Tải bản đầy đủ (.pdf) (134 trang)

Đảng bộ tỉnh phú thọ lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2010

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.05 MB, 134 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

---------------------------

TRẦN CAO QUÝ

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

---------------------------

TRẦN CAO QUÝ

ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ
LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010

Chuyên ngành: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 60.22.56

Hƣớng dẫn khoa học: PGS, TS. ĐOÀN MINH HUẤN



Hà Nội - 2012
2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình này là do tôi
tự nghiên cứu. Công trình được thực hiện dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Minh Huấ n.
Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong
luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan,
khoa học và có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2012

Tác giả

Trầ n Cao Quý

3


DANH MỤC CÁC CHƢ̃ VIẾT TẮT

BHYT

:

Bảo hiểm y tế


CNH,HĐH

:

Công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa

ĐBKK

:

Đặc biệt khó khăn

GDP

:

Tổ ng sản phẩ m trong nước

NXB

:

Nhà xuất bản

UBND

:

Ủy ban nhân dân


XĐGN

:

Xóa đói giảm nghèo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................... 3
Chƣơng 1: ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TRONG NHỮNG NĂM MỚI TÁI LẬP TỈNH (1997-2000) ... 9
1.1. Chiế n lươ ̣c xóa đói , giảm nghèo trong chức năng lãnh đạo công của Đảng c ộng
sản cầ m quyề n ............................................................................................................ 9
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội con người Phú Tho ̣ liên quan đế n công tác
lãnh đạo xóa đói giảm nghèo ..................................................................................... 9
1.1.2. Vấ n đề đói nghèo và xóa đói , giảm nghèo trong thể chế lãnh đạo của
Đảng và thể chế quản lý của nhà nước ..................................................................... 19
1.2. Chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo của
Đảng bô ̣ tỉnh Phú Thọ .............................................................................................. 26
1.2.1. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh ............................................................... 26
1.2.2. Tổ chức thực hiê ̣n và kết quả đạt được ................................................ 32
Chƣơng 2: ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 ............................................... 44
2.1. Bố i cảnh lich
̣ sử và chủ trương đẩ y ma ̣nh xóa đói

, giảm nghèo của Đảng bộ

tỉnh Phú Thọ từ năm 2001 – 2005 ............................................................................ 44

2.1.1. Bố i cảnh lich
̣ sử .................................................................................... 44
2.1.2 Chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng, Nhà nước và vận
dụng của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong điều kiện mới .............................................. 50
2.2. Chủ trương và biện pháp xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm
2006 đến năm 2010 .................................................................................................. 68
2.2.1. Chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước từ
năm 2006 đến năm 2010 .......................................................................................... 68
2.2.2 Chủ trương và kết quả lãnh đạo xóa đói giảm nghèo của Đảng b

ộ tỉnh

Phú Thọ từ 2006 – 2010 ........................................................................................... 76

1


Chƣơng 3: THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ KINH NGHIỆM LÃ NH ĐẠO XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈ O CỦ A ĐẢNG BỘ TỈ NH PHÚ THỌ TƢ̀ NĂM 1997 ĐẾN
NĂM 2010 ............................................................................................................... 95
3.1. Thành tựu và hạn chế ..................................................................................... 95
3.1.1. Những thành tựu của Đảng bô ̣ tỉnh Phú Tho ̣ trong lañ h đa ̣o xóa đói giảm
nghèo ........................................................................................................................ 95
3.1.2. Mô ̣t số ha ̣n chế của Đảng bô ̣ tỉnh Phú Tho ̣ tron g lãnh đạo xóa đói giảm
nghèo ...................................................................................................................... 100
3.2. Mô ̣t số kinh nghiêm
̣ ....................................................................................... 104
3.2.1. Bám sát thực tiễn địa phương vùng trung du để hoạch định chủ trương
đúng đắn và sau khi có chủ trương đúng đắn phải cụ thể hoá thành đề án, dự án làm
cơ sở cho chính quyền, các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế và người dân tổ chức

thực hiện. ................................................................................................................ 104
3.2.2. Cần tạo được sự chuyển biến nhận thức về xóa đói giảm nghèo c ủa cả
hệ thống chính trị địa phương và trong nhân dân. ................................................. 106
3.2.3. Can thiệp chính sách muốn hiệu quả, phù hợp với thực tế, trước hết phải
điều tra, nắm vững thực trạng và nguyên nhân đói nghèo mang tính địa phương..107
3.2.4. Lãnh đạo xoá đói giảm nghèo chỉ có hiệu quả cao khi mở rộng khả năng
xã hội hoá, thu hút sự tham gia của đa chủ thể, của toàn xã hội, nhất là phát huy tính
tích cực, chủ động của đối tượng đói nghèo. .................................................. .......109
3.2.5. Coi trọng lãnh đạo đẩy mạnh cải cách hành chính, đề cao dân chủ cơ sở,
phát huy sự quản lý giám sát của cả xã hội trong triển khai thực hiện các chương
trình, dự án xoá đói giảm nghèo............................................................................. 110
3.2.6. Trong lãnh đạo xoá đói giảm nghèo cần gắn kết hoặc lồng ghép
chương trình XĐGN với các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
khác.........................................................................................................................112
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 115
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................... Error! Bookmark not defined.
PHỤ LỤC.................................................................... Error! Bookmark not defined.

2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là hiê ̣n tươ ̣ng xã hô ̣i mang tính phổ biế n , là hê ̣ quả từ quá
trình phân tầng xã hội, gồ m phân tầ ng xã hô ̣i hơ ̣p thức và phân tầ ng xã hô ̣i phi
hơ ̣p thức. Phân tầ ng xã hội h ợp thức dẫn tới mô ̣t bô ̣ phâ ̣n vươn lên khá gi ả,
giàu có, tự chủ đươ ̣c đời số ng của mình, nhờ lao đô ̣ng chân chính (gồ m cả lao
đô ̣ng giản đơn và lao đô ̣ng phức ta ̣p ); mô ̣t bô ̣ phâ ̣n rơi vào hố nghèo vì nhiề u
lý do khác nhau , chủ yếu là thiế u cơ hô ̣i phát triể n (di tồ n lich
̣ sử , điề u kiê ̣n

