Tải bản đầy đủ (.pdf) (198 trang)

Tri thức việt nam đối diện với văn minh phương tây thời pháp thuộc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 198 trang )

Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trần Viết nghĩa

Trí thức việt nam đối diện với văn minh
ph-ơng tây thời pháp thuộc

Luận án tiến sĩ lịch sử

Hà Nội, 2011


Đại học quốc gia hà nội
tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trần Viết nghĩa

Trí thức việt nam đối diện với văn minh
ph-ơng tây thời pháp thuộc

Chuyên ngành: Lịch sử việt nam cận hiện đại
Mã số: 62.22.54.05
Luận án tiến sĩ lịch sử
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xanh

Hà Nội, 2011

1



Lời Cam đoan

Tôi xin cam đoan những nội dung trong luận án là sản phẩm làm việc của bản thân
tôi thông qua s-u tầm, đọc, nghiên cứu và phân tích nguồn tài liệu, không sao chép bất
kỳ một công trình nghiên cứu nào. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực
và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về nội dung trong Luận án của mình.
Hà Nội, 2011
Nghiên cứu sinh

Trần Viết Nghĩa

2


Mục lục
Trang
Mở đầu ..................................................................................................................... 06
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 06
2. Tình hình nghiên cứu............................................................................................ 07
3. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 10
4. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................ 11
5. Cơ sở lý luận, nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu .................................... 12
6. Những đóng góp khoa học của luận án ................................................................ 12
7. Bố cục của luận án ................................................................................................ 13
Ch-ơng 1. Những phản ứng ban đầu với văn minh ph-ơng Tây
của trí thức Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX ................... 14
1.1. Khái niệm Trí thức, Văn hoá và Văn minh .................................................. 14
1.1.1. Khái niệm Trí thức ......................................................................................... 14
1.1.2. Khái niệm Văn hoá......................................................................................... 17

1.1.3. Khái niệm Văn minh ...................................................................................... 19
1. 2. Tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây tr-ớc khi Pháp xâm l-ợc ................... 23
1.2.1. Qua con đ-ờng quan hệ th-ơng mại ............................................................... 23
1.2.2. Qua con đ-ờng truyền bá Kitô giáo ............................................................... 26
1.3. Chống đối văn minh ph-ơng Tây .................................................................. 31
1.3.1. Phủ nhận sức mạnh kỹ thuật ph-ơng Tây ...................................................... 32
1.3.2. Chống đối Kitô giáo ....................................................................................... 36
1.3.3. Phản đối lối sống ph-ơng Tây ........................................................................ 40
1.4. Tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây................................................................... 44

3


1.4.1. Tiếp nhận trên cơ sở duy tân đất n-ớc ............................................................ 44
1.4.2. Tiếp nhận trên cơ sở vong bản ........................................................................ 54
1.4.3. Tiếp nhận trên cơ sở dung hoà xung đột Đông- Tây. ..................................... 56
Tiểu kết ch-ơng 1 ................................................................................................... 59
Ch-ơng 2. Những điều kiện mới cho sự tiếp nhận văn minh
ph-ơng Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX ................................................ 61
2.1. Chính sách văn hoá của thực dân Pháp ........................................................ 61
2.1.1. Tổng quan về chính sách văn hoá của Pháp ................................................... 61
2.1.2. Chính sách văn hoá của một số viên Toàn quyền Đông D-ơng ..................... 65
2.2. Sự du nhập và ảnh h-ởng của Tân văn, Tân th- vào Việt Nam ................. 70
2.2.1. Tân văn, Tân th- với công cuộc cải cách ở Nhật Bản và Trung Hoa ............. 71
2.2.2. Sự du nhập và ảnh h-ởng của Tân văn, Tân th- vào Việt Nam ...................... 74
2.3. Sự ra đời của các đô thị kiểu ph-ơng Tây ..................................................... 76
2.4. Sự phát triển mạnh mẽ của báo chí ............................................................... 81
2.4.1. Sự ra đời và phát triển của báo chí Việt Nam ................................................. 81
2.4.2. Một số tờ báo có giá trị văn hoá tiêu biểu ...................................................... 86
2.5. Sự hình thành tầng lớp trí thức Tây học ....................................................... 91

Tiểu kết ch-ơng 2 ................................................................................................... 98
Ch-ơng 3. Sự tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây của những nhà nho
cấp tiến Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX ............................. 101
3.1. Vấn đề đổi mới t- duy ..................................................................................... 101
3.1.1. Nhận thức về văn minh Đông- Tây ................................................................ 101
3.1.2. Sự cần thiết phải duy tân đất n-ớc .................................................................. 106
3.1.3. Phê phán Nho giáo ........................................................................................ 107

4


3.2. Những biện pháp chiến l-ợc duy tân đất n-ớc ............................................. 112
3.3. Mở tr-ờng Tây học .......................................................................................... 118
3.4. Chấn h-ng thực nghiệp ................................................................................... 124
3.5. Thay đổi lối sống.............................................................................................. 128
Tiểu kết ch-ơng 3 ................................................................................................... 133
Ch-ơng 4. Trí thức Tây học với t- t-ởng tiếp biến văn minh ph-ơng Tây. 135
4.1. Thẩm định lại văn hoá truyền thống ............................................................. 135
4.1.1. Bài trừ hủ tục .................................................................................................. 136
4.1.2. Bảo tồn di sản văn hoá dân tộc ....................................................................... 138
4.2. Đề cao văn minh ph-ơng Tây ......................................................................... 142
4.3. Vấn đề tiếp biến văn minh ph-ơng Tây ........................................................ 144
4.3.1. Chống đồng hoá văn hoá ................................................................................ 144
4.3.2. Phê phán mặt trái của văn minh ph-ơng Tây ................................................. 146
4.3.3. Phê phán t- t-ởng lai căng, vong bản ............................................................. 148
4.3.4. Dung hoà, dung hoá và dung hợp văn minh ph-ơng Tây ............................... 153
4.4. Chấp nhận Âu hoá .......................................................................................... 157
4.5. Sự hình thành và phát triển văn hoá Mácxít ................................................ 162
4.5.1. Nguyễn ái Quốc và sự lựa chọn văn hoá Mác xít .......................................... 163
4.5.2. Sự phát triển văn hoá Mácxít thời kỳ 1930- 1945 ......................................... 167

Tiểu kết ch-ơng 4 ................................................................................................... 174
Kết luận .............................................................................................................. 176
Danh mục công trình đã công bố của tác giả 183
Tài liệu tham khảo ........................................................................................ 184

5


Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Tiếp xúc văn hoá Đông- Tây ở Việt Nam thời Pháp thuộc (1858- 1945) là một
vấn đề rộng lớn, một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn hoá Việt Nam. Tiếp xúc
văn hoá Đông- Tây phản ánh những nội dung đa dạng, phong phú, nh-ng cũng muôn
phần phức tạp. Vì vậy tìm hiểu vấn đề tiếp xúc văn hoá Đông- Tây sẽ góp phần làm
sáng tỏ thêm một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn hoá Việt Nam.
Văn hoá ph-ơng Tây với sức mạnh và tính đại diện của nền văn minh công nghiệp
khi xâm nhập vào Việt Nam đã làm cho xã hội Việt Nam bị chao đảo và biến động mạnh.
Một xã hội vốn dựa trên bản thể của nền văn minh nông nghiệp với yếu tố tĩnh tại của
ph-ơng Đông khi buộc phải tiếp xúc với nền văn minh công nghiệp với yếu tố động của
ph-ơng Tây trong môi tr-ờng c-ỡng bức đã tạo ra những độ chênh lệch lớn không thể thu
hẹp khoảng cách trong một thời gian ngắn đ-ợc. iu này đã làm cho đời sống sinh hoạt
văn hoá của ng-ời Việt Nam có nhiều xáo trộn và thay đổi, từ đó làm nảy sinh những thái
độ ứng xử khác nhau đối với văn minh ph-ơng Tây, nhất là trong đội ngũ trí thức. Có
những trí thức quyết tâm bài bác văn minh ph-ơng Tây, quyết giữ gìn văn hoá truyền
thống, v quyết chiến với kẻ thù để bảo vệ độc lập tộc. Có những trí thức bị choáng ngợp
tr-ớc sức mạnh của vn minh ph-ơng Tây, nên có t- t-ởng đầu hàng, lai căng và vong
bản. Một bộ phận trí thức khác tỏ ra tỉnh táo hơn. Họ nhận thấy tr-ớc mắt ng-ời Việt
Nam ch-a thể đánh thắng ng-ời Pháp bằng quân sự vì họ mạnh hơn ta. Để dân tộc tồn tại
và phát triển thì ph-ơng cách tốt nhất là học hỏi văn minh của kẻ đang thống trị mình.
Học kẻ thù là để đánh đuổi kẻ thù. Nh-ng học hỏi kẻ thù nh- thế nào đây và giải pháp

