Tải bản đầy đủ (.pdf) (142 trang)

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên trong kỳ thi hội giảng giảng viên tại trường cao đẳng cảnh sát nhân dân i

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.82 MB, 142 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC

TRẦN NGỌC KHIÊM

XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SƢ
PHẠM CỦA GIẢNG VIÊN TRONG KỲ THI HỘI GIẢNG
GIẢNG VIÊN TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG
CẢNH SÁT NHÂN DÂN I

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - Năm 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC

TRẦN NGỌC KHIÊM

XÂY DỰNG BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC SƢ
PHẠM CỦA GIẢNG VIÊN TRONG KỲ THI HỘI GIẢNG
GIẢNG VIÊN TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG
CẢNH SÁT NHÂN DÂN I

Chuyên ngành: Đo lường và Đánh giá trong giáo dục

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lê Thị Mỹ Hà
Mã số: 60140120

Hà Nội - Năm 2015


2


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn TS. Lê Thị Mỹ Hà – Cục Khảo thí
và đảm bảo chất lượng, Bộ Giáo dục&Đào tạo; người đã nhiệt tình, tận tâm
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả cũng xin gửi lời trân trọng cảm ơn đến quý Thầy (Cô) của Viện
Đảm bảo chất lượng giáo dục và các giảng viên tham gia giảng dạy khóa
học đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức về chuyên ngành Đo lường - Đánh giá
trong giáo dục cũng như cung cấp cách thức tiến hành một nghiên cứu khoa
học cho các học viên.
Xin bày tỏ lòng biết ơn của mình đến TS. Ngô Văn Hùng, Hiệu trưởng
- Trường Cao đẳng CSND I, TS. Phạm Tuấn Hiệp, Trưởng phòng Quản lý
đào tạo, Trường Cao đẳng CSND I, những người đã hết sức động viên, tạo
điều kiện giúp đ ỡ và có những gợi ý quý báu cho đ ề tài nghiên cứu của
tôi. Qua đây, tác giả xin chân thành cảm ơn đến toàn thể Ban Giám hiệu, lãnh
đạo, cán bộ các phòng, ban, các khoa, bộ môn, các giảng viên của Trường
Cao đẳng CSND I, đặc biệt là các đồng chí lãnh đạo, các đồng nghiệp Phòng
Quản lý đào tạo và gia đình của tác giả đã động viên, tạo điều kiện, giúp đỡ
tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn này có thể còn những hạn
chế, rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô trong Hội đồng
chấm luận văn để tác giả hoàn thiện nội dung và bổ sung các thông tin nhằm
phát triển các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Xin trân trọng cảm ơn ./.
Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2015.
Tác giả

Trần Ngọc Khiêm


3


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá
năng lực sư phạm của giảng viên trong kỳ thi hội giảng giảng viên tại Trường
Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính
bản thân tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu
nào của người khác. Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện
nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận
văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu
tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng
quy định.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các
nội dung khác trong luận văn của mình.

Hà Nội, ngày 25 tháng 5 năm 2015.
Tác giả luận văn

Trần Ngọc Khiêm

4


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt

Nội dung


GD

Giáo dục

GV

Giảng viên

ĐT

Đào tạo

ĐH, CĐ

Đại học, cao đẳng

CSND

Cảnh sát nhân dân

CAND

Công an nhân dân

NCS

Nghiên cứu sinh

BD


Bồi dưỡng

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

TW

Trung ương

TCCN

Trung cấp chuyên nghiệp

NVSP

Nghiệp vụ sư phạm

NLSP

Năng lực sư phạm

CBQL

Cán bộ quản lý

5


DANH MỤC BẢNG BIỂU


Bảng

Nội dung

Bảng 2.1:

Thống kê giới tính, độ tuổi của GV tham gia Hội giảng

Bảng 2.2:

Thống kê trình độ của GV tham gia Hội giảng

Bảng 2.3:

Thống kê chức danh giảng dạy của GV tham gia Hội giảng

Bảng 2.4:

Thống kê kết quả tham gia Hội giảng của GV

Bảng 2.5.

Đánh giá mức độ quan trọng của hoạt động Hội giảng GV

Bảng 2.6.

Đánh giá tiêu chí đang sử dụng

Bảng 2.7.


