Tải bản đầy đủ (.docx) (76 trang)

THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ DẦU ĐẬU TƯƠNG BẰNG BỘT LÁ CHÙM NGÂY ( MORINGA OLEIFERA ) TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (388.12 KB, 76 trang )

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ QUÝ BIÊN

THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ DẦU ĐẬU
TƯƠNG BẰNG BỘT LÁ CHÙM NGÂY ( MORINGA
OLEIFERA ) TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ
SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Thái Nguyên - 2019


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LÊ QUÝ BIÊN

THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ DẦU ĐẬU
TƯƠNG BẰNG BỘT LÁ CHÙM NGÂY ( MORINGA
OLEIFERA ) TRONG KHẨU PHẦN THỨC ĂN CỦA GÀ
SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
Ngành: Chăn nuôi
Mã ngành: 8.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Giảng viên hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Từ Trung Kiên
Chữ ký phòng đào tạo



Chữ ký khoa chuyên môn

Chữ ký giảng viên hướng dẫn

Thái Nguyên - 2019
2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa
từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn đã được cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2019
Học viên

Lê Quý Biên

3


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè,
đồng nghiệp và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ long kính trọng và biết ơn
sâu sắc tới giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Từ Trung Kiên - Giảng viên khoa Chăn nuôi Thú
y – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức,

thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin bày tỏ long biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Chăn nuôi Thú y,
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập,
thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận
lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./.

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2019

Học Viên

Lê Quý Biên

4


MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐC
TN1
TN2
ĐVT
KL
KP
KDĐT

VNĐ
TT



ĐỐI CHỨNG
THÍ NGHIỆM 1
THÍ NGHIỆM 2
ĐƠN VỊ TÍNH
KHỐI LƯỢNG
KHẨU PHẦN
KHÔ DẦU ĐẬU TƯƠNG
THỨC ĂN
VIỆT NAM ĐỒNG
TUẦN TUỔI
GÀ ĐẺ

5


DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1. Sơ đồ thí nghiệm
Bảng 2.2. Khẩu phần thức ăn thí nghiệm
Bảng 2.3. Giá trị dinh dưỡng của thức ăn thí nghiệm
Bảng 3.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm (%)
Bảng 3.2. Khối lượng gà trước và sau khi kết thúc thí nghiệm (gam)
Bảng 3.3. Tỷ lệ đẻ qua các tuần của gà thí nghiệm (%), (n = 3)
Bảng 3.4. Năng suất trứng gà thí nghiệm qua các tuần đẻ
Bảng 3.5. Tiêu tốn thức ăn và chi phí thức ăn cho 10 quả trứng
Bảng 3.6 Một số chỉ tiêu về thành phần hóa học của trứng gà thí nghiệm
Bảng 3.7. Một số chỉ tiêu chất lượng trứng gà thí nghiệm (n=40)
Bảng 3.8. Độ đậm màu lòng đỏ trứng ở các giai đoạn thí nghiệm (n=8)
Bảng 3.9. Hiệu quả kinh tế của việc thay thế khô đỗ tương bằng bột MO


6


DANH MỤC HÌNH

7


TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Quý Biên
Tên Luận văn: THAY THẾ MỘT PHẦN PROTEIN KHÔ DẦU ĐẬU TƯƠNG
BẰNG BỘT LÁ CHÙM NGÂY ( MORINGA OLEIFERA ) TRONG KHẨU PHẦN
THỨC ĂN CỦA GÀ SINH SẢN LƯƠNG PHƯỢNG
Ngành: Chăn nuôi

Mã ngành: 8.62.01.05

Tên cơ sở đào tạo: Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Đối tượng, nội dung nghiên cứu :

Cây thức ăn chùm ngây ( Moringa oleifera ), Gà sinh sản.
Thay thế một phần Protein khô dầu đậu tương bằng bột lá chùm nây (
Moringa oleifera ) trong khẩu phần thức ăn gà trứng.
Phương pháp nghiên cứu :

