Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (719.8 KB, 26 trang )

ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.

Khái niệm FDI

– Theo khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF(1997):
FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi
ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền
kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là
giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
– Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD):
Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các
mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, mang lại khả năng tạo
ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp. Có các mục đầu tư như:
+ Thành lập hoặc mở rộng một DN hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền
quản lý của chủ đầu tư.
+ Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có.
+ Tham gia vào một doanh nghiệp mới.
+ Cấp tín dụng dài hạn (>5 năm).
– Theo Tổ chức thương mại thế giới WTO:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước
chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư)
cùng với quyền quản lý tài sản đó.


– Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam:
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham


gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước
ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến
hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật nhà nước.
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trực tiếp
nước ngoài như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia là
việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản
nào vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm
soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích
của mình”.
Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình
(máy móc,thiết bị, quy trình công nghệ, bất động sản, các loại hợp đồng và
giấy phép có giá trị ...), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinh
nghiệm quản lý...) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy
ghi nợ...).
2.

Nguyên nhân xuất hiện FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước
(nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút
đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để
phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp,
cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở
kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được
gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi
nhánh công ty"
3.

Bản chất FDI và Đặc điểm


Về thực chất,do FDI là một hình thức của đầu tư quốc tế nói
chung,nên FDI cũng mang đầy đủ những bản chất của đầu tư quốc tế.
Đó là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế giữa các nước với
nhau.Thông qua quan hệ kinh tế này,các quốc gia sẽ có được hiệu quả
cao hơn trong sản xuất.Thực tế đã cho thấy FDI có tác động rất lớn đến
việc làm tăng trưởng kinh tế,sử dụng các nguồn tài nguyên…


Đó là một quá trình di chuyển vốn từ một quốc gia này sang một quốc
gia khác để thực hiện một dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên
tham gia.
Mặt khác,khi đầu tư,điều mà các nhà đầu tư không thể không quan
tâm đến là lợi nhuận thu được.Lợi nhuận(dự tính)thu được có ảnh hưởng
rất lớn đến FDI và khi các nhà đầu tư quyết định đầu tư ra nước ngoài thì
họ phải thực hiện thông qua các dự án đầu tư đã được Chính phủ phê
duyệt và cấp phép .
Hình thức FDI không chỉ đầu tư vốn mà còn đầu tư và công nghệ tri
thức kinh doanh nên dễ dành thúc đẩy sự phát triển của các ngành công
nghệ hiện đại và phát triển kinh tế. Việc chuyển giao công nghệ thông
qua FDI cũng góp phần không nhỏ vào việc tăng năng suất lao động, tăng
năng lực cạnh tranh của hàng hóa của các nước đang phát triển.
4.

Nhân tố thúc đẩy FDI

-

Chênh lệch về năng suất cận biên của vốn giữa các nước
Helpman và Sibert, Richard S. Eckaus cho rằng có sự khác nhau về năng suất
cận biên (số có thêm trong tổng số đầu ra mà một nhà sản xuất có được do

dùng thêm một đơn vị của yếu tố sản xuất)của vốn giữa các nước. Một
nước thừa vốn thường có năng suất cận biên thấp hơn. Còn một nước
thiếu vốn thường có năng suất cận biên cao hơn. Tình trạng này sẽ dẫn đến
sự di chuyển dòng vốn từ nơi dư thừa sang nơi khan hiếm nhằm tối đa
hóa lợi nhuận. Vì chi phí sản xuất của các nước thừa vốn thường cao hơn
các nước thiếu vốn. Tuy nhiên như vậy không có nghĩa là tất cả những hoạt
động nào có năng suất cận biên cao mới được các Doanh nghiệp đầu tư sản
xuất mà cũng có những hoạt động quan trọng, là sống còn của Doanh
nghiệp thì họ vẫn tự sản xuất cho dù hoạt động đó cho năng suất cận biên
thấp.

-

Chu kỳ sản phẩm
Đối với hầu hết các doanh nghiệp tham gia kinh doanh quốc tế thì chu kỳ
sống của các sản phẩm này bao gồm 3 giai đoạn chủ yếu là: giai đoan sản
phẩm mới; giai đoạn sản phẩm chín muồi; giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa.
Akamatsu Kaname (1962) cho rằng sản phẩm mới, ban đầu được phát minh
và sản xuất ở nước đầu tư, sau đó mới được xuất khẩu ra thị trường nước
ngoài. Tại nước nhập khẩu, ưu điểm của sản phẩm mới làm nhu cầu trên thị
trường bản địa tăng lên, nên nước nhập khẩu chuyển sang sản xuất để thay


-

-

-

thế sản phẩm nhập khẩu này bằng cách chủ yếu dựa vào vốn, kỹ thụât của

nước ngoài(giai đoạn sản phẩm chín muồi). Khi nhu cầu thị trường của sản
phẩm mới trên thị trường trong nước bão hòa, nhu cầu xuất khẩu lại xuất
hiện (giai đoạn sản phẩm chuẩn hóa). Hiện tượng này diễn ra theo chu kỳ
và do đó dẫn đến sự hình thành FDI.
Raymond Vernon (1966) lại cho rằng khi sản xuất một sản phẩm đạt tới giai
đoạn chuẩn hóa trong chu kỳ phát triển của mình cũng là lúc thị trường sản
phẩm này có rất nhiều nhà cung cấp. Ở giai đoạn này, sản phẩm ít được cải
tiến, nên cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dẫn tới quyết định giảm giá và
do đó dẫn tới quyết định cắt giảm chi phí sản xuất. Đây là lý do để các nhà
cung cấp chuyển sản xuất sản phẩm sang những nước cho phép chi phí sản
xuất thấp hơn.
Lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia
Stephen H. Hymes (1960, công bố năm 1976), John H. Dunning (1981),
Rugman A. A. (1987) và một số người khác cho rằng các công ty đa quốc
gia có những lợi thế đặc thù (chẳng hạn năng lực cơ bản) cho phép công ty
vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư
trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc
gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép
họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường
có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên
liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng... ta dễ
dàng nhận ra lợi ích của việc này!
Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương
mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn
do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương
mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư
trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại
Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ
còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị

trường Bắc Mỹ và châu Âu.
Khai thác chuyên gia và công nghệ
Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém
phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật
Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên
gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế


-

xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của
Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công
nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây
đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc
công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản
xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ
là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất
máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với
Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electronics, việc National Offshore
Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua
lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.
Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên
Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào
những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích
này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.

5. Tác động của FDI
a. Đối với nước đi đầu tư
- Tích cực:



Vì được quyền quản lý, điều hành nên chủ đầu tư sẽ đưa ra những quyết
định có lợi cho họ để đảm bảo tính hiệu quả của nguồn vốn đầu tư.



Nhà đầu tư nước ngoài được khai thác những lợi thế của thị trường đó: có
nguồn tài nguyên thiên nhiên, giá thành lao động rẻ, thị trường tiêu thụ
lớn… để đem lại những nguồn lợi nhuận khổng lồ.



Với hình thức FDI, các chủ đầu tư sẽ tránh được các rào cản bảo hộ mậu
dịch, phí mậu dịch của nước tiếp nhận đầu tư.
- Tiêu cực



Khi nhà đầu tư đem vốn đi đầu tư ra nước ngoài thì trong nước sẽ mất đi
một khoản đầu tư. Nước đó cũng có thể rơi vào hoàn cảnh khó khăn trong


việc tìm nguồn vốn để phát triển, giải quyết vấn đề việc làm cho người lao
động…


Doanh nghiệp FDI sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro nếu nước tiếp nhận đầu
tư xảy ra xung đột vũ trang, thay đổi chính sách đầu tư… Do đó, mà các nhà
đầu tư FDI thường chọn những nước có môi trường chính trị ổn định, chính

sách kinh tế cởi mở…
b. Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
- Tích cực



Nhờ có nguồn vốn FDI mà nước tiếp nhận đầu tư có được nguồn thu ngân
sách lớn, tăng kim ngạch xuất khẩu, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế
trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế.



Nước tiếp nhận sẽ ít chịu ảnh hưởng nếu kết quả đầu tư của doanh nghiệp
không hiệu quả hay thua lỗ. Do vậy mà nước tiếp nhận đầu tư FDI ít phải
chịu rủi ro.



Chủ đầu tư không chỉ mang đến nguồn vốn mà nước tiếp nhận đầu tư còn
tiếp thu và học hỏi được kỹ thuật, công nghệ, phương pháp quản lý mới…
để tạo ra những sản phẩm mới, mở ra những thị trường mới.



Đem đến nhiều cơ hội việc làm cho người lao động và giúp đào tạo nguồn
nhân lực có thể tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu.



Khuyến khích các doanh nghiệp trong nước cải tiến công nghệ, nâng cao

năng suất để tăng khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI.

- Tiêu cực


Nếu để cho các doanh nghiệp FDI đầu tư một cách tràn lan, không có quy
hoạch bài bản sẽ khiến tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, ô nhiễm môi
trường.



Đầu như vào lĩnh vực nào, chọn địa điểm nào là do ý muốn của doanh
nghiệp FDI, cho nên sẽ dễ dẫn đến tình trạng mất cân bằng vùng.




Trong quá trình cạnh tranh, các doanh nghiệp trong nước có thể bị phá sản
vì không đủ tiềm lực cạnh tranh.



Môi trường chính trị có thể bị ảnh hưởng khi các nhà đầu tư vận động quan
chức quản lý địa phương đồng ý với những điều khoản có lợi cho doanh
nghiệp FDI.

6. Các hình thức FDI
- Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài

Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức truyền thống và

phổ biến của FDI. Với hình thức này, các nhà đầu tư, cùng với việc chú trọng khai
thác những lợi thế của địa điểm đầu tư mới, đã nỗ lực tìm cách áp dụng các tiến
bộ khoa học công nghệ, kinh nghiệm quản lý trong hoạt động kinh doanh để đạt
hiệu quả cao nhất. Hình thức này phổ biến ở quy mô đầu tư nhỏ nhưng cũng rất
được các nhà đầu tư ưa thích đối với các dự án quy mô lớn. Hiện nay, các công ty
xuyên quốc gia thường đầu tư theo hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
và họ thường thành lập một công ty con của công ty mẹ xuyên quốc gia.

Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thuộc sở hữu của nhà đầu tư
nước ngoài nhưng phải chịu sự kiểm soát của pháp luật nước sở tại (nước nhận
đầu tư). Là một pháp nhân kinh tế của nước sở tại, doanh nghiệp phải được đầu
tư, thành lập và chịu sự quản lý nhà nước của nước sở tại. Doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
tại nước chủ nhà, nhà đầu tư phải tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh
doanh. Về hình thức pháp lý, dưới hình thức này, theo Luật Doanh nghiệp 2005, có
các loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ
phần…
Hình thức 100% vốn đầu tư nước ngoài có ưu điểm là nước chủ nhà không
cần bỏ vốn, tránh được những rủi ro trong kinh doanh, thu ngay được tiền thuê
đất, thuế, giải quyết việc làm cho người lao động. Mặt khác, do độc lập về quyền
sở hữu nên các nhà đầu tư nước ngoài chủ động đầu tư và để cạnh tranh, họ
thường đầu tư công nghệ mới, phương tiện kỹ thuật tiên tiến nhằm đạt hiệu quả


kinh doanh cao, góp phần nâng cao trình độ tay nghề người lao động. Tuy nhiên,
nó có nhược điểm là nước chủ nhà khó tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý và
công nghệ, khó kiểm soát được đối tác đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận.

- Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà
đầu tư nước ngoài


Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay. Hình
thức này cũng rất phát triển ở Việt Nam, nhất là giai đoạn đầu thu hút FDI. DNLD
là doanh nghiệp được thành lập tại nước sở tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký
giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư
kinh doanh tại nước sở tại.

Như vậy, hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm
đầu tư phải ở nước sở tại. Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất lớn vào
môi trường kinh doanh của nước sở tại, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức
độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước sở tại...
Hình thức DNLD có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn,
nước sở tại tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được
chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội
cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài;
Nhà nước của nước sở tại dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước
ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường
nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo
điều kiện cho nước sở tại tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Tuy nhiên,
hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành,
quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị,
phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp. Nước sở tại
thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của
cán bộ tham gia trong DNLD yếu.


- Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu
tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không

thành lập pháp nhân

Hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn,
công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước
sở tại, thu lợi nhuận tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước sở
tại không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ
thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi
hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước sở tại. Do đó, về phía nhà đầu
tư, họ rất khó kiểm soát hiệu quả các hoạt động BCC. Tuy nhiên, đây là hình thức
đơn giản nhất, không đòi hỏi thủ tục pháp lý rườm rà nên thường được lựa chọn
trong giai đoạn đầu khi các nước đang phát triển bắt đầu có chính sách thu hút
FDI. Khi các hình thức 100% vốn hoặc liên doanh phát triển, hình thức BCC có xu
hướng giảm mạnh.

- Hình thức hợp đồng BOT, BTO, BT

BOT là hình thức đầu tư được thực hiện theo hợp đồng ký kết giữa cơ quan
nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư nước ngoài để xây dựng, kinh doanh công
trình kết cấu hạ tầng trong một thời gian nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư
chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam
BTO và BT là các hình thức phái sinh của BOT, theo đó quy trình đầu tư, khai thác,
chuyển giao được đảo lộn trật tự.


Hình thức BOT, BTO, BT có các đặc điểm cơ bản: một bên ký kết phải là Nhà
nước; lĩnh vực đầu tư là các công trình kết cấu hạ tầng như đường sá, cầu, cảng,
sân bay, bệnh viện, nhà máy sản xuất, điện, nước...; bắt buộc đến thời hạn phải
chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước.
Ưu điểm của hình thức này là thu hút vốn đầu tư vào những dự án kết cấu

hạ tầng, đòi hỏi lượng vốn lớn, thu hồi vốn trong thời gian dài, làm giảm áp lực
vốn cho ngân sách nhà nước. Đồng thời, nước sở tại sau khi chuyển giao có được
những công trình hoàn chỉnh, tạo điều kiện phát huy các nguồn lực khác để phát
triển kinh tế. Tuy nhiên, hình thức BOT có nhược điểm là độ rủi ro cao, đặc biệt là
rủi ro chính sách; nước chủ nhà khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lý, công nghệ.

- Đầu tư mua cổ phần hoặc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp

Đây là hình thức thể hiện kênh đầu tư Cross - border M & As đã nêu ở trên.
Khi thị trường chứng khoán phát triển, các kênh đầu tư gián tiếp (FPI) được khai
thông, nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phần, mua lại các doanh nghiệp
ở nước sở tại, nhiều nhà đầu tư rất ưa thích hình thức đầu tư này.

Ở đây, về mặt khái niệm, có vấn đề ranh giới tỷ lệ cổ phần mà nhà đầu tư
nước ngoài mua - ranh giới giúp phân định FDI với FPI. Khi nhà đầu tư nước ngoài
tham gia mua cổ phiếu, trái phiếu trên thị trường chứng khoán nước sở tại, họ tạo
nên kênh đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI). Tuy nhiên, khi tỷ lệ sở hữu cổ phiếu
vượt quá giới hạn nào đó cho phép họ có quyền tham gia quản lý doanh nghiệp
thì họ trở thành nhà đầu tư FDI. Luật pháp Hoa Kỳ và nhiều nước phát triển quy
định tỷ lệ ranh giới này là 10%. Đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, tỷ lệ này
được quy định là 30%.


Hình thức mua cổ phần hoặc mua lại toàn bộ doanh nghiệp có ưu điểm cơ
bản là để thu hút vốn và có thể thu hút vốn nhanh, giúp phục hồi hoạt động của
những doanh nghiệp bên bờ vực phá sản. Nhược điểm cơ bản là dễ gây tác động
đến sự ổn định của thị trường tài chính. Về phía nhà đầu tư, đây là hình thức giúp
họ đa dạng hoá hoạt động đầu tư tài chính, san sẻ rủi ro nhưng cũng là hình thức
đòi hỏi thủ tục pháp lý rắc rối hơn và thường bị ràng buộc, hạn chế từ phía nước
chủ nhà.



7. Vai trò của FDI

* Đối với tang trưởng kinh tế:

*Đối với chuyển giao công nghệ
- FDI được coi là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của
nước chủ nhà. Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao
công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở
nghiên cứu , ứng dụng của nước chủ nhà .