Những khó khăn khi đánh giá giảng viên trong kỳ thi Hội giảng giảng
viên tại Trường Cao đẳng CSND I

Bảng 3.1:

Trung bình và độ lệch chuẩn của cả bảng hỏi

Bảng 3.2:

Trung bình và độ lệch chuẩn của từng câu hỏi trong bảng hỏi

Bảng 3.3:

Kiểm định T-test của từng câu hỏi trong bảng hỏi

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Để thúc đẩy phát triển xã hội việc xây dựng, phát triển một nền giáo
dục vững mạnh là nhân tố then chốt. Trước bối cảnh quốc tế và trong nước
hiện nay, Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã xác định: “Phát triển giáo dục và đào
tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư
cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”. Trong các kỳ đại hội vừa qua,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu và
là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội.
Trong giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước và hội nhập quốc tế,

giáo dục ngày càng có vai trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng
một thế hệ người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh - quốc phòng. Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa XI của Đảng nhấn
mạnh: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Phát triển
giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ
Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách
quan.”[3].
Nghị quyết Hội nghị TW8 khóa XI của Đảng tiếp tục khẳng định: “Giáo
dục và đào tạo cùng là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước
và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi
trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.” [3].
Tại Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
tiếp tục khẳng định: Để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thì giải pháp

7


có tính quyết định là xây dựng phát triển đội ngũ nhà giáo [3]. Đặc biệt, qua
gần 20 năm đổi mới, cùng với sự phát triển toàn diện của đời sống kinh tế - xã
hội, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 15/6/2004 về việc
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục,
trong đó nhấn mạnh “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa
mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát
triển giáo dục 2001-2010 và chấn hưng đất nước. Mục tiêu là xây dựng nhà
giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng đủ về
số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị,
phẩm chất lối sống lương tâm, tay nghề của nhà giáo” [1]. Triển khai thực

hiện Chỉ thị của Ban Bí thư, ngày 11/01/2005 Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt Đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục giai đoạn 2005-2010”, đây là văn bản đầu tiên đã cụ thể hóa
và nêu cao vai trò của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, trong đó
xác định mục tiêu là: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
được chuẩn hóa, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng
cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo;
đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước những năm qua có sự đóng
góp to lớn của lực lượng CAND. Lực lượng CAND được Đảng và Nhà nước
giao nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, đấu
tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác trong lĩnh
vực an ninh trật tự. Trước yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc xây dựng bảo vệ
Tổ quốc, lực lượng CAND đã được xây dựng và không ngừng lớn mạnh như
ngày nay là nhờ công tác giáo dục đào tạo trong lực lượng CAND không

8


ngừng phát triển, trang bị cho đội ngũ cán bộ Công an những tri thức khoa
học và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu công tác.
Quán triệt quan điểm phát triển giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà nước,
công tác giáo dục, đào tạo trong lực lượng CAND đã có bước phát triển và
đạt được nhiều kết quả quan trọng. Để đổi mới cơ bản, toàn diện và nâng cao
chất lượng giáo dục, đào tạo, góp phần đảm bảo tốt công tác xây dựng đội
ngũ cán bộ Công an trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước, ngày 22/7/2011,
Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1229/QĐ-TTg phê duyệt Đề án
“Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng của các cơ sở đào
tạo, bồi dưỡng trong Công an nhân dân”, trong đó đã xác định quan điểm
xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên các trường CAND là yếu tố

quyết định để thực hiện đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
trong CAND; xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đạt chuẩn về chất
lượng theo tiêu chuẩn chức danh quy định cho từng bậc học, có cơ cấu đồng
bộ về trình độ và ngành nghề, độ tuổi.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo dục đào tạo
trong CAND là hoạt động dạy giỏi, Hội giảng giảng viên các cấp trong các
trường CAND. Tổ chức hoạt động dạy giỏi, Hội giảng giảng viên nhằm đổi
mới nội dung, phương pháp giảng dạy; khuyến khích và tạo điều kiện cho đội
ngũ giáo viên Công an nhân dân không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ
chuyên môn theo tiêu chuẩn chức danh giảng dạy; phát triển và nâng cao chất
lượng phong trào thi đua dạy giỏi trong các trường CAND. Việc xét công
nhận danh hiệu dạy giỏi nhằm ghi nhận, biểu dương, tôn vinh những nhà giáo
có thành tích trong phong trào thi đua dạy giỏi; đảm bảo điều kiện để giảng
viên, giáo viên, huấn luyện viên trong CAND đạt được các tiêu chuẩn chức
danh cao hơn trong giảng dạy, huấn luyện; là cơ sở để xét danh hiệu thi đua
theo quy định của Nhà nước và của Bộ Công an đối với đội ngũ nhà giáo.

