Giá cả của hàng hoá dịch vụ luôn luôn biến động theo thời gian, tuy nhiên
ả thay đổi quá nhanh chóng, nó có thể là một cú sốc đối với nền kinh tế. Chỉ
số giá tiêu dùng (CPI) là một chỉ số cơ bản đo lường giá cả hàng hoá dịch vụ
và cho biết liệu nền kinh tế có bị lạm phát hoặc giảm phát hay không.Theo
số liệu của Tổng cục Thống kê, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước sự gia
tăng rất nhanh của chỉ số giá tiêu dùng kể từ hơn 10 năm trở lại đây.CPI
được hình thành từcác thông tin chi tiêu của hàng nghìn hộgia đình trên toàn
quốc. Thông tin được thu thập thông qua phỏng vấn và nhật kí chi tiêu của
các đối tượng lựa chọn đểnghiên cứu. Các sốliệu nàysẽhình thành lên một
bức tranh vềsựbiến động của chi phí sinh hoạt từđó giúp các chuyên gia tài
chính nhận định được khảnăng lạm phát cónguy cơlàm suy sụp cả một
nền kinh tế nếu ởlạm phát ở mức độquá cao. Cảlạm phát và giảm phát
quá mức đều rất đáng sợ mặc dù giảm phát quá mức ít khixảy ra hơn. Thay
đổi của giá cảcủa hàng hoá dịch vụtrên thịtrường ảnh hưởng trực tiếp đến các
chứng khoán có lãi suất cốđịnh. Nếu giá cảtăng, các khoản lãi cốđịnh sẽcó
giá trịthực tếthấp hơn và do đó làm giảm mức sinh lợi của các chứng
khoán. Lạm phát cũng sẽgây ảnh hưởng đến các khoản tiền lương, trợcấp,
hưu trí vì chúng là các khoản tiền trả cố định.
Bên cạnh đó biến động giá cả có thể ảnh hưởng xấu đến các công ty.
Người ta thường kì vọng mức độ lạm phát nhẹ trong nền kinh tế đang tăng
trưởng, tuy nhiên nếu giá cảcủa các yếu tố đầu vào tăng quá nhanh các
nhà sản xuất sẽ bị giảm lợi nhuận. Mặt khác giảm phát chắc chắn
sẽdẫn tới giảm mức cầu của người tiêu dùng. Trong trường hợp này các
nhà sản xuất buộc phải giảm giá để bán được hàng, tuy nhiên giá cảcác yếu
tốđầu vào có thể không giảm một lượng tương ứng. Vì thế biên lợi nhuận của
nhà sản xuất cũng sẽ bị ảnh hưởng. Chính vì thế mà đề tài: “ Phân tích và
đánh giá chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam giai đoạn 2016-1017”, nhằm
thấy được thực trạng và nguyên nhân tăng giảm của chỉsốCPI, từ đó đề
xuất một sốgiải pháp nhằm duy trì chỉ số này ở một tỷ lệ cho phép.
Chương I: Định nghĩa CPI
1. Định nghĩa
CPI là một công cụ đo lường sự thay đổi giá do người dùng chi trả theo
thời gian cho các hàng hóa trong rổ hàng hóa và dịch vụ.
Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để đo lường mức giá và sự
thay đổi của mức giá chính là lạm phát (một chỉ tiêu khác để phản ánh mức
giá chung là Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm trong nước hay Chỉ số điều
chỉnh GDP).
2. Phương pháp tính
Để tính toán chỉ số giá tiêu dùng người ta tính số bình quân gia
quyền theo công thức Laspeyres của giá cả của kỳ báo cáo (kỳ t) so với
kỳ cơ sở. Để làm được điều đó phải tiến hành như sau:
1. Cố định giỏ hàng hoá: thông qua điều tra, người ta sẽ xác định
lượng hàng hoá, dịch vụ tiêu biểu mà một người tiêu dùng điển hình mua.
2. Xác định giá cả: thống kê giá cả của mỗi mặt hàng trong giỏ
hàng hoá tại mỗi thời điểm.
3. Tính chi phí (bằng tiền) để mua giỏ hàng hoá bằng cách dùng số
lượng nhân với giá cả của từng loại hàng hoá rồi cộng lại.
4. Lựa chọn thời kỳ gốc để làm cơ sở so sánh rồi tính chỉ số giá
tiêu dùng bằng công thức sau:
Thời kỳ gốc sẽ được thay đổi trong vòng 5 đến 7 năm tùy ở từng nước.
Nếu muốn tính Chỉ số lạm phát của một thời kỳ, người ta áp dụng công
thức sau:
Chỉ số lạm phát thời kỳ T = (CPI thời kỳ T - CPI thời kỳ T-1) : CPI thời
kỳ T-1
Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán chỉ
số giá tiêu dùng bằng cách điều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng
nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổng giá trị chi tiêu.
Sau đó quyền số này được dùng để tính chỉ số giá tiêu dùng cho
các thời kỳ sau. CPI thường được tính hàng tháng và hàng năm. CPI còn
được tính toán cho từng nhóm hàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy
theo mục đích sử dụng.
Ngoài CPI người ta cũng tính toán Chỉ số giá bán buôn là mức giá
của giỏ hàng hóa do các doanh nghiệp mua vào, khác với CPI là giá do
người tiêu dùng mua vào (giá bán lẻ).