điạ lý, rào cản ngôn ngữ, rủi ro xã hội, khả năng tiếp cận các nguồn lực ) hoă ̣c
gặp các giới hạn của điề u kiê ̣n tự thân (sức khỏe thể chấ t, sức khỏe thầ n kinh).
Phân tầ ng xã hội phi hợp thức dẫn tới mô ̣t bô ̣ phâ ̣n phân hóa khỏi cô ̣ng đồ ng
trở nên giàu có không phải nhờ lao động chiń h đáng, mà nhờ tước đoa ̣t thành
quả lao động của người khác , kiể m soát các nguồ n lực phát triể n thông qua
lợi thế quyề n lực chin
́ h tri ̣hoă ̣c làm ăn phi pháp ; còn bộ phận khác rơi vào hố
nghèo vì bị tước đoạt thành quả lao động hoặc thi ếu công bằng về cơ hô ̣i phát
triể n. Vì thế, giải quyết đói nghèo không còn là vấn đề xã hội thuần tú y, mà
đu ̣ng cha ̣m đế n các vấ n đề cơ hô ̣i phát triể n , quyề n con người và kể cả phát
triển thể chế nh ằm phân phố i các nguồ n lực công bằ ng , tạo cho mọi người
đều có cơ hội phát triển (hay phát triển không loại trừ). Nó cũng trở thành
mối quan tâm lớn của các đảng chính trị trong quá trình thực hiện chức năng
lãnh đạo công , đă ̣c biê ̣t khi gây ảnh hưởng t ới quầ n chúng và tranh giành lá
phiế u của cử tri trong các cuô ̣c bầ u cử.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa đói giảm nghèo không chỉ nhằm
giành lấy ảnh hưởng của Đảng đối với dân mà còn đụng chạm đến những vấn
đề tầng sâu bản chất của một cuộc cách mạng của dân, do dân và vì dân. Tính
chính đáng về quyền lãnh đạo của Đảng có đươ ̣c là nhờ nơi dân và Đ ảng có

3


trách nhiệm đem la ̣i quyề n lơ ̣i thiế t thân cho dân , mà ở đó tầ ng lớp nghèo khổ
luôn là đố i tươ ̣ng cầ n đươ ̣c trợ giúp đặc biệt. Vì thế , ngay sau Cách ma ̣ng
Tháng Tám 1945, Đảng Cô ̣ng sản Đông Dương đã coi đói nghèo như một loa ̣i
“giặc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên quan đi ểm xây dựng một đất nước
mà người dân ai cũng có cơm ăn áo m ặc, ai cũng được học hành, được sống
trong tự do, ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, chống “giặc đói” là một trong ba
nhiệm vụ cơ bản của toàn Đảng, toàn dân mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra

ngay sau Cách mạng Tháng Tám 1945. Trong giai đoạn hiện nay, xóa đói
giảm nghèo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, Chính phủ Việt Nam coi xóa đói
giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Xóa đói giảm nghèo có tầm chiến lược trong công cuộc đổi mới đất
nước nhằm thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công
bằng, văn minh. Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới, nền kinh tế
nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống của đại bộ phận nhân dân được nâng lên
một cách rõ rệt. Song, một bộ phận không nhỏ dân cư, đặc biệt dân cư ở vùng
cao, vùng sâu, vùng xa… đang chịu cảnh đói rét, chưa đảm bảo được những
điều kiện tối thiểu của cuộc sống.
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được tái lập vào ngày
1/1/1997. Trong những năm qua, Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đã cụ thể hóa đường
lối đổi mới của Đảng cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Với
sự năng động, sáng tạo, chương trình xóa đói giảm nghèo đã được tỉnh xác
định là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương. Được sự lãnh đạo toàn diện của Tỉnh ủy, sự giám sát chặt chẽ của
Hội đồng nhân dân, sự chỉ đạo sâu sát của Ủy ban nhân dân Tỉnh và sự phối
hợp tổ chức thực hiện giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền, cùng với sự nỗ lực
vươn lên của người nghèo, Chương trình đã được triển khai sâu rộng và trở
thành phong trào xóa đói giảm nghèo trên tất cả các địa phương. Hầu hết các

4


mục tiêu của chương trình đặt ra đều đạt kế hoạch; tốc độ giảm nghèo, tỷ lệ
hộ nghèo của tỉnh tương đương với bình quân chung của cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc lãnh đạo công tác
xóa đói giảm nghèo ở Phú Thọ còn nhiều bất cập: Kết quả xóa đói giảm
nghèo chưa thực sự vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn cao, công tác xây dựng
kế hoạch chương trình, dự án của một số huyện, sở, ngành… chất lượng chưa

cao. Những vấ n đề đó đề u xuấ t phát từ vai trò lañ h đa ̣o của Đảng đố i với công
tác xóa đói giảm nghèo, từ hoa ̣ch đinh
̣ chủ trương , cụ thể hóa thành chương
trình hành động cụ thể và tổ chức chỉ đọa thực hiện.
Do đó, để góp phần làm sáng rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ
đối với chương trình xóa đói, giảm nghèo ở địa phương, từ đó đánh giá thành
công và ha ̣n chế , tổ ng kế t bài h ọc kinh nghiệm là công viê ̣c khoa ho ̣c cầ n
thiế t. Với ý nghiã nêu trên , viê ̣c triể n khai thực hiê ̣n đề tài luâ ̣n văn tha ̣c si ̃
“Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm
1997 đến năm 2010” là vấn đề khoa học có ý nghĩa thực tiễn nhất định.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Do tầm quan trọng của công tác xóa đói, giảm nghèo nên trong thời gian
qua có rất nhiều công trình của các cá nhân và tập thể các nhà khoa học liên
quan đến vấn đề này, cụ thể như sau: Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo ở Việt
Nam của các tác giả Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang, Nguyễn Hữu Tiến, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội 2001; Vấn đề xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn nước ta
hiện nay của các tác giả Nguyễn Thị Hằng, Nxb chính trị quốc gia, 1997; Xóa
đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế của các tác giả Trần Đình Hoan,
Nguyễn Thị Hằng, Bùi Trọng Thanh, Nxb Lao Động, Hà Nội 1997; Tăng
trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
của tác giả Vũ Thị Ngọc Phùng chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
1999; Tác động của nhà nước góp phần xóa đói giảm nghèo trong quá trình

5


CNH, HĐH ở Việt Nam của tác giả Ngô Quang Minh; Xóa đói giảm nghèo ở
vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay – thực trạng và giải pháp của tác giả
Hà Quế Lâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002…Những tác phẩ m này đã
phản ánh tổng quan về nghèo đói, đưa ra các phương pháp đánh giá về nghèo