9


Hoạt động dạy giỏi là hoạt động chuyên môn được tổ chức theo năm
học. Trên cơ sở kết quả hoạt động dạy giỏi, nhà trường tổ chức đánh giá rút
kinh nghiệm để cải tiến, nâng cao chất lượng đào tạo và là cơ sở để xem xét
công nhân danh hiệu dạy giỏi cho cá nhân đã có thành tích tham gia.
Một trong những hoạt động nhằm nâng cao năng lực cho GV của Nhà
trường đó là hoạt động Hội giảng GV, hoạt động Hội giảng GV là một trong
những hoạt động dạy giỏi, đều được tổ chức định kỳ nhằm đẩy mạnh phong
trào thi đua dạy tốt trong nhà trường; động viên GV đổi mới nội dung và cải
tiến phương pháp dạy học; tạo điều kiện cho giáo viên học hỏi, trao đổi, nhân
rộng những sáng kiến, kinh nghiệm, phương pháp giảng dạy tích cực, hiệu

quả nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của đội ngũ
giảng viên; biểu dương, tôn vinh những tập thể, cá nhân đạt thành tích cao
trong Hội giảng, kết quả Hội giảng là cơ sở để xét công nhận danh hiệu Giảng
viên dạy giỏi cấp trường và các danh hiệu thi đua khác của GV.
NLSP của GV tham gia kỳ thi được thể hiện qua ba phần thi: Kiểm tra
hiểu biết, Thực hành bài giảng, Hồ sơ bài giảng. Kỳ thi là nơi để các GV
chứng tỏ năng lực của mình cũng như là nơi tôi luyện bản thân để hoàn thiện
các kỹ năng sư phạm cho riêng mình qua đó thúc đẩy phong trào dạy giỏi
trong nhà trường. Tuy nhiên việc đánh giá NLSP của GV tham gia kỳ thi còn
có những mặt hạn chế cụ thể như:
- Về kiểm tra hiểu biết (thi trắc nghiệm, tự luận hoặc kết hợp cả hai):
nội dung, hình thức thi và tiêu chí để chấm điểm chưa được thực hiện tốt; tiêu
chí đưa ra chưa thật sự chính xác, chưa được quy định rõ ràng còn mang tính
chủ quan của người chấm...
- Về thực hành bài giảng: các tiêu chí đưa ra để đánh giá chưa được
thống nhất trong ban giám khảo, còn chung chung, chưa thật chi tiết và chưa
đảm bảo đánh giá đúng NLSP của GV.

10


- Về hồ sơ bài giảng: tiêu chí đưa ra cho một hồ sơ bài giảng tham gia
Hội giảng cần đạt được còn mang tính hình thức, chung chung; các tiêu chí
đánh giá đang áp dụng còn thiếu tính mở, không tạo cho giảng viên sự sáng
tạo, áp dụng máy móc các mẫu mà Bộ Giáo dục&Đào tạo, Bộ Công an đề ra...
Từ những bất cập đó, tôi nhận thấy cần phải xây dựng một bộ tiêu chí
đảm bảo chất lượng, thống nhất để đánh giá NLSP của GV trong kỳ thi Hội
giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng CSND I, qua đó chọn ra được những
GV giỏi, nêu gương để GV trong trường học tập, góp phần nâng cao chất
lượng đào tạo trong nhà trường. Do đó, tôi chọn đề tài : “Xây dựng bộ tiêu

chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên trong kỳ thi hội giảng giảng
viên tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I” để làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng viên trong
các kỳ thi Hội giảng giảng viên nhằm đánh giá khách quan, chính xác nhất
năng lực sư phạm của giảng viên, đồng thời nâng cao chất lượng của kỳ thi
Hội giảng giảng viên qua đó nâng cao chất lượng giảng viên Trường Cao
đẳng CSND I.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chúng tôi chỉ xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng
viên tham gia kỳ thi Hội giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân
dân I.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm giảng viên của nhà trường trong
hoạt động Hội giảng giảng viên hàng năm được xây dựng trên cơ sở nào?

11


Kết quả nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm
giảng viên của nhà trường trong hoạt động Hội giảng giảng viên hàng năm như
thế nào?
5. Nhiệm vụ và sản phẩm kỳ vọng của nghiên cứu
5.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các văn bản pháp quy, tài liệu về hoạt động dạy giỏi, hội
giảng của Bộ Giáo dục&Đào tạo, Bộ Công an và các tài liệu nghiên cứu có
liên quan trong và ngoài nước;
- Nghiên cứu thực trạng các tiêu chí đánh giá NLSP của GV tại các kỳ
Hội giảng giảng viên hằng năm tại Trường Cao đẳng CSND I.
- Đề xuất một bộ tiêu chí đánh giá NLSP của GV khắc phục các hạn

chế còn tồn tại, nâng cao chất lượng đánh giá tại các kỳ Hội giảng GV hàng
năm của Trường Cao đẳng CSND I.
5.2. Sản phẩm kì vọng của nghiên cứu
Xây dựng một bộ tiêu chí đánh giá NLSP của GV để tìm ra các GV
giỏi có năng lực trong kỳ thi Hội giảng GV, nhằm đáp ứng được các yêu cầu
giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường.
6. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
6.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các tiêu chí đánh giá giảng viên trong các kỳ thi Hội giảng giảng viên
hàng năm của Trường Cao đẳng CSND I.
6.2. Khách thể nghiên cứu
- Lãnh đạo nhà trường: Ban Giám hiệu, trưởng/phó các đơn vị, khoa/bộ
môn trong toàn trường;
- Các thành viên hội đồng biên soạn câu hỏi thi, đề thi trong kỳ thi;