3. Các vấn đề gặp phải khi tính CPI
Do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn
đề chính dẫn đến hạn chế của CPI sau đây:
a. CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ
hàng hoá cố định. Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các
mặt hàng khác thì người tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt
hàng đã trở nên quá đắt đỏ mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ
hơn. Yếu tố này làm CPI đã đánh giá cao hơn thực tế mức giá.
b. CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới
vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất
hiện thì một đơn vị tiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn.
CPI không phản ánh được sự gia tăng sức mua này của đồng tiền nên vì
thế lại đánh giá mức giá cao hơn thực tế.
c. Không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá vì
nếu mức giá của một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượng cũng
tăng tương ứng thậm chí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng.
Chất lượng hàng hoá dịch vụ nhìn chung đều có xu hướng được nâng cao
nên CPI cũng đã phóng đại mức giá.
4. Mối liên hệ giữa CPI và lạm phát
Chỉ số giá tiêu dùng là tỷ số phản ảnh giá cả của một rổ hàng hóa
chọn lựa qua các năm khác nhau so với giá của cùng rổ hàng hóa đó trong
một năm được Chuyên đề Tài chính quốc tế7chọn là năm gốc. Như vậy,
chỉ số giá tiêu dùng không hoàn toàn phản ảnh chính xác mức độ lạm
phát do chỉ số này chỉ phản ảnh sự gia tăng trong giá cả các hàng hóa
tiêu dùng trong khi lạm phát không những chỉ phản ảnh sự thay đổi giá
cả các hàng hóa tiêu dùng mà còn là sự thay đổi trong giá cả của các
hàng hóa mà người tiêu dùng không trực tiếp mua, ví dụ như các loại
máy móc dùng trong công nghiệp... Nhiều nhà kinh tế trên thế giới cho
rằng tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng thường cao hơn tốc độ lạm phát thực
tế trong nền kinh tế. Dù vậy, giá tiêu dùng là một thước đo của lạm phát,
giá tiêu dùng tăng cao ắt sẽ dẫn đến lạm phát
5. Vai trò
Chỉ số giả cả thường rất được quan tâm theo dõi và nó đóng một
vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quyết định tài chính quan trọng
như chính sách lãi suất của cục dự trữ liên bang Mỹ hay quyết định tiến
hành hedging của các ngân hàng và doanh nghiệp lớn. Cũng rất có lợi cho
các nhà đầu tư cá nhân tiến nếu họ tính đến chỉ số CPI khi tiến hành
hedging hoặc đưa ra quyết định phân bổ vốn đầu tư.
Chương II: Phân tích và đánh giá chỉ số CPI của Việt Nam
trong giai đoạn 2016 – 2017
I.
Độ biến động CPI
Biến động CPI năm 2016
Tổng cục trưởng Tổng cục Thống Kê Nguyễn Bích Lâm cho hay
năm 2016 bình quân mỗi tháng CPI tăng 0,4%; CPI tháng 12 năm
2016 tăng 4,74% so tháng 12 năm 2015, thấp hơn so với mục tiêu
5% của Quốc hội đặt ra.
Năm 2016 được coi là thành công trong việc kiểm soát lạm phát
trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại nhưng nhờ
lạm phát thấp nên Nhà nước vẫn có dư địa điều chỉnh giá một số mặt
hàng do Nhà nước quản lý tiệm cận dần theo giá thị trường.
Theo phân tích của Tổng cục Thống kê, có 3 yếu tố làm cho
CPI tăng và 5 yếu tố góp phần làm giảm CPI. Cụ thể CPI tăng do
điều hành của Chính phủ tăng giá dịch vụ y tế, tăng học phí theo lộ
trình tại Nghị định 86, tăng lương tối thiểu vùng cho người lao động
ở các doanh nghiệp từ 1/1/2016.
Bên cạnh đó, nguyên nhân thứ hai là yếu tố thị trường, các dịp
nghỉ lễ, Tết kéo dài kéo theo sự gia tăng của các chỉ số giá nhóm
hàng ăn uống, dịch vụ, chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 3,75%
so với tháng 12 năm trước, ngoài ra các nhóm may mặc, đồ uống và
thuốc lá cũng có chỉ số giá tăng cao.
Việc biến động của giá xăng dầu trong nước cũng tác động
mạnh đến CPI. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh 12 đợt tăng
(vào các tháng 3,4,5,6,9,10,11,12), theo đó, giá xăng dầu trong quý
II tăng 1,1%, quý III tăng 6,5%, quý IV tăng 5,69% so với quý trước.
Thời tiết khắc nghiệt, rét hại, rét đậm ở miền Bắc, bão lũ ở
miền Trung, khô hạn ở miền Trung, Tây nguyên và xâm nhập mặn ở
đồng bằng sông Cửu Long đã đẩy giá lúa, gạo trên thị trường tăng
cao. Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 12 năm 2016 tăng 2,57% so
với tháng 12 năm trước.
Do thời tiết nóng lạnh thất thường nên nhu cầu dùng điện sinh
hoạt tăng cao, theo đó chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 2,03% so năm
trước.
Yếu tố kiềm chế lạm phát 2016
Tổng cục Thống kê cho biết, bên cạnh những yếu tố gây tăng
giá đề cập ở trên, trong năm 2016 cũng có 5 yếu tố góp phần kiềm
chế chỉ số CPI.
Thứ nhất, mặc dù trong dịp Tết Nguyên Đán nhu cầu các mặt
hàng lương thực, thực phẩm tăng nhưng do giá xăng dầu và giá
cước vận tải trong các tháng đầu năm giảm, nguồn cung hàng hóa
dồi dào đáp ứng nhu cầu mua sắm Tết của nhân dân nên giá lương
thực, thực phẩm không tăng cao. Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch
vụ ăn uống năm 2016 chỉ tăng 2,36% so với cùng kỳ năm trước, thấp
hơn nhiều so với mức 4% của năm 2014 hay mức 8,12% của năm
2012.
