Tải bản đầy đủ (.docx) (287 trang)

Dân số học đại cương 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.38 MB, 287 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN

DÂN SỐ HỌC ĐẠI CƯƠNG


Dân số học đại cương

CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DÂN SỐ
HỌC
Nhóm 1:
-

Trần Minh Điệp
Lê Thị Hằng
Lê Thế Thuần
Đỗ Thị Hồng Phương

1.1 Khái niệm dân số học và dân số
Dân số học là khoa học tự nghiên cứu về dân số bao gồm quy mô, thành phần, phân bố, mật độ, sự gia
tăng dân số và những đặc trưng khác về dân số và kinh tế xã hội cũng như những nguyên nhân và hậu quả
của sự thay đổi những yếu tố trên.
Trong đó, quy mô dân số là số lượng dân nhiều hay ít, thành phần dân số bao gồm tuổi tác, nghề nghiệp,
…; phân bố là dân cư tập trung ở một khu vực nhiều hay ít; mật độ là số dân cư trú trên một diện tích đất
dày hay thưa; sự gia tăng dân số là số dân tăng trong một khoảng thời gian nhất định.
Quy mô dân số là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định.( Quy mô dân số
phản ánh khái quát tổng số dân của mỗi vùng, lãnh thổ nhất định trên thế giới. Quy mô dân số thường
xuyên biến động qua thời gian và không gian lãnh thổ. Quy mô dân số có thể tăng hoặc giảm tùy theo các
biến số cơ bản nhất bao gồm: sinh, chết và di dân. Quy mô dân số không chỉ được xác định thông qua tổng
điều tra dân số mà còn được xác định thông qua thống kê dân số thường xuyên và dự báo dân số). Ý
nghĩa : Quy mô dân số của một vùng, lãnh thổ nhất định phản ánh số lượng dân của vùng, lãnh thổ tại một
thời điểm nhất định. Quy mô dân số là cơ sở để đưa ra nhận định, đánh giá và định hướng cho vấn tình


hình ổn định và phát triển dân số của mỗi quốc gia.
Thành phần dân số bao gồm những bộ phận hợp thành dân số gọi chung là kết cấu dân số. Kết cấu dân
số gồm kết cấu sinh học (kết cấu theo độ tuổi, giới tính), kết cấu theo dân tộc ( kết cấu theo thành phần dân
tộc, kết cấu theo quốc tịch) và kết cấu xã hội của dân cư ( kết cấu giai cấp, kết cấu theo lao động, kết cấu
theo trình độ văn hóa).
Phân bố dân cư là sự sắp xếp số dân một cách tự phát hoặc tự giác trên một lãnh thổ phù hợp với điều
kiện sống cũng như các yêu cầu khác của xã hội.
Mật độ dân số là một phép đo dân số trên đơn vị diện tích hay đơn vị thể tích. Nó thường được áp dụng
cho các sinh vật sống nói chung, con người nói riêng.
Ví dụ: Mật độ dân số Việt Nam là 279,7 người/km2 đến tháng Hai năm 2016. Mật độ dân số được tính
như vĩnh viễn dân số ổn định của Việt Nam chia cho tổng diện tích của đất nước. Tổng diện tích là tổng
2


Dân số học đại cương
diện tích đất và nước trong phạm vi ranh giới và bờ biển của Việt Nam . Tổng diện tích của Việt Nam là
331 212 km2 (nguồn: Phòng Thống kê của Liên Hợp Quốc.)

1.2. Đối tượng nghiên cứu của Dân số học
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng nghiên cứu của dân số học, trong đó có 2 quan điểm
được sử dụng rộng rãi hơn cả là:
- Thứ nhất, theo tác giả Tống Văn Đường trong “Dân số học” (1998) cho rằng, dân số học nghiên cứu cả
trạng thái tĩnh và trạng thái động dân cư.
Trạng thái tĩnh: Nghiên cứu dân số trong sự phân bố dân cư tại một thời điểm xác định, bao gồm các yếu
tố như số lượng, phân bố, cơ cấu dân số theo một hay nhiều tiêu chí nào đó.
Ví dụ: Theo điều tra của Tổng cục thống kê (Việt Nam), tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên toàn Việt
Nam có 85.846.997 người. Quy mô phân bố ở các vùng kinh tế - xã hội, trong đó đông dân nhất là vùng
Đồng bằng sông Hồng với khoảng 19,5 triệu người, kế tiếp là vùng bắc Trung bộ và duyên hải nam Trung
bộ với khoảng 18,8 triệu người, thứ ba là vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 17,1 triệu người.
Vùng ít dân nhất là Tây Nguyên với khoảng 5,1 triệu người. (Nguồn: Điều tra dân số của tổng cục thống

kê 2009)
Trạng thái động: bao gồm biến động tự nhiên, biến động cơ học và biến động xã hội.
+ Biến động tự nhiên của dân số gồm quá trình sinh và tử.
+ Biến động cơ học của dân số là các kết quả quá trình chuyển cư (tức là quá trình đi cư đi hay di cư đến).
+ Biến động xã hội là sự thay đổi về cơ cấu xã hội của nhóm dân cư
Kết quả của ba dạng biến động này là tập hợp của dân cư đổi mới liên tục hay là xảy ra quá trình tái sản
xuất dân số.
- Thứ hai, Dân số học nghiên cứu quá trình tái sản xuất của dân số. Tái sản xuất dân số là quá trình thay
đổi liên tục, không ngừng đổi mới về lượng và chất giữa các thế hệ người (trẻ hay già) thông qua hai quá
trình sinh và tử trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định.
Hiện nay có hai quan điểm nghiên cứu tái sản xuất dân số:
- Quan điểm 1 (nghĩa hẹp): là quá trình thay thế không ngừng các thế hệ dân số kế tiếp nhau thông qua các
sự kiện sinh và tử. Nghiên cứu tính quy luật của các quá trình sinh, chết, hôn nhân (kết hôn, ly hôn, ly
thân). Nghiên cứu sự biến động về cơ cấu, tuổi, giới tính, cơ cấu dân cư theo tình trạng hôn nhân và gia
đình.
Theo nghĩa hẹp, sự di chuyển này không làm thay đổi số lượng cơ cấu dân số của cả nước nhưng thực tế
nó làm thay đổi cấu trúc dân số của các vùng, thay đổi điều kiện sống của những người di cư cũng như
những người dân không di cư hay tập quán dân cư ở những vùng có người đi và vùng có người đến. Đây là
3


Dân số học đại cương
quan điểm nghiên cứu dân số học thuần túy. Không nghiên cứu và phân tích mối quan hệ giữa các quá
trình dân số với các điều kiện kinh tế xã hội.
- Quan điểm 2 (nghĩa rộng): là quá trình thay thế không ngừng các thế hệ dân số kế tiếp nhau thông qua
các sự kiện sinh, tử và di cư. Nghiên cứu tái sản xuất dân cư theo nghĩa rộng là nghiên cứu tổng hợp cả
biến động tự nhiên, biến động cơ học và biến động xã hội của dân số tức là quá trình tái sản xuất dân cư có
mối quan hệ với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội cụ thể.
1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN TRONG DÂN SỐ HỌC
Để nghiên cứu các nội dung nghiên cứu trong dân số học, các nhà nghiên cứu sử dụng hệ thống các

phương pháp khác nhau: phương pháp thống kê, xã hội, toán học, bản đồ, mô hình hoá...
Ở Việt Nam, người ta đã và đang sử dụng phương pháp sau đây để thu thập các số liệu và các thông
tin về dân số và kế hoạch hóa gia đình:
- Tổng điều tra dân số
- Thống kê thường kỳ
- Điều tra chọn mẫu
Tùy theo mỗi phương pháp thu thập, các số liệu được tập hợp lại sẽ có sự khác biệt mà người cần
sử dụng cần phải hiểu rõ ràng để sử dụng được những số liệu này một cách hiệu quả và đúng mục đích cụ
thể đặt ra.
1.3.1. Tổng điều tra dân số
Đợt Tổng điều tra dân số chính thức đầu tiên ở Việt Nam được thực hiện vào năm 1926, ở vùng
Nam Bộ. Tiếp đến là cuộc điều tra ngày 1 tháng 3 năm 1960 và ngày 1 tháng 10 năm 1974 ở miền Bắc,
ngày 5 tháng 2 năm 1976 ở miền Nam. Cuộc Tổng điều tra dân số đầu tiên trong cả nước được thực hiện
ngày1 tháng 4 năm 1989, và lần gần đây nhất là ngày 1 tháng 4 năm 2009. Tổng điều tra dân số năm 1989
được thực hiện bằng các phương pháp hiện đại và có sự trợ giúp của Liên hợp quốc.
1.3.1.1. Khái niệm, đặc điểm và mục đích của tổng điều tra dân số
Theo định nghĩa của Ủy ban Thống kê Liên hợp quốc, “Tổng điều tra dân số là một quá trình thống
nhất, bao gồm việc thu thập, tổng hợp, đánh giá, phân tích và công bố hay phổ biến các số liệu tương quan
với tình hình dân số của cả nước (hay một phần lãnh thổ), vào một thời điểm nhất định dựa trên bình diện
dân số, kinh tế, văn hóa và xã hội”
Tổng điều tra dân số có những đặc điểm sau:
- Toàn diện: Điều tra dân số được tiến hành đối với toàn bộ vùng lãnh thổ xác định. Mỗi người
buộc phải cung cấp các thông tin, đây không phải là một cuộc điều tra dựa trên sự tự nguyện.
- Đồng thời: Các số liệu được tập hợp ở một thời điểm xác định gọi là “thời điểm điều tra dân số”.
- Thống nhất: Cần xác định một cách hệ thống các vấn đề điều tra, sao cho việc cung cấp các câu
trả lời và xử lý số liệu thu thập phải theo cùng một nguyên tắc.
- Cá nhân: Việc cung cấp thông tin về mỗi cá nhân được tiến hành bằng các phỏng vấn trực tiếp
hay thông qua liên lạc (chẳng hạn qua thư hay gọi điện thoại).
4