12


- Đội ngũ cán bộ tham gia tổ chức kỳ thi cụ thể: phòng đào tạo, các
khoa/bộ môn trong toàn trường;
- GV các khoa/bộ môn là người đang trực tiếp giảng dạy và tham gia
vào hoạt động dạy giỏi mà nghiên cứu hướng tới.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập thông tin, phân loại, hệ thống hóa, phân tích và tổng hợp các tài
liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi:
Điều tra, khảo sát nhằm xác định thực trạng tổ chức các kỳ thi Hội

giảng giảng viên hàng năm, các tiêu chí đánh giá NLSP của GV trong các kỳ
Hội giảng GV tại Trường Cao đẳng CSND I. Để có thông tin làm cơ sở cho
việc phân tích thực trạng, sẽ khảo sát bằng phiếu hỏi cán bộ quản lý kỳ thi,
các cán bộ biên soạn đề thi và một số giảng viên đã tham dự các kỳ thi.
Tổ chức lấy ý kiến các cán bộ quản lý, GV bằng phiếu hỏi để thẩm định
hệ thống tiêu chí đánh giá mới mà luận văn đề xuất.
+ Phương pháp điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp:
Dự kiến sẽ phỏng vấn trực tiếp một số nhà khoa học, cán bộ quản lý
các kỳ thi và GV đã tham gia các kỳ thi.
- Phương pháp thử nghiệm
Tổ chức thử nghiệm nhằm xác định tính khoa học, tính khả thi của hệ
thống tiêu chí đánh giá mới.
7.3. Các phƣơng pháp khác:
- Phương pháp chuyên gia

13


Trao đổi trực tiếp với các chuyên gia để lấy ý kiến tư vấn, góp ý trong
việc xây dựng đề cương nghiên cứu, đề xuất bộ tiêu chí đánh giá GV...
- Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu thu thập được thông qua
khảo sát, thông qua thẩm định bộ tiêu chí đánh giá để từ đó rút ra các kết luận
phù hợp.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Luận văn có 3 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực sư phạm của giảng
viên trong kỳ thi hội giảng giảng viên tại Trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân I


14


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả
của sự nghiệp giáo dục – đào tạo nói chung và chất lượng giáo dục các trường
đại học, cao đẳng nói riêng chính là đội ngũ giảng viên. Sự phát triển của giáo
dục và đào tạo ngày nay đòi hỏi người GV cần có năng lực chuyên môn,
nghiệp vụ sư phạm và năng lực xã hội khác, bởi họ sẽ là những người trực
tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ thành những con
người có đủ năng lực, đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục
thi đua dạy tốt và học tốt. Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo tư
tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất lượng văn hóa và chuyên môn nhằm
thiết thực giải quyết các vấn đề do cách mạng nước ta đề ra và trong một thời
gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa học và kỹ thuật.”[18].
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và
được xã hội tôn vinh. Giáo viên phải có đủ đức, tài.”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 khóa XI của Đảng đã khẳng định: “Xây
dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh,
quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo
từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung
học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình
độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Giảng viên cao đẳng, đại học có


15


trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm.” [3]
Để đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
góp phần đảm bảo tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ Công an trong thời
kỳ CNH – HĐH đất nước, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
1229/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và
chất lượng của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong CAND”, trên cơ sở đó Bộ
Công an đã ban hành Kế hoạch số 128/KH-BCA-X11 quy định về tuyển
chọn, bồi dưỡng, chuẩn hóa về trình độ theo chức danh đội ngũ giáo viên các
trường CAND giai đoạn 2012-2015 và Quyết định số 5620/2012/QĐ-BCA
phê duyệt Đề án thành phần số 5 “Đề án phát triển và nâng cao năng lực chất
lượng đội ngũ giáo viên các trường Công an nhân dân”. Đây là các văn bản
nhằm tập trung các nguồn lực và chính sách thực hiện quy hoạch, tuyển chọn,
xây dựng đội ngũ giáo viên các trường CAND đảm bảo đủ về số lượng, có cơ
cấu hợp lý, đồng bộ theo quy mô, nhiệm vụ đào tạo của từng trường và yêu
cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của toàn lực lượng CAND đến năm
2015 và 2020.
Để có được những GV giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu sự nghiệp đổi mới hiện
nay, đặc biệt đối với các trường thuộc lực lượng vũ trang thì hoạt động Hội
giảng GV hàng năm tại các trường CAND đóng vai trò hết sức quan trọng và
cần thiết trong công tác giáo dục đào tạo của ngành Công an.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Một số hướng tiếp cận năng lực, năng lực nghề nghiệp
Trong tâm lý học, NL là một trong những vấn đề được quan tâm nghiên
cứu bởi nó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn bởi “Sự phát triển năng lực
của mọi thành viên xã hội sẽ đảm bảo cho mọi người tự do lựa chọn một nghề
nghiệp phù hợp với khả năng của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân có


