tập ngay trước khi đi ngủ
Chỉ sử dụng giường để ngủ hoặc quan hệ tình dục
Không đọc hoặc xem tivi trên giường
Không sử dụng giờ đi ngủ làm thời gian lo lắng, suy nghĩ các vấn đề gây
phiền muộn.
Tránh những bữa ăn nặng khi đi ngủ
Hạn chế hoặc loại bỏ rượu, caffeine và nicotine trước khi đi ngủ
Duy trì thời gian chuẩn bị đi ngủ thường xuyên (ví dụ: rửa mặt, đánh răng)
Kiểm soát môi trường ban đêm với nhiệt độ thoải mái, yên tĩnh và phòng
tối.
Mặc quần áo thoải mái, rộng rãi khi đi ngủ
Nếu không thể ngủ trong vòng 30 phút, hãy ra khỏi giường và thực hiện
một hoạt động nhẹ nhàng, chẳng hạn như nghe nhạc nhẹ hoặc đọc sách, nhưng
tránh tiếp xúc với ánh sáng mạnh trong những khoảng thời gian này
Tiếp xúc đầy đủ với ánh sáng trong ngày
Tránh ngủ trưa vào ban ngày; giải thích cho bệnh nhân rằng những giấc
ngủ ngắn ban ngày làm giảm giấc ngủ ban đêm.
Những người thừa cân và thường xuyên ngáy to có thể được giúp đỡ bằng
cách giảm cân. Tất cả những người ngáy to nên kiêng rượu hoặc thuốc an thần
khác trước khi đi ngủ. Họ cũng nên thực hiện các biện pháp để tránh ngủ ngáy
(ví dụ, bằng đặt một quả bóng tennis vào mặt sau của bộ đồ ngủ).


Trong trường hợp không có ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSA), các
tình trạng góp phần, chẳng hạn như dị ứng, bệnh lý mũi hoặc mở rộng vòm
họng, nên được tìm kiếm và quản lý đầy đủ bằng thuốc xịt corticoid, hoặc
được đánh giá bởi bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng. Nếu vấn đề giấc ngủ là
thứ yếu đối với một vấn đề y tế, hãy điều trị vấn đề chính hơn là vấn đề giấc
ngủ. Polysomnography được chỉ định khi nghi ngờ rối loạn giấc ngủ nguyên
phát như SA hoặc cử động chân tay định kỳ trong giấc ngủ (PLMS).

Tư vấn với các chuyên gia thích hợp có thể được chỉ định, tùy thuộc vào
các nguyên nhân cơ bản của rối loạn giấc ngủ, chẳng hạn như tư vấn tâm thần
cho trầm cảm nặng và tư vấn phẫu thuật phổi cho ngưng thở khi ngủ tắc nghẽn.
Các nhà tâm lý học có thể cung cấp liệu pháp nhận thức hành vi cho chứng
mất ngủ.
Đối với những bệnh nhân lớn tuổi am hiểu về máy tính, liệu pháp nhận
thức hành vi bằng máy tính đối với chứng mất ngủ (CCBT-I) có thể là một
cách tiếp cận hấp dẫn hơn so với các buổi trị liệu mặt đối mặt truyền thống.
Trong một phân tích tổng hợp, CCBT-I sử dụng các chương trình Internet
đã cải thiện một số thông số giấc ngủ và cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị
cao.[39]
III. Điều trị.
1. Tóm tắt về thuốc điều trị rối loạn giấc ngủ.
Trước khi bất kỳ loại thuốc nào được kê đơn điều trị thì vấn đề ưu tiên hàng
đầu là xác định nguyên nhân cơ bản của rối loạn giấc ngủ, thay vì chỉ điều trị
triệu chứng mất ngủ. Thông thường, điều trị trên cơ sở ngắn hạn cùng với vệ
sinh giấc ngủ là thích hợp cho chứng mất ngủ thoáng qua, chẳng hạn như mất
ngủ thứ phát sau mất người thân hoặc nhập viện cấp cứu vì một bệnh lý nào
đó. Các loại thuốc thường được sử dụng cho chứng mất ngủ bao gồm thuốc
chống trầm cảm, nonbenzodiazepin, chất chủ vận melatonin và thảo dược.
Thuốc, nếu được sử dụng, nên được bắt đầu với liều thấp và theo dõi tác dụng
phụ.[40]
Thuốc trị hội chứng hoàng hôn.
Có một số loại thuốc được sử dụng trong điều trị sundowning bao gồm
melatonin, thuốc chống loạn thần, thuốc chống trầm cảm, thuốc benzodiazepin
và cannabinoids. Mặc dù thường được sử dụng, có rất ít bằng chứng cho thấy
lợi ích liên quan đến việc sử dụng các thuốc benzodiazepin và cannabinoids,
và do các tác dụng phụ tiêu cực đáng kể liên quan, nên tránh sử dụng các thuốc
này.[41,42] Thuốc chống loạn thần thường được sử dụng và được khuyến nghị
là phương pháp điều trị có thể có trong hướng dẫn của mỗi quốc gia, tuy nhiên