ứng xử nào là thích hợp để giải quyết tình trạng xung đột văn hoá Đông- Tây? Đó là cả
một bài toán nan giải lớn buộc giới trí thức Việt Nam phải đi tìm lời giải đáp.
Sau này thực tế cách mạng Việt Nam đã chứng minh rng con -ờng trí thức
Việt Nam đến với văn minh ph-ơng Tây cũng chính là con đ-ờng để họ đánh thắng

6


thc dõn ph-ơng Tây. Thái độ ứng xử của giới trí thức i vi vn minh phng Tõy vì
thế mà có liờn quan chặt chẽ n vn u tranh gii phúng dõn tc Vit Nam.
Có tầm quan trọng nh- vậy, nh-ng việc nghiên cứu về những thái độ ứng xử của
trí thức Việt Nam đối với văn minh ph-ơng Tây thời Pháp thuộc ch-a nhiều và ch-a
t-ơng xứng. Vì vậy tôi ó lựa chọn đề tài Trí thức Việt Nam đối diện với văn minh
ph-ơng thời Pháp thuộc làm luận án tiến sĩ sử học với mục đích tìm hiểu sâu sắc hơn về
những thái độ ứng xử của trí thức Việt Nam khi phải đối diện với văn minh ph-ơng Tây,
qua đó đánh giá vai trò của ng-ời trí thức đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
trong đó xây dựng một nền văn hoá Việt Nam mới cũng là một nội dung quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam trong
thời kỳ lịch sử cận đại. Những công trình này có thể chia thành các nhóm nh- sau: Trí
thức với vấn đề giải phóng dân tộc; Trí thức với sự nghiệp phát triển giáo dục; Trí thức
với khoa học kỹ thuật; Trí thức với kinh tế; Trí thức với văn hoá, v.v Những công trình
này chủ yếu giới thiệu những đóng góp của những cá nhân hay nhóm trí thức trong từng
lĩnh vực cụ thể. Ch-a có nhiều những công trình mang tính tổng hợp, đánh giá chung về
trí thức Việt Nam thời cận đại.
Những công trình nghiên cứu về trí thức với văn hoá Việt Nam thi cận đại tuy
khá nhiều, nh-ng hầu nh- ch-a có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về thái độ ứng
xử của trí thức đối với văn minh ph-ơng Tây. Nhiều công trình nghiên cứu về ngôn
ngữ, chữ viết, văn học, hội hoạ, âm nhạc, nhiếp ảnh, điện ảnh, kịch nói, v.v trong thời
kỳ này có phản ánh thái độ của ng-ời trí thức Việt Nam đối với văn minh ph-ơng Tây.

Nh-ng vì đề cập đến những vấn đề cụ thể và trong một phạm vi hẹp nên nội dung của
các công trình đó ch-a phản ánh hết đ-ợc những sắc thái t- t-ởng chủ đạo của trí thức
Việt Nam khi phải đối diện với văn minh ph-ơng Tây. Tuy nhiên, cũng có một số công
trình nghiên cứu có đề cập cụ thể hơn đến những thái độ ứng xử của trí thức Việt Nam
đối với văn minh ph-ơng Tây thời cận đại, tiêu biểu nh- sau:

7


Năm 1938, học giả Đào Duy Anh xuất bản cuốn sách Việt Nam văn hoá sử c-ơng.
Cuốn sách này đề cập đến nhiều lĩnh vực văn hoá cụ thể. Mỗi vấn đề đ-ợc trình bày ngắn
gọn và dễ hiểu. Trong cuốn sách, học giả Đào Duy Anh đã nêu ảnh h-ởng của văn minh
ph-ơng Tây đến văn hoá Việt Nam trong những lĩnh vực cụ thể, phân tích những điểm
mạnh và điểm yếu của hai nền văn minh ph-ơng Đông và ph-ơng Tây, và sự yếu thế của
văn hoá Việt Nam tr-ớc sự lấn l-ớt của văn minh ph-ơng Tây. Đặc biệt ông đã nêu và
phân tích đ-ợc thái độ ứng xử của một số phái trí thức Việt Nam đối với văn minh ph-ơng
Tây. Phái thứ nhất là chống đối văn minh ph-ơng Tây. Phái này chủ yếu là những văn thân,
sĩ phu yêu n-ớc chống thực dân Pháp xâm l-ợc rất kịch liệt. Phái thứ hai là tiếp nhận văn
minh ph-ơng Tây. Phái này gồm những nhà nho cấp tiến đ-ợc khai sáng bởi những Tân
văn, Tân th- của Nhật Bản và Trung Hoa. Họ trách móc thực dân Pháp đã không muốn
khai hoá cho ng-ời dân Việt Nam. Phái những nhà nho cấp tiến đ-ợc chia thành hai bộ
phận. Một là chủ tr-ơng sang học ở Nhật Bản những điều mà ng-ời Pháp không chịu dạy
cho ng-ời Việt Nam để về khôi phục độc lập và cải tạo quốc gia (Phan Bội Châu). Hai là
chủ tr-ơng cải cách, xin chính phủ Pháp cải cách chính trị và giáo dục, cổ động cắt tóc,
mặc Âu trang, lập hội buôn và học Quốc ngữ (Phan Châu Trinh). Phái thứ ba (ở đây muốn
chỉ trí thức Tây học) là chấp nhận văn minh ph-ơng Tây trên cơ sở điều hoà giữa cái cũ
(của Việt Nam) và cái mới (của Tây). Phái này cho rằng ng-ời Việt Nam cần phải học hỏi
khoa học, kỹ thuật của ph-ơng Tây để đ-ợc phú c-ờng về vật chất, nh-ng phải giữ lấy
những tinh tuý văn hoá truyền thống. Phái thứ t- có xu h-ớng vong bản, phản đối điều hoà.
Phái này cho rằng nền văn hoá cổ của Việt Nam không còn thích hợp nữa, ng-ời Việt Nam

nên đ-ợc Âu hoá hoàn toàn. Phái thứ năm muốn xây dựng một nền văn hoá hoàn toàn mới
mẻ. Phái này cho rằng văn hoá cũ của Việt Nam đã hủ bại, còn văn minh châu Âu chỉ đem
lại chiến tranh khốc liệt, vì vậy xây dựng một nền văn hoá mới là ph-ơng cách để cứu sống
thế giới. Mặc dù phân thành những phe phái khác nhau, nh-ng học giả Đào Duy Anh tổng
kết lại là có ba thái độ chính trong giới trí thức Việt Nam khi tiếp xúc với văn minh ph-ơng
Tây nh- sau: 1. Đông Tây dung hợp; 2. Âu hoá hoàn toàn; 3. Triệt để cách mệnh.