Dân số học đại cương
Điều tra dân số có các mục đích khác nhau:
- Cung cấp các số liệu đầy đủ, hữu ích, để dựa vào đó người ta có thể lập kế hoạch cho việc phát
triển kinh tế - xã hội.
- Đánh giá một cách khoa học về số dân và nguồn nhân lực trong tương lai để làm cơ sở cho việc
kế hoạch hóa.
- Đưa ra một số cơ sở chính xác cho việc quản lý của Nhà nước, quản lý kinh tế, xây dựng chính
sách kinh tế, xã hội và dân số,.v.v…
- Cho phép đánh giá những thành quả của cuộc cải cách và phát triển kinh tế, đánh giá những thay
đổi trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, nghiên cứu sự thay đổi về dân số và cơ cấu dân số để xác
định sự phát triển của mỗi nhóm tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, địa phương, trên cơ sở đó, đề ra
những chính sách về kinh tế, dân số và xã hội thích hợp.
1.3.1.2. Quy mô, tên gọi và đơn vị điều tra dân số
Việc điều tra dân số bắt đầu từ phần đăng ký của mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước. Chia dân số
ra làm 3 loại: dân số hợp pháp, dân số thực tế và dân số “thường trực”.
Dân số hợp pháp là tất cả những người có tên trong sổ hộ khẩu cũng như nơi thường trú hay đăng
ký theo quy định hiện hành.
Dân số thực tế là những người có mặt tại một đơn vị hành chính vào thời điểm của cuộc điều tra,
không tính đến thời gian có mặt, có tên hay không có tên trong hộ khẩu hay nơi đăng ký thường trú.
Dân số “thường trú” là tất cả những người có mặt thường xuyên tại một đơn vị hành chính nhất
định.
Lịch sử các cuộc điều tra dân số cho thấy số dân hợp pháp khác với số dân thực tế (dân số “thường
trú” hay dân số thực tế). Các trường hợp bỏ sót khi điều tra dân số thường trú ít hơn khi điều tra số dân
thực tế.
Thực tế đó cho thấy, dù cho dân số điều tra thuộc loại nào, người ta vẫn gặp những khó khăn nhất
định. Đặc biệt trong việc tổ chức và quản lý một cuộc điều tra, cũng như trong việc khai thác và sử dụng
số liệu. Tuy nhiên đa số các nước châu Âu đã tiến hành các cuộc điều tra dân số đồng thời cả hai loại: Dân
số thực tế và dân số “thường trú”. Thu thập cùng một lúc những số liệu về hai loại dân số này sẽ không chỉ
giúp cho việc kiểm tra một cách dễ dàng mức độ chính xác hay bỏ sót trong các công bố về dân số (số dân

thực tế = dân số ở những nơi đăng ký hộ khẩu thường trú + dân số có mặt tạm thời), mà nó còn giúp cho
việc lập kế hoạch (những kế hoạch liên quan đến việc trồng cây lương thực, thực phẩm, y tế, các phương
tiện giao thông, khách sạn, nhà nghỉ,.v.v).
Tùy theo điều kiện và khả năng riêng của mỗi nước, các cuộc Tổng điều tra dân số ở Vịêt Nam chỉ
dựa trên số dân thường trú.
Trong các cuộc Tổng điều tra, thông tin được thu thập một cách cá nhân. Nhưng gia đình lại được
coi là một đơn vị quan sát và các thông tin thường được cung cấp bởi đại diện của gia đình vì một số
người trong gia đình có thể vắng mặt và một số khác không thể khai báo vì lý do sức khỏe, hoặc có vấn đề
về trí nhớ, hay là họ không biết làm, đặc biệt là trẻ em.
5


Dân số học đại cương
1.3.1.3. Nội dung Tổng điều tra
Nội dung của Tổng điều tra dân số thông qua bảng câu hỏi điều tra Bảng hỏi chia làm ba phần chính: Phần
địa chỉ, nội dung chính và phần có liên quan đến các vấn đề khác (nếu có).( xem phụ lục - Ban chỉ đạo
điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Phiếu điều tra dân số và nhà ở.)
Phần địa chỉ gồm:
- Tên tỉnh (thành phố), quận (huyện), xã.
- Tên thôn, phố, số nhà.
- Họ, tên.
- Quan hệ với chủ hộ.
Phần liên quan đến các tỉnh (thành phố), quận cho phép tập hợp các số liệu về nhân khẩu theo các
phân chia đơn vị hành chính hay các vùng lãnh thổ. Phần họ và tên nhằm gắn trách nhiệm của người khai
khi họ trả lời và có những đánh giá khác nhau. Phần liên quan đến quan hệ với chủ hộ cho phép phân loại
gia đình một cách chính xác.
Nội dung chính của bảng hỏi gồm tất cả những thông tin đáp ứng mọi yêu cầu về chỉ số tổng hợp
đã được xác định đối với cuộc Tổng điều tra dân số.
- Giới tính.
- Ngày, tháng, năm, sinh hay tuổi.

- Dân tộc, tôn giáo.
- Những lần di chyển.
- Biết đọc, biết viết, tình trạng sức khỏe.
- Trình độ học vấn.
- Trình độ chuyên môn kỹ thuật.
- Tình trạng hôn nhân.
- Hoạt động kinh tế.
- Nghề nghiệp.
- Ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
1.3.1.4. Phương tiện điều tra
Phương tiện điều tra gồm bảng câu hỏi điều tra và một tài liệu hướng dẫn điều tra. Bảng câu hỏi có
hai hình thức: một là danh sách được sử dụng bởi nhiều người (nói chung là dành cho gia đình) và một
bảng câu hỏi dành cho mỗi cá nhân. Tại Việt Nam, chỉ có cuộc Tổng điều tra vào năm 1979 là sử dụng
những bảng câu hỏi cá nhân đặt trong một phong bì dành cho từng hộ. Các cuộc Tổng điều tra dân số khác
sử dụng bảng hỏi gia đình.
Ngoài ra, người ta còn sử dụng các tài liệu chuyên biệt như: sổ hướng dẫn thực hiện, biểu, bảng,
giấy kiểm tra, sổ tay dành cho các cán bộ điều tra và các tổ trưởng, giấy chứng nhận điều tra, v.v…
6