chỉ có dữ liệu hạn chế cho thấy lợi ích tối thiểu cho những bệnh nhân này.[43,
44] Đã có một vài thử nghiệm mù đôi, ngẫu nhiên có kiểm soát đánh giá việc
sử dụng melatonin ngoại sinh. [45] Nhìn chung, các nghiên cứu này cho thấy
một số cải thiện hành vi với việc sử dụng bổ trợ.[46] Liều lượng melatonin rất
đa dạng trong các nghiên cứu này giữa 1,5 mg và 10 mg. Một số chiến lược
không dùng thuốc đã được sử dụng và đã chứng minh là có một số tác động
có lợi về nhịp sinh học và rối loạn hành vi ban đêm ở bệnh nhân mất trí nhớ
bao gồm tập thể dục, [47,48] hương liệu, [49]Liệu pháp âm nhạc,[50] và liệu
pháp ánh. [51]Ba nguyên tắc điều trị được đề xuất khi xem xét các phương
pháp điều trị hội chứng mặt trời lặn: (1) quá trình điều trị là sự tiếp cận giữa
thử nghiệm và chỉnh sửa cho phù hợp, (2) bắt đầu với liều thấp hơn và từ từ
chuẩn độ lên, và (3) trị liệu đa mô thức (không- dược lý và dược lý) có thể
được chỉ định. [ 52 ] Nghiên cứu thêm về các chiến lược không dùng thuốc và
dùng thuốc một cách hợp lý.[53]
2. Thuốc ngủ ngủ / an thần
Tóm tắt nhóm thuốc:
Barbiturat không được chỉ định cho chứng mất ngủ, và bác sĩ tư vấn tâm
thần nên tư vấn cho bệnh nhân dùng barbiturat trong nhiều năm. Barbiturat
chỉ có hiệu quả khi sử dụng ngắn hạn, mất phần lớn hiệu quả sau 2 tuần dùng
thuốc. Theo Hiệp hội Lão khoa Hoa Kỳ (AGS) 2012 Tiêu chí về các loại thuốc
không phù hợp sử dụng ở người lớn tuổi, nên tránh dùng barbiturat vì nguy cơ
quá liều cao, ngay cả khi dùng liều thấp và phụ thuộc vào thể trạng từng
người.[54] Cũng nên tránh dùng thuốc này ở dạng muối clo ở người lớn tuổi
vì dung nạp chỉ trong 10 ngày điều trị và nguy cơ quá liều với liều chỉ gấp 3
lần liều điều trị.
Các thuốc benzodiazepin vẫn là nhóm thuốc được kê toa phổ biến nhất cho
chứng rối loạn giấc ngủ, mặc dù những người sử dụng thuốc benzodiazepin
có chiều hướng báo cáo chất lượng giấc ngủ kém hơn so với người không

dùng thuốc. [55,56] Theo tiêu chí AGS Beers 2012,[54] không nên sử dụng
tất cả các loại thuốc benzodiazepin (tác dụng ngắn, trung bình và tác dụng dài)
đối với chứng mất ngủ ở người lớn tuổi. Chúng có thể làm tăng nguy cơ suy
giảm nhận thức và tâm lý, té ngã, gãy xương và tai nạn xe cơ giới. Việc sử
dụng các thuốc nhóm benzodiazepin ở người cao tuổi nên được giới hạn ở các
chỉ định cụ thể khác như rối loạn co giật, rối loạn giấc ngủ REM, cai nghiện
rượu hoặc uống rượu, rối loạn lo âu lan tỏa nghiêm trọng, gây tê màng ngoài
tim và chăm sóc cuối đời. Vào năm 2006, Medicare phần D đã loại trừ các
loại thuốc nhóm benzodiazepin khỏi danh mục thuốc bảo hiểm.