8


Năm 1973, nhà nghiên cứu lịch sử Trần Văn Giàu đã hoàn thành tập sách Sự phát
triển của t- t-ởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám (3 tập). Trong
tập 1 với tiêu đề Hệ ý thức phong kiến và sự thất bại của nó tr-ớc cách nhiệm vụ lịch
sử, ông đã phân tích khá rõ những t- t-ởng duy tân và thủ cựu của trí thức Nho học Việt
Nam ở nửa cuối thế kỷ XIX. Thái độ của số đông trí thức Nho học Việt Nam lúc này là
chống đối văn minh ph-ơng Tây. Trong tập 2 với tiêu đề Hệ ý thức t- sản và sự bất lực
của nó tr-ớc các nhiệm vụ lịch sử, ông đã nêu những điều kiện mới cho sự xâm nhập và
ảnh h-ởng của hệ t- t-ởng t- sản vào Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX. Chính những điều
kiện mới đó đã làm phân hoá đội ngũ các nhà nho Việt Nam thành hai bộ phận. Một là
những nhà nho bảo thủ vẫn kiên quyết cự tuyệt văn minh ph-ơng Tây. Hai là những nhà
nho cấp tiến muốn tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây để khai dân trí và hiện đại hoá dân
tộc. Sự xuất hiện những nhà nho cấp tiến đã góp phần mở đ-ờng cho xu h-ớng tự
nguyện tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây ở Việt Nam.
Năm 1997, nhà nghiên cứu lịch sử Ch-ơng Thâu đã hoàn thành cuốn sách Đông
Kinh Nghĩa Thục và phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX. Trong phần thứ nhất
của cuốn sách, ông đã trình bày khái quát những điều kiện trong n-ớc và ngoài n-ớc
tác động đến xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX, nhất là trên địa hạt văn hoá- t- t-ởng.
Chính những điều kiện mới đó đã làm nảy sinh phong trào duy tân do những nhà nho
cấp tiến khởi x-ớng và lãnh đạo. Để thực hiện chiến l-ợc khai dân trí, họ đã thành lập
các tr-ờng tân học theo kiểu ph-ơng Tây, tiêu biểu nhất là Tr-ờng Đông Kinh Nghĩa

Thục ở Hà Nội. Phần thứ hai của cuốn sách là s-u tầm và giới thiệu những nguồn tliệu quý (sách, báo và thơ văn) của Tr-ờng Đông Kinh Nghĩa Thục. Những t- liệu này
đã góp phần phản ánh rõ hơn thái độ tự nguyện tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây của
những nhà nho cấp tiến Việt Nam.
Năm 1997, Tr-ờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội đã xuất bản
cuốn sách Tân th- và xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cuốn sách đã trình
bày khá sâu sắc khái niệm Tân th-, nguồn gốc Tân th- và vai trò của Tân th- đối với

9


phong trào cải cách ở châu á cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Cuốn sách đã chỉ ra
những con đ-ờng du nhập Tân th- vào Việt Nam và tác động của Tân th- đối với đời
sống văn hoá, t- t-ởng và chính trị ở Việt Nam. Tân th- chính là một trong những chất
xúc tác quan trọng thúc đẩy sự phân hoá của đội ngũ trí thức Nho học, dẫn đến sự ra
đời của những nhà nho cấp tiến và phong trào duy tân ở Việt Nam. Phong trào duy tân
thực chất là học hỏi văn minh ph-ơng Tây để tự c-ờng.
Năm 2004, tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ hai tại Thành phố Hồ Chí Minh,
nhà nghiên cứu lịch sử và tôn giáo Đỗ Quang H-ng đã trình bày tham luận Mối quan
hệ giữa tôn giáo và văn hoá Việt Nam cận đại. Trong bản tham luận của mình, ông đã
nêu và phân tích những thái độ ứng xử khác nhau của trí thức Việt Nam đối với văn
minh ph-ơng Tây trong thời kỳ cận đại. Ông còn phân định tầng lớp trí thức theo vị trí,
vai trò và t- t-ởng chủ đạo của họ trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Năm 2006, nhà nghiên cứu vn hoá Phan Ngọc đã hoàn thành cuốn sách Sự tiếp xúc
văn hoá Việt Nam với Pháp. Trong cuốn sách, ông đã khái l-ợc sự tiếp xúc giữa văn hoá
Việt Nam với văn hoá ph-ơng Tây tr-ớc khi Pháp xâm l-ợc, bàn luận về những sắc thái tt-ởng trong quá trình tiếp xúc với văn hoá Pháp ở Việt Nam, nhất là qua đội ngũ trí thức, quá
trình tiếp thu văn hoá Pháp qua các kênh nh- truyền giáo, báo chí, giáo dục và khoa học.
Nhìn chung, trong nhiều năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về lịch
sử và văn hoá Việt Nam cận đại trực tiếp hay gián tiếp phản ánh đ-ợc phần nào thái độ
ứng xử và sự tiếp biến văn minh ph-ơng Tây của trí thức Việt Nam. Tổng hợp từ nhiều
công trình nghiên cứu có thể giúp ng-ời nghiên cứu hình dung và phác hoạ đ-ợc những

thái độ ứng xử cơ bản của trí thức Việt Nam đối văn minh ph-ơng Tây thời Pháp thuộc.
3. Đối t-ợng và phạm vi nghiên cứu
Về đối t-ợng nghiên cứu:
1. Đối t-ợng nghiên cứu của lun ỏn là những thái độ ứng xử của trí thức Việt
Nam đối với văn minh ph-ơng Tây thời Pháp thuộc. Cụ thể là thái độ của trí thức Nho

10


học ở nửa cuối thế kỷ XIX, thái độ của trí thức Nho học cấp tiến trong những năm đầu
thế kỷ XX, và thái độ của trí thức Tây học (trí thức t- sản và trí thức Mácxít) trong nửa
đầu thế kỷ XX.
2. Đối t-ợng nghiên của lun ỏn l những thỏi ng x ca trớ thc Vit Nam
(Nho học và Tây học) i vi vn hoỏ truyn thng trong quỏ trỡnh tip xỳc vi vn minh
phng Tõy.
Về phạm vi nghiên cứu:
1. Về thời gian: Nội dung trọng tâm nghiên cứu của luận án nằm trọn vẹn trong thời
kỳ Pháp thuộc từ năm 1858 đến năm 1945. Tuy nhiên, luận án có đề cập đến một số nội
dung chính trong quá trình tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây tr-ớc khi thực dân Pháp xâm
l-ợc Việt Nam (tr-ớc năm 1858).
2. Về không gian: Những vấn đề nghiên cứu chính của luận án nằm ở Việt Nam.
Địa bàn nghiên cứu chủ yếu là Hà Nội và các thành phố lớn, bởi ảnh h-ởng của văn
minh ph-ơng Tây đậm trội nhất trên địa bàn thành thị, và giới trí thức chủ yếu sống ở
địa bàn thành thị.
4. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của lun ỏn tập trung vào việc làm sáng tỏ những nội dung
chính sau:
1. Phân tích đ-ợc các khái niệm về trí thức, văn hoá và văn minh để làm cơ sở lý
luận cho nghiên cứu về vấn đề tiếp xúc văn minh Đông- Tây ở Việt Nam.
2. Khái quát đ-ợc tiến trình tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây ở Việt Nam trong

thời kỳ tiền thực dân để thấy đ-ợc những ảnh h-ởng của nó đối với những giai đoạn về sau.
3. Tìm ra thái độ ứng xử chủ đạo của trí thức Nho học Việt Nam đối với văn
minh ph-ơng Tây ở cuối thế kỷ XIX và tác động của nó đối với vấn đề văn hoá và
nhiệm vụ giải phóng dân tộc.