Thí nghiệm gồm 378 gà trứng, từ 35-42 tuần tuổi, chia làm 3 lô, mỗi lô
có 42 gà nhắc lại 3 lần (42 x 3 = 126 con).
Lô đối chứng ăn khẩu phần cơ sở (KP có KDĐT, không có bột lá chùm
ngây ), lô TN1, TN 2, thay thế 20%, 30 % protein của khô dầu đậu tương

trong KPCS bằng protein của bột lá chùm ngây.
Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ nuôi sống, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, thành
phần hóa học của trứng, các chỉ tiêu lý học của trứng.
Kết quả chính và kết luận :

* Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp khá hoàn chỉnh về kỹ thuật sử dụng
trong chăn nuôi gà trứng. Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng trong giảng
dạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thức ăn và dinh dưỡng vật nuôi.

8


* Ý nghĩa thực tiễn
Thay thế khô dầu đậu tương bằng bột lá chùm ngây trong khẩu phần
thức ăn gà trứng sẽ là một hướng mới để nâng cao chất lượng sản phẩm chăn
nuôi.
Phần 1.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong chăn nuôi gia súc, gia cầm hiện nay thức ăn chiếm từ 60- 70% giá
thành sản phẩm, do vậy nghiên cứu về dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi luôn
được các nhà khoa học quan tâm, việc sử dụng các chất có nguồn gốc thực vật
làm nguyên liệu bổ sung vào thức ăn chăn nuôi là một hướng đi đúng và cấp
thiết.
Lá chùm ngây là nguồn dinh dưỡng bổ sung các hợp chất hữu cơ tự
nhiên tốt cho sức khoẻ con người, được sử dụng để điều trị bệnh theo nhiều
cách khác nhau. Tổ chức thế giới WHO và FAO khuyến cáo sử dụng cho các
bà mẹ thiếu sữa, trẻ em suy dinh dưỡng và là giải pháp lương thực cho thế
giới thứ ba (DanMalam và cs, 2001; McBurney và cs, 2004; Fahey, 2005). Lá

chùm ngây chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin thiết yếu
như vitamin A, C và E. So sánh hàm lượng một số dinh dưỡng chính trong lá
Chùm ngây với một số loại thực phẩm phổ biến cho thấy hàm lượng vitamin
C nhiều hơn quả cam 7 lần; vitamin A nhiều hơn cà rốt 4 lần; canxi nhiều hơn
sữa 4 lần; chất sắt nhiều hơn cải bó xôi 3 lần; chất đạm (protein) nhiều hơn 2
lần so với yaourt; kali nhiều 3 lần so với quả chuối (Donovan, 2007). Ngoài
ra, trong lá Chùm ngây còn chứa hàm lượng cao carotenoid hoạt tính sinh
học, tocopherols và vitamin C có giá trị trong việc duy trì cân bằng chế độ ăn
uống và ngăn ngừa các gốc tự do – là nguyên nhân gây lên nhiều bệnh hiểm

9


nghèo (Smolin và Grosvenor, 2007). Lá giàu provitamin, bao gồm cả axit
ascorbic, carotennoids (Lako và cs, 2007) và tocopherols (Gomez- Conrado
và cs, 2004; Sanchez-Machado và cs, 2006). Các nghiên cứu dịch tễ học đã
chứng minh rằng các loại rau quả giàu carotenoid có liên quan đến giảm nguy
cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoái hoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷ
tinh thể (Lakshminarayan và cs, 2005; Bowman và cs, 1995; Krichevsky và
cs, 1999). Ngoài các provitamins, lá Chùm ngây cũng được coi là nguồn
giàu khoáng chất (Gupta và cs, 1989), polyphenol (Bennett và cs, 2003),
flavonoid (Lako và cs, 2007; Siddhuraju và cs, 2003), alkaloid và protein
(Sarwatt và cs, 2002; Soliva và cs, 2005). Những chất dinh dưỡng thiết yếu có
thể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng và chống lại nhiều căn bệnh mãn
tính.
Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các ảnh hưởng của Moringa
oleifera đến năng suất, chất lượng sản phẩm của vật nuôi tại Việt Nam. Chính
vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của lá chùm ngây ( Moringa
oleifera ) đến năng suất và chất lượng trứng gà Lương Phượng”.
2. Muc tiêu của đề tài.