Các thuốc gây ngủ nonbenzodiazepine mới hơn như zolpidem, zaleplon và
eszopiclone không gây ra chứng mất ngủ trở lại hoặc các triệu chứng cai khi
ngừng thuốc nhưng có thể có tác dụng phụ tương tự như các thuốc
benzodiazepin (mê sảng, ngã và gãy xương). Trong một nghiên cứu gần đây
về những người sống tại viện dưỡng lão, các thuốc gây ngủ nhóm
nonbenozdiazepine có liên quan đến nguy cơ gãy xương hông (OR 1.66) và
nguy cơ thậm chí còn cao hơn đối với người dùng mới (OR 2.20) và những
người bị suy giảm nhận thức (OR 1.86). [57] Những thuốc gây ngủ này chúng
ta nên sử dụng thận trọng ở người lớn tuổi và không quá 90 ngày, [54] ngay
cả khi eszopiclone được chấp thuận cho sử dụng kéo dài.
Cần thận trọng đặc biệt ở bệnh nhân sa sút trí tuệ, theo phân tích tổng quan
của Cochrane, thiếu các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát đối với thuốc
gây ngủ nhóm benoziazepine hoặc không dùng thuốc benzodiazepine ở bệnh
nhân mắc chứng mất trí nhớ Alzheimer (AD). Các nghiên cứu về melatonin,
ngay lập tức hoặc chậm thực tế, không cho thấy sự cải thiện các thông số giấc
ngủ ở bệnh nhân mắc AD trong khi một thử nghiệm ngẫu nhiên nhỏ về
trazodone 50 mg qHS trong hai tuần đã cải thiện tổng thời gian ngủ và hiệu
quả giấc ngủ mà không gây ra tác dụng phụ nghiêm trọng.[58]
Zolpidem (Ambien, Edluar, ZolpiMist)

Xem thêm thông tin thuốc đầy đủ
Zolpidem có cấu trúc không giống với các loại thuốc benzodiazepin nhưng
hoạt động tương tự nhau, ngoại trừ việc giảm tác dụng lên cơ xương và ngưỡng
co giật. Ở liều khuyến cáo, nó có hiệu quả như triazolam. Tác dụng phụ của
CNS (ví dụ, ác mộng, kích động, buồn ngủ) đã được ghi nhận ở 10% bệnh
nhân. Vào tháng 5 năm 2013, FDA cảnh báo rằng bệnh nhân dùng zolpidem
phóng thích kéo dài (6,25 mg hoặc 12,5 mg) không nên lái xe hoặc tham gia
vào các hoạt động khác đòi hỏi sự tỉnh táo hoàn toàn trong ngày sau khi dùng
thuốc. Như với thuốc gây ngủ nhóm benzodiazepine, zolpidem chỉ được chấp
thuận cho sử dụng ngắn hạn (tối đa, 3-4 tuần); nếu sử dụng lâu hơn, chúng chỉ
nên được sử dụng trong 2-3 đêm mỗi tuần và không quá 3 tháng.
Theo Tiêu chí năm 2012 AGS Beers zolpidem nên tránh ở những bệnh
nhân mắc chứng mất trí nhớ và suy giảm nhận thức vì tác dụng phụ của CNS.
Zaleplon (Sonata)
Xem thông tin thuốc đầy đủ
Zaleplon là một thuốc gây ngủ nhóm pyrazolopyrimidine tác dụng ngắn với
hoạt tính chủ vận đầy đủ trên các thụ thể benzodiazepine trung tâm (loại B21).