11


4. Chỉ ra những điều kiện mới trong tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây ở Việt
đầu thế kỷ XX để thấy đ-ợc những biến chuyển từ thái độ đối đầu sang tự nguyện tiếp
nhận văn minh ph-ơng Tây của trí thức Việt Nam.
5. Làm rõ đ-ợc cuộc đấu tranh giữa phái bảo thủ và phái cấp tiến trong đội ngũ
trí thức Nho học Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX, từ đó thấy đ-ợc vai trò tiên
phong của nhà nho cấp tiến trong việc tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây.
6. Phân tích những sắc thái t- t-ởng trong đội ngũ trí thức Tây học Việt Nam để
tìm ra khuynh h-ớng chủ đạo trong tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây.
7. Nêu đ-ợc những đóng góp cơ bản của trí thức Việt Nam đối với việc xây dựng
một nền văn hoá Việt Nam mới trong quá trình tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây.
5. Cơ sở lý luận, nguồn t- liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu
1. Luận án dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin trong nghiên cứu
lịch sử và văn hoá, và cơ sở lý luận của ngành văn hoá học.
2. Luận án sử dụng nhiều nguồn t- liệu khác nhau: T- liệu là các sách nghiên cứu
về văn hoá và văn hoá học. T- liệu là các sách, báo và tạp chí nghiên cứu (trong n-ớc và
ngoài n-ớc) về những vấn đề lịch sử Việt Nam cận đại, đặc biệt là vấn đề văn hoá và giao
l-u văn hoá Đông- Tây. T- liệu chính đ-ợc sử dụng trong luận án là các tờ báo thời Pháp
thuộc. Bởi báo chí thời Pháp thuộc chính là diễn đàn, cơ quan ngôn luận của các giới, các
ngành về các mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và giáo dục. Rất nhiều bài báo đề cập
đến chủ đề thái độ ứng xử trong tiếp xúc với văn minh ph-ơng Tây ở Việt Nam.
3. Luận án vận dụng những ph-ơng pháp nghiên cứu sau: Ph-ơng pháp lịch sử,
ph-ơng pháp nghiên cứu văn hoá học, ph-ơng pháp phân tích, ph-ơng pháp so sánh, ph-ơng

pháp đối chiếu, ph-ơng pháp quy nạp, ph-ơng pháp diễn dịch, ph-ơng pháp tổng hợp.
6. Những đóng góp khoa học của luận án
1. Luận án là một công trình tổng hợp những t- liệu có giá trị về những vấn đề
lịch sử và văn hoá cận đại, đặc biệt là những t- liệu về giao l-u và tiếp xúc văn minh
ph-ơng Đông và ph-ơng Tây ở Việt Nam thời cận đại.

12


2. Luận án làm sáng tỏ diễn tiến của những khuynh h-ớng trong thái độ ứng xử
với văn minh ph-ơng Tây của giới trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc. Việc làm sáng tỏ
những thái độ ứng xử sẽ góp phần làm sáng tỏ lịch sử t- t-ởng Việt Nam nói chung và
lịch sử t- t-ởng văn hoá Việt Nam nói riêng.
3. Luận án là một công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo đối với các nghiên
cứu (trong và ngoài n-ớc) về lịch sử và văn hoá Việt Nam.
7. Bố cục luận án
Bố cục của luận án, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đ-ợc
chia làm bốn ch-ơng nh- sau:
Ch-ơng 1: Những phản ứng ban đầu với văn minh ph-ơng Tây của trí thức Nho
học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX.
Ch-ơng 2: Những điều kiện mới cho sự tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây ở Việt
Nam đầu thế kỷ XX.
Ch-ơng 3: Sự tiếp nhận văn minh ph-ơng Tây của cỏc nhà Nho cấp tiến Việt
Nam trong những năm đầu thế kỷ XX.
Ch-ơng 4: Trí thức Tây học với t- t-ởng tiếp biến văn minh ph-ơng Tây trong
na u th k XX.

13



Ch-ơng 1
những phản ứng ban đầu với văn minh ph-ơng Tây của
trí thức Nho học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX
1.1. Khái niệm trí thức, văn hoá và văn minh
1.1.1. Khái niệm Trí thức
Đến nay đã có nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức. Khái niệm trí thức biến
đổi theo từng thời kỳ lịch sử. Hiện vẫn ch-a có định nghĩa nào đ-ợc thừa nhận là đã
thâu tóm đ-ợc hết nội hàm khái niệm trí thức. Để xác định trí thức, ng-ời ta th-ờng căn
cứ vào hai tiêu chí cơ bản sau: Một là có trình độ học vấn và chuyên môn cao; Hai là
hoạt động trí óc trong các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật.
Theo cách hiểu truyền thống thì trí thức là ng-ời có tài trí và đạo đức. Ngày nay,
ng-ời ta coi trí thức là ng-ời lao động bằng trí óc để phân biệt với ng-ời lao động bằng
chân tay. Trớ thc l nhng ngi cú hc vn cao, cú hiu bit sõu rng v chuyờn mụn
ca mỡnh. Trớ thc cú kh nng phỏt minh v sỏng to ra nhng cỏi mi trong khoa
hc. Trớ thc cú nhim v truyn bỏ kin thc trong cng ng. Trí thức ch l mt tng
lp ch khụng phi l mt giai cp trong xó hi. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã định
nghĩa trí thức như sau: Trí thức là những người lao động trí óc, có học vấn cao về lĩnh
vực chuyên môn nhất định, có năng lực t- duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu
tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội [202].
Trí thức phong kiến Việt Nam đ-ợc đào tạo theo mô hình giáo dục Trung Hoa.
Các sách chính đ-ợc đ-a vào giảng dạy nh- Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Tam tự kinh,
Tứ th- (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ và Mạnh Tử), Ngũ kinh (Kinh Th-, Kinh Thi,
Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu), Bắc sử, Nam sử, v.v Các triều đại phong kiến
Việt Nam th-ờng tổ chức các kỳ thi Nho học để tuyển chọn nhân tài cho đất n-ớc. Các
khoa thi đ-ợc chia theo ba cấp. Thi H-ơng đ-ợc tổ chức theo vùng. Thi Hội đ-ợc tổ
chức tại Kinh đô. Thi Đình đ-ợc tổ chức tại Kinh đô, nhà vua trực tiếp ra đề thi.

14



Nhiều trí thức phong kiến đ-ợc tuyển chọn qua thi cử đã có những đóng góp
quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên, nền giáo dục Nho
học ở Việt Nam vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định, nh- nội dung đào tạo nặng về tầm
ch-ơng trích cú, kinh viện, hoài cổ và xa rời thực tiễn xã hội. Điều này ảnh h-ởng đến
nhận thức và khả năng sáng tạo của trí thức. Quy chế thi cử quá khắt khe nên dễ bỏ sót
nhân tài. Con đ-ờng thi cử chủ yếu là để làm quan.
Trí thức phong kiến Việt Nam có thể đ-ợc chia làm ba dạng nh- sau: Một là trí
thức quan ph-ơng có địa vị cao trong xã hội, đ-ợc triều đình ban cấp nhiều ruộng đất
và bổng lộc, sống cách biệt với nhân dân lao động. Họ trung thành với nhà vua, phụng
sự triều đình và là chỗ dựa quan trọng cho nhà n-ớc phong kiến. Hai là Trí thức ở ẩn là
những ng-ời đi thi nh-ng không đỗ, đỗ đạt nh-ng không ra làm quan, hoặc làm quan
nh-ng bất mãn nên từ quan về quê. Ba là Trí thức bình dân làm nghề dạy học, thầy
thuốc, quan nhỏ, v.v Họ chiếm số đông, sống gần gũi với dân chúng, bảo vệ quyền
lợi cho dân chúng, và có vai trò quan trọng trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm1.
Cũng có thể chia trí thức phong kiến Việt Nam theo học phái nh- trí thức Nho
học, Phật học và Đạo học. Việc phân chia này cũng chỉ mang tính t-ơng đối. Bởi một
trí thức Nho học vẫn có thể có sự hiểu biết uyên thâm về Phật học và Đạo học, nhất là ở
Việt Nam vốn có truyền thống tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật và Đạo).
Trí thức trong thời kỳ Pháp thuộc ở Việt Nam gồm hai bộ phận là trí thức Nho
học (văn thân, sĩ phu) và trí thức Tây học.
1