đói hiện nay, nghèo đói ở Việt Nam qua đó đưa ra một số quan điểm, giải
pháp chung về XĐGN ở Việt Nam. Đây là mô ̣t vấ n đề rấ t cầ n thiế t , mà luận
văn có thể kế thừa đươ ̣c khi giải quyế t đề tài.
Liên quan đến đề tài còn có các báo, tạp chí như: Một số vấn đề nghèo
đói và việc xóa đói giảm nghèo của tác giả Vũ Hiền đăng trên Tạp chí Cộng
sản số 1/ 1997; Nhận thức của Đảng ta về vấn đề xóa đói giảm nghèo của tác
giả Nguyễn Đình Tấn đăng trên tạp chí Lịch sử Đảng số 3/2005; Chính sách
đầu tư cho xóa đói giảm nghèo thực trạng và giải pháp của tác giả Vũ Thị
Vinh đăng trên tạp chí Giáo dục Lý luận, số 4/ 2005; Phát triển bền vững với
xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam của tác giả Lê Quốc Lý đăng trên tạp chí Lý
luận chính trị, số 9/2009; Tích cực xóa đói giảm nghèo thực hiện Di chúc của
Chủ tịch Hồ Chí Minh của tác giả Lê Văn Tích đăng trên tạp chí Lý luận
chính trị, số 6/ 2009 v.v... Các nghiên cứu này đã cung cấp tư liê ̣u thứ cấ p và
sự phân tić h, đánh giá tổng quan về xóa đói giảm nghèo ở Viê ̣t Nam.
Ngoài các công trình nghiên cứu có tính khái quát trên, còn có một số
công trình nghiên cứu cụ thể về chương trình xóa đói giảm nghèo ở địa
phương như: Công tác xóa đói giảm nghèo ở vùng người Mường tỉnh Phú
Thọ của tác giả Nguyễn Anh Dũng đăng trên tạp chí Giáo dục lý luận, số
8/2009; (2005), Công tác xóa đói giảm nghèo ở Phú Thọ - 4 năm nhìn lại, của
tác giả Nguyễn Gia Đa đăng trên Tạp chí Lao động và Xã hội, số 225, tháng
1; Giải quyết việc làm và xóa đói, giảm nghèo ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú
Thọ của tác giả Hoàng Thành đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 1 năm
2006; Tài liệu tập huấn cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp xã, phường của

6


Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ năm 2008, Nxb Lao động – Xã hội...Nhóm các
công trin
̀ h này cung cấ p những tư liê ̣u trực tiế p về XĐGN trên điạ bà


n tin̉ h

Phú Thọ, phản ánh chủ trương chính sách XĐGN của địa phương và quá trình
tổ chức thực hiê ̣n XĐGN của tỉnh Phú Tho ̣.
Thực tế cho thấy, đến nay chưa có công trình khoa học nào được công
bố đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống về công tác xóa đói giảm nghèo của
Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù vậy, các ấn phẩm của
các tác giả nêu trên là nguồn tham khảo quý cho tôi thực hiện đề tài: “Đảng
bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện xóa đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm
2010”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
- Làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo công tác xóa
đói giảm nghèo từ năm 1997 đến năm 2010.
- Đánh giá khái quát kết quả đạt được và những hạn chế, từ đó rút ra
kinh nghiệm vận dụng cho thực tiễn hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ công tác lãnh đạo xóa đói giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Phú
Thọ từ 1997 đến năm 2010.
- Phân tích chủ trương và quá trình tổ chức ch ỉ đạo thực hiện xóa đói
giảm nghèo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2010.
- Làm rõ kết quả và rút ra những kinh nghiệm lãnh đạo xóa đói giảm
nghèo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2010.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là: Những chủ trương,
chính sách của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ về công tác xóa đói giảm nghèo và các
biện pháp chỉ đạo, tổ chức thực hiện của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.

7



Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian - địa bàn: Tỉnh Phú Thọ.
Về thời gian: Từ năm 1997 đến năm 2010.
Về nô ̣i dung : Những nghiên cứu về chủ trươ ng đươ ̣c đề câ ̣p toàn diê ̣n ;
còn ở các phân tích , đánh giá tổ chức thực hiê ̣n chỉ lựa cho ̣n mô ̣t số nô ̣i dung
điể n hình.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở sử dụng các phương pháp nghiên
cứu chủ yếu như: Phương pháp lịch sử và logíc.
Ngoài ra còn kết hợp với các phương pháp khác như: phê phán sử liệu,
phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh… các phương pháp trên được sử dụng
phù hợp với từng nội dung của luận văn.
6. Đóng góp của đề tài
- Luận văn có ý nghĩa tham khảo cho Đảng bộ tỉnh Phú Thọ trong lãnh
đạo chỉ đạo công tác xóa đói giảm nghèo ở địa phương.
- Đóng góp vào thực tiễn thắng lợi chủ trương phát triển kinh tế - xã hội
nói chung và việc xóa đói giảm nghèo của tỉnh Phú Thọ nói riêng.
7. Kết cấu cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Đảng bô ̣ tin̉ h Phú Tho ̣ lañ h đa ̣o xóa đói giảm nghèo trong
những năm mới tái lâ ̣p tin
̉ h ( 1997- 2000).
Chương 2: Đảng bô ̣ tin̉ h Phú Tho ̣ lãnh đạo đẩy mạnh xóa đói giảm
nghèo từ năm 2001 đến 2010.
Chương 3: Thành tựu, hạn chế và kinh nghiệm lãnh đạo xóa đói giảm
nghèo của Đảng bộ Phú Thọ từ năm 1997-2010.