Thứ hai, giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới khá ổn định,
một số mặt hàng có xu hướng giảm mạnh trong quý I và quý III như
giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép nên chỉ số giá nhập khẩu năm 2016
so năm 2015 giảm 5,35%, chỉ số giá xuất khẩu giảm 1,83%; chỉ số
giá sản xuất sản phẩm công nghiệp (PPI) giảm 0,49%.
Thứ ba, giá nhiên liệu trên thị trường thế giới những tháng
cuối năm 2015 và hai tháng đầu năm 2016 giảm mạnh, nên giá xăng
dầu trong nước được điều chỉnh giảm 10 đợt (vào các tháng
1,2,7,8,11). Giá dầu Brent bắt đầu tăng trở lại từ giữa tháng 3 năm
2016, bình quân từ thời điểm 01/1/2016 đến thời điểm 20/12/2016 ở
mức 44,96$/thùng, tuy nhiên mức này vẫn thấp hơn nhiều so với
mức 54,65$/thùng của bình quân năm 2015. Trong nước, giá xăng
dầu bình quân năm 2016 giảm 15,95% so năm trước và giảm 3,35%
so tháng 12 năm trước, kéo theo chỉ số giá nhóm hàng giao thông
năm 2016 giảm 7,31% so với năm trước và giảm 1,12% so tháng 12
năm trước.
Giá gas sinh hoạt trong nước được điều chỉnh theo giá gas thế
giới, tháng 12 năm 2016 giá gas giảm 1,63% so với tháng 12 năm
trước.
Thứ tư, năm 2016 là năm đầu thực hiện Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm 2016-2020, Quốc hội đã thông qua mục tiêu
tổng quát của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, trong
đó, tốc độ tăng giá tiêu dùng năm 2016 đặt ra dưới 5%. Theo đó, các
ngành, các cấp đã tích cực triển khai thực hiện như ngành Công
Thương phối hợp với các ngành liên quan chỉ đạo các doanh nghiệp
thương mại dự trữ hàng hóa, tham gia bình ổn thị trường phục vụ Tết
Nguyên Đán nên không xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến vào dịp
Tết.
Bộ Tài chính tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị
trường, thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa
phương. Về quản lý giá xăng dầu, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ
Công thương điều hành kinh doanh xăng dầu phù hợp tình hình thị
trường thế giới và trong nước góp phần thực hiện mục tiêu ổn định
kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành lãi suất và tỷ giá
linh hoạt phù hợp với tình hình kinh tế vĩ mô. Ngày 31/12/2015,
NHNN đã ban hành Quyết định số 2730 công bố tỷ giá trung tâm
của đồng Việt Nam với đô la Mỹ và biên độ giao dịch là +/-3%, theo
đó tỷ giá trung tâm được điều chỉnh hàng ngày bám sát diễn biến
cung cầu ngoại tệ trong nước và quốc tế, tỷ giá trung tâm biến động
có tăng, có giảm.
Với phương thức điều hành tỷ giá mới, năm 2016, tỷ giá
VND/USD trên thị trường khá ổn định trong 11 tháng, tuy nhiên
tháng 12 do áp lực cuối năm cùng với các sự kiện chính trị thế giới
và việc tăng lãi suất của Cục Dữ trữ Liên bang (FED) vào ngày
14/12/2016 làm cho tỷ giá VND/USD tháng 12 biến động mạnh
nhưng vẫn nằm trong biên độ giao dịch cho phép. Giá vàng trong
nước đã tiệm cận và biến động cùng xu hướng với giá vàng thế giới,
không có tình trạng “sốt vàng” gây bất ổn kinh tế - xã hội.
Thứ năm, bên cạnh đó, xu hướng tiêu dùng của người dân
trong dịp Tết Nguyên Đán những năm gần đây thay đổi so với những
năm trước, người dân không mua dồn dập hàng hóa vào những ngày
giáp Tết, không mua tích trữ vì ngày mùng 1 Tết đã có chợ, do đó
không tạo áp lực lên giá cả hàng hóa vào tháng Tết.
Biến động CPI 2017
CPI năm 2017 tăng 3,53%
CPI bình quân cả năm 2017 tăng 3,53%. Với chỉ số này, Chính phủ đã hoàn
thành mục tiêu kiểm soát CPI dưới 4% trong năm nay...
Diễn biến CPI 12 tháng năm 2017 - Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Tổng cục Thống kê vừa công bố chỉ số giá tiêu dùng (CPI), theo đó
tháng cuối cùng của năm 2017, chỉ số này tăng 0,21% so với tháng trước,
tăng 2,6% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân năm 2017 so với
năm 2016 tăng 3,53%.
So với tháng 11,trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 8 nhóm hàng
tăng giá: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,55%; Giao thông tăng 0,84%; May mặc,
mũ nón, giầy dép tăng 0,43%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,22%; Đồ
uống và thuốc lá tăng 0,17%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,16%; Thiết bị
và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03%.
Nhóm giáo dục không đổi.Có hai nhóm giảm gồm, hàng ăn và dịch vụ ăn uống
giảm 0,23%, bưu chính viễn thông giảm 0,03%.