Đây là những mục tiêu quan trọng được nước chủ nhà mong đợi từ các nhà
đầu tư nước ngoài. Chuyển giao công nghệ thông qua FDI thường được thực hiện
chủ yếu bởi các TNCs, dưới các hình thức: Chuyển giao trong nội bộ giữa các chi
nhánh của một TNCS và chuyển giao giữa các chi nhánh của các TNCS. Những năm
gần đây , các hình thức này thường đan xen nhau với các đặc điểm rất đa dạng.
Phần lớn công nghệ được chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCS sang
nước đang phát triển ở hình thức 100 % vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên
doanh có phần lớn vốn nước ngoài, dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến
bộ công nghệ, sản phẩm công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật
kiểm tra chất lượng, công nghệ quản lý, công nghệ marketting.
Nhìn chung, các TNCS rất hạn chế chuyển giao những công nghệ mới có tính
cách tranh cao cho các chi nhánh của chúng ở nước ngoài vì sợ lộ bí mật hoặc mất
bản quyền công nghệ do việc bắt trước, cải biển hoặc nhái lại công nghệ của các
công ty nước chủ nhà. Mặt khác, do nước chủ nhà còn chưa đáp ứng được yêu
cầu sử dụng công nghệ của các TNCs. Bên cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có,
thông qua FDI các TNCs còn góp phần tích cực đối với tăng cường năng lực nghiên
cứu và phát triển công nghệ của nước chủ nhà.

Các kết quả cho thấy phần lớn các hoạt động R & D của các chi nhánh TNCs
ở nước ngoài là cải biến công nghệ cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa
phương. Dù vậy, các hoạt động cải tiến công nghệ của các doanh nghiệp ĐTNN đã
tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên
cứu, ứng dụng công nghệ trong nước. Nhờ đó đã gián tiếp tăng cường năng lực
phát triển công nghệ địa phương. Mặt khác, trong qúa trình sử dụng công nghệ
nước ngoài, các nhà đầu tư và phát triển công nghệ nước ngoài, các nhà đầu tư và
phát triển công nghệ trong nước học được cách thiết kế, chế tạo . . . công nghệ
nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa phương và biến
chúng thành công nghệ của mình. Nhờ có những tác động tích cực trên, khả năng
công nghệ của nước chủ nhà được tăng cường, Vì thế nâng cao năng suất các
thành tố, nhờ đó thúc đẩy được tăng trưởng.
* Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế


- Trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế , khu vực FDI đóng góp chủ yếu ở khu
vực công nghiệp, tỷ trọng công nghiệp tăng lên có đóng góp lớn của FDI, nhất là ở
ngành chế tạo. Đến năm 2014, ngành công nghiệp đã thu hút được 11. 013 dự án
với tổng số vốn đăng ký 181 tỷ USD chiếm 64, 3 % tổng số vốn đăng ký
- Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhiều lĩnh vực và ngành kinh tế
mới đã xuất hiện như dầu khí, công nghệ thông tin, hóa chất, ô tô, xe máy, thép,
điện tử và điện tử gia dụng, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, da giày,
dệt may . . . FDI giúp nhanh chóng thúc đẩy trình độ kỹ thuật - công nghệ ở nhiều
ngành kinh tế, góp phần tăng năng suất lao động ở các ngành này và làm tăng tỷ
trọng của nó trong nền kinh tế.
* Đối với ngân sách nhà nước
- Vốn FDI có vai trò quan trọng trong nguồn thu của ngân sách Nhà nước.
Thu ngân sách từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không ngừng tăng qua
các năm. Với những chính sách đầu tư của Nhà nước, các doanh nghiệp FDI được
hưởng chính sách khuyến khích của Chính phủ thông qua giảm thuế thu nhập

trong những năm đầu hoạt động.
Cùng với đó, FDI đã góp phần quan trọng trong tăng thặng dư tài khoản
vốn, nhìn chung, góp phần cải thiện cán cân thanh toán. Bên cạnh đó, FDI không
chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội
mà kèm theo đó là việc nâng cao năng lực kỹ thuật, trình độ công nghệ, cải tiến
phương thức quản lý, bí quyết kinh doanh và cải thiện năng lực maketing. Các
doanh nghiệp FDI cũng đã và đang thể hiện vai trò tạo động lực cạnh tranh cho
các doanh nghiệp trong nước nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hóa.
II.

THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI
VIỆT NAM 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2019
1.

Theo đối tác đầu tư

Theo đối tác đầu tư, có 99 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án FDI tại Việt
Nam, trong đó Hồng Kông đứng thứ nhất, Hàn Quốc đứng thứ hai và Trung


Quốc đứng vị trí thứ ba. Singapore, Nhật Bản lần lượt xếp vị trí thứ tư và thứ
năm.
Hồng Kông hiện đang dẫn đầu các đối tác đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn
đầu tư 5.88 tỷ USD, trong đó có 3,8 tỷ USD mua cổ phần vào công ty TNHH
Vietnam Beverage tại Hà Nội, chiếm 59,7% tổng vốn đầu tư.
Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 4.6 tỷ USD, chiếm 19% tổng
vốn đầu tư vào Việt Nam. Singapore đứng vị trí thứ ba với tổng vốn đầu tư
đăng ký 4,21 tỷ USD, chiếm 14,5% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trung Quốc,
Nhật Bản,...
Trong đó, đầu tư từ Trung Quốc, Hồng Kông có xu hướng tăng so với cùng

kỳ do tác động của chiến tranh thương mại Mỹ - Trung Quốc. Cụ thể, đầu tư từ
Trung Quốc tăng gần 2 lần, từ Hồng Kông