8


Chƣơng 1
ĐẢNG BỘ TỈNH PHÚ THỌ LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO TRONG NHỮNG NĂM
MỚI TÁI LẬP TỈ NH (1997-2000)
1.1. Chiế n lƣơ ̣c xóa đói , giảm nghèo trong chức năng lãnh đạo công của
Đảng cộng sản cầ m quyền
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên, xã hội con người Phú Tho ̣ liên quan đế n công tác
lãnh đạo xóa đói giảm nghèo
Phú Thọ là một tỉnh trung du miề n núi phía Bắc , được thành lập từ năm
1903. Đầu năm 1968, Phú Thọ hợp nhất với Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú.
Sau 29 năm hợp nhất, tỉnh Phú Thọ được tái lập từ ngày 01/01/1997 theo
Nghị quyết kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá IX. Về đơn vị hành chính, tỉnh Phú
Thọ có 13 đơn vị hành chính gồm : Thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và 11
huyện (Hạ Hoà, Thanh Ba, Đoan Hùng, Cẩm Khê, Phù Ninh, Lâm Thao,
Tam Nông, Thanh Thuỷ, Yên Lập, Thanh Sơn, Tân Sơn). Tỉnh Phú Thọ có
274 đơn vị hành chính cấp xã, 14 phường, 10 thị trấn, 250 xã, trong đó có 214
xã miền núi, 07 xã vùng cao, 50 xã đặc biệt khó khăn có 10 xã trong kháng
chiến chống Pháp gọi là an toàn khu (ATK). Thành Phố Việt Trì là trung tâm
kinh tế, chính trị của cả tỉnh.
- Vị trí địa lý: Phú Thọ cách thủ đô Hà Nội hơn 80 km, là điểm tiếp giáp
giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc. Phía Bắc tỉnh
Phú Thọ giáp với Tuyên Quang, Yên Bái; phía Nam giáp với Hoà Bình; phía
Đông giáp với Vĩnh Phúc, Hà Nội; phía Tây giáp với Sơn La . Phú Thọ cách
sân bay quố c tế Nô ̣i Bài 50km, cách cảng Hải Phòng 170km; cách cửa khẩu
quố c tế Hà Khẩ u 200km. Phú Thọ còn là nơi hợp lưu của ba con sông lớn là
sông Hồ ng, sông Đà và sông Lô. Với vị trí như vậy, Phú Thọ chính là cửa ngõ
phía Tây - Bắc của thủ đô Hà Nội và là địa bàn kinh tế trọng điểm phía Bắc,


9


là cầu nối giao lưu kinh tế, khoa học kỹ thuật giữa các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ,
thủ đô Hà Nội với các tỉnh miền núi Tây Bắc, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên
Bái, Lào Cai, Sơn La. Đây là những điề u kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i để Phú Tho ̣ phát triể n
kinh tế xã hô ̣i , thực hiê ̣n XĐGN . Vị trí thuận lợi cho phép Phú Thọ tiếp cận
với các nguồ n lực để phát triể n như khoa ho ̣c

-công nghê ̣, tín dụng , thị

trường...từ đó phát triể n sản xuấ t kinh doanh , giải quyết việc làm , tăng nguồ n
thu nhâ ̣p nâng cao đời số ng cho nhân dân.
- Địa hình: Địa hình Phú Thọ khá đa da ̣ng bao gồ m vùng núi thấ p , đồ i,
thung lũng...chia thành hai tiểu vùng chủ yếu:
+ Tiểu vùng núi thấ p phía Tây và phía Nam của tỉnh chủ yếu thuộc các
huyện Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập, phía tây huyện Cẩm Khê.
+ Tiểu vùng đồi gò thấp, xen kẽ đồng ruộng, dải đồng bằng ven các triền
sông Hồng, sông Lô và sông Đà.
Với đă ̣c điể m như vâ ̣y Phú Tho ̣ có những thuâ ̣n lơ ̣i nhấ t đinh
̣ để phát
triể n kinh tế xã hô ̣i . Vùng núi thấp và vùng gò đồi rất phù hợp cho việc phát
triể n kinh tế đồ i rừng, tuy nhiên với điạ hiǹ h phức ta ̣p viê ̣c phát t riể n hê ̣ thố ng
giao thông vâ ̣n tải rấ t khó khăn , viê ̣c giao lưu ứng du ̣ng tiế n bô ̣ khoa ho ̣c kỹ
thuâ ̣t vào sản xuấ t rấ t ha ̣n chế do vâ ̣y hiê ̣u quả sản xuấ t kinh doanh không
cao, đă ̣c biê ̣t là ở những vùng sâu vùng xa . Đây là mô ̣t tác nhân trực tiế p dẫn
tới tiǹ h tra ̣ng đói nghèo của đồ ng bào cư trú ở vùng miề n núi như huyê ̣n Tân
Sơn, Yên Lâ ̣p.
- Khí hậu: Phú Thọ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ

rệt: mùa hè thời tiết nóng nực, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10; mùa đông
ít mưa và lạnh, kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình
trong năm là 23 độ C, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1700 mm. Độ
ẩm trung bình năm khoảng 86%. Khí hậu phù hợp cho sự sinh trưởng và phát
triển cây trồng, sinh sản và phát triể n vật nuôi.

10


- Về tài nguyên thiên nhiên: Phú Thọ có tài nguyên thiên nhiên tương đối
thuâ ̣n lơ ̣i để phát triể n kinh tế -xã hội . Những tiề m năng này nế u đươ ̣c qui
hoạch và tổ chức khai thác một cách hợp lý thì s ẽ mang lại hiệu quả kinh tế
cao giải quyế t có hiê ̣u quả các vấ n đề xã hô ̣i.
Tài nguyên đất: Phú Thọ có tổng diện tích đất tự nhiên 353.247,76 ha,
trong đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 99.702,46 ha, đất lâm nghiệp là
167.943,51 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản là 4.489,03 ha, các loại đất nông
nghiệp khác là 44,32 ha [20, tr. 22].
Tổng diện tích đất đó được chia thành 22 loại đất, hợp thành 12 loại chủ
yếu và phân thành 4 nhóm: Nhóm đất feralit đỏ vàng, với diện tích lớn 33%
tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, có độ phì khá, phù hợp cho phát triển cây
công nghiệp lâu năm. Nhóm đất feralit trên núi, chiếm gần 30% tổng diện tích
tự nhiên, chủ yếu thích hợp cho phát triển trồng rừng và tái sinh rừng. Đất phù
sa cổ: Loại đất này chiếm tỷ lệ nhỏ 9,2%, thường là đồi bát úp, thích hợp với
trồng rừng, cây ăn quả lâu năm. Còn lại là đất phù sa bồi và đất dốc tụ, thích
hợp với việc gieo trồng các cây lương thực, cây lúa, cây màu ngắn ngày. Có
thể nói, tài nguyên đất của Phú Thọ không những tạo điều kiện thuận lợi phát
triển một nền nông nghiệp toàn diện, mà còn cung cấp nguyên liệu cho các
ngành công nghiệp chế biến.
Tài nguyên nước: Phú Thọ có nguồn tài nguyên nước dồi dào, với ba con
sông lớn chảy qua là sông Thao, sông Đà và sông Lô hợp thành hệ thống sông

Hồng. Ngoài ra, Phú Thọ còn có gần 130 sông suối nhỏ, nằm rải rác khắp nơi
trong tỉnh và còn nhiều hồ , đập, trong đó có trên 110 chiếc có dung tích trên
200.000 m3. Với mạng lưới sông hồ phong phú như vậy không chỉ giúp cho
việc cung cấp nước cho sinh hoạt, mà còn tạo điều kiện phát triển giao thông
đường thuỷ, phát triển kinh tế thủy sản và đáp ứng cho công tác thuỷ lợi phục
vụ sản xuất nông nghiệp.