Tổng cục Thống kê cho biết, nguyên nhân làm CPI tăng do ảnh hưởng của
tăng giá xăng dầu khiến chỉ số giá nhóm nhiên liệu bình quân tháng 12/2017
tăng 1,98% so với tháng trước đóng góp làm tăng CPI chung 0,09%.
Từ ngày 1/12/2017 giá gas trong nước điều chỉnh tăng 1.000 đồng/bình 12
kg, tăng 0,22% so với tháng 11/2017, do giá gas thế giới tăng
2,5USD/tấn lên mức 580 USD/tấn.
Giá điện sinh hoạt tăng 0,62% do giá điện bình quân được điều chỉnh tăng
6,08% từ ngày 1/12/2017 theo Quyết định số 4495/QĐBCT ngày
30/11/2017 của Bộ Công Thương; nhu cầu sử dụng điện tăng khi thời tiết
chuyển lạnh.
Giá dịch vụ y tế tăng cho đối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế theo các
quyết định của Ủy ban nhân dân 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
được quy định trong Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 của Bộ
Y tế làm cho giá dịch vụ y tế tăng 3,3%.
Ngoài ra, vào tháng cuối năm nhu cầu sửa chữa nhà cửa tăng làm cho giá
vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,31%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng
0,82%. Giá vé tàu hỏa tăng 2,76% do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam
tăng giá vé đón dịp Tết Dương lịch 2018.
"CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so với năm 2016 và tăng 2,6% so với
tháng 12 năm 2016. Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ mức CPI
bình quân năm 2017 dưới 4% đã đạt được trong bối cảnh điều chỉnh được
gần hết giá các mặt hàng do nhà nước quản lý đặt ra trong năm 2017",
Tổng cục Thống kê khẳng định.
Về chỉ số giá vàng, Tổng cục Thống kê cho hay, giá vàng trong nước biến
động theo giá vàng thế giới, bình quân đến ngày 20/12/2017 giá vàng thế
giới ở mức 1261,8 USD/ounce giảm 1,7% so với tháng trước. Bình quân
tháng 12, giá vàng tại thị trường trong nước giảm 0,12% so với tháng trước,
giá vàng dao động quanh mức 3.640 triệu đồng/chỉ vàng SJC.
Về biến động đồng USD, trong tháng 12, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED)
đã quyết định tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25% lên mức 1,5% từ mức
1,25%, FED cũng thông báo sẽ thu hẹp quy mô bảng cân đối kế toán mỗi
tháng 20 tỷ USD bắt đầu từ tháng 1/2018 từ mức 10 tỷ USD/tháng hiện tại,
do kinh tế Mỹ năm 2017 tăng trưởng khá ấn tượng dự báo tăng 2,2%, tỷ lệ
thất nghiệp đang ở mức thấp nhất trong vòng 10 năm.
Trong nước, với cách điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với 8 đồng tiền chủ chốt, cùng với lượng
kiều hối năm nay tăng cao ước tính tăng 16% so với năm 2016 đạt khoảng
13,8 tỷ USD nên giá đồng USD trong nước ổn định, giá bình quân ở thị
trường tự do tháng này ở quanh mức 22.700 VND/USD.
Diễn biến giá cả thị trường năm 2017
Trong năm 2017, giá cả hàng hóa thiết yếu trên thị trường thế giới
như nhóm năng lượng, kim loại, nhóm nông sản biến động tăng giảm đan
xen. Nhìn chung các mặt hàng đều tăng giá trong 3 tháng đầu năm 2017,
giảm giá trong các tháng tiếp theo và đang có xu hướng tăng trở lại từ
quý III/2017.
Chịu ảnh hưởng một phần từ thị trường thế giới, mặt bằng giá cả
thị trường trong nước năm 2017 cũng biến động theo hướng tăng thấp
trong những tháng đầu năm và tăng dần trở lại trong những tháng cuối
năm. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân so cùng kỳ năm
trước - thước đo chỉ tiêu lạm phát của nền kinh tế biến động giảm dần qua
các tháng. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, CPI tháng 12/2017 tăng
0,21% so với tháng trước, trong đó nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao
nhất với 2,55% (dịch vụ y tế tăng 3,30%) do trong tháng có 15 tỉnh, thành
phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế (tác động làm
CPI chung tăng khoảng 0,13%). CPI bình quân năm 2017 tăng 3,53% so
với bình quân năm 2016, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra. CPI tháng
12/2017 tăng 2,6% so với tháng 12/2016, bình quân mỗi tháng tăng
0,21%.
Những nguyên nhân chủ yếu khiến CPI tăng năm 2017
Thứ nhất, giá một số hàng hóa, dịch vụ (dịch vụ y tế, dịch vụ giáo
dục, điện…) được điều chỉnh tăng theo lộ trình thị trường cụ thể:
Thực hiện quy định tại Thông tư liên tịch số 37/2015/TTLT-BYTBTC ngày 29/10/2015, giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế
tăng bước 2 (mức giá được kết cấu thêm chi phí tiền lương) tại 27/63 địa
phương còn lại chưa thực hiện trong năm 2016, trong đó có 13 địa
phương thực hiện từ ngày 21/3/2017 và 14 địa phương thực hiện từ ngày
21/4/2017.
Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cho người không có bảo hiểm y
tế (BHYT) thực hiện theo quy định tại Thông tư số 02/2017/TT-BYT
ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế được điều chỉnh theo hướng cùng mặt bằng
với giá dịch vụ khám chữa bệnh BHYT. Tính đến ngày 15/12/2017 đã có
54 bệnh viện thuộc Bộ Y tế, bệnh viện hạng đặc biệt, bệnh viện hạng I và
các đơn vị khám bệnh, chữa bệnh tại 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương thực hiện tăng giá dịch vụ khám chữa bệnh không thuộc phạm vi
thanh toán từ Quỹ BHYT.