Dân số học đại cương
1.3.1.5. Các phương pháp Tổng điều tra dân số
Tổng điều tra dân số thường dựng hai phương pháp truyền thống. Cách thứ nhất là phương pháp
phỏng vấn theo bảng hỏi. Cách thứ hai là trưng cầu ý kiến. Khi tập hợp các câu hỏi, cán bộ điều tra chỉ cần
kiểm tra xem những câu trả lời có điền đúng vào mỗi cột hay không.
Tất cả những cuộc Tổng điều tra dân số ở Việt Nam đều được sử dụng phương pháp phỏng vấn.
1.3.1.6. Thời điểm chính xác, ngày và thời gian của cuộc Tổng điều tra dân số
Dân số thay đổi chỗ ở, biến đổi liên tục, nhưng những biến động này không diễn ra như nhau ở các
giai đoạn trong năm. Vì vậy, cần lựa chọn ngày, giờ, tháng hay khi dân số ít biến đổi nhất và khi các điều
kiện khí hậu thuận tiện nhất để tổ chức Tổng điều tra dân số. Thời điểm chính xác của Tổng điều tra dân số

thường được xác định vào 0 giờ của ngày bắt đầu cuộc Tổng điều tra.
Cũng cần xác định thời gian tiến hành Tổng điều tra dân số. Khoảng thời gian này phụ thuộc vào
quy mô dân số, môi trường địa lý, nội dung của bảng hỏi, số lượng và kinh nghiệm của cán bộ điều tra và
phương pháp (hỏi trực tiếp hay cá nhân điền vào). Tuy nhiên thời gian càng kéo dài thì càng ảnh hưởng
đến chất lượng của cuộc điều tra. Ở Việt Nam, ngày tiến hành Tổng điều tra dân số là 0 giờ ngày 1 - 4 (trừ
khi xảy ra các biến cố bất ngờ) và thời gian kéo dài thường được xác định là 7 ngày.
1.3.1.7. Tổ chức Tổng điều tra dân số
Dự án Tổng điều tra dân số và các hướng dẫn để thực hiện, lập kế hoạch và tổng hợp số liệu là
những nhiệm vụ hàng đầu của Tổng điều tra dân số. Hơn nữa, cần tổ chức các cuộc thử nghiệm để hoàn
thành dự án và Kế hoạch của Tổng điều tra dân số.
Để tránh việc bỏ sót các gia đình hay các điểm dân cư, trong giai đoạn chuẩn bị cần lập danh sách
các nơi ở hay nơi có thể có người ở: đó là danh sách các điểm dân cư, số lượng nhà ở và số lượng các gia
đình. Các danh sách này dựng làm cơ sở cho việc phân chia trách nhiệm giữa các cán bộ điều tra. Để phục
vụ Tổng điều tra dân số, người ta cần sử dụng các sơ đồ, bản đồ. Đơn vị nhỏ nhất được giao cho mỗi cán
bộ điều tra. Các tấm bản đồ thường được sử dụng làm cơ sở cho việc kiểm tra và xác định giới hạn khu
vực hành chính theo các cấp khác nhau, nhất là đối với các cấp cơ sở.
Đối với cuộc Tổng điều tra dân số ở Việt Nam, người ta thường sử dụng tài liệu đối chiếu, trong đó
quan trọng nhất là đăng ký hộ khẩu của Bộ Công an, nhất là khi cần kiểm tra diện tích, chuẩn bị danh sách
số hộ gia đình, số nhà ở và số dân ở mỗi cụm dân cư.
Lựa chọn các cán bộ điều tra là một việc làm cực kỳ quan trọng, vì họ là những người quyết định
chất lượng của cuộc Tổng điều tra dân số. Thường các cán bộ điều tra được lựa chọn trong số những người
có trình độ học vấn tương đối cao, như các cán bộ Nhà nước, giáo viên, sinh viên…. Họ phải nắm bắt các
phương pháp và hiểu các tài liệu về điều tra dân số một cách thống nhất. Khi kết thúc lớp đào tạo cán bộ
điều tra dân số, cần có một cuộc kiểm tra thử nghiệm và giảm bớt những người không đáp ứng đầy đủ
những điều kiện cần có để tiến hành công việc.
Việc in ấn và phân phát các tài liệu, các mẫu điều tra, chuẩn bị các phương tiện kỹ thuật và công
tác phục vụ khác cũng rất quan trọng. Cần phải tính đến những trục trặc có thể bất ngờ xảy ra khi đang tiến
hành Tổng điều tra dân số (hỏa hoạn, mất mát, mối nhọt gặm nhấm tài liệu, v.v.).
Ngoài ra cần tuyên truyền và giải thích cho mỗi người dân nắm được mục đích và ý nghĩa của
7



Dân số học đại cương
Tổng điều tra dân số, đồng thời hiểu được nội dung và cách trả lời các câu hỏi. Để làm được điều này, cần
sử dụng rộng rãi và có hiệu quả các phương tiện in ấn, phát thanh, truyền hình, phim ảnh, quảng cáo, khẩu
hiệu, v.v. (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.12)

1.3.1.8. Tổng hợp các số liệu về nhân khẩu
Ở cấp tổ của Tổng điều tra dân số là cấp xã (phường), trước khi chuyển các tài liệu cho cấp trên
cần phải bảo đảm rằng số liệu của chúng trùng với các sơ đồ và danh sách số nhà, số hộ gia đình và số
người dân. Cần kiểm tra lại nội dung và hình thức của mỗi bảng hỏi. Trước khi chuyển đi cho cấp trên, ở
mỗi cấp cần làm một bản tổng hợp ban đầu về kết quả. Chỉ số tổng hợp ban đầu chính là tổng số dân, ở
đây người ta có thể thêm vào số nam giới, nữ giới hay nhóm tuổi đặc biệt. (Nguyễn Thị Kim Hoa,
2014,tr.12-13)
Giai đoạn tiếp theo là nhập các số liệu cần thiết vào máy tính để tổng hợp. Chất lượng số liệu phụ
thuộc rất nhiều vào việc thu thập và mã hóa thông tin, quá trình mã hóa sẽ dễ dàng nếu các câu trả lời được
viết theo các mẫu được thiết lập sẵn. Chẳng hạn, đối với những câu hỏi về tình trạng hôn nhân, người ta
chỉ có thể lựa chọn một trong những câu trả lời sau đây: Độc thân, đã có gia đình, góa, ly hôn hay ly thân.
Các số liệu tổng điều tra dân số thường được trình bày dưới dạng biểu có hai biến. Các chỉ tiêu giới
tính và lứa tuổi thường được kết hợp với hầu hết các chỉ tiêu khác. Nghề nghiệp thường được kết hợp với
trình độ văn hóa, nhóm xã hội,… (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.8 -13)

Biểu đồ: Dân số chia theo thành thị/ nông thôn, giói tính, các vùng kinh tế- xã hội và tỉnh thành phố,
1/4/2009
8


Dân số học đại cương
(Nguồn: Ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Kết quả toàn bộ tổng điều tra dân số và
nhà ở Việt Nam, năm 2009.)

1.3.2. Thống kê dân số định kỳ
Theo Lênin, thống kê là công cụ mạnh mẽ nhất để nhận thức xã hội. Vì thế, các phương pháp thống
kê thường được vận dụng rộng rãi trong dân số học, từ việc thu thập số liệu đến việc xử lý và trình bày các
số liệu dân số.
1.3.2.1. Thống kê những biến động tự nhiên về dân số
Các cuộc Tổng điều tra dân số chỉ cung cấp các số liệu về số dân hiện có và cơ cấu dân số vào một
thời điểm nhất định. Dân số thay đổi thường xuyên theo thời gian và không gian. Đặc biệt trong những
khoảng thời gian dài giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số, thường là 10 năm. Vì vậy, cần theo dõi một cách
đều đặn những thay đổi diễn ra trong dân số mà trước hết là những biến động tự nhiên như sinh, chết, kết
hôn và ly hôn.
- Tổ chức
Khi tổ chức một hệ thống ghi chép các biến động tự nhiên về dân số, xác định xem ai là người có
trách nhiệm ghi chép, thời gian và địa điểm, người có trách nhiệm công bố những thay đổi,.v.v.
Cơ cấu ghi chép các biến động tự nhiên ở cơ sở gồm:
- Mạng lưới đăng ký hộ tịch.
- Mạng lưới đăng ký của các tổ chức y tế.
- Mạng lưới đăng ký nơi cư trú.
Ở hầu hết các nước, việc ghi chép các biến động tự nhiên dựa trên mạng lưới đăng ký hộ tịch và có
ưu điểm: Nó được thực hiện theo phạm vi hành chính, người ta có thể ghi lại tất cả các sự kiện; và sử dụng
một phương tiện thống nhất. Thông thường sử dụng mạng lưới đăng ký hộ khẩu kết hợp với đăng ký của
các cán bộ y tế.
Chính quyền địa phương có trách nhiệm ghi lại những biến động tự nhiên về dân số. Cán bộ làm
nhiệm vụ này, cần được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nhất định. Các tiêu chuẩn này phụ thuộc vào sự
phát triển của mỗi nước.
Ở hầu hết các nước, cha mẹ có trách nhiệm khai sinh cho con mình. Nhưng ở một số nước, trách
nhiệm này lại thuộc về các cán bộ y tế.
Về khai tử, trách nhiệm thuộc về người thân của người bị mất, bác sỹ hay người có trách nhiệm
mai táng. Tuy nhiên, việc khai tử thường do thân nhân của người chết thực hiện. Họ không chỉ khai báo
mà còn làm các thủ tục khác.
Khi đăng ký kết hôn, các thông tin cần thiết sẽ được người vợ hay người chồng hoặc người đứng ra

tổ chức lễ cưới cung cấp. Có rất nhiều trường hợp ở một nơi nhưng lại có đăng ký hộ khẩu ở nơi khác (ở
quê gốc). Điều này càng làm phức tạp hơn việc theo dõi tình trạng hôn nhân của họ.
Trách nhiệm khai báo việc ly hôn thuộc về người vợ hoặc người chồng. Ở các nước việc ly hôn
phụ thuộc quyết định của tòa án. Đa số các nước đều quy định thời hạn khai báo hợp pháp các sự kiện khi
9