Việc phân chia này có tính chất t-ơng đối, bởi có những trí thức thuộc cả ba thành phần trên. Nguyễn
Trãi là một ví dụ tiêu biểu. Ông thuộc trí thức quan ph-ơng, vì có công lao lớn đối với sự nghiệp giải
phóng dân tộc và sự hình thành v-ơng triều Lê Sơ nên đ-ợc triều đình tôn vinh là bậc khai quốc công
thần. Nh-ng sau đó do chán ghét sự tranh giành quyền lực trong triều đình, ông xin từ quan về quê ở
ẩn, sống gần gũi với dân chúng. Triều Nguyễn có Nguyễn Khuyến. Ông đỗ đầu ba kỳ thi (thi H-ơng,
thi Hội và thi Đình) nên đ-ợc vinh danh là Tam nguyên Yên Đổ (Yên Đổ là quê h-ơng của ông), đ-ợc
triều đình bổ dụng làm quan. Sau một thời gian làm quan, do chán ghét chốn quan tr-ờng thối nát, ông
xin từ quan về quê ở ẩn. Ông sống gần gũi với dân chúng ở chốn thôn quê. Phan Đình Phùng đỗ đầu kỳ

thi Đình, đ-ợc triều Nguyễn bổ nhiệm làm quan Ngự sử. Do triều Nguyễn đầu hàng thực dân Pháp, nên
ông từ quan về quê ở ẩn. Khi vua Hàm Nghi ban chiếu Cần V-ơng, với uy tín của mình ông đã nhanh
chóng phát động quần chúng nhân dân đứng lên đánh giặc Pháp cứu n-ớc.

15


Theo Từ điển Tiếng Việt thì văn thân là những nhà nho có tiếng trong xã hội cũ
[194, 1101]. Theo nhà nghiên cứu lịch sử Tsuboi (trong cun sỏch Nc i Nam i
din vi Phỏp v Trung Hoa) thì văn có nghĩa là chữ với hàm ý để chỉ ng-ời có học thức
trong xã hội phong kiến Trung Hoa và Việt Nam. Nghĩa gốc của từ thân là cái dải thắt
l-ng tơ, mà các viên chức thời Trung Hoa x-a dùng để cột áo ngang l-ng. Văn thân là từ
dùng để chỉ các viên chức về h-u, các nhân sĩ, thân hào và th- lại ở địa ph-ơng. Khi viết
lịch sử Trung Hoa, ng-ời Anh đã dịch cụm từ văn thân là Gentry, còn ng-ời Pháp dịch là
Petite noblesse, Classe des lettrés. Theo giám mục Puginier, một ng-ời sống khá nhiều
năm ở Việt Nam ở nửa cuối thế kỷ XIX, thì văn thân là những ng-ời thù địch với ng-ời
Pháp. Họ bao gồm các quan chức cũ, tất cả những ng-ời đã đỗ đạt, các thầy đồ và tất cả
những ng-ời lấy học vấn làm nghề, để dự thi tuyển hầu đ-ợc chức quyền. Ng-ời Pháp
hay dùng từ Đảng Văn thân để chỉ những ng-ời chống Pháp ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ
XIX. Thực ra Văn thân không phải là một đảng phái chính trị hay một giai cấp, chỉ là
một tầng lớp xã hội mà các thành viên trong đó có địa vị và nguồn gốc xuất thân rất khác
nhau, nh-ng họ có cùng một nền tảng học vấn rất cơ bản là Nho học.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì sĩ phu là những ng-ời trí thức có danh tiếng trong xã
hội phong kiến [194, 875]. Trần Huy Liệu đã chỉ ra một số đặc tr-ng của sĩ phu: Họ
không có đặc quyền, đặc lợi ở triều đình, cũng không có gia t- điền sản lớn ở thôn quê
nh-ng họ có một uy tín lớn và ảnh h-ởng rộng rãi đối với nhân dân địa ph-ơng. Bên
những địa vị và danh vọng sẵn có từ tr-ớc, họ là đại biểu cho ý thức của một bộ phận
phong kiến chống Pháp, trung vua, yêu n-ớc và thủ cựu. Phản ánh từ một nền kinh tế tự
cấp, tự túc, họ mang nặng tính chất bài ngoại [91, 58].
Trí thức Tây học đ-ợc đào tạo theo mô hình giáo dục của ph-ơng Tây, đặc biệt

là giáo dục Pháp. Khối l-ợng và trình độ hiểu biết của họ phong phú và toàn diện hơn
so với trí thức Nho học. Họ có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp thu và truyền bá các tt-ởng mới.

16


1.1.2. Khái niệm Văn hoá
Gốc từ văn hoá theo cách hiểu truyền thống của ng-ời Trung Hoa là ph-ơng thức
giáo hoá con ng-ời, còn nghĩa nguyên thuỷ của từ văn hoá (culture: tiếng Anh, Pháp)
theo tiếng Latin là trồng trọt. Theo thời gian, khái niệm văn hoá đã thay đổi nhiều,
mang nội hàm rộng và có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong công trình Văn hoá nguyên
thuỷ, xuất bản năm 1871, nhà nhân học ng-ời Anh Edward Burnett Tylor (1832- 1917)
đã đưa ra định nghĩa về văn hoá: Văn hoá hay văn minh, hiểu theo nghĩa rộng nhất về
dân tộc học, là một tổng thể phức hợp, bao gồm tri thức, tín ng-ỡng, nghệ thuật, đạo
đức, luật pháp, phong tục và bất cứ những khả năng, những tập quán mà con ng-ời có
được với tư cách là thành viên xã hội [183]. Nhiều nhà khoa học coi đây là định nghĩa
đầu tiên về văn hoá. Đến nay ng-ời ta đã đ-a ra nhiều định nghĩa về văn hoá. Trong
cuốn sách Văn hoá- tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa, xuất bản năm
1952, hai nhà nhân học ng-ời Mỹ là A. Kroeber và C.Kluckhohn đã tổng hợp và phân
tích 164 định nghĩa về văn hoá thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau [183]. Số định nghĩa văn
hoá hiện nay -ớc đoán là 400, 500, thậm chí là hơn 1.000, thực tế cụ thể là bao nhiêu
thì ch-a có ai tổng kết đ-ợc.
Hiện ch-a có một định nghĩa văn hoá nào thoả mãn đ-ợc yếu tố định tính và
định l-ợng. Quan điểm coi văn hoá là tổng hoà các giá trị vật chất và tinh thần vốn
đ-ợc nhiều học giả chấp thuận trong một thời gian dài tr-ớc đây đến nay đã có sự thay
đổi. Sự phân chia văn hoá thành hai lĩnh vực vật chất và tinh thần có vẻ không hợp lý.
Thật khó xác định cụ thể đâu là sản phẩm vật chất và đâu là sản phẩm tinh thần, bởi có
sản phẩm tinh thần nào lại không đ-ợc thể hiện ra d-ới dạng vật chất, hay một sản
phẩm vật chất nào lại không mang trong nó những giá trị tinh thần.
Trong cuộc sống th-ờng ngày, văn hoá th-ờng đ-ợc hiểu là văn học, nghệ thuật,

mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh, ẩm thực, trang phục, c- xử, tín ng-ỡng, khoa học, công
nghệ, v.v, nhưng việc quy văn hoá vào những vấn đề rất cụ thể này đã mất đi tính
tổng quát của văn hoá. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu, nh- nhân học, dân gian học, địa