Giá dịch vụ giáo dục tiếp tục tăng theo lộ trình của Nghị định
số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, tập trung vào tháng
9 là tháng diễn ra khai giảng năm học mới. Chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo
dục tháng 12/2017 tăng 7,29% so với tháng 12/2016, CPI bình quân
2017 tăng khoảng 0,5% so với năm 2016.
Với giá điện, từ 01/12/2017, giá bán lẻ điện bình quân được
điều chỉnh tăng 6,08% lên mức 1.720,65 đồng/kwh (chưa bao gồm thuế
giá trị gia tăng). Việc điều chỉnh này không tác động nhiều đến CPI năm
2017.
Thứ hai, biến động tăng của giá xăng dầu và một số nguyên
nhiên vật liệu trên thị trường thế giới tác động vào giá trong nước qua
kênh nhập khẩu: Tính đến ngày 15/12/2017, căn cứ vào diễn biễn thị
trường xăng dầu thế giới, giá xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh
tăng/giảm 15 đến 18 lần tùy từng chủng loại. So với cuối năm 2016, giá
bán lẻ các mặt hàng xăng dầu hiện tại biến động tăng khoảng từ 9211.748 đồng/lít,kg tùy mặt hàng (tương đương tăng 5,32%-16,44%).
Các nguyên nhân chủ yếu kiềm chế tốc độ tăng CPI năm
2017
Một là, giá thực phẩm giảm trong khoảng nửa đầu năm, trong
đó giá thịt lợn giảm mạnh do nguồn cung tăng cao trong khi nhu cầu
trong nước nhìn chung không biến động và xuất khẩu thịt lợn qua đường
tiểu ngạch bị hạn chế.
Hai là, công tác chỉ đạo điều hành giá, bình ổn thị trường năm
2017 đã có sự phối hợp điều hành chặt chẽ và chủ động giữa các bộ,
ngành, địa phương dưới sự chỉ đạo quyết liệt và sâu sát của Ban Chỉ đạo
điều hành giá, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Bộ Tài chính với vai
trò là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo điều hành giá đã tăng cường chú
trọng công tác dự báo, phối hợp với các bộ, ngành tham mưu xây dựng
các kịch bản điều hành giá và đề xuất các biện pháp điều hành giá phù
hợp góp phần kiểm soát lạm phát theo chỉ tiêu Quốc hội đề ra. Bên cạnh
đó, chính sách tiền tệ cũng được điều hành linh hoạt giúp ổn định tỷ giá,
mặt bằng lãi suất. Tốc độ tăng CPI bình quân được kiểm soát, tạo dư địa
thuận lợi cho việc điều hành giá một số mặt hàng nhà nước còn quản lý.
Dự báo lạm phát năm 2018
Năm 2018, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế và việc triển khai, các
giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp năm 2017 sẽ tiếp tục phát
huy tác dụng, báo hiệu sự phục hồi kinh tế trong nước rõ rệt hơn. Tuy
nhiên, năm 2018 cũng tiềm ẩn rủi ro lạm phát do tác động theo độ trễ của
những chính sách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh. Bên cạnh
đó, tình hình kinh tế, chính trị thế giới có nhiều biến động cũng tác động
tới nền kinh tế trong nước.
Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết về
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018, trong đó đề ra chỉ tiêu tốc
độ tăng giá tiêu dùng bình quân ở mức 4%. Tuy chỉ tiêu tốc độ tăng CPI
năm 2018 tương đương với chỉ tiêu năm 2017, nhưng công tác quản lý
điều hành giá trong năm 2017 dự báo vẫn cần hết sức thận trọng do có
nhiều yếu tố dự báo gây sức ép lên mặt bằng giá ngay từ đầu năm, trong
đó có một số yếu tố chủ yếu sau:
Giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng theo quy luật trong một số thời
điểm dịp lễ, Tết và quy luật mùa vụ; xu hướng hồi phục của giá xăng dầu
và một số nguyên nhiên vật liệu trên thị trường thế giới; giá điện tăng từ
thời điểm cuối năm 2017 sẽ tác động trực tiếp lên mặt bằng giá chung và
tác động gián tiếp lên chi phí sản xuất, kinh doanh nhất là thời gian cao
điểm tăng cường sản xuất phục vụ Tết Nguyên đán Mậu Tuất; việc tăng
giá dịch vụ y tế, giáo dục và dịch vụ sự nghiệp công theo lộ trình thị
trường; việc điều chỉnh giá các dịch vụ chuyển từ phí sang giá theo Luật
Phí và Lệ phí...
Tuy nhiên, cũng có một số yếu tố tác động kiềm chế CPI năm 2018
như: Giá cả hàng hóa thế giới nhất là các mặt hàng nông sản dự bảo ở
mức thấp do nguồn cung vẫn ở mức cao; giá lương thực, thực phẩm trong
nước dự báo vẫn sẽ ổn định, nguồn cung hàng hóa tương đối dồi dào, lạm
phát cơ bản ở mức thấp...
II. NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHỈ SỐ CPI HIỆN NAY
1.Xăng dầu và năng lượng
Xăng dầu là mặt hàng có tác động lớn tới chỉ số CPI hiện nay.xu
hướng tăng giá xăng dầu vẫn có thể diễn ra vào cuối năm khi USD tiếp tục
giảm giá và nhu cầu tiêu dùng tăng cao sẽ tác động làm tăng giá cả hàng hóa.