Dân số học đại cương
nó xảy ra.
- Nội dung ghi chép
Nội dung ghi chép những biến động tự nhiên phụ thuộc vào quy định pháp lý, các tài liệu thu thập
và các đặc điểm của từng sự kiện.
Tuổi, ngày tháng, năm sinh, giới tính, dân tộc, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, đặc điểm kinh tế- xã
hội,.v.v. của những người có liên quan đến sự kiện.
Nội dung của giấy khai sinh không chỉ có các vấn đề đặc trưng của đứa trẻ mới sinh mà còn liên
quan đến cha mẹ như: người mẹ bao nhiêu tuổi? Có mấy người con? Đã sinh bao nhiêu lần? Sinh một,
sinh đôi hay sinh ba?, v.v.
Nội dung khai tử thường là ngày, địa điểm, nguyên nhân chết và bắt buộc phải ghi tuổi, giới tính
của người chết. Nội dung về nghề nghiệp, tình trạng việc làm và các chỉ số khác như tuổi của vợ (chồng)
còn sống? Số con đã sinh ra…Ở nhiều nước, người ta quan tâm nhiều đến nguyên nhân tử vong.
Nội dung đăng ký kết hôn và ly hôn đều có các câu hỏi tương tự. Mặt khác, trong giấy đăng ký kết
hôn, có các câu hỏi về quan hệ huyết thống, tình trạng hôn nhân, số con của hai vợ chồng trước khi cưới.
Đối với giấy ly hôn, cũng có các câu hỏi như người kết hôn, số con, nguyên nhân ly hôn,v.v.
- Tổng hợp các số liệu
Việc xử lý các số liệu thống kê về các biến động dựa vào các thông tin ghi chép được. Thống kê
dân số thường kỳ, được thực hiện đơn giản hơn, chủ yếu là do giới tính và theo nhóm tuổi từ 5- 10 tuổi.
Khi tổng hợp theo nhóm tuổi, cần chia thành nhóm trẻ em dưới 5 tuổi và nhóm trẻ em dưới 1 năm. Ở
nhóm dưới 5 tuổi, cần tổng hợp từng độ tuổi và nhóm dưới 1 tuổi cần tổng hợp theo tháng. Người ta đặc
bịêt cần đến những thông tin này khi nghiên cứu tỷ lệ chết của trẻ em.
Trên thực tế việc phân chia theo nhóm số sinh còn kết hợp với những đặc trưng nhân khẩu học và

kinh tế- xã hội của cha mẹ, đặc biệt là của người mẹ. Chẳng hạn, số con sinh ra được phân chia ra theo các
đặc điểm của cha mẹ: tuổi, tình trạng hôn nhân, số sinh v.v.
Khi tổng hợp số lượng người chết, phân chia theo nhóm: tuổi, giới tính, đặc trưng kinh tế- xã hội
v.v. Khi chia ra thành các nhóm kết hợp, người ta chia số người chết theo giới tính và tuổi, nguyên nhân tử
vong và nhóm tuổi. Việc phân chia theo nhóm số người tử vong dựa vào nguyên nhân chết của tổng số dân
và nhóm tuổi là khác nhau.
Việc phân chia nhóm các cặp vợ chồng, đối với mỗi giới và cả hai giới, được thực hiện theo tuổi và
tình trạng hôn nhân. Trường hợp ly hôn, được phân chia theo tuổi và thời gian chung sống, số lượng con
của cặp vợ chồng. v.v. Điều này cho phép nghiên cứu các nhóm tuổi của những người lập gia đình, và
nhóm lứa tuổi nào tình trạng hôn nhân kém bền vững hơn các nhóm khác. (Nguyễn Thị Kim Hoa,
2014,tr.14)
1.3.2.2. Thống kê về tình trạng di cư
Việc thay đổi nơi cư trú từ một đơn vị hành chính này sang một đơn vị hành chính khác được gọi là
di cư.
Nhiệm vụ của thống kê thường kỳ về di cư là tính toán một cách chính xác số hiện có và cơ cấu
10


Dân số học đại cương
dân số của một đơn vị hành chính nào đó, ở một giai đọan nhất định giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số,
với những số liệu thống kê về biến động tự nhiên. Đồng thời cũng xác định các ảnh hưởng của di cư tới cơ
cấu dân số của nơi đi cũng như nơi đến (đặc biệt là cơ cấu của nguồn nhân lực). Các số liệu về di cư giúp
cho việc nghiên cứu các luồng di cư trong một nước - từ vùng này đến vùng khác, từ nông thôn ra thành
phố và ngược lại v.v. cũng như việc đi ra nước ngoài.
Việc tổ chức thống kê thường kỳ tình trạng di cư về cơ bản giống như việc tổ chức thống kê các
biến động tự nhiên, vì việc thay đổi chỗ ở thường kéo theo các thủ tục đăng ký thường trú. Các nguyên tắc
đăng ký thường trú giống như các nguyên tắc đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, ở nhiều nước, việc thay đổi nơi
ở của người dân trong cùng một lãnh thổ không đòi hỏi thủ tục xin cấp giấy phép di chuyển. Vì vậy, các
thống kê về tình trạng di cư trong nước là việc làm khó khăn. Để kiểm tra một cách chính xác và đầy đủ
các trường hợp di cư cần xác định số trẻ em đi kèm cha mẹ chúng.

Nội dung của việc đăng ký tổng hợp các tài liệu thống kê thường kỳ về tình trạng di cư của nhân
dân thay đổi theo từng nước và từng thời kỳ, nhưng một số thông tin chính vẫn luôn luôn được đảm bảo.
Đó là cơ cấu di cư theo giới tính và tuổi và cũng như các đặc điểm về hướng di chuyển (nơi đi, nơi đến
v.v.).
Ở Việt Nam hiện nay hệ thống này bao gồm:
- Hệ thống các báo cáo định kỳ về dân số và biến động dân số của Tổng cục thống kê.
- Hệ thống đăng ký, thống kê hộ tịch của Bộ Tư pháp.
- Hệ thống quản lý, đăng ký thường trú của Bộ công an.
- Hệ thống đăng ký, báo cáo thống kê về dân số và kế hoạch hóa gia đình của Ủy ban Quốc gia Dân
số và Kế hoạch hóa gia đình.
- Hệ thống theo dõi thống kê về Sức khỏe cộng đồng và sức khỏe bà mẹ, trẻ em.
Các hệ thống này vẫn còn những hạn chế và yếu kém trong việc thu thập các số liệu, đặc điểm
riêng của hệ thống số liệu các nước đang phát triển. (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014,tr.13 -17)

11


Dân số học đại cương

(Nguồn: Tổng cục thống kê)
1.3.3. Điều tra mẫu
Như chúng ta đã thấy, tổng điều tra dân số và các số liệu thống kê thường kỳ thu thập các thông tin
về tổng số dân để phục vụ cho việc nghiên cứu. Toàn bộ các số liệu này thường có quy mô lớn. Bởi vậy,
trên thực tế, người ta chỉ có thể nghiên cứu các yếu tố, các đặc trưng cơ bản của dân số. Các kết quả điều
tra này không thể đáp ứng những nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề xã hội, y tế hay thái độ của
người dân với chương trình kế hoạch hóa gia đình. Vì vậy, để nghiên cứu chuyên sâu, chẳng hạn như các
điều tra nhân khẩu học và sức khỏe (DHS) hay nghiên cứu về những Hiểu biết, Thái độ và Áp dụng (CAP)
của dân số, trong chương trình kế hoạch hóa gia đình, người ta chỉ cần tiến hành điều tra mẫu.
Trước kia, ở Việt Nam các số liệu không được đầy đủ, hạn chế và thiếu chính xác. Tổng cục Thống
kê và một số ngành khác là những cơ quan đầu tiên áp dụng các phương pháp điều tra chọn mẫu để thu

thập các số liệu theo yêu cầu.
Có rất nhiều cách để chọn mẫu, nhưng cách làm hay được sử dụng nhất là phương pháp xác suất,
và phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên.
Nguyên tắc của phương pháp xác suất là tất cả các chủ đề nghiên cứu đều có một xác suất như
nhau để đưa vào mẫu.
Để thực hiện nguyên tắc này, người ta có thể:
- Rút thăm dựa trên một danh sách bao gồm tất cả số người đựơc nghiên cứu.
- Rút thăm ngẫu nhiên từng “nhóm”, có nghĩa là thay vì rút thăm từng người, người ta rút thăm
từng nhóm người. Chẳng hạn, để nghiên cứu về sự Hiểu biết, Thái độ và Áp dụng (CAP) của một tỉnh,
12