Trung Quốc “mạnh tay” rót tiền vào Việt Nam
Báo cáo mới nhất của VEPR nhận định dòng vốn đầu tư nước ngoài tăng
trưởng bất ổn qua các quý từ năm 2018 đến nay.
Theo đó, dù căng thẳng thương mại Mỹ – Trung từ năm 2018 được hi vọng
sẽ gia tăng dòng vốn vào Việt Nam nhưng thực tế không phản ánh điều đó.
Trong 6 tháng đầu năm, vốn FDI tăng 9,7%, tức cao hơn mức 8,5% của cùng kì
năm ngoái, nhưng chưa đuổi kịp được tốc độ của khu vực ngoài nhà nước.
Tính đến cuối tháng 6, 1.723 dự án cấp phép mới số, tăng 26,1% vốn đăng ký
đạt 7.411,8 triệu USD, giảm 37,2% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018.
Số liệu cũng cho thấy công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là nơi thu hút FDI
lớn nhất, chiếm 73,4% tổng vốn đăng ký cấp mới. Vốn vào bất động sản cũng
tăng, chiếm 10,8% tổng vốn và 6,5% vốn đăng ký mới.
Nhóm nghiên cứu của VEPR cho rằng cần lưu ý tới khả năng dư thừa lương
cung trên thị trường bất động sản hoặc hiện tượng bong bóng.
Về đối tác, trong 6 tháng đầu năm Trung Quốc tiếp tục là nhà đầu tư lớn
nhất với tổng số vốn đăng ký mới đạt 1.676,8 triệu USD. Các vị trí tiếp theo
thuộc về Hàn Quốc với 1.239,2 triệu USD, Nhật Bản với 972 triệu USD,
Hongkong với 920,8 triệu USD.
Căng thẳng thương mại Mỹ – Trung tăng cao và hiệp định CPTPP khiến
Trung Quốc đang đầu tư ngày càng nhiều hơn vào Việt Nam, theo VEPR. Hiện
tại tổng vốn đăng ký mới của riêng Trung Quốc đã chiếm 22,6% tổng vốn.
2.

Theo cơ cấu ngành đầu tư

Trong năm nay, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút FDI lớn nhất

với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới chiếm 73,2% tổng vốn
đăng ký cấp mới; ngành hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm 10,2%; các
ngành còn lại chiếm 16,6%...
Tình hình xuất, nhập khẩu: Trong đầu năm 2019, xuất khẩu của khu vực đầu
tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 70,4 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm


2018 và chiếm 69,9% kim ngạch xuất khẩu. Nhập khẩu của khu vực đầu tư
nước ngoài đạt 52,85 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 56,9%
kim ngạch nhập khẩu.
Theo lĩnh vực đầu tư: Tính chung đầu năm 2019, các nhà đầu tư nước ngoài
đã đầu tư vào 19 ngành, lĩnh vực của Việt Nam, trong đó tập trung nhiều nhất
là công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng số vốn đạt 12 tỷ USD, chiếm 71,8%
tổng vốn đầu tư đăng ký; Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai, với
tổng vốn đầu tư 1,38 tỷ USD, chiếm 8,2% tổng vốn đầu tư đăng ký; thứ ba là
lĩnh vực bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đầu tư đăng ký 864 triệu USD, chiếm
5,2% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19/21 ngành trong hệ thống phân
ngành kinh tế quốc dân, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm
tỷ trọng cao nhất, với gần 204,2 tỷ USD, chiếm 58,3% tổng vốn đầu tư. Các lĩnh


vực thu hút FDI chủ yếu là công nghiệp chế biến, chế tạo; kinh doanh bất động
sản; sản xuất, phân phối điện, khí nước…
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt hơn 6,8 tỷ
USD, chiếm 74,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành hoạt động kinh doanh bất
động sản đạt 852,3 triệu USD, chiếm 9,3%; các ngành còn lại đạt hơn 1,4 tỷ
USD, chiếm 16,1%.

Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm
trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế
tạo trong 8 tháng đạt hơn 10,3 tỷ USD, chiếm 78,9% tổng vốn đăng ký; ngành
hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 729 triệu USD, chiếm 5,6%; các ngành
còn lại đạt hơn 2 tỷ USD, chiếm 15,5%.
Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn
đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 5,3 tỷ USD, chiếm
56,7% tổng giá trị góp vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt hơn 1,5 tỷ
USD, chiếm 16,6%; các ngành còn lại đạt hơn 2,5 tỷ USD, chiếm 26,7%.
3.

Theo địa bàn đầu tư

Theo địa bàn đầu tư, 9 tháng đầu năm 2019, nhà ĐTNN đã đầu tư vào 59
tỉnh thành phố, trong đó Hà Nội thu hút nhiều vốn ĐTNN nhất với tổng số vốn
đăng ký 6,15 tỷ USD, chiếm 23,5% tổng vốn đầu tư.
Thành phố Hồ Chí Minh đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 4,52 tỷ USD,
chiếm 17,3% tổng vốn đầu tư. Bình Dương đứng thứ ba với tổng số vốn đăng
ký 2,52 tỷ USD chiếm 9,6% tổng vốn đầu tư.
FDI từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2019 thu hút 2.759 dự án cấp phép
mới với số vốn đăng ký đạt 10.973,4 triệu USD, tăng 26,4% về số dự án và giảm
22,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2018. Bên cạnh đó, có 1.037 lượt dự
án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn
tăng thêm đạt 4.789,8 triệu USD, giảm 13,6% so với cùng kỳ năm trước.


Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 9 tháng năm
nay đạt 15.763,2 triệu USD, giảm 19,9% so với cùng kỳ năm 2018. Vốn đầu tư
trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 14,2 tỷ USD, tăng 7,3% so
với cùng kỳ năm trước.


9 tháng đầu 2018, đứng thứ nhất là Hà Nôi, thu hút nhiều vốn nhất với
tổng số vốn đăng ký 5,8 tỷ USD, chiếm 22,9% tổng vốn đầu tư.
Tp.HCM đứng thứ hai với tổng vốn đăng ký 4,2 tỷ USD, chiếm 16,6% tổng vốn
đầu tư. Bà Rịa - Vũng Tàu đứng thứ ba với tổng số vốn đăng ký 2,1 tỷ USD
chiếm 8,5% tổng vốn đầu tư.
So với cùng kỳ 2018, 9 tháng đầu 2019 thu hút FDI theo địa bàn đầu tư có
sự tăng trưởng rõ rệt. Hà Nội và TP.HCM vẫn tiếp tục duy trì vị trí số 1 và số 2,
chiếm tỉ trọng chính trong vốn thu hút FDI theo địa bàn đầu tư của cả nước.
Các địa phương khác cũng không ngừng tăng trưởng và thu hút FDI, cụ thể như
tỉnh Bình Dương đã leo lên vị trí thứ 3 với lượng thu hút FDI đáng kể. Những


địa phương tiếp theo như Đồng Nai, Bắc Ninh, Hải Phòng cũng là khu vực có
tiềm năng thu hút FDI trong tương lai.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng đều theo từng năm là một dấu
hiệu xanh cho sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Chỉ trong 9 tháng đầu,
vốn thu hút FDI theo từng địa bàn đạt được mức tích cực.

4. Chính sách thu hút vốn đầu tư FDI và một số dự án tiêu biểu

Chính sách đầu tư là lĩnh vực không ngừng thay đổi do sự chuyển dịch liên
tục của dòng vốn FDI trong khu vực trên thế giới, cũng như các xu hướng bên
cầu. Khả năng của nước sở tại trong việc bảo đảm các diễn biến bên cung phù
hợp với nhu cầu của nhà đầu tư và những loạibhình đầu tư mới là hết sức
quan trọng để duy trì tăng trưởng FDI. Một chiến lược xúc tiến đầu tư mới và
cụ thể sẽ cải thiện ưu tiên chính sách, hiệu quả thực hiện và liên tục cải thiện
chính sách.
Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có giá trị gia tăng cao, tìm kiếm thị

trường và tìm kiếm hiệu quả có thể sẽ tiếp tục là một nguồn quan trọng để xây
dựng năng lực cạnh tranh , đa dạng hoả và tăng trường cho Việt Nam. Điều
quan trọng đối với bất kỳ quốc gia nào mong muốn thu hút (và duy trì ) đầu tư
nước ngoài mới là bảo đảm để chỉnh sách đầu tư và bộ máy thể chế về xúc tiến
đầu tư có sự gắn kết và hiệu quả, các cơ quan liên quan phải phối hợp chặt chẽ
và hỗ trợ lẫn nhau và tránh phát đi những thông điệp khó hiếu hoặc thậm chí
mâu thuẫn đến nhà đầu tư nước ngoài. Đối với Việt Nam, có thể nói một trong
những thay đổi lớn về chính sách cần thực hiện là chuyển dịch từ chính sách “
mở cửa ” bị động đối với FDI sang chính sách “ gõ đúng cánh cửa ” có tính chủ
động cao để thu hút các loại hình đầu tư mà Việt Nam thực sự cần đến tại thời
điểm này trong tiến trình phát triển.
Theo nước đầu tư
Về thị trường và đối tác, tiếp tục đa dạng hóa, đa phương hóa thu hút đầu
tư nước ngoài từ nhiều thị trường và đối tác. Chú trọng các nước phát triển,
các nước G7. Chủ động theo dõi, đánh giá xu hướng dịch chuyển dòng đầu tư


nước ngoài từ một số nước trong khu vực để lựa chọn phù hợp với định
hướng. Đồng thời, thu hút từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, dự án quy mô nhỏ,
siêu nhỏ phải đảm bảo điều kiện về công nghệ và gia nhập mạng sản xuất và
chuỗi giá trị toàn cầu, nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế, phát triển
ngành, nghề mới, tạo thêm việc làm.
-Xây dựng cụ thể danh mục hạn chế, không thu hút đầu tư nước ngoài phù
hợp với các cam kết quốc tế; ngoài danh mục này, nhà đầu tư nước ngoài được
đối xử bình đẳng như nhà đầu tư trong nước. Khuyến khích nhà đầu tư nước
ngoài gia nhập thị trường ở những ngành, lĩnh vực mà Việt Nam không có nhu
cầu bảo hộ. Xây dựng các tiêu chí về đầu tư để lựa chọn, ưu tiên thu hút đầu
tư phù hợp với quy hoạch, định hướng phát triển ngành, lĩnh vực, địa bàn. Xây
dựng cơ chế đánh giá an ninh và tiến hành rà soát an ninh đối với các dự án,
hoạt động đầu tư nước ngoài có hoặc có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