2,Thiên tai
Vừa qua tình lũ lụt diễn biến phức tạp và xảy ra dồn dập tại nhiều tỉnh
thành khu vực miền Trung và TP HỒ CHÍ MINH, gây thiệt hại về vật chất ,
làm đình trệ sản xuất, cản trở giao thông khiến nhiều mặt hàng tăng giá.
3,Sự biến động của vàng
Biến động tăng giá vàng ảnh hưởng gián tiếp tới CPI thông qua tỷ giá
. tình hình tăng giá khiến người dân có xu hướng tích trữ vàng cùng với chênh
lệch giá vàng trong và ngoài nước khiến gía USD tại chợ đen tăng lên do hoạt
động gom USD để nhập lậu vàng.
4,Chính sách tiền tệ
Một trong những giải pháp hạn chế tăng CPI là chính sách thắt chặt tiền
tệ dẫn tới doanh nghiệp có nguy cơ phá sản,hàng hóa không đáp ứng đủ nhu
cầu tiêu dùng dẫn đến giá cả hàng hóa tăng cao.
III. CHỈ SỐ CPI TÁC ĐỘNG ĐẾN GDP
CPI đóng vai trò quan trọng trong xác định GDP thực tế do vậy thao
tác của chỉ số CPI có thể bao hàm thao tác của chỉ số GDP, vì chỉ số CPI được
dùng để giảm phát 1 số thành phần GDP danh nghĩa cho những ảnh hưởng của
lạm phát.CPI và GDP có mối quan hệ nghịch đảo .Do đó một số giá tiêu dùng
thấp hơn và hiệu quả ngược của nó trên GDP gợi ý cho nhà đầu tư rằng nền
kinh tế mạnh mẽ và khỏe mạnh hơn thực tế.
IV. Ảnh hưởng của CPI đến thị trường chứng khoán Việt Nam
Theo quy luật: CPI tăng - TTCK tròng trành
Thông thường, chỉ số tiêu dùng (CPI) ôn hòa, ổn định ở mức
khoảng 5% là điều kiện lý tưởng để TTCK hoạt động bình thường, tránh
sốc nóng, lạnh trong giả định các nhân tố khác liên quan đến TTCK
không đổi. Còn khi CPI tăng gây ảnh hưởng đến TTCK qua 4 cơ chế sau:
1. CPI tăng sẽ trực tiếp làm tăng khó khăn cho các doanh nghiệp
gắn với việc phải tăng lãi vay tín dụng, tăng lương và các chi phí đầu vào
khác,từ đó làm tăng chi phí sản xuất và giá bán đầu ra, gây khó khăn về
thị trường và nguy cơ đổ vỡ các kế hoạch, các hợp đồng kinh doanh nhiều
hơn.
Điều này làm giảm lợi nhuận kinh doanh và lợi tức cổ phiếu, các
Báo cáo tài chính kém sáng sủa và Chứng khoán của các doanh nghiệp
cũng trở nên kém hấp dẫn hơn, đồng nghĩa với việc giảm sút nhiệt tình
đầu tư và sự sôi động của TTCK…
2. CPI tăng sẽ làm tăng áp lực buộc nhà nước phải thực hiện chính
sách tín dụng thắt chặt, như giảm hạn mức tín dụng, tăng dự trữ bắt buộc,
tăng lãi suất cơ bản và lãi chiết khấu ngân hàng,các điều kiện tín dụng
khác cũng ngặt nghèo hơn, khiến các nhà đầu tư chứng khoán tiếp cận
nguồn tín dụng khó khăn và đắt đỏ hơn, vì vậy làm giảm đầu tư vào
TTCK…
3. CPI tăng sẽ kéo theo việc phải tăng lãi suất ngân hàng, khiến lãi
suất ngân hàng trở nên hấp dẫn hơn kinh doanh chứng khoán, thúc đẩy
việc tăng mức gửi tiết kiệm hoặc mua vàng để bảo toàn tiền vốn của nhà
đầu tư, điều này cũng khiến làm thu hẹp dòng đầu tư trên TTCK…
4. CPI tăng có thể còn gây 2 tác dụng trái chiều khác là :Tăng bán
ra các chứng khoán "xấu" để rút vốn khỏi TTCK, và tăng mua vào những
chứng khoán "tốt" để "ẩn nấp" lạm phát. Xu hướng bán tháo chứng khoán
thường xảy ra khi trên TTCK có nhiều hàng hoá-chứng khoán chất lượng
thấp và xuất hiện nhiều các tín hiệu làm giảm sút lòng tin của các nhà đầu
tư, nhất là các nhà đầu tư không chuyên nghiệp, vốn mỏng…
Lạm phát của Việt Nam 2007 đã đạt mức kỷ lục trong khoảng 15
năm qua, CPI tăng cao đang và sẽ ảnh hưởng đến TTCK Việt Nam theo
cả 4 cơ chế tác động nêu trên, nghĩa là về cơ bản sẽ làm giảm sự sôi động
mua - bán trên thị trường này so với tiềm năng và sự mong đợi của nhiều
bên có liên quan.
TTCK Việt Nam đi ngược quy luật?
Tuy nhiên, có 2 điểm đáng chú ý riêng có của TTCK Việt Nam
hiện nay khiến 4 cơ chế tác động nêu trên không hoàn toàn đầy đủ và
tuân theo đúng về lô-gíc.