- Xác định ảnh hưởng của thay thế một phần khô dầu đậu tương bằng
bột lá chùm ngây trong khẩu phần thức ăn cho gà sinh sản Lương Phượng
đến tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, nằn suất và chất lượng trứng.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc thay thế một phần protein khô đầu
đậu tương bằng bột lá chùm ngây trong khẩu phần thức ăn của gà đẻ Lương
Lhượng.
3. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp khá hoàn chỉnh về kỹ thuật sử dụng lá
cấy thức ăn chùm ngây trong chăn nuôi gà trứng. Kết quả nghiên cứu này có

10


thể sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thức ăn và
dinh dưỡng vật nuôi.
4. Ý nghĩa thực tiễn
Thay thế khô dầu đậu tương bằng bột lá chùm ngây trong khẩu phần
thức ăn gà sinh sản sẽ là một hướng mới để nâng cao chất lượng sản phẩm
chăn nuôi.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1. Giới thiệu về cây chùm ngây ( Moringa oleifera ).
1.1.1. Đặc điểm chung
Cây chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) thuộc ngành ngọc lan
Magnoliophyta, lớp ngọc lan Magnoliopsida, bộ Chùm ngây Moringales, họ
Chùm ngây Moringaceae, chi Chùm ngây Moringa (Foidl, 2001). Chùm ngây
là loài cây có sự phân bố địa lý rộng rãi nhất ở dãy núi Himalaya thuộc Ấn
Độ, Pakistan, Bangladesh và Afghanistan. Đây là loài cây sinh trưởng nhanh
và được sử dụng bởi người La Mã cổ đại, người Hy Lạp và Ai Cập, là cây

trồng quan trọng ở Ấn Độ, Ethiopia, Philippines, Sudan và đang phát triển tại
miền Tây, Đông và Nam thuộc châu Phi, châu Á nhiệt đới, châu Mỹ Latinh,
vùng Caribbean, Florida và quần đảo thuộc Thái Bình Dương (Fahey, 2005).
Ở Việt Nam chùm ngây là loài duy nhất của Chi Chùm ngây được phát
hiện mọc hoang từ lâu đời tại nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận, Bình
Thuận, vùng Bảy Núi ở An Giang, đảo Phú Quốc v.v. Tuy vậy trước đây cây
ít được chú ý, có nơi trồng chỉ để làm hàng rào và chỉ trong vài chục năm trở
lại đây khi hạt cây từ nước ngoài được mang về Việt Nam, được trồng có chủ

11


định và qua nghiên cứu người ta thấy cây có nhiều tác dụng đặc biệt nên
tưởng là cây mới du nhập.
Cây chùm ngây rất dễ trồng, có thể trồng từ hạt, hom cành, hom củ và
trồng được quanh năm. Vùng thiếu nước nên trồng vào mùa mưa, tức khoảng
tháng 4, tháng 5. Cây được trồng nhiều ở những vùng đất khô hạn khắc
nghiệt nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới. Cây chuộng đất ráo nước, nhiều cát, dù là
đất xấu cũng dễ mọc, chịu được hạn hán, ưa nắng, hầu như không bị sâu bệnh
hại do đó chăm sóc cây không cần điều kiện gì đặc biệt về phân bón và nước
tưới. Tuy nhiên cây không chịu được úng ngập và dễ chết nếu không được
thoát nước tốt. Hệ thống rễ phát triển mạnh nếu được trồng từ hạt, phình to
như củ màu trắng với rễ bên thưa. Nếu trồng bằng cách giâm cành, hệ thống
rễ sẽ không phát triển như trồng bằng hạt. Cây bắt đầu cho quả từ thân, cành
và nhánh sau 6 đến 8 tháng trồng (Brossa, 2008).
Gỗ chùm ngây khá mềm, giòn nên thân cành dễ bị gãy trong mưa bão.
Do đó nếu trồng cây để khai thác sử dụng người trồng thường cắt ngọn cây
khi đạt độ cao nhất định, vừa tiện thu hái; vừa kích thích cây đâm tược, nảy
cành theo cấp số nhân như tán dù; vừa hạn chế thiệt hại do gãy đổ.
Ở Việt Nam cây trổ hoa tập trung chủ yếu từ tháng 1 đến tháng 2 hàng