17


văn hoá học, văn hoá học, xã hội học, v.v, người ta đều đưa ra các định nghĩa về văn
hoá. Sự đa dạng các định nghĩa văn hoá bắt nguồn từ sự đa dạng trong cách thức tiếp
cận. Các nhà nghiên cứu cần một định nghĩa nh- một công cụ nhận thức để đảm bảo
cho sự nhất quán của những vấn đề văn hoá mà họ quan tâm.
Để đi đến một nhận thức chung về văn hoá, tháng 11- 2001, Đại hội đồng UNESCO
lần thứ 31 đã định nghĩa: Văn hoá nên được xem là một tập hợp các đặc trưng nổi bật về
tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của một xã hội hay một nhóm ng-ời trong xã hội,
và ngoài văn học và nghệ thuật nó còn bao gồm lối sống, ph-ơng thức chung sống, hệ
thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng [183]. Theo UNESCO, có hai loại di sản văn
hoá: Một là di sản văn hoá vật thể (Tangible), nh- đình, đền, lăng, mộ, v.v; Hai là văn
hoá phi vật thể (Intangible), bao gồm các biểu hiện t-ợng tr-ng mà không sờ thấy đ-ợc,
nh- âm nhạc, múa, ngôn ngữ, văn học, phong tục, tập quán, lễ hội, công nghệ, v.v Thực
tế thì cái hữu thể và vô thể cùng tồn tại với nhau nh- một thực thể không thể tách rời.
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm cho rằng các định
nghĩa văn hoá tuy phong phú và đa dạng, nh-ng th-ờng đ-ợc phân làm hai loại là định
nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc tr-ng. Định nghĩa miêu tả liệt kê các thành tố của văn
hoá. Định nghĩa nêu đặc tr-ng có ba khuynh h-ớng cơ bản: 1. Coi văn hoá là những kết
quả (sản phẩm) nhất định, nh- những giá trị, truyền thống, nếp sống, chuẩn mực, t- t-ởng
và thiết chế xã hội mà cộng đồng đã sáng tạo, kế thừa và tích luỹ; 2. Coi văn hoá là những
quá trình, nh- những hoạt động sáng tạo, công nghệ, quy trình, ph-ơng thức tồn tại và phát
triển; 3. Coi văn hoá là những quan hệ, nh- những cấu trúc giữa con ng-ời với con ng-ời,
con ng-ời với tự nhiên. Theo Trần Ngọc Thêm, mỗi một dạng định nghĩa đều có những hạt
nhân hợp lý của mình. Điều tạo nên sự khác biệt giữa chúng là ng-ời ta đã nhấn mạnh vào

những khía cạnh cụ thể của văn hoá mà thôi. Từ sự phân tích các định nghĩa văn hoá, ông
đã rút ra bốn đặc tr-ng cơ bản của văn hoá là: 1. Tính hệ thống để phân biệt văn hoá nhmột hệ thống các giá trị; 2. Tính giá trị để phân biệt văn hoá với những cái phi văn hoá
khác; 3. Tính nhân văn để phân biệt văn hoá khác với các giá trị tự nhiên; 4. Tính lịch sử để

18


phân biệt văn hoá nh- cái đ-ợc tích luỹ lâu đời, và bốn chức năng cơ bản của văn hoá là: tổ
chức xã hội, điều chỉnh xã hội, giáo dục và giao tiếp [200, 22-23].
Trong khi nghiên cứu về sự tiếp nhận trong tiếp xúc văn hoá, các nhà nghiên cứu
đ-a ra rất nhiều khái niệm nh- tiếp thu có chọn lọc, tích hợp, thâu hoá, tiếp biến và
thâu thái. Dù ở dạng khái niệm nào thì nó cũng đều chỉ ph-ơng cách tiếp nhận văn hoá.
Tiếp biến (acculturation) là một thuộc tính của văn hoá, chỉ một quy luật trong sự vận
động và phát triển văn hoá của các dân tộc, diễn ra khi những nhóm ng-ời (cộng đồng,
dân tộc) có văn hóa khác nhau tiếp xúc với nhau. Tiếp biến văn hoá thể hiện sự giao
l-u, tiếp thu, biến giải và chọn lọc những giá trị văn hoá ngoại sinh, cộng sinh với các
giá trị văn hoá truyền thống để nhào nặn, tôi luyện nên một thực thể văn hoá mới. Tiếp
biến phải hàm chứa tính bản vị, nghĩa là nền văn hoá bản địa phải có một nội lực thâm
hậu đủ để tiếp thu các giá trị văn hoá bên ngoài và tạo ra các giá trị văn hoá mới nh-ng
vẫn dựa trên căn tính của mình.
1.1.3. Khái niệm Văn minh
Văn minh là danh từ Hán Việt, với nghĩa văn là vẻ đẹp và minh là sáng, biểu
hiện ở chính trị, pháp luật, văn học, nghệ thuật. Văn minh (Civilisation: tiếng Pháp,
Civilization: tiếng Anh) với nghĩa gốc Latin là trạng thái đã đ-ợc khai hoá, thoát khỏi
trạng thái nguyên thuỷ, để định c- thành cộng đồng có quốc gia, chính quyền và luật
pháp. Khái niệm văn minh đ-ợc sử dụng rộng rãi ở châu Âu từ thế kỷ XVIII để chỉ
trạng thái từ dã man sang khai hoá.
Theo Từ điển Tiếng Việt, văn minh là trình độ phát triển đạt đến mức độ nhất
định của xã hội loài ng-ời, có nền văn hoá vật chất và tinh thần với những đặc tr-ng
riêng [193, 1101]. Còn theo Từ điển Wikipedia thì văn minh là sự kết hợp đầy đủ các

yếu tố tiên tiến tại thời điểm xét đến để tạo nên, duy trì, vận hành và tiến hoá xã hội
loài ng-ời. Các yếu tố của văn minh có thể hiểu gọn lại là di sản tích luỹ tri thức, tinh
thần và vật chất của con ng-ời kể từ khi loài ng-ời hình thành cho đến thời điểm xét
đến. Đối nghịch với văn minh là hoang dã, man rợ và lạc hậu.