Một mặt, dường như các nhà đầu tư không chịu tác động nhiều lắm
của các báo cáo tài chính chính thức của các doanh nghiệp và tổ chức có
cổ phiếu niêm yết hoặc chưa niêm yết trên TTCK.
Đây là hiện tượng không bình thường, mà nguyên nhân có thể từ 2
phía: Chất lượng báo cáo tài chính và uy tín thực tế của doanh nghiệp
chưa cao và tâm lý đầu tư ngắn hạn hoặc tự phát đám đông còn đậm.
Mặt khác, lãi suất ngân hàng đang “thực âm” và lượng tiền trong
dân còn lớn, khiến nhu cầu đầu tư chứng khoán vẫn khá nóng nếu xuất
hiện các cơ hội đầu tư hấp dẫn. Hơn nữa, ở Việt Nam lạm phát dường như
đã ở ngưỡng đỉnh cao, trong khi TTCK lại đang ở đáy cơn sốt lạnh và
đang trên đà hồi phục, dù chưa vững chắc.
Nói cách khác, trong giả định CPI không trở thành lạm phát phi mã
hay siêu lạm phát kéo dài (tức từ trên 15% trở lên), thì TTCK vẫn chịu sự
tương tác đồng thời và khá cân bằng bởi cả 2 luồng sức ép nhiều chiều
trên. Vì vậy, TTCK không hoàn toàn đóng băng hay đổ vỡ, nhưng cũng
khó sốt cao hoặc bán tháo như đã từng có vừa qua.
V. Ảnh hưởng của việc thay đổi chỉ số CPI đối với người
tiêu dùng
a. CPI giảm:
Khi CPI giảm, tức là giá các hàng hóa trong giỏ hàng tính CPI
giảm, lượng tiền dành cho tiêu dùng của người tiêu dùng bị giảm đi, giả
định thu nhập không đổi thì mức thu nhập ròng của người tiêu dùng sẽ
tăng lên và mức sống của họ sẽ tốt hơn.
Tuy nhiên, đấy chỉ là trong trường hợp giả định thu nhập người tiêu
dùng không đổi, trên thực tế không phải lúc nào cũng vậy. Chúng ta
thường nhìn nhận giảm phát và giảm giá là những dấu hiệu tốt. và thực tế
điều này có thể là tốt trong một chừng mực nào đó. Ví dụ giá của dịch vụ
điện thoại đã liên tục giảm xuống trong nhiều năm qua và chắc chắn sẽ
còn tiếp tục giảm nữa vì internet ngày càng chiếm ưu thế. Và chắc chắn
không có ai phàn nàn về một thứ công cụ đầy tiện ích như vậy. tuy nhiên
giảm phát cũng là một hiện tượng không tốt đối với nền kinh tế. bằng
chứng là cuộc đại suy thoái diễn ra và những năm 30 của thế kỷ XX khi
mà có cả núi người thất nghiệp không có nổi một đồng để mua hàng hóa
và dịch vụ cho dù chúng được chào bán với mức giá cực kỳ hấp dẫn.
b. CPI tăng:
Tuy nhiên, xu hướng chung của CPI vẫn là tăng. Việc tăng chỉ số
giá tiêu dùng CPI trong thời gian qua đồng nghĩa với việc giá cả của hầu
hết các mặt hàng thiết yếu của cuộc sống đều tăng. Điều đó tác động sâu
sắc tới đời sống của người dân, đặc biệt là những người thu nhập thấp. cụ
thể là: người thu nhập thấp chịu tác động trực tiếp và nhanh hơn người có
thu nhập cao; người dân vùng nông thôn chịu tác động nặng hơn người
dân thành thị, công nhân chịu tác động lớn hơn nông dân.
Giá cả tăng cao trong khi thu nhập tuyệt đối của người dân không
thay đổi kéo theo thu nhập tương đối của người dân sụt giảm, chất lượng
cuộc sống giảm theo.
Ở thành thị, những người có thu nhập chủ yếu từ tiền lương, tiền
công, từ trợ cấp xã hội cũng lao đao vì những nguồn thu nhập này không
được tính trượt giá một cách đầy đủ hoặc chậm điều chỉnh theo trượt giá.
Bằng chứng là giai đoạn 2010-2012, nhóm 20% hộ nghèo nhất có tốc độ
tăng thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng khoảng 22,15%/năm.
Nhưng tốc độ tăng chi tiêu cho đời sống bình quân cho một nhân khẩu
trong một tháng khoảng 27,7%/năm, tức là mức tăng thu nhập thấp hơn
mức tăng chi tiêu.
Chương III: Hạn chế của GDP
CPI là chỉ số đo lường giá cả của hàng hóa tiêu dùng. CPI có thể
tạo thành một thước đo tương đối tốt về những thay đổi giá cả các hàng
hóa cụ thể được mua trong "giỏ hàng hóa” (giỏ hàng hóa này chỉ gồm các
loại hàng hóa chính yếu, mang tính đại diện), do đó hạn chế đầu tiên của
CPI là CPI không bao quát hết tất cả các loại hình sản xuất và tiêu
dùng trong nền kinh tế. Các nhà kinh tế cũng cho rằng sự thiếu sót này
của CPI khiến cho việc đo lường tổng thể nền kinh tế hơi khó khăn và đòi
hỏi phải tổng hợp quan sát các chỉ số kinh tế khác nữa.