Nó có thời gian bán hủy ngắn (1 giờ) và với liều lượng nhỏ, nó là một chất
gây ngủ hiệu quả. Nó chỉ được chấp thuận cho sử dụng ngắn hạn (tối đa, 3-4
tuần); nếu sử dụng lâu hơn, chỉ nên giới hạn 2-3 đêm mỗi tuần và không quá
3 tháng.
Eszopiclone (Lunesta)
Xem thông tin thuốc đầy đủ
Eszopiclone là một dẫn xuất pyrrolopyrazine gây ngủ nonbenzodiazepine
của lớp cyclopyrrolone. Cơ chế hoạt động chính xác vẫn chưa được biết nhưng
được cho là có tương tác với thụ thể GABA tại các vùng liên kết gần hoặc
được liên kết với nhau với các thụ thể benzodiazepine. Nó được chỉ định cho
chứng mất ngủ để giảm độ trễ giấc ngủ và cải thiện duy trì giấc ngủ.

Eszopiclone có thời gian bán hủy ngắn, 6 giờ. Liều cao hơn (nghĩa là 2 mg
cho người cao tuổi và tối đa 3 mg cho người lớn không dùng thuốc) có hiệu
quả hơn trong việc duy trì giấc ngủ, trong khi đó, liều thấp hơn (nghĩa là 1 mg)
phù hợp với khó ngủ.
3. Thuốc chống trầm cảm
Tóm tắt nhóm:
Thuốc chống trầm cảm có tác dụng an thần như trazodone và mirtazapine
với liều thấp thường được kê đơn khi đi ngủ cho chứng mất ngủ. Ít bằng chứng
khoa học hỗ trợ hiệu quả trong điều trị chứng mất ngủ mà không bị trầm cảm
liên quan; việc sử dụng chúng ở những bệnh nhân mất ngủ mà không bị trầm
cảm không được FDA chấp thuận và nên được xem là sử dụng tác dụng chủ
lực của thuốc (off-label). Doxepin là thuốc chống trầm cảm duy nhất, với liều
rất thấp, được FDA phê chuẩn cho chứng mất ngủ.
Doxepin (Silenor)
Xem thông tin thuốc đầy đủ
Doxepin ở liều thấp (1, 3 và 6 mg) là thuốc đối kháng chọn lọc histamine
(chủ yếu là thụ thể H1) và được FDA phê chuẩn cho chứng mất ngủ. Các
nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng doxepin liều thấp cải thiện các thông số giấc
ngủ ở người lớn tuổi với các dữ kiện tương đối an toàn và tương đương với
giả dược. [25,26] Nên tránh dùng liều cao hơn doxepin ở người lớn tuổi vì tác
dụng phụ kháng cholinergic cao. [22] Tránh sử dụng ở bệnh nhân mắc bệnh
tăng nhãn áp hoặc bí tiểu.
Mirtazapine (Remeron)
Xem thông tin thuốc đầy đủ


Mirtazapine thể hiện cả hoạt động noradrenergic và serotonergic. Trong
trường hợp trầm cảm liên quan đến chứng mất ngủ và lo lắng nghiêm trọng,
mirtazapine đã được chứng minh là vượt trội so với các SSRI khác.
Trazodone (Oleptro)