Dân số học đại cương
chúng ta chỉ có danh sách các xã. Người ta có thể rút thăm lựa chọn một số xã nào đó để nghiên cứu rồi
điều tra toàn bộ số dân của các xã đó. Chúng ta cũng có thể rút thăm một lần nữa chọn ra một số người nào
đó để nghiên cứu. Có nghĩa là phải tiến hành rút thăm ở nhiều mức độ.
Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên yêu cầu:
- Một cơ cấu mẫu đồng nhất với cơ cấu tổng thể theo một tiêu chí xác định.
- Các nhân tố nghiên cứu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
1.3.3.1. Điều tra chọn trên các mẫu được lựa chọn khi tổng điều tra dân số
Dựa trên nền tảng của cơ cấu hành chính, các đặc trưng của việc điều tra, các loại chỉ số, độ chính
xác của số liệu, và nhu cầu về thông tin của các cấp khác nhau, cỡ mẫu của điều tra trong hai cuộc Tổng
điều tra 1989 và 2009 tương ứng là 5% và 3%, chỉ đại diện cho cấp tỉnh. Trong Tổng điều tra năm 2009,
điều tra mẫu sẽ đưa ra số liệu đại diện cho đến cấp huyện. Quy mô mẫu này sẽ đại diện cho tất cả các tỉnh,
thành phố cả nước.
Cách phân chia thành nhóm đã được thực hiện trong mẫu 5% để tăng cường mức độ chính xác của
các đánh giá 40 tỉnh và thành phố được chia thành 40 nhóm chính. Khu vực thành thị và nông thôn của
mỗi tỉnh được chia thành các nhóm nhỏ. Vùng của các nhóm nhỏ đã được sắp xếp theo một thứ tự nhất
định và phương pháp rút thăm hệ thống được áp dụng cho mỗi nhóm. (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.18)
Việc phân chia các khu vực mẫu cho mỗi tỉnh và thành phố đã được thực hiện theo phương pháp

xác suất nghịch đảo, có nghĩa là các tỉnh và các thành phố có dân số ít sẽ có một tỷ lệ thăm dò cao hơn và
ngược lại. Đa số các tỉnh và thành phố có từ 100 đến 200 địa bàn điều tra mẫu, chỉ có 4 tỉnh và thành phố
có dưới 100 địa bàn điều tra mẫu.
Một cuộc điều tra khác cũng được tiến hành khi tiến hành Tổng điều tra ngày 1-4-1999 trên một
mẫu lớn hơn để làm đại diện chính xác cho 61 đơn vị hành chính mới. Cuộc điều tra về điều kiện cư trú
này liên quan đến 100% dân số.
1.3.3.2. Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe (DSH)
Cuộc điều tra đầu tiên về Nhân khẩu học và Sức khỏe được Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch
hóa gia đình thực hiện vào năm 1988. Cuộc điều tra năm 2002 đã được thực hiện bằng cách tập hợp các số
liệu về mức sinh sản, việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, các đặc trưng của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ
và các thông tin hữu ích khác cho những người soạn thảo chương trình kế hoạch hóa gia đình và xây dựng
các chính sách dân số. Các số liệu điều tra cũng cho phép đánh giá hiệu quả của các chương trình kế hoạch
hóa gia đình.
Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe đã được văn phòng thường trực của Ủy ban Quốc gia Dân số
và Kế hoạch hóa gia đình thực hiện với sự trợ giúp tài chính của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
thông qua dự án VIE/87/P04. Các cán bộ thuộc Văn phòng thường trực của Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế
hoạch hóa gia đình đã thực hiện toàn bộ cuộc điều tra, từ việc chọn mẫu, nội dung của bảng hỏi và tài liệu
hướng dẫn đến việc đi điều tra, xử lý và phân tích số liệu. Một số viện nghiên cứu như Viện Xã hội học
(Viện Khoa học xã hội), Viện tính toán và điều khiển (Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia), Viện
bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em (Bộ y tế) và Viện Khoa học Thống kê (Tổng cục thống kê) đã cùng cộng
tác chặt chẽ trong các lĩnh vực có liên quan. Tiểu ban Dân số thuộc Ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á
13


Dân số học đại cương
- Thái Bình Dương (ESCAP) đã giúp đỡ cuộc điều tra về mặt kỹ thụât, đặc biệt trong việc chọn mẫu, xử lý
và phân tích số liệu.
Điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe đã được thực hiện dựa trên một mẫu cho phép đánh giá tình
hình ở miền Bắc và miền Nam, ở nông thôn và thành thị, 151 xã của 12 tỉnh và thành phố đã được chọn
làm một đơn vị mẫu. Trên 151 xã, phường này, 4.806 hộ với tổng số 25.386 người dân đã được lựa chọn

để điều tra. Trong số đó có 4.172 phụ nữ có gia đình và trong độ tuổi sinh đẻ (15-49) là những đối tượng
trả lời phiếu cá nhân.
Hai loại bảng hỏi dựa trên mẫu bảng hỏi của DHS (sử dụng ở các nước có tỷ lệ sử dụng các biện
pháp tránh thai cao), đã được sử dụng cho điều tra Nhân khẩu học và Sức khỏe có sự điều chỉnh cho phù
hợp với hoàn cảnh và khả năng của Việt Nam. Bảng hỏi dành cho hộ gia đình của điều tra Nhân khẩu học
và Sức khỏe ở Vịêt Nam gần như hoàn toàn giống như bảng hỏi gốc.
Bảng hỏi này được sử dụng để các hộ khai báo tất cả các thành viên của gia đình và những người
có mặt trong gia đình vào đêm trước điều tra. Các thông tin thu thập gồm có nơi ở, giới tính, tuổi và tình
trạng hôn nhân. (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.18-19)
Bảng hỏi cá nhân được sử dụng để phỏng vấn những người phụ nữ đã lập gia đình và trong độ tuổi
sinh đẻ (15-49), gồm 7 phần sau:
- Các đặc trưng của đối tượng điều tra.
- Lịch sử sinh sản.
- Sử dụng các phương pháp tránh thai, nạo phá thai.
- Sức khỏe và cho con bú.
- Kết hôn.
- Mức sinh mong muốn.
- Đặc trưng cơ bản của người chồng và tình trạng nghề nghiệp của người vợ.
1.3.3.3. Điều tra Nhân khẩu giữa kỳ năm 1994 và 2002
Điều tra Nhân khẩu giữa kỳ năm 1994 do Tổng cục Thống kê thực hiện, với sự trợ giúp tài chính
của FNUAP (UNFPA), thông qua dự án VIE/93/p03 cùng với Ủy ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hóa
gia đình. Nhóm hỗ trợ kỹ thuật (CST) khu vực Đông Nam Á của FNUAP và Cục Thống kê Liên hợp quốc
(UNSTAT) đã trợ giúp kỹ thuật điều tra, đặc biệt là chọn mẫu, xây dựng bảng hỏi điều tra, xử lý và phân
tích các số liệu. (Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.20)
Công việc chính của cuộc điều tra bao gồm:
- Thiết lập mẫu.
- Biên soạn bảng hỏi điều tra và các tài liệu hướng dẫn.
- Điều tra thử.
- Điều tra thực địa.
- Khai thác số liệu.

14


Dân số học đại cương
- Phân tích các kết quả.
Mẫu điều tra nhân khẩu học giữa kỳ là một tập con của điều tra dân số lặp lại. Giai đoạn này được
Tổng cục Thống kê thực hiện hai lần một năm, nhằm tập hợp các số liệu về biến động dân số. Mẫu của
cuộc điều tra này vào khoảng 200.000 gia đình (1 triệu người) thuộc 1.122 địa bàn điều tra (282 ở thành
thị và 840 ở nông thôn) nằm trong 291 quận (huyện) của 53 tỉnh, thành phố trong cả nước.
Người điều tra điền vào bảng hỏi cá nhân là những người phụ nữ đã lập gia đình ở độ tuổi sinh đẻ
tuổi từ 15-49, thuộc các gia đình đã lựa chọn.
Có hai loại bảng hỏi đã được sử dụng trong điểu tra nhân khẩu học giữa kỳ năm 1994: bảng hỏi
dành cho hộ gia đình được sử dụng cho mọi gia đình và bảng hỏi cá nhân, dành cho phụ nữ đã lập gia đình
ở độ tuổi 15- 49 tuổi.
Bảng hỏi dành cho hộ gia đình được sử dụng nhằm ghi lại những người thường trú trong các hộ gia
đình của mẫu điều tra. Một số câu hỏi được đặt ra cho từng người như giới tính, tuổi, trình độ văn hóa,
quan hệ với chủ hộ, cha mẹ của trẻ em dưới 10 tuổi còn sống hay đã chết, để tập hợp những đặc trưng cơ
bản toàn bộ dân số của mẫu. Một số thông tin được thu thập về điều kiện sống của các hộ gia đình, tình
trạng sức khỏe của nhân dân cũng như nguồn cung cấp nước sạch, các thiết bị vệ sinh, các vật liệu xây
dựng và các đồ đạc có giá trị.
Bảng hỏi cá nhân được sử dụng để thu thập thông tin về mỗi phụ nữ trong nhóm tuổi điều tra theo
các chủ đề chính sau:
- Các đặc trưng chung.
- Sự thay thế của các thế hệ.
- Các phương pháp tránh thai.
- Sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
- Hôn nhân.
- Mức sinh mong muốn.
- Các đặc trưng cơ bản của người chồng.
- Những ý kiến của phụ nữ cao tuổi.