Ngay cả Cục Thống kê Lao động (Bureau of Labor Statistics), nơi đưa ra
các báo cáo hàng tháng về CPI, cũng thừa nhận CPI không bao gồm các
sản phẩm thay thế. Trong thực tế, khi một số loại hàng hóa nhất định
trong “giỏ hàng hóa” trở nên đắt hơn đáng kể, nhiều người tiêu dùng
thường sẽ tìm đến các sản phẩm thay thế ít tốn kém hơn. Chỉ số CPI lúc
này cũng không thay đổi linh hoạt theo thực tế trên, mà nó vẫn cho rằng
người tiêu dùng sẽ tiếp tục mua các loại hàng hóa đắt đỏ, và tính toán dựa
trên con số đó.
Các sản phẩm mới cũng là một yếu tố phản ánh điểm yếu của
CPI. Như đã nói, CPI thường cố định với “giỏ hàng hóa”, do đó các sản
phẩm mới được đưa ra thì sẽ không được tính vào CPI. Do đó, CPI không
đo lường được thực tế sản phẩm nền kinh tế, nhất là trong trường hợp sản
phẩm mới này tạo được sự thu hút và được mua bởi số lượng lớn người
tiêu dùng trong nước.
Mặc dù chỉ số CPI được sử dụng rộng rãi như các chỉ số cốt lõi của
lạm phát, tính chính xác của nó vẫn là một vấn đề gây tranh cãi với
các nhà kinh tế học. Ví dụ, trong một khoảng thời gian khi chi phí năng
lượng tăng hơn 50% và giá cả của một số mặt hàng tạp hóa phổ biến tăng
gần 30%, chỉ số CPI lại chỉ cho ra một tỷ lệ Lạm phátrất khiêm tốn khi
các chỉ số khác đo lường sức mua của người tiêu dùng cho thấy một sự
gia tăng đáng kể trong chi phí sinh hoạt.
Bởi vì chỉ số CPI được xây dựng tập trung vào thói quen mua sắm của
người tiêu dùng thành thị, nên nó vẫn hay bị chỉ trích là không cung cấp
một thước đo chính xác về giá hàng hóa lẫn thói quen mua sắm của
người tiêu dùng cho các khu vực nông thôn. Chỉ số CPI cũng không
cung cấp các báo cáo riêng biệt theo các nhóm dân cư khác nhau.
Bất kỳ chỉ số giá thuần túy nào cũng có một thiếu sót nữa đó là nó không
bao gồm các thay đổi trong chất lượng hàng hóa. CPI chỉ đơn thuần
phản ánh sự gia tăng giá cả và không đánh giá bất kì lợi ích bổ sung
nào mà hàng hóa đó mang lại cho người tiêu dùng. Trong khi đó, việc
tăng giá thường đi kèm với câu hỏi là người tiêu dùng có đạt được lợi ích
nào đó cao hơn hay không, chẳng hơn như dịch vụ chăm sóc khách hàng
tốt hơn hay cải tiến trong sản phẩm giúp nó tiện lợi hơn chẳng hạn.
Do đó, người tiêu dùng lẫn Trader chúng ta đều cần biết đến những điểm
hạn chế này của CPI để hiểu được hoạt động trong nền kinh tế và giải
thích được các thay đổi về sản phẩm, hàng hóa, giá cả tiêu dùng, từ đó có
thể sử dụng hiệu quả các thông này vào việc giao dịch và chi tiêu hàng
tháng.
Chương IV: Giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của CPI
Thứ nhất, Bộ Tài chính , Bộ Công thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
(Tổng cục Thống kê), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chủ động và
phối hợp chặt chẽ trong đánh giá tình hình giá cả, xây dựng các phương
án điều hành giá (giá dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, giá điện, giá nước
sinh hoạt), lãi suất và tỷ giá để chủ động kiểm soát lạm phát. Trước khi
điều chỉnh giá của các loại hàng hóa và dịch vụ kể trên cần tính toán,
thống nhất và báo cáo Chính phủ.
Thứ hai, các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương cần theo dõi sát diễn biến giá cả của các mặt hàng thiết yếu (lương
thực, thực phẩm, xăng dầu, gas...) để có các giải pháp điều hành kịp thời
và phù hợp; đồng thời chủ động chuẩn bị các nguồn hàng vào dịp lễ tết
đầu năm và cuối năm để hạn chế tăng giá.
Thứ ba, đối với mặt hàng xăng dầu và mặt hàng điện, Bộ Công thương và Bộ
Tài chính theo dõi sát diễn biến giá xăng dầu thế giới, sử dụng quỹ bình ổn giá
xăng dầu phù hợp để hạn chế mức tăng giá mặt hàng này đến CPI chung.
Bên cạnh đó, Bộ Công thương phải chủ động đưa ra các phương án tăng giá
điện để tính toán các mức độ ảnh hưởng đến chỉ số CPI, chỉ số giá sản xuất và
tăng trưởng GDP.
Thứ tư, đối với mặt hàng dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục đề nghị Bộ Y tế, Bộ
Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, ngành liên quan dự báo các yếu tố tác
động đến CPI trong năm 2017 để có thể điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ
giáo dục theo lộ trình cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nhằm giảm
thiểu sự tác động lan tỏa lên chỉ số CPI.
Thứ năm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành giữ ổn định lãi suất và tỷ
giá, giữ mức lạm phát cơ bản khoảng 2%.
Thứ sáu, thực hiện các đợt điều chỉnh giá các mặt hàng dịch vụ y tế, giáo dục
trùng với các thời điểm đã điều chỉnh trong năm 2016 để chỉ số bình quân năm
hạn chế tăng cao.