Xem thông tin thuốc đầy đủ
Trazodone là một chất đối kháng ở thụ thể 5-HT2 và ức chế tối thiểu sự tái
hấp thu của 5-HT. Nó có ái lực không đáng kể đối với các thụ thể cholinergic
và histaminergic. Trazodone không liên quan đến hội chứng dung nạp thuốc
hoặc hiệu ứng lệ thuộc thuốc nhưng nó có thể kéo dài khoảng thời gian QTc.
Hạ huyết áp thế đứng có thể được giảm thiểu bằng cách dùng chung với thức
ăn. Dữ liệu hạn chế tồn tại liên quan đến hiệu quả ở những bệnh nhân không
bị trầm cảm và FDA đã không phê duyệt trazodone như một thuốc gây ngủ.
4. Chất đồng vận melatonin
Tóm tắt lớp
Chất chủ vận melatonin có thể thúc đẩy giấc ngủ.
Ramelteon (Rozerem)
Xem thông tin thuốc đầy đủ
Ramelteon là một chất chủ vận thụ thể melatonin có tính chọn lọc cao đối với
thụ thể melatonin MT1 và MT2 của người. MT1 và MT2 được cho là thúc đẩy
giấc ngủ và tham gia vào việc duy trì nhịp sinh học và chu kỳ thức tỉnh của
giấc ngủ bình thường. Ramelteon không gây ra chứng mất ngủ hồi phục hoặc
triệu chứng cai khi ngừng thuốc. Nó được phê duyệt để sử dụng kéo dài. Nó
được chỉ định cho chứng mất ngủ đặc trưng bởi khó khăn khi khởi phát giấc
ngủ.
5. Chất đối kháng thụ thể Orexin
Tóm tắt nhóm
Orexin thúc đẩy sự tỉnh táo. Sự đối kháng của thụ thể orexin ngăn chặn hành
động này bằng cách bất hoạt orexin.
Suvorexant (Belsomra)
Xem thông tin thuốc đầy đủ
Suvorexant là một chất đối kháng thụ thể orexin. Hệ thống tín hiệu
neuropeptide orexin là một yếu tố thúc đẩy trung tâm của sự tỉnh táo. Ngăn
chặn sự ràng buộc của neuropeptide orexin A và orexin B đối với các thụ thể



OX1R và OX2R bằng suvorexant được cho là để ngăn chặn sự thức giấc. Nó
được chỉ định để điều trị chứng mất ngủ đặc trưng bởi những khó khăn khi
khởi phát giấc ngủ và / hoặc duy trì giấc ngủ.
Tài liệu tham khảo
1. Subramanian S, Surani S. Sleep disorders in the elderly. Geriatrics. Dec
2007. 62(12):10-32.
2. Avidan AY. Sleep in the geriatric patient population. Semin Neurol. Mar
2005. 25(1):52-63.
3. Mahowald MW, Bornemann MA. Sleep Complaints in the geriatric
patient. Minn Med. Oct 2007. 90(10):45-7.
4. Cole C, Richards K. Sleep disruption in older adults. Harmful and by no
means inevitable, it should br assessed for and treated. Am J Nurs. May
2007. 107(5):40-9.
5. Fu Y, Xia Y, Yi H, Xu H, Guan J, Yin S. Meta-analysis of all-cause and
cardiovascular mortality in obstructive sleep apnea with or without
continuous positive airway pressure treatment. Sleep Breath. 2016 Aug
8. [Medline].
6. Lee WJ, Peng LN, Liang CK, Chiou ST, Chen LK. Long sleep duration,
independent of frailty and chronic Inflammation, was associated with
higher mortality: A national population-based study. Geriatr Gerontol
Int. 2016 Sep 29. [Medline].
7. Latimer Hill E, Cummings RG, Lewis R, Carrington S, Le Couteur DG.
Sleep disturbance and falls in older people. J Ger A bio Sci Med. Jan
2007. 62(1):62-6.
8. Barry PJ, Gallagher P, Ryan C. Inappropriate prescribing in geriatric
patient. Curr Psychiatry Rep. Feb 2008. 10(1):37-43.
9. Gammack JK. Light therapy for insomnia in older adults. Clin Geritr
Med. Feb 2008. 24(1):139-49.
10.Rybarczyk B, Lopez M, Benson R, Alsten C, Stepanski E. Efficacy of

two behavioral treatment progrmas for comorbid geriatric
insomnia. Psychol Aging. Jun 2002. 17(2):288-98.
11.Gooneratne NS. Complementary and alternative medicine for sleep
disturbance in older adults. Clin Geriatr Med. Feb 2008. 24(1):121-38.
12.Anderson, P. FDA Approves New Device for Insomnia. Medscape
Medical News. Available
at June 8, 2016;
Accessed: June 9, 2016.
13.Webb WB. Age-related changes in sleep. Clin Geriatr Med. 1989 May.
5(2):275-87. [Medline].
14.Zepelin H, McDonald CS. Age differences in autonomic variables during
sleep. J Gerontol. 1987 Mar. 42(2):142-6. [Medline].