16


kết quả hơn,… và cảm thấy hạnh phúc khi lao động” [17]. Trong nền Tâm lý
học Liên Xô từ năm 1936 đến 1941 có rất nhiều các công trình nghiên cứu về
những vấn đề NL, nổi bật như: NL toán học của V.A. Crutetxki,
V.N.Miaxisop; NL văn học của Covaliop, V.P.Iaguncov những công trình
nghiên cứu này đưa ra được các định hướng cơ bản cả về mặt lý luận và thực
tiễn cho các nghiên cứu sau này của dòng Tâm lý học Liên Xô trong những
nghiên cứu về NL.
Đề cập đến NL nghề nghiệp, trong đó có NLSP nhà nghiên cứu Michel
Develay trong công trình nghiên cứu “Một số vấn đề đào tạo GV” cho rằng:
“Những năng lực nghề nghiệp không phải là cái có sẵn mà được hình thành
thông qua hoạt động thực hành, rèn luyện nghiệp vụ trong suốt quá trình đào
tạo cũng như hoạt động nghề nghiệp” [17].
NL nghề nghiệp trong giáo dục được thực hiện thông qua nhiều hoạt
động. Trong công trình nghiên cứu “Kiểm tra và đánh giá lớp học – Nguyên
tắc và thực hành để giảng dạy hiệu quả”, nhà nghiên cứu McMillan đã đưa ra
một số biện pháp, cách thức và mức độ đánh giá trong giáo dục. Đây là một
căn cứ để xây dựng các tiêu chí đánh giá NLSP của GV [37].
1.1.1.2. Hướng tiếp cận đánh giá năng lực và năng lực dạy học
Khối cộng đồng chung Anh (2003) cho răng đánh giá NL là: “Đo lường
năng lực không chỉ là việc đo lường khả năng thực hiện nhiệm vụ hoặc hành
động học tập. Nó bao hàm việc đo lường khả năng tiềm ẩn của học sinh và đo
lường việc sử dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm
vụ học tập đó tới một chuẩn nào đó” [23].
Năm 2008, nhóm nghiên cứu gồm Laura Goe, Courtney Bell, Olivia
Little đã hoàn thành công trình nghiên cứu có tên “Approaches to Evaluating
Teacher Effectiveness: A Research Synthesis” (Tiếp cận phương pháp đánh

giá giáo viên hiệu quả: Một nghiên cứu tổng hợp) đã trình bày những luận

17


điểm khoa học quan trọng trong việc đánh giá GV, trong đó có đánh giá hoạt
động giảng dạy.
Năm 2012, Natasa Pantic và T.Wubbels đã trình bày mối quan hệ giữa
NLSP với những thay đổi chương trình giảng dạy trong bài nghiên cứu
“Competence-based teacher education: A change from Didaktik to
Curriculum culture”. Theo đó, NL của người GV có thể làm thay đổi chương
trình đào tạo cho phù hợp với thực tế và sự phát triển của xã hội.
Trong công trình nghiên cứu “Mapping the teacher’s role: The value of
defining core competencies for teaching”, Khoa Phát triển văn phòng và
Trung tâm Giáo dục Y tế, Đại học McGill, Canada đã lập Bản đồ vai trò của
GV – Giá trị của xác định NL cơ bản cho việc giảng dạy. Theo đó, những nội
dung cơ bản để xác định NLSP của GV bao gồm: đảm bảo chất lượng của
chương trình giáo dục; đánh giá GV; đánh giá hiệu suất và hoạt động phát
triển nghề nghiệp của GV…
* Ở Mỹ:
Giáo dục từ phổ thông đến đại học của Mỹ đều chú trọng đánh giá NL.
Khi đánh giá NL, những yêu cầu cho GV cũng cao hơn. GV cần phải có các
thành phần NL đánh giá sau:
+ NL miêu tả những kỳ vọng của họ về thành quả học tập và NL học
tập của học sinh.
+ Hiểu biết về các mục đích đánh giá khác nhau.
+ Xác định hoặc thiết kế phương pháp đánh giá phù hợp.
+ Hiểu về các đặc điểm thống kê của kết quả đánh giá và giải thích
kết quả đó.
+ Lưu và phản hồi thông tin về đánh giá cho các đối tượng có liên quan.