11


Khoáng sản: Phú Thọ có tài nguyên khoáng sản phong phú về chủng
loại, với 215 mỏ quặng và điểm quặng. Trong đó có 20 mỏ lớn và vừa, 52 mỏ
nhỏ và 143 điểm quặng. Điển hình có những loại khoáng sản có trữ lượng khá
và chất lượng tốt như: cao lanh - feldspat (gồm 49 mỏ, với trữ lượng dự báo
trên 20 triệu tấn); đá xây dựng có ở 55 khu vực, với trữ lượng khoảng gần 940
triệu m3... Đây cũng là điều kiện thuận lợi cho viê ̣c phát triể n công nghiê ̣p
khai khoáng của tỉnh.
Tài nguyên rừng, đất rừng: Phú Thọ có đất lâm nghiệp với diện tích là
167.943,51 ha, đất rừng sản xuất là 103.518,23 ha, đất rừng phòng hộ
53.842,16 ha và đất rừng đặc dụng là 10.583,12 ha [20, tr. 22]. Với độ che
phủ lớn đạt gần 48%, rừng đã cung cấp một khối lượng lớn nguyên liệu gỗ
cho công nghiệp chế biến, điều hoà khí hậu.
Tài nguyên du lịch: Thiên nhiên ưu đãi cho Phú Thọ nhiều cảnh quan
và danh thắng kỳ thú như : khu di tích lịch sử Đền Hùng ở thành phố Việt Trì ,
vườn quốc gia Xuân Sơn ở huyện Tân Sơn , rừng cảnh quan Núi Nả , đầm Ao
Châu ở huyện Hạ Hoà , khu mỏ nước nóng Thanh Thuỷ ... Đây là mô ̣t tiề m
năng rấ t lớn để Phú Thọ phát triển kinh tế du lịch.
Tóm lại, Phú Thọ có vi ̣trí địa lý , địa hình, khí hậu và tài nguyên thiên
nhiên về cơ bản là thuâ ̣n lơ ̣i cho viê ̣c phát triể n kinh tế -xã hội. Đây là lơ ̣i thế
cầ n đươ ̣c nắ m bắ t và phát huy để biế n nh ững tiềm năng này thành nguồn lực

thực tế có như vâ ̣y mới có thể thực hiê ̣n XĐGN mô ̣t cách hiê ̣u quả.
- Đặc điểm về kinh tế
Kinh tế Phú Tho ̣ đa ̣t tố c đô ̣ tăng trưởng khá ổ n đinh
̣ . Cơ cấ u kinh tế có
sự chuyể n dich
̣ theo hướng tí ch cực , tỷ trọng giá trị sản xuất của khu vực
nông lâm ngư nghiê ̣p trong tổ ng giá tri ̣sản xuấ t GDP có chiề u hướng giảm

;

trong khi tỷ tro ̣ng của khu vực công nghiê ̣p và xây dựng có chiề u hướng tăng .
Tuy nhiên, kinh tế Phú Tho ̣ ph át triển chưa thật đồng đều (giữa các ngành ,

12


giữa các điạ bàn khác nhau ). Cơ cấ u kinh tế có thay đổ i nhưng vẫn còn châ ̣m ,
nhấ t là ngành dich
̣ vu ̣ phát triể n châ ̣m và thiế u vững chắ c.
Nông nghiê ̣p : là ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh, kinh tế hô ̣ gia điǹ h ,
kinh tế đồ i rừng , kinh tế trang tra ̣i đươ ̣c khuyế n khić h phát triể n . Tuy nhiên,
cơ cấ u kinh tế nông nghiê ̣p châ ̣m đươ ̣c thay đổ i , tỷ trọng trồng trọt cao (trên
70%). Ứng dụng khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t vào s ản xuất chậm và không đồng đều .
Tâ ̣p tu ̣c thói quen sản xuấ t của người dân la ̣c hâ ̣u , tình trạng du canh du cư
còn phổ biến ở địa bàn miền núi của tỉnh . Năng suấ t và sản lươ ̣ng sản xuấ t
lương thực của Phú Tho ̣ chỉ xế p vào

hạng trung bình của các tỉnh trung du

miề n núi và còn kém xa mức trung biǹ h của cả nước.

Công nghiê ̣p : Phú Thọ là một trong những tỉnh hình thành khu công
nghiệp sớm nhất cả nước với sự ra đời của khu công nghiệp Việt Trì năm
1962. Tiếp đó, hàng loạt các nhà máy được xây dựng, phát triển và tồn tại đến
ngày nay như Công ty giấy Bãi Bằng, Công ty Supe phốt phát và hoá chất
Lâm Thao, Nhà máy sản xuất đường, mì chính; phía Bắc của Tỉnh có khu chế
biến chè, sản xuất giấy, sản xuất xi măng, khu công nghiệp. Công nghiệp tuy
đã có một số cơ sở , nhưng công nghệ còn lạc hậu , máy móc cũ , quản lý yếu,
nhiều cơ sở làm ăn không có hiê ̣u quả.
Dịch vụ: Đã phát triể n tương đố i phong phú , đa da ̣ng, bước đầ u thić h ứng
với cơ chế thi ̣ trường song tố c đô ̣ phát triể n còn châ ̣m, mô ̣t số ngành chưa đáp
ứng được nhu cầu phát triển của tỉnh . Giao thông vâ ̣n tải có nhiề u loa ̣i hiǹ h :
Đường bộ , đường sắ t , đường sông…Nhưng chấ t lươ ̣ng còn thấ p , trong tổ ng
số 4650 km đường bô ̣ thì có đế n 3840 km đường đấ t . Thông tin liên la ̣c kém
phát triển: 0,04 máy/100 dân (1996). Xuấ t nhâ ̣p khẩ u có nhiề u biế n chuyể n ,
cơ cấ u mă ̣t hàng xuấ t khẩ u ngày càng hơ ̣p lý hơn . Song mă ̣t hàng xuấ t khẩ u
chủ yếu là nô ng sản : Quế , lạc, chè, chuố i. Ngoài ra còn có hàng may mặc ,
mây tre đan. Du lich
̣ kém phát triể n, giá trị sản xuất du lịch còn nhỏ.
13