15.Martin J, Shochat T, Ancoli-Israel S. Assessment and treatment of sleep
disturbances in older adults. Clin Psychol Rev. 2000 Aug. 20(6):783805. [Medline].
16.Buratti L, Luzzi S, Petrelli C, Baldinelli S, Viticchi G, Provinciali L, et al.
Obstructive Sleep Apnea Syndrome: An Emerging Risk Factor for
Dementia. CNS Neurol Disord Drug Targets. 2016. 15 (6):67882. [Medline].
17.Sleep apnea increases dementia risk in older women. Harv Womens
Health Watch. 2011 Nov. 19 (3):7. [Medline].
18.Buratti L, Luzzi S, Petrelli C, Baldinelli S, Viticchi G, Provinciali L, et al.
Obstructive Sleep Apnea Syndrome: An Emerging Risk Factor for
Dementia. CNS Neurol Disord Drug Targets. 2016. 15 (6):67882. [Medline].
19.Martin J, Marler M, Shochat T, Ancoli-Israel S. Circadian rhythms of
agitation in institutionalized patients with Alzheimer's
disease. Chronobiol Int. 2000 May. 17 (3):405-18. [Medline].
20.Gehrman PR, Martin JL, Shochat T, Nolan S, Corey-Bloom J, AncoliIsrael S. Sleep-disordered breathing and agitation in institutionalized
adults with Alzheimer disease. Am J Geriatr Psychiatry. 2003 Jul-Aug.
11 (4):426-33. [Medline].

21.Evans LK. Sundown syndrome in institutionalized elderly. J Am Geriatr
Soc. 1987 Feb. 35 (2):101-8. [Medline].
22.Vitiello MV, Bliwise DL, Prinz PN. Sleep in Alzheimer's disease and the
sundown syndrome. Neurology. 1992 Jul. 42 (7 Suppl 6):83-93;
discussion 93-4. [Medline].
23.Gallagher-Thompson D, Brooks JO 3rd, Bliwise D, Leader J, Yesavage
JA. The relations among caregiver stress, "sundowning" symptoms, and
cognitive decline in Alzheimer's disease. J Am Geriatr Soc. 1992 Aug. 40
(8):807-10. [Medline].
24.Bliwise DL. What is sundowning?. J Am Geriatr Soc. 1994 Sep. 42
(9):1009-11. [Medline].
25.Scarmeas N, Brandt J, Blacker D, Albert M, Hadjigeorgiou G, Dubois B,
et al. Disruptive behavior as a predictor in Alzheimer disease. Arch
Neurol. 2007 Dec. 64 (12):1755-61. [Medline].
26.Wong MM, Brower KJ, Craun EA. Insomnia symptoms and suicidality in
the National Comorbidity Survey - Adolescent Supplement. J Psychiatr
Res. 2016 Oct. 81:1-8. [Medline].
27.Ohayon MM, Roth T. Place of chronic insomnia in the course of
depressive and anxiety disorders. J Psychiatr Res. 2003 Jan-Feb. 37
(1):9-15. [Medline].
28.Chemerinski E, Ho BC, Flaum M, Arndt S, Fleming F, Andreasen NC.
Insomnia as a predictor for symptom worsening following antipsychotic


withdrawal in schizophrenia. Compr Psychiatry. 2002 Sep-Oct. 43
(5):393-6. [Medline].
29.Bubu OM, Brannick M, Mortimer J, Umasabor-Bubu O, Sebastião YV,
Wen Y, et al. Sleep, Cognitive impairment and Alzheimer's disease: A
systematic review and meta-analysis. Sleep. 2016 Sep 26. [Medline].
30.Kamel NS, Gammack JK. Insomnia in the elderly: cause, approach, and