19


Một số nhà khoa học đã chia lịch sử phát triển loài ng-ời thành các thời kỳ: Cổ đại,
Trung đại, Cận đại và Hiện đại. Trong mỗi thời kỳ lịch sử đó, xã hội loài ng-ời nổi lên
một số vùng, mà ở đó xã hội dân c- ở điểm tập hợp đ-ợc các giá trị tiên tiến v-ợt trội
trong nhiều lĩnh vực- hình thành nền văn minh, ví dụ văn minh Ai Cập, văn minh Hy LạpLa Mã, văn minh Trung Hoa và văn minh ấn Độ. Một số khác đã xếp loại các nền văn
minh trên thế giới theo nhóm: các nền văn minh suy tàn, văn minh giao thoa và văn minh
thuần nhất. Alvin Toffer phân chia lịch sử thành văn minh tiền nông nghiệp, văn minh
nông nghiệp, văn minh công nghiệp và văn minh hậu công nghiệp. Phần đông các nhà
khoa học ngày nay cho rằng tất cả các nền văn minh đều có quá trình hình thành, phát
triển và suy tàn, nh-ng nền văn minh nhân loại vẫn phát triển không ngừng, vì nó kế thừa
những di sản của các nền văn minh suy tàn tr-ớc đó để lại nh- một quy luật của lịch sử.
Khái niệm văn hoá và văn minh dễ bị đồng nhất. Thực ra văn minh là khái niệm
đ-ợc dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của con ng-ời, ở vào trạng
thái phát triển cao nhất của nền văn hoá, trong một thời kỳ lịch sử nào đó [200, 19- 20].
Văn minh ph-ơng Tây mà luận án đề cập đến là nền văn minh t- bản chủ nghĩa.
Tr-ớc thế kỷ XVI, hai nền văn minh Đông- Tây có đặc điểm chung là văn minh nông
nghiệp. Nh-ng từ thế kỷ XVI, ở châu Âu bắt đầu diễn ra những biến đổi về kinh tế xã
hội, sự phát triển mạnh mẽ của hàng hoá và tiền tệ đã từng b-ớc làm xói mòn thiết chế
phong kiến châu Âu, đặt nền móng cho sự hình thành chủ nghĩa t- bản. Theo Michel
Beaud thì sự hình thành chủ nghĩa t bn từ thế kỷ XVI đến năm 2000 đã trải qua sáu
giai đoạn. Một là: Thế kỷ XVI- XVII: Sự bành tr-ớng thuộc địa, chủ nghĩa trọng
th-ơng và sự khẳng định của giai cấp t- sản. Hai là: Thế kỷ XVIII: Ba cuộc cách mạng
điển hình: cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp và cách mạng công nghiệp Anh. Ba là: Từ

1800- 1870: Sự lớn mạnh của t- bản công nghiệp và sự phản kháng của giai cấp công
nhân. Bốn là: Từ 1873- 1914: Từ Đại suy thoái đến Đại chiến thứ nhất, thời đại của
chủ nghĩa đế quốc. Năm là: Từ 1914- 1945: Từ chiến tranh đến khủng hoảng và sự

20


phân cực của nền văn minh ph-ơng Tây. Sáu là: Từ 1945- 1978: Giai đoạn ba thế
giới và sự biến đổi mới của chủ nghĩa tư bản [8, 409- 433].
Văn minh ph-ơng Tây cận đại đ-ợc hiểu nh- một nền văn minh tiên tiến, gắn liền
với những thành tựu khoa học kỹ thuật và một nền sản xuất công nghiệp tiên tiến. Quá
trình công nghiệp hoá (Industrilization) đ-ợc đồng nghĩa với hiện đại hoá
(Modernization). Các n-ớc thực dân ph-ơng Tây đã sử dụng chiêu bài khai hoá văn
minh (Mission Civilisatrice) cho các dân tộc chậm tiến ph-ơng Đông, nh-ng thực tế là
xâm l-ợc để biến ph-ơng Đông thành nguồn cung nguyên liệu, nhân lực và thị tr-ờng
tiêu thụ. Ng-ời ph-ơng Đông vừa ác cảm với sự tàn bạo của thực dân ph-ơng Tây, vừa
khâm phục sự hiện đại của ph-ơng Tây.
Một số thành tố cơ bản c bn ca văn minh ph-ơng Tây cận đại nh- sau: Một là,
một nền văn minh dựa trên yếu tố kỹ thuật và nhà n-ớc hiện đại. Châu Âu là nơi khởi
x-ớng và là trung tâm của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nơi tiến hành công
nghiệp hoá tr-ớc nhất. Sự phát triển kinh tế- kỹ thuật châu Âu, với đầu tàu là các đô thị,
đã phá vỡ khuôn khổ nhà n-ớc lãnh địa phong kiến, để hình thành nhà n-ớc hiện đại.
Hai là, một nền văn minh có căn tính Kitô giáo. Từ đầu thế kỷ IV sau Công Nguyên,
Kitô giáo đã trở thành quốc giáo của đế chế La Mã. Kitô giáo đã thúc đẩy sự hình thành
các cộng đồng dân tộc và nhà n-ớc ở châu Âu. Đến thời kỳ cận đại, Kitô giáo đã chia
thành bốn nhóm phái là Công giáo La Mã, Tin lành, Chính thống giáo và Anh giáo.
Kitô giáo đ-ợc truyền bá mạnh mẽ ra các vùng đất ngoại Âu. Việc truyền bá này vừa
mang ý nghĩa mở rộng không gian Kitô giáo, vừa mang ý nghĩa là sự hiện diện và cầu
nối của nền văn minh châu Âu. Ba là, một nền văn minh in đậm vai trò của cá thể. Việc
giải phóng cá nhân đã mở đầu cho quá trình xây dựng một xã hội dân sự pháp quyền,

với những khái niệm mới mẻ về tự do, bình đẳng, bác ái, tự do cá nhân, nhân quyền và
dân quyền. Tự do cá nhân là một trong những b-ớc đi đầu tiên của cuộc cách mạng tsản châu Âu, là b-ớc tiến lớn của lịch sử t- t-ởng và xã hội hiện đại. Ngoài ra, văn
minh ph-ơng Tây còn dựa trên bản thể duy lý. Nhà triết học Descartes từng nói Tôi tduy là tôi tồn tại để chỉ tính duy lý và sự vận động của não trạng châu Âu. Chính nhân

21


tố cá nhân và duy lý đã tạo ra xung lực thúc đẩy sự ra đời của các phát minh sáng chế
khoa học, buộc các thành viên trong xã hội phải nỗ lực vận động và tiến lên.
Nền văn minh công nghiệp ph-ơng Tây là một b-ớc tiến vĩ đại của nhân loại. Nó
đã đ-a lao động cơ giới thay thế cho lao động cơ bắp, chuyển nền sản xuất nông nghiệp
lạc hậu sang nền sản xuất công nghiệp tiên tiến, chuyển thiết chế phong kiến sang thiết
chế dân chủ t- sản, tự do hoá cá nhân.
Văn minh ph-ơng Đông cận đại bao gồm nhiều khối văn hoá đ-ợc tạo thành ở
khu vực châu á, châu Phi và châu Mỹ La tinh, nh-ng khu vực mà luận án đề cập ở đây
là khu vực châu á, vốn chịu ảnh h-ởng của văn minh Trung Hoa và ấn Độ. Văn minh
ph-ơng Đông có những thành tố cơ bản sau: Một là dựa trên nền tảng nông nghiệp. Do
lấy kinh tế nông nghiệp làm nền tảng nên ph-ơng Đông ít coi trọng việc nâng cao trình
độ sản xuất, cải tiến công cụ lao động, và khi nông nghiệp đạt đến đỉnh cao thì rơi vào
trì trệ suy thoái. ở ph-ơng Đông không có quá trình tích luỹ nguyên thuỷ t- bản nh- ở
ph-ơng Tây. Sự duy trì quá lâu của ph-ơng thức sản xuất châu á, t- t-ởng ức th-ơng là
một rào cản lớn đối với sự phát triển kinh tế hàng hoá. Đến thời cận đại, ph-ơng Đông
nói chung, châu á nói riêng vẫn cứ luẩn quẩn trong nền kinh tế tiểu nông và khép kín.
Hai là dựa trên nền tảng tín ng-ỡng, tôn giáo đa thần. Yếu tố nông nghiệp chi phối nên
ở ph-ơng Đông tồn tại nhiều tín ng-ỡng và tôn giáo khác nhau. Với nhận thức vạn vật
hữu linh nên ng-ời ph-ơng Đông thờ nhiều vị nhân thần, thiên thần, đá và cây. Châu á
cũng là nơi phát sinh ra các tôn giáo lớn trên thế giới nh- Phật giáo, ấn Độ giáo, Kitô
giáo và Hồi giáo. Phật giáo có ảnh h-ởng rất lớn đến đời sống tôn giáo ở một số n-ớc
châu á nh- Trung Hoa, Srilanka, Nhật Bản, Triều Tiên, Lào, Thái Lan, Campuchia và
Việt Nam. Nho giáo tuy không phải là một tôn giáo, nh-ng có ảnh h-ởng sâu đậm đến