Nhìn chung, Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo, kinh tế chậm phát triển và
chưa đồng đều giữa các vùng, chưa khai thác tố t tiề m năng và điề u kiê ̣n của
tỉnh. Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế của tỉnh thấp , kế t cấ u hạ tầng chưa phát
triển kịp so với yêu cầu , viê ̣c áp du ̣ng tiế n bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t vào sản xuấ t
còn hạn chế , lợi thế về hấp dẫn đầu tư nước ngoài so với các tỉnh trong khu
vực còn thua kém . Đây là mô ̣t thách thức lớn đố i với công cuô ̣c XĐGN do
thiế u các nguồ n lực cầ n thiế t để thực hiê ̣n.
- Đặc điểm xã hội
Về dân số: Theo số liệu thống kê năm 1999, dân số của tỉnh Phú Thọ là

1.261.500 người (là tỉnh đông dân thứ 2 của vùng Đông Bắc sau Bắc Giang ),
mật độ dân số trung bình 360 người/km2. Dân cư phân bố không đề u ; nơi có
mâ ̣t đô ̣ dâ số đông đúc là thành phố , thị xã và huyện đồng bằng; nơi có mâ ̣t đô ̣
dân số thưa là vùng núi phiá đông và phiá tây của tỉnh . Toàn tỉnh có 21 dân
tộc, trong đó dân tô ̣c Kinh chiế m 85,7%, dân tô ̣c Mường chiế m 12,9%, các
dân tô ̣c còn la ̣i chiế m 1.4%. Dân số miền núi: 955.000 người, chiếm 74% dân
số toàn tỉnh, dân tộc thiểu số có gần 227.000 người chiếm 21,5% dân số miền
núi, 15% dân số toàn tỉnh [3, tr. 1].
Về lao động : Phú Thọ có lực lượng lao động dồi dào

(năm 1999 có

662.500 người trong đô ̣ tuổ i lao đô ̣ng). Lao đô ̣ng tâ ̣p trung phầ n lớn trong khu
vực sản xuất nông nghiệp (cơ cấ u lao đô ̣ng theo khu vực kinh tế năm 1997:
Nông-lâm- ngư nghiê ̣p : 80.5%; Công nghiê ̣p và xây dựng

10.6%; Dịch vụ

8.9%). Chấ t lươ ̣ng lao đô ̣ng còn thấ p, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ là 20%.
Như vậy, Phú Thọ là một tỉnh đông dân , có tiềm năng lao động rất dồi
dào. Đây vừa là thuận lợi la ̣i vừa là thách thức đố i với sự phát triể n kinh tế - xã
hô ̣i nói chung và đố i với công cuô ̣c XĐGN nói riêng của tin̉ h . Với nguồ n lao
đô ̣ng dồ i dào n ên có điề u kiê ̣n đáp ứng nhu cầ u về nguồ n nhân lực của công
cuô ̣c CNH,HĐH. Tuy nhiên khi qui mô dân số lớn , số người trong đô ̣ tuổ i lao
14


đô ̣ng nhiề u, song phầ n lớn chưa qua đào ta ̣o , sẽ tạo sức ép lớn đối với sự phát
triể n kinh t ế-xã hội, nhấ t là vấ n đề giải quyế t viê ̣c làm cho người lao đô ̣ng .
Là một tỉnh nghèo , tiề m lực ha ̣n chế , lại phải cân đối cho một lượng dân cư

lớn sẽ rấ t khó khăn cho viê ̣c huy đô ̣ng nguồ n lực hỗ trơ ̣ trực tiế p cho các mu ̣ c
tiêu XĐGN.
Về giáo dục - đào tạo: Giáo dục phổ thông được phát triển với

3 loại

hình công lập , bán công và dân lập . Quy mô, mạng lưới trường, lớp của tỉnh
Phú Thọ những năm qua tiếp tục được mở rộng theo hướng đa dạng hoá các
loại hình đào tạo. Chấ t lươ ̣ng giáo du ̣c trong ngành ho ̣c , bâ ̣c ho ̣c đươ ̣c nâng
cao. Chương trình phổ cập giáo dục bậc trung học và nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực được triển khai thực hiện; chú trọng giáo dục hướng nghiệp,
dạy nghề cho học sinh.
Giáo dục chuyên nghiê ̣p và da ̣y nghề đươ ̣c chú ý phát triể n . Tỉnh còn có
01 trường đại học, 09 trường cao đẳng, 04 trường trung cấp chuyên nghiệp,
27 trường, trung tâm, cơ sở dạy nghề...[20, tr. 265]
Sự phát triể n của giáo du ̣c đào ta ̣o có ý nghiã quan tro ̣ ng đố i với công
cuô ̣c XĐGN. Thực tế cho thấ y , mô ̣t nguyên nhân cơ bản dẫn đế n nghèo đói là
thấ t ho ̣c, cho nên, thiế u khả năng tiế p câ ̣n và ứng du ̣ng tiế n bô ̣ khoa ho ̣c kỹ
thuâ ̣t vào sản xuất, không có cơ hô ̣i tìm kiế m viê ̣c làm , không có thu nhâ ̣p và
rơi vào hố nghèo. Với mô ̣t nề n giáo du ̣c tương đố i phát triể n , Phú Thọ có điều
kiện có thể nâng cao trình độ dân trí , nâng cao chấ t lươ ̣ng nguồ n nhân lực ,
thực hiê ̣n thắ ng lơ ̣i mu ̣c tiêu XĐGN.
Lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ: Công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân
dân được chú trọng, tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh, chất lượng khám
và chữa bệnh có nhiều tiến bộ. Hệ thống y tế tiếp tục được củng cố và phát
triển, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện và liên huyện được đầu tư theo
hướng kiên cố hoá , thiết bị y tế từng bước được trang bị hiện đại . Năm 1999
15