treatment. Am J Med. Jun 2006. 119(6):463-9.
31.Byles JE, Mishra GD, Harris MA. The experience of insomnia among
older women. Sleep. Aug 2005. 1:28(8):972-9.
32.Yaffe K, Laffan AM, Harrison SL, et al. Sleep-disordered breathing,
hypoxia, and risk of mild cognitive impairment and dementia in older
women. JAMA. 2011 Aug 10. 306(6):613-9. [Medline].
33.Mehra R, Stone KL, Varosy PD, Hoffman AR, Marcus GM, Blackwell T,
et al. Nocturnal Arrhythmias across a spectrum of obstructive and central
sleep-disordered breathing in older men: outcomes of sleep disorders in
older men (MrOS sleep) study. Arch Intern Med. 2009 Jun 22.
169(12):1147-55. [Medline]. [Full Text].
34.Wu JQ, Appleman ER, Salazar RD, Ong JC. Cognitive Behavioral
Therapy for Insomnia Comorbid With Psychiatric and Medical
Conditions: A Meta-analysis. JAMA Intern Med. 2015 Sep. 175 (9):146172. [Medline].
35.Lira FS, Pimentel GD, Santos RV, et al. Exercise training improves sleep
pattern and metabolic profile in elderly people in a time-dependent
manner. Lipids Health Dis. 2011 Jul 6. 10:1-6. [Medline]. [Full Text].
36.Mirsa S, Malow BA. Evaluation of sleep distubances in older adults. Clin
Geriatr Med. Feb 2008. 24(1):15-26.
37.Ancoli-Israel S, Ayalon. Diagnosis and treatment of sleep disorders in
older adults. Am J Geriatr Psychiatry. Feb 2006. 14(2):95-103.
38.[Guideline] Nakajima GA, Wenger NS. Quality indicators for the care of
depression in vulnerable elders. J Am Geriatr Soc. 2007 Oct. 55 Suppl
2:S302-11. [Medline].
39.Cheng SK, Dizon J. Computerised cognitive behavioural therapy for
insomnia: a systematic review and meta-analysis. Psychother Psychosom.
2012. 81(4):206-16. [Medline].
40.Tariq SH, Pulisetty S. Pharmacotherapy for insomnia. Clin Geriatr Med.
Feb 2008. 24(1):93-105.
41.Blais J, Zolezzi M, Sadowski CA. Treatment Options for Sundowning in

Patients With Dementia. Mental Health Clinician. 2014. 4:189-195.
42.Kim P, Louis C, Muralee S, Tampi RR. Sundowning syndrome in the
older patient. Clinical Geriatrics. April 2005. 13(4):32-36.
43.American Psychiatric Association. American Psychiatric Association
Practice Guidelines for the treatment of psychiatric disorders:
compendium 2006. 2006.


44.Gauthier S, Patterson C, Chertkow H, Gordon M, Herrmann N,
Rockwood K, et al. Recommendations of the 4th Canadian Consensus
Conference on the Diagnosis and Treatment of Dementia
(CCCDTD4). Can Geriatr J. 2012 Dec. 15 (4):120-6. [Medline].
45.de Jonghe A, Korevaar JC, van Munster BC, de Rooij SE. Effectiveness
of melatonin treatment on circadian rhythm disturbances in dementia. Are
there implications for delirium? A systematic review. Int J Geriatr
Psychiatry. 2010 Dec. 25 (12):1201-8. [Medline].
46.Sanchez Z, Bennett L. An integrative research review (IRR) of
pharmacological and non-pharmacological interventions of sundowning
syndrome in older adults. J Am Geriatr Soc. 2013.
47.Eggermont LH, Scherder EJ. Ambulatory but sedentary: impact on
cognition and the rest-activity rhythm in nursing home residents with
dementia. J Gerontol B Psychol Sci Soc Sci. 2008 Sep. 63 (5):P27987. [Medline].
48.Eggermont LH, Blankevoort CG, Scherder EJ. Walking and night-time
restlessness in mild-to-moderate dementia: a randomized controlled
trial. Age Ageing. 2010 Nov. 39 (6):746-9. [Medline].
49.Holmes C, Hopkins V, Hensford C, MacLaughlin V, Wilkinson D,
Rosenvinge H. Lavender oil as a treatment for agitated behaviour in
severe dementia: a placebo controlled study. Int J Geriatr Psychiatry.
2002 Apr. 17 (4):305-8. [Medline].
50.Raglio A, Bellelli G, Traficante D, Gianotti M, Ubezio MC, Villani D, et