+ Biết và ứng dụng các chuẩn về đánh giá trên lớp.

18


+ Hiểu và luôn sẵn sàng chịu trách nhiệm về những hậu quả của đánh
giá của họ cho học sinh và gia đình học sinh.
* Ở Anh:
Theo Davies và Harden (2003), những cản trở chính cho quá trình thực
hiện đánh giá NL là:
+ Việc thiết kế NL bị chia nhỏ thành những NL cụ thể không liên quan
với nhau về hệ thống.
+ Việc thiếu một ngôn ngữ chung giữa GV, học sinh và các đối tượng
liên quan về NL. Các từ ngữ trong đường hướng đánh giá mới không được
dùng giống nhau bởi các đối tượng khác nhau.
+ Việc đưa ra chuẩn đầu ra là NL không chỉ dừng lại ở việc đưa ra
chuẩn đầu ra, mà phải có kèm cả hướng dẫn để làm thế nào có được chuẩn
đầu ra đó nữa cho cả GV và học sinh.
Từ những trở ngại đó, một số giải pháp được nêu ra cho đánh giá NL như:
+ Thiết kế hệ thống các NL cụ thể, các phương pháp đánh giá – không
tách rời từng thành phần.
+ Tập trung chú ý vào cả hệ thống đánh giá, từ việc xác định mục đích,
xây dựng NL, đầu ra, phương pháp, phản hồi…
+ Phân biệt các khái niệm, ví dụ như thực hành và NL.
+ Xác định biện pháp đảm bảo các nguyên tắc chính của đánh giá: độ khả
thi, độ hữu dụng, tính giá trị, tính tin cậy, độ thực tế, ảnh hưởng tới giáo dục.
+ Xây dựng công cụ đánh giá mới.
+ Đào tạo GV và người tham gia đánh giá.
+ Xây dựng thang đo, chuẩn NL, tiêu chí đánh giá.
* Ở New Zealand và Úc:

Tại New Zealand, đánh giá theo chuẩn đầu ra đã bắt đầu được tiến hành
từ những năm 1970. Ngân hàng câu hỏi và các hệ thống thi cử trên diện rộng

19


được xây dựng, các biện pháp đảm bảo chất lượng khác cũng được áp dụng.
GV được quyền tự quyết các phương pháp đánh giá nhưng nhà nước có hỗ trợ
thông qua các hướng dẫn bằng văn bản về cách thực hiện đánh giá. Rất nhiều
hoạt động hỗ trợ đã được cung cấp cho GV và những người thực hiện đánh
giá. Vấn đề quan trọng là việc thu thập thông tin dữ liệu về học sinh và dạy
cho GV cách xử lý lượng thông tin lớn đó để phục vụ giảng dạy. Tuy vậy, dù
thay đổi chương trình và đánh giá vẫn phải thay đổi cùng với các chính sách
phân vùng giáo dục và ngân sách giáo dục (Philips, 2002).
Tại Úc, đánh giá dựa trên chuẩn đã được áp dụng phổ biến và nền giáo
dục nhiều bang đang chuyển dần sang theo hướng đánh giá theo chuẩn đầu ra.
Trong hệ thống đánh giá như vậy, GV trở thành người đánh giá chính và NL
đánh giá trở thành một NL được yêu cầu ở GV.
- 9 nguyên tắc “vàng” trong giảng dạy đại học được Society for
Teaching and Learning in Higher Education (STLHE) xây dựng.
Một trong số 9 nguyên tắc này thì nguyên tắc NLSP của GV là nguyên
tắc hết sức quan trọng. “Bên cạnh việc hiểu biết về chủ đề môn học, GV còn
phải có kiến thức và kĩ năng sư phạm phù hợp, bao gồm khả năng truyền đạt
mục tiêu, lựa chọn phương pháp giảng dạy hiệu quả, tạo cơ hội cho sinh viên
thực hành và đưa ra ý kiến phản hồi, quan tâm đến sự đa dạng trong thành
phần sinh viên. Nếu việc nắm vững một kĩ năng nhất định (ví dụ, phân tích
phê phán, thiết kế các thí nghiệm) là một trong số các mục tiêu của khoá học
và sẽ được xem xét trong đánh giá và cho điểm sinh viên, thì GV tạo đầy đủ
cơ hội cho sinh viên thực hành và nhận ý kiến phản hồi về kĩ năng này trong
quá trình học. Nếu các sinh viên hay nhóm sinh viên có những kiểu học khác

nhau thì GV phải nắm rõ được những điểm khác nhau này và nếu có thể thì
thay đổi kiểu dạy của mình cho phù hợp. Để duy trì NLSP, GV phải tích cực
cập nhật các phương pháp giảng dạy nhằm giúp sinh viên học các kiến thức