đời sống t- t-ởng ở những n-ớc nh- Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Ba
là dựa trên chủ nghĩa cộng đồng và duy cảm. Tính cá nhân và dân chủ ở các n-ớc châu
á, nhất là chịu ảnh h-ởng của văn minh Trung Hoa, rất trừu t-ợng, đôi khi ng-ời ta dễ

22


nhầm lẫn giữa cái tôi và cái ta trong cộng đồng. Ông vua trong nhà n-ớc quân chủ
chuyên chế có quyền lực rất lớn. Nho giáo với t- t-ởng trung quân đã góp phần củng cố
chế độ quân chủ chuyên chế. Nho giáo cũng coi trọng cộng đồng, trách nhiệm của cá
nhân đối với cộng đồng, coi trọng tình nghĩa hơn lợi ích (Trọng nghĩa khinh tài), lễ
nghĩa hơn luật pháp, đức hạnh hơn trí tuệ, an bần là cao th-ợng, và m-u lợi là nhục nhã.
Nho giáo khó chấp nhận tự do cá nhân, hạnh phúc cá nhân và thể chế dân chủ. Tuy nói
nhật tân hựu nhật tân nh-ng Nho giáo rất khó chấp nhận đổi mới theo h-ớng t- bản.
1. 2. Tiếp xúc với vn minh ph-ơng Tây tr-ớc khi Pháp xâm l-ợc
Theo tài liệu khảo cổ học, tại di chỉ óc Eo (miền Nam Việt Nam) đã phát hiện
đ-ợc một số di vật có xuất xứ từ châu Âu nh- đồng tiền và đèn Lã Mã với niên đại cách
ngày nay gần 2.000 năm. Cho đến nay, ngoài một số di vật tại óc Eo, vẫn ch-a có thêm
phát hiện khảo cổ nào về mối quan hệ giữa châu Âu với Việt Nam thời cổ đại. Năm
1533, đời vua Lê Trang Tông, giáo sĩ Igniato (Inêkhu) đã đến truyền đạo tại vùng biển
Ninh C-ờng (Nam Định). Sự kiện này đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa
Việt Nam và ph-ơng Tây. Tr-ớc khi Pháp xâm l-ợc, tiếp xúc giữa Việt Nam và ph-ơng
Tây chủ yếu diễn ra trên hai lĩnh vực th-ơng mại và truyền giáo.
1.2.1. Qua quan hệ th-ơng mại
Việt Nam là một trong những điểm quan trọng của con đ-ờng tơ lụa th-ơng mại
trên biển Đông. Trong thế kỷ XVII- XVIII, những hoạt động giao l-u buôn bán giữa
Đàng Ngoài và Đàng Trong2 với th-ơng nhân châu Âu diễn ra nhộn nhịp. Nhiều mặt
hàng của Đàng Ngoài và Đàng Trong nh- tơ lụa, gốm sứ, đ-ờng, h-ơng liệu và các sản
vật quý đ-ợc xuất cảng sang các n-ớc châu Âu nh- Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,
Anh và Hà Lan. Th-ơng nhân châu Âu đem đến Đàng Ngoài và Đàng Trong những mặt

hàng nh- len, dạ, thuốc súng, súng và đồng hồ. Quan hệ buôn bán giữa Đàng Ngoài và
Đàng Trong với các th-ơng nhân Trung Hoa, Nhật Bản và Đông Nam á khá phát triển.

2

Trong các thế kỷ XVII- XVIII, ở Việt Nam đã diễn ra cuộc tranh chấp giữa hai thế lực phong kiến là
vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài với chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

23


Một số n-ớc châu Âu đã lập các th-ơng điếm tại các th-ơng phố ở Đàng Ngoài và
Đàng Trong để đặt quan hệ buôn bán lâu dài. Năm 1637, Công ty Đông ấn của Hà Lan
đặt th-ơng điếm ở Phố Hiến (H-ng Yên). Ng-ời Anh lập th-ơng điếm tại Phố Hiến
năm 1672 và ở Kẻ Chợ (Hà Nội) năm 1683. Năm 1681, ng-ời Pháp cũng xây dựng
th-ơng điếm của mình tại Phố Hiến.
Lúc mới giành đ-ợc v-ơng quyền3, vua Gia Long còn quan hệ với th-ơng nhân
châu Âu, nhất là th-ơng nhân ng-ời Pháp. Sau đó nhà vua nghi ngờ ng-ời châu Âu có
m-u đồ xâm l-ợc nên hạn chế dần quan hệ th-ơng mại. Năm 1803, vua Gia Long đã từ
chối yêu cầu đặt một trung tâm th-ơng mại của ng-ời Anh ở Trà Sơn (Quảng Nam).
Năm 1804, vua Gia Long tuyên bố tr-ớc triều đình rằng ng-ời Anh giảo quyệt và dối
trá, không thuộc chủng tộc chúng ta, do đó họ không đ-ợc phép c- trú tại Việt Nam.
Năm 1817, một tàu chiến Pháp đến Đà Nẵng yêu cầu triều Nguyễn thực thi Hiệp -ớc
Versailles năm 17874 cho phép ng-ời Pháp có những đặc quyền buôn bán ở Đà Nẵng
và Côn Lôn. Triều Nguyễn vin cớ ng-ời Pháp đã không thực hiện hiệp -ớc nên từ chối.
Trong thời kỳ vua Minh Mệnh trị vì, triều Nguyễn đã tiến hành chính sách cấm
buôn bán với ph-ơng Tây. Năm 1823, vua Minh Mệnh đã từ chối đề nghị thông th-ơng
của ng-ời Anh. Tháng 12 năm 1832, phái viên của tổng thống Mỹ đến Việt Nam đề
nghị thông th-ơng. Tàu của Mỹ buông neo ở Vũng Lẫm (Phú Yên) chờ tiếp kiến. Nhà
vua đã cử Nguyễn Tri Ph-ơng và Lý Văn Phức đến gặp phái bộ Mỹ để th-ơng thảo. Hai

phái viên của triều đình một mặt khẳng định không ngăn trở quan hệ với Mỹ, mặt khác
yêu cầu ng-ời Mỹ phải tôn trọng luật pháp của Việt Nam, không đ-ợc có những hành
động v-ợt quá giới hạn cho phép của luật pháp. Cuối cùng triều Nguyễn từ chối đề nghị
thông th-ơng của phái bộ Mỹ. Cơ hội thiết lập quan hệ th-ơng mại với Mỹ bị bỏ lỡ.
3

Sau khi đã đánh bại triều Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn ánh lên ngôi vua và lấy niên hiệu là Gia Long,
triều Nguyễn đ-ợc thiết lập.
4
Năm 1787 giáo sĩ Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) đã đ-a con trai của Nguyễn ánh (sau này là vua
Gia Long) là Nguyễn Ph-ớc Cảnh sang Pháp cầu viện quân sự để chống lại nhà Tây Sơn. Hiệp -ớc
Versailles đ-ợc ký kết năm 1787, giữa Pineau de Béhaine đại diện cho Nguyễn ánh và Bá t-ớc
Monmerin đại diện cho vua Louis XVI. Nh-ng vua Louis XVI đã không thể thực hiện hiệp -ớc trên vì
n-ớc Pháp đang đứng tr-ớc thềm cuộc Cách mạng Pháp năm 1789.

24


×