-Xây dựng thể chế, chính sách ưu đãi vượt trội, cạnh tranh quốc tế tạo điều
kiện kinh doanh thuận lợi thu hút các dự án lớn, trọng điểm quốc gia, dự án
công nghệ cao..., thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các tập đoàn đa quốc gia
đầu tư,
đặt trụ sở và thành lập các trung tâm nghiên cứu - phát triển (R&D), trung tâm
đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.
-Ngoài ra, xây dựng cơ chế khuyến khích, ưu đãi thỏa đáng để tăng liên kết
giữa đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước, các lĩnh vực cần ưu tiên thu hút;
phát triển cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, góp phần nâng cao giá trị gia tăng
nội địa, sức cạnh tranh của sản phẩm và vị trí quốc gia trong chuỗi giá trị toàn
cầu. Khuyến khích chuyển giao công nghệ và quản trị cho doanh nghiệp Việt
Nam. Có chính sách khuyến khích đối với doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đào
tạo, nâng cao kỹ năng, trình độ cho lao động Việt Nam; sử dụng người lao
động Việt Nam đã làm việc, tu nghiệp ở các quốc gia tiên tiến.
-Nâng cấp, hoàn thiện quy định của pháp luật về công nghiệp hỗ trợ, khởi
nghiệp, đổi mới sáng tạo. Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước kết nối với doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ, dần tiến tới
tự chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Xây dựng chính sách thu
hút đầu tư nước ngoài cân đối, hợp lý giữa các vùng, miền; bảo đảm việc thu


hút, hợp tác đầu tư nước ngoài theo đúng định hướng, quy hoạch và yêu cầu
phát triển...
-Đa dạng hóa và phát huy có hiệu quả mô hình hợp tác công - tư (PPP) vào đầu
tư cơ sở hạ tầng, hình thức mua lại và sáp nhập (M&A) đối với các nhà đầu tư
nước ngoài. Nghiên cứu, thực hiện thí điểm đối với các phương thức đầu tư,
mô hình kinh doanh mới để tận dụng cơ hội từ Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư...
Ví dụ, trước kia khi so sánh với Trung Quốc, Việt Nam thường lép vế nhưng bây
giờ Việt Nam đã trở thành đối tượng mà nhiều nhà đầu tư nhắm đến, chuyển

nhà máy từ Trung Quốc sang Việt Nam.
Nhiều nhà đầu tư lớn chọn Việt Nam và mong muốn ở lại lâu dài tại Việt
Nam, trở thành một doanh nghiệp của Việt Nam. Ví dụ như Samsung. Từ quan
hệ đầu tư, Việt Nam đã có những người bạn tốt, đặc biệt trong khu vực hiện
nay là Nhật Bản, Hàn Quốc. Vốn FDI của Nhật Bản và Hàn Quốc vào Việt Nam
đến nay đều đứng hàng đầu trong số các quốc gia, vùng lãnh thổ có đầu tư
trực tiếp vào Việt Nam.
Theo địa phương nhận đầu tư
Cần thu hút FDI theo hướng chủ động, dựa trên điểm mạnh, điểm yếu của
mỗi địa phương bằng cách nâng cao tính hấp dẫn của địa phương trong mắt
các nhà đầu tư. Đồng thời, tạo ra sự phù hợp và nhất quán giữa mục tiêu thu
hút đầu tư, danh mục ưu tiên đầu tư, biện pháp xúc tiến, ưu đãi thu hút đầu
tư.
Đặc biệt, nên ưu đãi cho các doanh nghiệp theo hiệu hiệu quả kinh doanh
nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư lâu dài và hiệu quả trên địa bàn.
Thu hút FDI của địa phương, vùng lãnh thổ phù hợp quy hoạch (tổng thể,
quốc gia, ngành, vùng, địa phương). Địa phương phát triển cao về kết cấu hạ
tầng và nguồn nhân lực, tập trung thu hút các dự án công nghệ cao, công nghệ
mới, tiên tiến, dịch vụ hiện đại, R&D để hình thành trung tâm tài chính, công
nghệ quốc gia và khu vực. Những địa bàn khó khăn, bên cạnh các dự án ưu
tiên, cần tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài trong những ngành sử dụng
lao động phổ thông, giản đơn trong một giai đoạn nhất định, góp phần giải
quyết việc làm, phát triển kinh tế-xã hội. Đồng thời xây dựng kế hoạch chuyển


hướng thu hút đầu từ nước ngoài sang ngành, lĩnh vực có giá trị gia tăng cao
hơn. Bên cạnh đó, tạo động lực mới cho thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài
vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao…
Ví dụ như trước đây Bắc Ninh chủ yếu sản xuất nông nghiệp thì từ hồi có
Samsung và một số doanh nghiệp FDI thì đã có sự dịch chuyển ngành nghề:

hiện nay 82% ngành nghề của Bắc Ninh là công nghiệp và dịch vụ.
Một số dự án đầu tư FDI tại Hải Phòng:
- Dự án mở rộng khu đô thị , công nghiệp và dịch vụ Việt Nam - Singapore
Hải Phòng ( VSIP ) : 268, 2 triệu USD
- Dự án sản xuất tất của Apex Wealth International Limited ( Hong Korig ):
14 triệu USD.
- Dự án Sản xuất chi tiết , phụ tùng , linh kiện nhựa Dong Yang Hải Phòng 38
triệu USD Dự án Sản xuất linh kiện điện tử Connet Vina ( 10 triệu USD )
Theo cơ cấu ngành
Trong thời gian tới, Việt Nam tập trung thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
vào các ngành, lĩnh vực có công nghệ cao, công nghệ mới, tiên tiến, thân thiện
với môi trường, công nghệ thông tin và viễn thông, điện tử ở trình độ tiên tiến
của thế giới. Đồng thời, tập trung vào các ngành ô tô, máy nông nghiệp, thiết bị
công trình, thiết bị công nghiệp, thiết bị điện, công nghiệp hỗ trợ, R&D,
internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (SMAC), thực
tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), điện toán đám mây, kinh tế số, tự động
hóa, y sinh, vật liệu mới. Công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp
đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp giá trị
cao. Thiết bị y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và đào tạo, du lịch chất lượng
cao, dịch vụ tài chính, logistics và các dịch vụ hiện đại khác. Phát triển kết cấu
hạ tầng kỹ thuật, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, năng lượng thông minh.
Nâng cao các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về sản phẩm, bảo vệ môi
trường, tài nguyên và tiết kiệm năng lượng phù hợp với tiêu chuẩn của khu
vực và thế giới. Không xem xét mở rộng, gia hạn hoạt động đối với những dự
án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, thâm
dụng tài nguyên.