Cuộc điều tra Nhân khẩu học và sức khoẻ ở Việt Nam năm 2002 do dự án "Dân số và sức khoẻ gia
đình" thuộc Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện là một cuộc điều tra mẫu đại diện cho cả nước,
với quy mô 5.665 phụ nữ đã từng kết hôn trong độ tuổi 15- 49, được chọn từ 205 địa bàn điều tra mẫu.
(Nguồn:Tổng cục thống kê Việt Nam, 2002)
Chương trình đó đánh giá những thay đổi của các chỉ báo về nhân khẩu và sức khỏe trong 5 năm để
đưa đến những kết luận về:
- Mức tử vong của trẻ sơ sinh và trẻ em.
- Xu hướng và các yếu tố tác động đến mức sinh.
- Sức khỏe bà mẹ.
15


Dân số học đại cương
1.3.3.4. Các điều tra về mức sống của các hộ gia đình được thực hiện từ năm 1993 đến 2008
Do nội dung rất phức tạp, cuộc điều tra này đã được thực hiện trên 4.800 hộ gia đình thuộc 150 xã
và phường mẫu trong cả nước. Đối với địa bàn nông thôn cuộc điều tra này có 3 bảng hỏi: (dẫn theo
Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, tr.21)
- Bảng hỏi dành cho hộ gia đình.
- Bảng hỏi dành cho cộng đồng (xã).
- Bảng hỏi về giá cả.
Trên địa bàn thành thị, người ta chỉ cần sử dụng bảng hỏi hộ gia đình. Có gần 700 câu hỏi về cuộc
sống thường nhật và gần 320 câu hỏi về các loại cây trồng, vật nuôi và các sản phẩm. Bảng hỏi cộng đồng
gồm 150 câu hỏi, chia làm 5 khối: nhân khẩu học, kinh tế và cơ sở hạ tầng, giáo dục, sức khỏe và nông
nghiệp. Những người được hỏi là các cán bộ chủ chốt của xã, hợp tác xã, ngành giáo dục, y tế, một số
nông dân lớn tuổi có kinh nghiệm, những người nắm bắt được những thông tin chính có liên quan đến
cộng đồng. Bảng hỏi về giá cả được sử dụng 3 lần ở 3 địa điểm khác nhau trên 88 thực phẩm cần thiết
nhất mà các gia đình thường xuyên mua trên thị trường địa phương để phục vụ sản xuất và đời sống hàng
ngày.1
Gần đây nhất là cuộc điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình 2008 được triển khai trên phạm vi cả
nước với quy mô mẫu 45.945 hộ (36.756 hộ điều tra thu nhập, 9.189 hộ điều tra thu nhập và chi tiêu) ở

3.063 xã/phường, đại diện cho cả nước, các vùng, khu vực thành thị, nông thôn và tỉnh/thành phố. Cuộc
Khảo sát thu thập thông tin theo 2 kỳ trong năm 2008 bằng phương pháp điều tra viên phỏng vấn trực tiếp
chủ hộ và cán bộ chủ chốt của xã có địa bàn khảo sát.2
1.3.3.5. Điều tra Biến động Dân số và Kế hoạch hóa gia đình
Hộp 1.1. Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2007
1. Mục đích và yêu cầu của cuộc điều tra
Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình là cuộc điều tra chọn mẫu hàng
năm do Tổng cục Thống kê thực hiện. Theo phương án Điều tra biến động dân số và kế
hoạch hoá gia đình ban hành kèm theo Quyết định số 1430/QĐ-TCTK ngày 15/2/2007
của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra là:
- Thu thập các thông tin cơ bản về số dân, tình hình biến động sinh, chết, di cư.
- Mức độ sử dụng các biện pháp tránh thai, tình hình hút điều hoà kinh nguyệt và
nạo phá thai.
- Thu thập các thông tin cơ bản phục vụ tính các chỉ tiêu thống kê quốc gia thuộc
nhóm các chỉ tiêu dân số.
Các thông tin đại diện cho từng tỉnh, thành phố, khu vực thành thị, nông thôn của
1 Patrick Gubry, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Thuý Hương (chủ biên) (2004), Dân số và phát triển ở Việt Nam, NXB Thế giới, tr
682 - 687
2 Tổng cục Thống kê (2009), Kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008, NXB Thống kê, Hà Nội

16


Dân số học đại cương

các vùng và cả nước.
2. Đối tượng và đơn vị điều tra
Cuộc điều tra chọn mẫu biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình năm 2007 tiến
hành điều tra toàn bộ các nhân khẩu thực tế thường trú của địa bàn mẫu tại thời điểm điều
tra (0 giờ ngày 1 tháng 4 năm 2007) cùng tất cả các trường hợp chết xảy ra trong hộ trong

khoảng thời gian từ ngày Mồng 1 Tết Bính Tuất năm 2006 (tức ngày 29/1/2006 theo
dương lịch) đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2007 và các trường hợp chuyển đến địa bàn
trong 12 tháng trước thời điểm điều tra của tất cả các địa bàn mẫu đã được chọn.
Nhân khẩu thường trú trong hộ là những người thực tế thường xuyên ăn ở trong hộ
hoặc mới chuyển đến sống ổn định tại hộ, không phân biệt người đó đã được ngành Công
an đăng ký hộ khẩu thường trú hay không.
Đơn vị điều tra là hộ. Hộ bao gồm một người hoặc một nhóm người ở chung và ăn
chung, họ có thể có hoặc không có quan hệ ruột thịt, có hoặc không có quỹ thu - chi
chung, hoặc kết hợp cả hai.
3. Nội dung điều tra
Nội dung của phiếu điều tra bao gồm 3 phần: (i) các thông tin chung về dân số; (ii)
thông tin về người chết của hộ và (iii) các thông tin liên quan đến sinh đẻ và sức khoẻ
sinh sản của phụ nữ 15-49 tuổi.
Phần 1: Thông tin chung về dân số
Đối với tất cả các nhân khẩu trong hộ:
- Họ tên nhân khẩu thường trú.
- Quan hệ với chủ hộ.
- Giới tính.
- Tháng năm sinh.
- Tình trạng di cư.
Đối với các nhân khẩu từ 5 tuổi trở lên:
- Tình trạng đi học.
- Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nhất đã đạt được.
Đối với các nhân khẩu từ 15 tuổi trở lên:
- Tình trạng hôn nhân.
- Tháng năm xảy ra tình trạng hôn nhân hiện tại.
Phần 2: Thông tin về người chết của hộ
- Các thông tin về số người chết.
17