toàn tỉnh có 16 bê ̣nh viê ̣n, 11 phòng khám đa khoa, 270 trạm y tế xã, phường;
40% số xã phường có bác sỹ , 100% số xã có y sỹ sản nhi , nữ hô ̣ sinh . Với
những điề u kiê ̣n cơ bản về y tế , Phú Thọ có điều kiện chăm sóc sức khỏe cộng
đồ ng, đây là mô ̣t thuâ ̣n lơ ̣i cho công tác XĐGN , giúp người dân tránh được
những rủi do do bê ̣nh tâ ̣t gây nên và có đủ thể lực để tiế n hành la o đô ̣ng sản
xuấ t.
- Khái quát tình hình nghèo đói ở tỉnh Phú Thọ
Về mức độ nghèo: Sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế - xã hội của tỉnh
đã đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống nhân dân từng bước được
cải thiện. Tuy nhiên, Phú Thọ vẫn là một tỉnh nghèo. Khi tái lập tỉnh (năm
1997), tỷ lệ hộ đói nghèo của tỉnh là 21% (theo chuẩn được quy định tại
Thông báo số 1751/LĐTBXH); năm 2001 (năm đầu tiên triển khai thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 2001 - 2005), tỷ lệ đói
nghèo của tỉnh là 19,6% trên tổng số hộ. Tập trung chủ yếu ở các huyện miền
núi xa xôi khó khăn như Yên Lập, Thanh Sơn, Thanh Thuỷ, Cẩm Khê...Năm
2005, toàn tỉnh còn 15.198 hộ nghèo chiếm 5,0% (theo chuẩn cũ). Theo chuẩn
mới, số hộ nghèo trên địa bàn tỉnh lên tới 94.472 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ
31,08% tổng số hộ. Trong đó:
Đối tượng chính sách ưu đãi (thương binh, gia đình liệt sỹ): 3.088 hộ;
Đối tượng chính sách xã hội: 2.347 hộ;
Đối tượng là hộ dân tộc thiểu số: 24.652 hộ;
Hộ không có hoặc thiếu đất sản xuất nông nghiệp đối với hộ sản xuất
thuần nông: 14.649 hộ.
5 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao là Hạ Hoà, Đoan Hùng, Cẩm Khê, Yên
Lập và cá biệt là Thanh Sơn tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 57%. Toàn tỉnh có 88 xã
có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên [60, tr. 6].

16



Mức độ nghèo đói của tỉnh có sự khác nhau rõ rệt giữa các huyện , các
tiể u vùng , trong đó các huyê ̣n miền núi tỷ lệ hộ nghèo rất cao. Các huyện
Thanh Sơn, Yên Lập, tỷ lệ hộ nghèo trên 20%, đặc biệt huyện Tân Sơn, tỷ lệ
hộ nghèo chiếm tới 42,78%. Huyện Lâm Thao và Thành phố Việt Trì có tỷ lệ
hộ nghèo thấp nhất tỉnh với tỷ lệ hơn 3%.
Đặc điểm nghèo đói ở tỉnh Phú Thọ:
Thứ nhất, nghèo đói ở Phú Thọ tập trung cao ở các huyện miền núi vùng
sâu, vùng xa. Do tác động của các yếu tố khí hậu, đất đai, thời tiết cùng các
yếu tố có tính chất lịch sử - xã hội, đói nghèo ở Phú Thọ tập trung chủ yếu
vào các huyện miền núi như Thanh Sơn, Yên Lập, Sông Thao, Tân Sơn.
Huyện có tỷ lệ nghèo đói rất cao như Tân Sơn 42,78%, Thanh Sơn 24,77%,
Yên Lập 29,61% [65, tr. 1].
Các xã đói cũng tập trung ở các vùng núi cao Tân Sơn, Thanh Sơn, Yên
Lập, ở các xã này thường đi lại khó khăn (chủ yếu là đường đất), thiếu điện,
thiếu nước sạch sinh hoạt, nhiều xã chưa có chợ, vài xã chung nhau 1 chợ và
họp theo phiên hàng tháng vài lần. Trong tổng số 252 xã chỉ có 182 xã có chợ,
trong đó đặc biệt các huyện Đoan Hùng chỉ có 13 xã có chợ trên tổng số 27
xã; huyện Hạ Hoà có 12 xã có chợ trên tổng số 32 xã... [20, tr. 273]. Kinh tế
chủ yếu còn mang nặng tính tự cấp tự túc, các công trình thủy lợi yếu kém
hoặc chưa có, chế độ canh tác còn lạc hậu . Các hoạt động văn hóa, giáo dục,
y tế đều gặp khó khăn.
Thứ hai, khoảng cách giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị cách nhau
khá xa. Sau gần 25 năm đổi mới , tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh . Các
thành phố, thị xã, thị trấn được đầu tư mở mang và nâng cấp cơ sở hạ tầng lên
rất nhanh. Quá trình đô thị hóa đã góp phần quan trọng vào việc đẩy nhanh
nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, nó cũng làm cho khoảng cách
đời sống giữa đô thị và nông thôn ngày càng xa.
17



Khu vực đô thị có thu nhập cao hơn, được hưởng thụ rất nhiều điều kiện
ưu đãi về cơ sở hạ tầng như điện, nước sạch, giao thông, thông tin liên lạc,
phát thanh, truyền hình, báo chí, v.v... Trái lại, người dân nông thôn và nhất là
nông thôn vùng sâu, vùng xa, vùng cao thì thu nhập thấp, cơ sở hạ tầng yếu
kém, đời sống văn hóa nghèo nàn, đặc biệt khoảng cách về thu nhập và mức
sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng lớn. Điều đó đang tạo ra sự bất
bình đẳng rất lớn về tiếp cận với cơ hội phát triển và thụ hưởng thành quả của
sự nghiệp công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n đa ̣i hóa hiện nay.
Về tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn và thành thị cũng khác xa nhau. Nếu tỷ lệ hộ
nghèo ở thành thị tính chung trong toàn tỉnh là 5,8% thì tỷ lệ đó ở nông thôn
lên tới 27,36% [58, tr. 1]. So sánh một cách đơn giản thì có thể thấy tỷ lệ hộ
nghèo ở nông thôn cao gấp gần 5 lần so với ở thành thị. Trình độ phát triển
kinh tế - văn hóa xã hội của các dân tộc trong tỉnh cũng khác xa nhau. Trong
điều kiện kinh tế thị trường, khi các dân tộc đông người sống ở vùng thấp, có
trình độ dân trí cao hơn, khả năng tiếp thu công nghệ tốt hơn, có điều kiện
tiếp cận thị trường hơn thì kinh tế phát triển, đời sống được cải thiện. Ngược
lại, các dân tộc ít người sống ở vùng sâu, vùng xa do trình độ dân trí thấp,
phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển, đời sống mọi mặt rất
khó khăn. Đó cũng là một thách thức và mâu thuẫn lớn trong tiến trình
XĐGN của tỉnh.
Thứ ba, nghèo đói ở nông thôn Phú Thọ tập trung ở nhóm hộ thuần nông.
Một đặc trưng của nghèo đói ở Phú Thọ tập trung ở khu vực nông thôn miền
núi, trong đó thường xuyên rơi vào nhóm hộ thuần nông không có nghề phụ ,
thiếu việc làm hoặc việc làm đạt hiệu quả thấp , thu nhập thấ p , không có tích
lũy. Ngay cả tái sản xuất giản đơn các hộ này cũng khó thực hiện được, vì vậy
đời sống của các hộ này gặp rất nhiều khó khăn , dẫn đế n hiê ̣n tươ ̣ng di cư từ