20


và kĩ năng phù hợp và tạo ra các cơ hội giáo dục bình đẳng cho các nhóm sinh
viên khác nhau. Điều này đòi hỏi GV phải đọc nhiều tài liệu giáo dục tổng
quan hay chuyên ngành, tham dự hội thảo, hội nghị và thử nghiệm các
phương pháp giảng dạy khác nhau trong một khoá học nhất định hay với một
nhóm sinh viên nhất định”.
Như vậy, chúng ta thấy trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về đánh
giá năng lực người giảng viên, tuy nhiên mỗi nơi lại có xu hướng nghiên cứu
đánh giá phù hợp với nền giáo dục của mình và đánh giá năng lực người
giảng viên ở những điểm khác nhau.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều cán bộ giảng dạy,
cán bộ quản lý giáo dục …quan tâm nghiên cứu về vấn đề bồi dưỡng cho đội
ngũ GV, GV ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao
trình độ, vị trí, nhiệm vụ của người GV và công tác đào tạo, bồi dưỡng đội
ngũ giáo viên. Đặc biệt trong thời gian gần đây, khái niệm năng lực, đánh giá
NL được bàn luận nhiều và được các nhà khoa học giáo dục tập trung nghiên
cứu. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
- Tác giả Lê Thùy Linh (Trường Đại học sư phạm-ĐH Thái Nguyên,
2013) với đề tài “Đánh giá năng lực sư phạm của sinh viên Đại học sư phạm –
Đại học Thái Nguyên theo chuẩn đầu ra”, đã căn cứ theo chuẩn đầu ra để xây
dựng 7 tiêu chí đánh giá NLSP.
- Đề tài: “Thực trạng NVSP giáo viên trung cấp chuyên nghiệp (TCCN)
và những đề xuất xây dựng chuẩn NVSP giáo viên TCCN” năm 2009 do Phan

Văn Kha là chủ nhiệm. Đề tài được nghiên cứu với mục tiêu đánh giá thực
trạng trình độ nghiệp vụ sư phạm (NVSP) GV TCCN, công tác tổ chức đào
tạo, bồi dưỡng NVSP cho GV TCCN, thực trạng về đánh giá NVSP GV

21


TCCN. Trên cơ sở đó đề xuất những nội dung cơ bản đưa vào chuẩn NVSP
của GV TCCN.
- Luận án tiến sĩ: “Nội dung và biện pháp bồi dưỡng trình độ sư phạm
cho GV trường cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam” của Phạm Ngọc Anh (2004).
Luận án đã nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về bồi dưỡng trình độ sư
phạm cho GV trường cao đẳng kỹ thuật, từ đó đề xuất nội dung và biện pháp
bồi dưỡng trình độ sư phạm phù hợp với GV giảng dạy kỹ thuật trong các
trường cao đẳng kỹ thuật ở Việt Nam.
Ngoài ra, còn khá nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học các cấp,
các luận văn, bài báo đề cập đến NLSP của GV. Các công trình nghiên cứu đã
đưa ra được các giải pháp bồi dưỡng, phát triển NLSP của GV cho nhà trường
hay các cấp học. Tuy nhiên, từ trước tới nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về
việc xây dựng tiêu chí đánh giá NLSP của GV trường cao đẳng, đặc biệt là
việc nghiên cứu xây dựng tiêu chí đánh giá NLSP của GV trong kỳ thi hội
giảng GV ở trường cao đẳng thuộc lực lượng CAND. Đề tài này lần đầu tiên
được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể ở Trường Cao đẳng
CSND I.
1.2. Một số khái niệm liên quan
1.2.1. Khái niệm “giảng viên”
GV là khái niệm dùng để chỉ những người làm nhiệm vụ giảng dạy,
giáo dục ở trong các cơ sở giáo dục đại học. Hiện nay, GV được quy định tại
Luật Giáo dục năm 2005, Luật giáo dục Đại học 2012 và Điều lệ Trường Cao
đẳng ban hành kèm theo Thông tư số 14/TT-BGDĐT ngày 28/5/2014 của Bộ

trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo, cụ thể:
- Điều 70 - Luật Giáo dục 2005 quy định về nhà giáo như sau:
“1. Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà
trường hoặc các cơ sở giáo dục khác.