Dân số học đại cương

- Các nhóm nguyên nhân chết.
- Tình hình tử vong mẹ.
Phần 3: Thông tin liên quan đến sinhđẻ và sức khoẻ sinh sản của phụ nữ 15-49
tuổi
- Số con đã sinh, số con đã chết và các thông tin về lần sinh gần nhất.
- Giới tính của trẻ sơ sinh.
- Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai, hút điều hoà kinh nguyệt và nạo, phá thai.
- Tình hình biến chứng sau khi hút điều hoà kinh nguyệt và sau khi nạo, phá thai.
4. Tuyển chọn và huấn luyện cán bộ điều tra
Điều tra viên và tổ trưởng được tuyển chọn trên cơ sở có trình độ học vấn đủ để
tiếp thu nghiệp vụ điều tra, có kinh nghiệm và hiểu biết về phong tục, tập quán của địa
phương và có sức khoẻ để làm việc. Nói chung, điều tra viên được tuyển chọn từ cán bộ
địa phương còn tổ trưởng điều tra được tuyển chọn từ cán bộ thống kê huyện, quận. Một
số nơi thuộc vùng sâu, vùng xa, không có khả năng tuyển chọn được điều tra viên theo
tiêu chuẩn thì được hướng dẫn tuyển chọn các cán bộ từ nơi khác đến, chủ yếu là từ cán
bộ thống kê cấp huyện, quận.
Công tác huấn luyện nghiệp vụ điều tra cho điều tra viên và tổ trưởng được tiến
hành trong 3 ngày. Công tác huấn luyện được tiến hành theo 2 giai đoạn. Giai đoạn 1 là
huấn luyện ở Trung ương. Trong giai đoạn này, mỗi tỉnh cử 2 cán bộ tham gia huấn luyện
hoặc tại Hà Nội, hoặc tại Thành phố Hồ Chí Minh trong nửa đầu tháng 3 năm 2007. Công
tác huấn luyện nghiệp vụ chủ yếu, bước 2, huấn luyện cho điều tra viên và tổ trưởng,
được tiến hành trước khi tiến hành điều tra tại địa bàn.
5. Tổ chức điều tra và giám sát chất lượng
Công tác chuẩn bị và hậu cần đã đảm bảo cho tất cả các điều tra viên và tổ trưởng
được trang bị các kiến thức cũng như các phương tiện cần thiết, có mặt đúng thời gian tại
địa bàn được phân công, các điều tra viên và tổ trưởng sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ.
Theo qui định, cuộc điều tra được bắt đầu từ ngày 1 tháng 4 năm 2007. Trừ một số

địa bàn ở vùng sâu, vùng xa, công tác điều tra ghi phiếu phải hoàn thành trong 10 ngày.
Trong thời gian này, điều tra viên phải đến từng hộ thuộc địa bàn điều tra của mình để
phỏng vấn ghi phiếu. Điều tra viên trực tiếp phỏng vấn chủ hộ về tất cả nhân khẩu thực tế
thường trú trong hộ và phỏng vấn các phụ nữ trong độ tuổi 15 - 49 để thu thập thông tin
về mức độ sinh và kế hoạch hoá gia đình. Trong trường hợp không gặp được chủ hộ, điều
tra viên được hướng dẫn phỏng vấn người lớn có khả năng trả lời các câu hỏi của hộ đó.
Qui trình điều tra được áp dụng nghiêm túc sẽ đảm bảo cho thông tin thu được chính xác.
Tổ trưởng có trách nhiệm kiểm tra công việc của điều tra viên hàng ngày. Ngoài việc
kiểm tra uốn nắn các sai sót trong công tác điều tra ghi phiếu của điều tra viên, tổ trưởng
còn có trách nhiệm kiểm tra ngẫu nhiên một số phiếu để đảm bảo điều tra viên thực hiện
công việc của mình đạt chất lượng cao. Sau khi đã được kiểm tra và làm sạch tại địa bàn,
18


Dân số học đại cương

phiếu điều tra được chuyển về Cục Thống kê tỉnh, thành phố. Công tác kiểm tra được
thực hiện để đảm bảo rằng, các phiếu điều tra đã được hoàn chỉnh.
6. Dàn chọn mẫu
Mẫu của cuộc điều tra Biến động dân số và KHHGĐ năm 2007 là mẫu đã được sử
dụng trong cuộc điều tra biến động dân số và KHHGĐ năm 2006, được chọn ngẫu nhiên
dựa trên dàn mẫu được thiết lập trong Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 1999.
7. Xác định cỡ mẫu và phân bổ mẫu
Để đảm bảo thu được các ước lượng mẫu đại diện cho cấp tỉnh, thành phố, mẫu
được phân bổ theo phương pháp tỷ lệ nghịch với quy mô dân số. Kết quả là mỗi tỉnh đã
chọn được khoảng 60 địa bàn với quy mô bình quân 100 hộ/ địa bàn. Hà Nội và Thành
phố Hồ Chí Minh là hai thành phố đông dân, phức tạp nhất cả nước đã chọn trên 70 địa
bàn. Những tỉnh có quy mô dân số thấp cũng chọn được gần 60 địa bàn
Mẫu được điều tra là mẫu phân tầng, mỗi tỉnh/thành phố tạo thành một tầng chính
(64 tầng chính), sau đó được tách riêng theo hai tầng thứ cấp là “thành thị” và nông thôn”.

Việc phân bổ mẫu cho mỗi tầng được thực hiện theo phương pháp chọn hệ thống.

1.3.4. Phương pháp quan sát
1.3.4.1. Cách thức :
Người cán bộ đánh giá sẽ ghi lại những gì họ nhìn thấy và nghe thấy tại địa bàn bằng bảng quan sát.
Quan sát có thể được thực hiện với sự vật hiện tượng xung quanh, các hoạt động đang diễn ra, các quy
trình.
1.3.4.2. Trường hợp thực hiện:
- Khi số liệu theo dõi việc thực hiện công việc cho thấy các kết quả không đạt như kế hoạch và khi triển
khai chương trình có những vấn đề còn nghi ngờ nhưng chưa được làm sáng tỏ.
Ví dụ : Sau đợt đánh chất lượng đời sống văn hóa xã hội các tổ dân phố, cho kết quả tổ dân phố A đạt tiêu
chuẩn để trở thành tổ dân phố văn hóa. Nhưng trên thực tế thì tổ dân phố này lại nổi tiếng với nhiều tệ nạn
xã hội. Trong tường hợp này thì người cán bộ cần đến khu vực trực tiếp quan sát để kiểm định lại kết quả
đánh giá.
- Khi cần đánh giá các chi tiết quy trình của một hoạt động như các nhiệm vụ có được thực hiện theo
chuẩn hay không.
Ví dụ : Để thực hiện một cuộc tổng điều tra cần huy động một nguồn nhân lực lớn nên Nhà nước đã cho
thuê nhiều sinh viên đi thu thập số liệu ở các hộ gia đình . Nhưng có nhiều trường hợp sinh viên không
đảm bảo qui trình thực hiện mà tự mình điền số liệu vào bảng điều tra. Để đảm bảo việc này xảy ra, người
cán bộ cần đến địa bàn quan sát để đảm bảo sinh viên thực hiện đúng qui trình yêu cầu.
19


Dân số học đại cương
- Khi kiểm kê cơ sở vật chất và các đầu vào là cần thiết và không sẵn có trong các nguồn số liệu hiện có.
Ví dụ : Muốn tính số lượng nhà tình nghĩa đạt chuẩn tại một khu vực nào đó thì người cán bộ cần đến khu
vực đó để quan sát để đưa ra số liệ
- Khi các phương pháp phỏng vấn không phát hiện được các thông tin cần thiết một cách chính xác và
đáng tin cậy.
Ví dụ : Trong quá tình phỏng vấn đôi khi thông tin người dân cung cấp là không chuẩn xác nên người cán

bộ cần có sự nhạy bén trong quan sát để nhận định câu trả lời.
- Giúp hình thành các câu hỏi cho các phần phỏng vấn
1.3.4.3. Ưu và nhược điểm của phương pháp:
a, Ưu điểm :
- Giúp kiểm định lại kết quả sau điều tra.
- Đảm bảo các qui trình chi tiết của cuộc điều tra.
b, Nhược điểm :
- Mang tính chủ quan của người quan sát. Đối tượng được quan sát thông qua lăng kính chủ quan của
người quan sát, vì vậy không thể tránh khỏi việc kết quả quan sát bị ảnh hưởng bởi thái độ của người quan
sát đối với đối tượng đượcquan sát có thể là thiện cảm hay ác cảm… Vì vậy yêu cầu người cán bộ cần có
sự khách quan trong quan sát.
- Chỉ sử dụng cho nghiên cứu đối tượng trong hiện tại vì con người không thể nhìn thấy được tương lai
hay quá khứ. Tính bao trùm bị hạn chế do người quan sát ko bao trùm đc mẫu lớn nên yêu cầu người cán
bộ khi quan sát cần có sự lựa chọn ra những mẫu điển hình để quan sát từ đó đưa ra kết quả tốt nhất.
1.3.5. Phương pháp phỏng vấn
1.3.5.1. Cách thức : Người điều tra sẽ gặp trực tiếp những người dân để hỏi và thu thập thông tin từ họ.
1.3.5.2. Các dạng phỏng vấn:
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Người phỏng vấn chỉ dựa trên các mục tiêu đánh giá để đưa ra câu hỏi. Dạng
phỏng vấn này sẽ cung cấp những kết quả mang tính định tính.
- Phỏng vấn theo cấu trúc : Người cán bộ phỏng vấn bằng những câu hỏi có sẵn. Dạng phỏng vấn này sẽ
cung cấp những kết quả mang tính định lượng.
1.3.5.3. Ưu và nhược điểm của phương pháp:
a, Ưu điểm:
- Cho phép thu thập những thông tin về thực tại, cũng như những thông tin về tâm tư, tình cảm suy nghĩ
của đối tượng. Đôi khi những gì người cán bộ quan sát được không phản ánh đúng bản chất của vấn đề vì
20