al. Efficacy of music therapy in the treatment of behavioral and
psychiatric symptoms of dementia. Alzheimer Dis Assoc Disord. 2008
Apr-Jun. 22 (2):158-62. [Medline].
51.Forbes D, Culum I, Lischka AR, Morgan DG, Peacock S, Forbes J, et al.
Light therapy for managing cognitive, sleep, functional, behavioural, or
psychiatric disturbances in dementia. Cochrane Database Syst Rev. 2009
Oct 7. CD003946. [Medline].
52.Boeve BF, Silber MH, Ferman TJ. Current management of sleep
disturbances in dementia. Curr Neurol Neurosci Rep. 2002 Mar. 2
(2):169-77. [Medline].
53.Canevelli M, Valletta M, Trebbastoni A, Sarli G, D'Antonio F, Tariciotti
L, et al. Sundowning in Dementia: Clinical Relevance,
Pathophysiological Determinants, and Therapeutic Approaches. Front
Med (Lausanne). 2016. 3:73. [Medline].
54.The American Geriatrics Society 2012 Beers Criteria Update Expert
Panel. American Geriatrics Society Updated Beers Criteria for Potentially
Inappropriate Medication Use in Older Adults. American Geriatrics
Society. Available
at />teria_JAGS.pdf. Accessed: May 21, 2012.


55.Beland SG, Preville M, Dubois MF, et al. Benzodiazepine use and quality
of sleep in the community-dwelling elderly population. Aging Ment
Health. 2010 Sep. 14(7):843-50. [Medline].
56.Béland SG, Préville M, Dubois MF, et al. The association between length
of benzodiazepine use and sleep quality in older population. Int J Geriatr
Psychiatry. 2011 Sep. 26(9):908-15. [Medline].
57.Berry SD, Lee Y, Cai S, Dore DD. Nonbenzodiazepine sleep medication
use and hip fractures in nursing home residents. JAMA Intern Med. 2013
May 13. 173(9):754-61. [Medline].

58.McCleery J, Cohen DA, Sharpley AL. Pharmacotherapies for sleep
disturbances in Alzheimer's disease. Cochrane Database Syst Rev. 2014
Mar 21. 3:CD009178. [Medline].
59.Lankford A, Rogowski R, Essink B, Ludington E, Heith Durrence H,
Roth T. Efficacy and safety of doxepin 6 mg in a four-week outpatient
trial of elderly adults with chronic primary insomnia. Sleep Med. 2012
Feb. 13(2):133-8. [Medline].
60.Krystal AD, Durrence HH, Scharf M, Jochelson P, Rogowski R,
Ludington E, et al. Efficacy and Safety of Doxepin 1 mg and 3 mg in a
12-week Sleep Laboratory and Outpatient Trial of Elderly Subjects with
Chronic Primary Insomnia. Sleep. 2010 Nov. 33(11):155361. [Medline]. [Full Text].
61.Alessi CA, Yoon EJ, Schnelle JF, et al. A randomized trial of a combined
physical activity and environmental intervention in nursing home
residents: do sleep and agitation improve?. J Am Geriatr Soc. 1999 Jul.
47(7):784-91. [Medline].
62.Ancoli-Istael S. Sleep disorders in older adults. A primary care guide to
assessing 4 common sleep problems in geriatric patients. Geriactrics. Jan
2004. 59(1):37-40.
63.Avidan AY. Sleep changes and dosorders in the elderly patient. Curr
Neurol Neurosci Rep. Mar 2002. 2(2):178-85.
64.Barthlen GM. Sleep disorders. Obstructive sleep apnea syndrome, restless
legs syndrome, and insomnia in geriatric patients. Geriatrics. Nov 2002.
57(11):34-9.
65.Benca RM. Diagnosis and Treatment of Chronic Insomnia: A
Review. Psychiatr Serve. 2005. 56:323-343.
66.Boot BP, Boeve BF, Roberts RO, Ferman TJ, Geda YE, Pankratz VS.
Probable rapid eye movement sleep behavior disorder increases risk for
mild cognitive impairment and Parkinson disease: a population-based
study. Ann Neurol. 2012 Jan. 71(1):49-56. [Medline].
67.Buysse DJ. Insomnia, Depression, and Aging. Assessing sleep and mood

interactions in older adults. Geriatrics. Feb 2004. 59(2):47-51.


×