Đồng thời, đổi mới cơ chế, chính sách ưu đãi đầu tư; xây dựng, bổ sung cơ
chế khuyến khích đối với các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thực hiện

tốt cam kết; phân biệt ưu đãi giữa các ngành, nghề đầu tư khác nhau. Có chính
sách khuyến khích hợp tác, chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở thỏa thuận,
tự nguyện. Áp dụng nguyên tắc ưu đãi đầu tư gắn với việc đáp ứng các điều
kiện, cam kết cụ thể và cơ chế hậu kiểm, yêu cầu bồi hoàn khi vi phạm các cam
kết.
Ví dụ, tại Việt Nam, khu vực FDI ngày càng khẳng định vai trò quan trọng đối
với phát triển kinh tế xã hội.
Theo thống kê, khối doanh nghiệp FDI hiện đóng góp khoảng 23,5% tổng
đầu tư toàn xã hội (gần 20% GDP), chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu...
Trong khi đó, ở Trung Quốc, tuy doanh nghiệp nước ngoài chỉ chiếm chưa
đầy 3% tổng số doanh nghiệp tại nước này, nhưng lại đóng góp gần 50% giá trị
thương mại đối ngoại, trên 25% lợi nhuận doanh nghiệp ngành công nghiệp và
20% thu nhập từ thuế.
5.

Nguyên nhân dẫn đến thực trạng FDI 9 tháng đầu 2019 tại Việt Nam

Xu hướng mua bán sáp nhập cũng sẽ trở thành cơ hội để các doanh nghiệp
Việt Nam hợp tác theo xu hướng toàn cầu hóa. Ngoài ra, đầu tư theo hình thức
M&A cũng là cách để nhà đầu tư nước ngoài sớm thâm nhập thị trường Việt
Nam, nhằm tận dụng các cơ hội do các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
(FTA) mang lại.
Các nhà đầu tư nước ngoài cho rằng, thủ tục đơn giản, thuận tiện chính là
điều kiện khiến ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn đầu tư vào
Việt Nam theo hình thức góp vốn, mua cổ phần. Theo đó, đây là một giải pháp
đầu tư đơn giản mà hiệu quả.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), trong 9 tháng năm 2019, số
lượng các đoàn sang làm việc, tìm hiểu cơ hội đầu tư tăng khá mạnh, tăng
khoảng 30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhiều đoàn tìm hiểu cơ hội để
dịch chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam do tác động của chiến tranh

thương mại Mỹ - Trung.


Các đối tác chủ yếu đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông,
Singapore. Đồng thời, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc đang tăng mạnh đầu tư ra nước
ngoài. Đây là những nhà đầu tư có chất lượng. Nếu biết nắm lấy cơ hội, Việt
Nam sẽ có cơ hội tăng chất lượng dòng vốn FDI.
Bên cạnh đó, đầu tư trong nước được hỗ trợ bởi tâm lý lạc quan, chính sách
tiền tệ, tỷ giá, lãi suất ổn định... dự báo cũng sẽ tiếp tục được khởi sắc cùng với
đầu tư nước ngoài tạo ra năng lực sản xuất mới.
6.

Mục tiêu thu hút FDI tại Việt Nam năm 2020

Năm 2020, Chính phủ đặt mục tiêu thu hút 35 - 36 tỷ USD vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI). Đây cũng là nội dung được các đại biểu quan tâm khi
thảo luận về Dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 tại Hội nghị
lần thứ 11, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII. Theo TS. Trần Anh Tuấn,
Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, tăng thu hút FDI rất quan trọng, nhưng
quan trọng hơn là chất lượng FDI.
Năm 2020, Việt Nam đứng trước nhiều lợi thế để tăng thu hút FDI cả vốn
đăng ký lẫn vốn giải ngân, nhưng Chính phủ dự kiến chỉ đặt mục tiêu thu hút
35 - 36 tỷ USD vốn FDI và giải ngân 19 tỷ USD, tức chỉ tương đương mức ước
thực hiện năm 2019.
Đặt ra mục tiêu không quá cao là chúng ta đã hướng đến chất lượng dự án
FDI, chứ không phải số lượng và đã theo đúng tinh thần của Nghị quyết 50NQ/TW là chủ động thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất
lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu.
III.

KẾT LUẬN


Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới có xu hướng tăng trưởng chậm lại
với các yếu tố rủi ro, thách thức gia tăng, kinh tế Việt Nam trong 9 tháng đầu năm
2019 vẫn có nhiểu điểm sáng... Việt Nam tiếp tục được đánh giá là một trong
những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất không chỉ trong khu vực mà trên thế
giới. Sự hấp dẫn về tăng trưởng của Việt Nam đã và đang là điểm cộng trong mắt
các nhà đầu tư nước ngoài và trở thành điểm hút của dòng vốn đầu tư ngoại vốn.


×