Dân số học đại cương
vậy cần trực tiếp hỏi để nắm bắt tâm tư tình cảm của đối tượng. Như đánh giá chất lượng dạy học của một

trường học không phải chỉ đánh giá qua cơ sở vật chất của trường mà còn cần phỏng vấn học sinh của
trường về thái độ dạy học của giáo viên có tốt không, kiến thức được truyền tải có đúng giáo trình học
không…
-Thông tin có chất lượng cao, độ tin cậy của thông tin có thể kiểm nghiệm thông qua quá trình phỏng vấn.
trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn có thể nắm bắt thái độ của người trả lời thông qua nét mặt,
của chỉ, tốc dộ lời nói… từ đó đánh giá độ chân thực của câu trả lời.
b, Nhược điểm :
- Mất thời gian, tốn kém. Chẳng hạn như việc thực hiện một cuộc tổng điều tra, muốn thu thập số liệu từ
người dân cư trú khu vực miềm núi thì yêu cầu một chi phí lớn cho việc đi lại, đồng thời do sự khác biệt
về ngôn ngữ nên ta còn mất một khoản chi phí để thuê người phiên dịch…
- Đôi khi thông tin người dân cung cấp cho không xác thực nên yêu cầu người phỏng vấn cần có độ nhạy
bén.
1.4. Ý NGHĨA MÔN HỌC
1.4.1. Ý nghĩa nhận thức:
Trang bị kiến thức và kĩ năng cơ bản nhất cho người học giúp học viên mở mang tầm hiểu biết về môn
dân số học.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu dân số học hay nghiên cứu quá trình tái sản xuất dân số có vai trò quan trọng quyết định sự
tồn tại và phát triển của xã hội.
Từ việc nghiên cứu các đặc trưng của dân số, từ các yếu tố dân số có thể tìm hiểu, phát hiện, dự báo
vấn đề kinh tế
Nói tóm lại nghiên cứu dân số học cho phép ta hiểu biết những cơ sở vật chất của xã hội, qua đó hiểu
biết đời sống xã hội và góp phần thúc đẩy phát triển xã hội
Câu hỏi chương 1
1) Trình bày khái niệm và đối tượng nghiên cứu của dân số học?
2) Hãy trình bày các phương pháp thu thập thông tin của dân số học (Tổng điều tra dân số, Thống
kê dân số định kỳ, Điều tra mẫu)?
3) Nêu những ý nghĩa quan trọng của môn Dân số học?

21



Dân số học đại cương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguyễn Thị Kim Hoa, 2014, Giáo trình Dân số học đại cương.
Ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Phiếu điều tra dân số và nhà ở.
Ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở trung ương, 2009, Kết quả toàn bộ tổng điều tra dân số và nhà ở Việt
Nam, năm 2009.
Tổng cục thống kê, 2014, Kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kì năm 2014.

22


Dân số học đại cương
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BỘ MÔN NHÂN HỌC

BÀI TẬP NHÓM
Môn : DÂN SỐ HỌC ĐẠI CƯƠNG
CHƯƠNG 2: CÁC HỌC THUYẾT VỀ DÂN SỐ

Giáo viên: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Nhóm 2 :
-

Lương Thị Hoài Thu ( Nhóm trưởng )
Đỗ Thị Hường
Hoàng Thị Kim Huyền
Nguyễn Linh Trang

Nguyễn Thị Châm

Hà Nội, tháng 3 năm 2016

23


Dân số học đại cương

CHƯƠNG 2: CÁC HỌC THUYẾT VỀ DÂN SỐ
2.1. Các quan điểm về dân số.
Cho đến nay đã có rất nhiều các tư tưởng và học thuyết về dân số. Các tác giả David Lucas & Paul Meyer đã tóm tắt
quan điểm về dân số của một số học giả trên thế giới qua các giai đoạn lịch sử khác nhau như sau:
Bảng 2.1. Các tư tưởng và học thuyết về dân số
Các tư tưởng và học thuyết về dân số
Khoảng thời gian

Lĩnh vực quan tâm
• Tăng trưởng dân số quá mức làm giảm mức sống
của dân chúng.

Người Trung Quốc
cổ (ví dụ: Khổng
Tử)

Năm 500 trước Công
nguyên

Người Hy Lạp cổ
(ví dụ Platon,

Aristotle)

Năm 300 trước Công
nguyên

• Qui mô tối ưu của nhà nước đô thị cần đạt được
bằng việc khuyến khích và hạn chế sinh đẻ thông
qua các hình thức thưởng - phạt.

Người Ấn Độ (ví
dụ Kautilya)

Năm 300 trước Công
nguyên

• Qui mô tối ưu của một làng; có quá ít dân số là
một thảm họa.

Hoàng đế La Mã
(ví dụ: Cicero)

Năm 50 trước Công
nguyên

• Khuyến khích gia tăng dân số bằng việc giành
đặc quyền đặc lợi cho những người sinh con
(càng nghiều người thì càng có khả năng giành
được nhiều đất đai thông qua sức mạnh quân sự).
• Sự tăng trưởng dân số là do ý muốn của Thượng
đế “hãy làm việc và sinh sôi”.


Đạo Do Thái (ví
dụ: Kinh cựu ước)
Đạo Cơ đốc trước
đây (ví dụ:
Augustine Aquinas)

Người theo phái
trọng thương

Người theo phái
trọng nông

• Mối quan hệ giữa dân số và đất đai.

Năm 400 sau Công
nguyên

• Mặt đạo đức của sống độc thân là tốt nhưng cần
có mức sinh cao để bù lại mức chết cao.
• Sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế tăng tối đa
của cải dân tộc.

Thế kỷ 17 – 18

• Dân số tăng có nghĩa là nhân lực mạnh hơn, giờ
công lao động thấp hơn và của cải tăng nhanh
hơn.

Thế kỷ 18


• “Luật lệ bởi tạo hóa” hay chính sách để mặc tư
nhân kinh doanh (tức là không có sự can thiệp
của chính phủ).
• Dân số phụ thuộc vào của cải vật chất và sản
xuất nông nghiệp là nguồn gốc duy nhất của của
24


Dân số học đại cương

cải.
• Các lợi ích nhờ cải cách xã hội có thể bị tiêu tan
do dân số tăng lên.
Malthus (17661834)

• Nếu không được kiểm soát dân số sẽ có xu
hướng tăng nhanh hơn của cải xã hội.

Các nhà kinh tế học
cổ điển (ví dụ:
Adam Smith và
Ricardo)

Thế kỷ 19

• Lợi nhuận giảm dần theo số lượng lao động (các
tác giả sau này lại cho rằng lợi nhuận tăng lên,
như Marshall).


Những người đối
lập với Malthus (ví
dụ: Hazlitt)

Thế kỷ 19

• Kiểm soát ngăn chặn trở nên có hiệu quả hơn.

Thế kỷ 19

• Các vấn đề dân số hay dư thừa lao động là hệ
quả của hệ thống tư bản chủ nghĩa và có thể
được giải quyết bằng việc lập lại tổ chức xã hội.

Thế kỷ 19 -20

• Dân số tiếp tục gia tăng sẽ không đảm bảo cho
sự phát triển bền vững và do đó cần phải được
kiểm soát bằng việc sử dụng các biện pháp tránh
thai (bản thân Malthus lại phản đối việc sử dụng
biện pháp tránh thai).

Các tác giả Marxist
và xã hội chủ nghĩa

Các nhà Tân
Malthus (ví dụ
Ehrlich và các nhà
môi trường)
Các nhà kinh tế học

cổ điển mới (ví dụ:
trường phái
Chicago)

• Kinh tế học về hộ gia đình mới và việc phải trả
giá giữa mặt số lượng và chất lượng của trẻ em.

2.1.1. Các quan điểm thần bí, mơ hồ về dân số.
2.1.1.1. Quan điểm thần bí.
Dân số trên Trái Đất là do một thế lực thần linh, siêu tự nhiên nào đó sắp xếp sẵn, con người không thể tác
động đến quá trình và hiện tượng dân số.
- Đại diện cho quan điểm này là:
+ Ciceron (106-43 trước Công nguyên)
+ Sozornere (thế kỷ V).
=> Cả hai ông đều cho rằng Thượng đế sáng tạo ra loài người và loài người không thể có những tác động để làm
thay đổi dân số.
2.1.1.2 Quan điểm mơ hồ.
Đề cập đến số lượng dân một cách mơ hồ, thiếu căn cứ.
- Đại diện cho quan điểm này:
25


×