18



nông thôn đế n đô thi ̣tim
̀ kiếm việc làm . Việc di cư giúp lao đô ̣ng nông thôn
có được việc làm, tìm kiếm thu nhập, xóa đói giảm nghèo. Song đây điề u này
cũng dẫn đến nhiều lệ lụy như chuyển tệ nạn xã hội đô thị về nông thôn , thay
đổ i lố i số ng văn hóa . Trong điều kiện kinh tế thị trường, nghèo đói làm gia
tăng các tệ nạn xã hội, và ngược lại, chính các tệ nạn xã hội lại đẩy đói nghèo
đến mức độ gay gắt hơn. Hậu quả dẫn tới là phân hóa về thu nhập, mức sống,
phân tầng xã hội mạnh mẽ hơn. Do đó, các chính sách XĐGN đòi hỏi phải có
sự phối hợp và lồng ghép các chính sách kinh tế với các chính sách xã hội.
Mặc dù số hộ nghèo đói của Phú Thọ còn lớn, song về cơ bản các hộ này vẫn
còn tư liệu sản xuất, trước hết là đất canh tác. Điều đó cho thấy, người nghèo
đói ở đây không phải là người dân bị bần cùng hóa, bị mất hết tư liệu sản
xuất. Đây là điều kiện rất quan trọng trong việc hoạch định các chính sách
XĐGN. Bởi vì còn tư liệu sản xuất chủ yếu, nếu được nhà nước và cộng đồng
hỗ trợ về vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm làm ăn thì chính những người nghèo,
hộ nghèo có thể vươn lên tự cởi trói cho mình để hòa nhập vào sự phát triển
chung của xã hội.
1.1.2. Vấ n đề đói nghèo và xóa đói , giảm nghèo trong thể chế lãnh đạo của
Đảng và thể chế quản lý của nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng: “Chủ nghĩa xã hội trước hết
làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn
việc làm, được ấm no và sống một cuô ̣c đời hạnh phúc” [47, tr. 603]. Vì vậy,
“Nếu chúng ta giành được độc lập tự do rồi mà dân vẫn c ứ chết đói, chết rét
thì tự do độc lập cũng không có nghiã lý gì . Dân chỉ hiể u rõ g iá trị của tự do ,
của độc lập khi được ăn no , mă ̣c đủ” [47, tr. 87]. Trách nhiệm của Đảng và
Chính phủ là không ng

ừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho

19



nhân dân, “làm cho người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giả, người khá
giả thì giàu thêm” [47, tr. 287]. Đó chiń h là đảm bảo quyề n phát triển không
loại trừ trong xã hô ̣i – con đường đúng đ ắn nhất để nhân dân tin và theo
Đảng, phát huy được năng lực của mọi thành phần trong xã hội vì một nước
Viê ̣t Nam hòa bình, đô ̣c lâ ̣p, dân chủ, thố ng nhấ t và giàu ma ̣nh.
Từ khi giành đươ ̣c chính quyề n , nhấ t là sau khi đấ t nước đươ ̣c thố ng
nhấ t, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiề u chủ trương , chính sách nhằm xóa
đói giảm nghèo . Nhâ ̣n thức về đói nghèo và xóa đói giảm nghèo của Đảng ,
Nhà nước ngày càng sâu sắc, toàn diện và phù hợp với thực tế hơn. Qua nhiều
cuộc khảo sát, nghiên cứu, các nhà khoa học và quản lý ở các bộ, ngành đã đi
đến thống nhất đưa ra khái niệm đói và nghèo ở Viê ̣t Nam . Theo đó thì đói là
tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu, không
bảo đảm nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. Còn nghèo là tình trạng một
bộ phận dân cư chỉ có khả năng thoả mãn một phần các nhu cầu cơ bản của
con người và có mức sống tối thiểu của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
Đói, nghèo và hộ nghèo là những khái niệm mang tính chất lịch sử, có
thể biế n đổi theo thời gian và không gian , và phụ thuộc nhiều vào đ ặc điểm,
điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm tâm lý, truyền thống của của
mỗi vùng, khu vực.
Có nhiều tiêu chí xác định chuẩn đói nghèo. Tuy nhiên, quan niệm về
đói nghèo hay nhận dạng nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng
nhóm dân cư không có sự khác biệt đáng kể. Tiêu chí chung nhất để xác định
nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ
bản của con người: ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, văn hoá,...Sự khác nhau chung
nhất là thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi. Điều này chủ yếu phụ thuộc
vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội cũng như phong tục, tập quán của từng

20



vùng, từng quốc gia, song bên ca ̣nh đó có m ột phần do yếu tố chủ quan của
các nhà nghiên cứu và những nhà hoạch định chính sách.
Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt trong xã hội ai thuộc diện nghèo
và ai không nghèo để từ đó có chính sách trợ giúp cho những người nghèo
tiếp cận với thành quả của sự phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm công bằng
xã hội giữa các nhóm dân cư. Ở Việt Nam, chuẩn nghèo áp dụng trong công
tác XĐGN theo tiêu chí thu nhập bình quân đầu người . Chuẩn nghèo được
tính toán dựa vào mức thu nhập tối thiểu/người/ngày tính ra đơn vị lương thực
quy gạo hay ra tiền Việt Nam và khác nhau giữa các vùng

. Trong quá triǹ h

xóa đói giảm nghèo , nhà nước đã ba n hành chuẩ n nghèo và nhiề u lầ n điề u
chỉnh chuẩ n nghèo cho phù hơ ̣p với từng giai đoa ̣n phát triể n của đấ t nước

.

Cụ thể:
Giai đoạn 1993-1995: Chia hộ đói nghèo trong cả nước thành hai loại là
hộ đói và hộ nghèo; chia cả nước thành hai vùng đói nghèo là thành thị và
nông thôn, trong đó quy đinh:
̣
+ Hộ đói là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
13kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 8 kg/người/tháng đối với
khu vực nông thôn
+ Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng
dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15 kg đối với khu vực nông thôn.
Giai đoạn 1996-1997: Chia hộ đói nghèo trong cả nước thành hai loại là

hộ đói và hộ nghèo; chia cả nước thành ba vùng đói nghèo là thành thị, nông
thôn miền núi và hải đảo , nông thôn đồng bằng và trung du , trong đó quy
đinh:
̣
+ Hộ đói là hộ có thu nhập lương thực quy gạo bình quân dưới
13kg/người/tháng, tính cho mọi vùng.

21


×