22


2. Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau đây:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;
c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d) Lý lịch bản thân rõ ràng.
3. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ
thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học gọi
là giảng viên”.
- Điểm e, khoản 1, Điều 77 – Luật Giáo dục năm 2005 về trình độ
chuẩn được đào tạo của nhà giáo được quy định như sau: “Có bằng tốt nghiệp
đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với nhà
giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo
giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối với nhà
giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sĩ”.
- Điều 54 - Luật Giáo dục Đại học 2012 quy định về GV:
“1. Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học là người có nhân thân rõ
ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt
trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của
Luật giáo dục.
2. Chức danh của giảng viên bao gồ m trợ giảng , giảng viên, giảng viên
chính, phó giáo sư, giáo sư.
3. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học

là thạc sĩ trở lên. Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do
Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định.
Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học ưu tiên tuyển dụng người có trình
độ từ thạc sĩ trở lên làm giảng viên.

23


4. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình bồi
dưỡng nghiệp vụ sư phạm, quy định việc bồi dưỡng, sử dụng giảng viên”.
- Điều 26 - Điều lệ trường Cao đẳng ban hành kèm theo Thông tư số
14/TT-BGDĐT ngày 28/5/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo quy
định về tiêu chuẩn của GV, cán bộ và nhân viên:
“1. Giảng viên trường cao đẳng phải có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng
tốt; có trình độ chuyên môn, sức khoẻ tốt, lý lịch bản thân rõ ràng.
2. Giảng viên các trường cao đẳng phải có trình độ từ đại học trở lên phù
hợp với các môn học của ngành đào tạo. Ưu tiên tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp
đại học loại khá, giỏi và người có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ có kinh
nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên. Những người
tốt nghiệp các ngành ngoài sư phạm phải có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm”.
Từ những quy định trên, có thể thấy: GV là những nhà giáo giảng dạy ở
các cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân. GV phải có các
tiêu chuẩn theo quy định, có thể tóm tắt các tiêu chuẩn đó là phẩm chất (đức)
và năng lực (tài). Đây là hai bộ phận cấu trúc nên nhân cách của mỗi GV.
Từ những phân tích trên đây có thể nêu khái niệm GV như sau:
GV là những nhà giáo giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng có
nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe, đạt trình độ về
chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu nghề nghiệp; có tiêu chuẩn, chức trách,
nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Nhà nước nói chung và những quy
định đặc thù của từng ngành, từng trường đại học, cao đẳng nói riêng.

1.2.2. Khái niệm “tiêu chí”
Thuật ngữ “tiêu chí” tương đương với thuật ngữ tiếng Anh “Criterion”.
Trong Từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê “tiêu chí là tính chất, dấu
hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm” [27].

24


Theo tác giả các tiêu chí đánh giá NLSP của GV chính là những dấu
hiệu thể hiện được bản chất của NLSP của GV. Hệ thống tiêu chí sẽ chính là
hệ thống các dấu hiệu bản chất về NLSP của GV. Mỗi tiêu chí có thể có nhiều
chỉ số/chỉ báo (indicator) khác nhau. Vậy chỉ số là gì?
Theo quan niệm của tác giả, chỉ số là một giá trị có thể thể hiện bằng
số, hoặc thể hiện bằng cách biểu đạt ngôn ngữ, mỗi chỉ số là một dấu hiệu
trong nhiều dấu hiệu về một tiêu chí hay tin tức dùng để mô tả bản chất của sự
việc, công việc, hoạt động, con người… Các chỉ số/chỉ báo là căn cứ để chủ
thể đánh giá thu thập các minh chứng chứng tỏ đối tượng được đánh giá đạt ở
mức độ nào. Các chỉ số định lượng hay định tính này được thể hiện ra bên
ngoài thông qua các minh chứng.
1.2.3. Khái niệm “đánh giá” (Evaluation)
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh
giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo
hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn hay chuẩn mực. Đánh giá
có thể là đánh giá định lượng (quantitative) dựa vào các con số hoặc định tính
(quanlitative) dựa vào các ý kiến và giá trị.
Theo quan niệm của triết học, đánh giá là xác định giá trị của sự vật,
hiện tượng xã hội, hoạt động hành vi của con người tương xứng với những mục
tiêu, nguyên nhân mong đợi hay chuẩn mực nhất định, từ đó bộc lộ một thái
độ. Nó có tính động cơ, phương tiện và mục đích hành động.
Khái niệm “đánh giá” được sử dụng rất phổ biến trong giáo dục đại

học. Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2007) đánh giá là hoạt động của con người
nhằm phán xét về một hay nhiều đặc điểm của sự vật, hiện tượng, con người
theo những quan niệm và chuẩn mực nhất định mà người đánh giá cần tuân
theo [32].

25


×