năm. Cây ra hoa rất sớm, thường ra ngay trong năm đầu tiên, khoảng 6 tháng
sau khi trồng. Quả chín, hạt giống phát tán khắp nơi theo gió và nước, hoặc
được mang đi bởi những loài động vật ăn hạt. Khả năng nảy mầm của hạt
mới thu hoạch là 60 – 90%. Tuy nhiên, nếu lưu trữ hạt quá 2 tháng trong điều
kiện thông thường thì khả năng nảy mầm sẽ giảm một cách nghiêm trọng. Tỉ
lệ nảy mầm giảm dần từ 60%, 48% và 7,5% tương ứng với thời gian lưu trữ
hạt là 1, 2 và 3 tháng (Rubeena, 1995).
Cây trồng từ hạt, trong giai đoạn đầu cây con thường yếu nên cần được
chăm sóc trong điều kiện bóng mát. Biện pháp giâm cành cũng có thể thực
hiện, tuy nhiên hiệu quả không cao do hệ số nhân giống thấp, thường tiến
12


hành giâm cành vào mùa mưa, khi điều kiện không khí đạt được độ ẩm thích
hợp.
1.1.2. Đặc điểm hình thái
Chùm ngây (Moringa oleifera Lam.) thuộc nhóm cây thân gỗ, có thể mọc
cao từ 5 đến 10 m, phân nhánh nhiều, thân có thiết diện tròn. Thân non màu
xanh có lông, thân già màu xám có nốt sần. Lá kép hình lông chim 3 lần lẻ,
dài 30 – 60 cm, màu xanh mốc, mọc cách, có 5 – 7 cặp lá phụ bậc 1, 4 – 6 cặp
lá phụ bậc 2, 6 – 9 cặp lá chét. Lá chét dài 12 – 20 mm hình trứng, mọc đối,
mặt trên xanh hơn mặt dưới, gai nhỏ có lông ở chỗ phân nhánh, lá kép lông
chim, gân lá hình lông chim, nổi rõ mặt dưới, cuống lá dài 18 – 25 cm. Cụm
hoa dạng chùm sim mọc ở nách lá hay ngọn cành. Hoa không đều lưỡng tính,
màu trắng hơi vàng, mùi thơm, hình dạng giống hoa đậu, có cuống dài 1 – 2
cm, có lông tơ. Trục phát hoa màu xanh, có lông dài 10 – 15 cm. Lá bắc hình
vảy nhỏ, có lông. Đài hoa 5, rời, đều, hơi cong hình lòng muỗng, màu trắng,
dài 1 cm, rộng 0,4 cm. Cánh hoa 5, rời, không đều, cánh hoa dạng thìa, màu
trắng hơi vàng, phấn nằm ngoài, dài hơn nhị bất thụ và đối diện với cánh hoa,
nhị bất thụ nằm xen kẽ cánh hoa. Chỉ nhị có kích thước to ở dưới, màu vàng,

dài 0,6 – 1 cm, có lông. Bao phấn 2 ô, hình bầu dục, màu vàng, hướng trong.
Bộ nhụy 3 lá noãn dính, tạo thành bầu trên 1 ô, mang nhiều noãn, đính noãn
bên, có lông. Vòi nhụy màu xanh, dài 1,8 cm, có nhiều lông. Đầu nhụy hình
trụ, màu vàng, có lông (Trần Việt Hưng và Võ Duy Huấn, 2007). Cây cho
nhiều lá vào cuối mùa khô và trổ hoa vào các tháng 1 – 2. Quả dạng nang
treo, dài 25 – 30 cm, ngang 2 cm, có 3 cạnh, chỗ có hạt hơi gồ lên, dọc theo
quả có khía rãnh, quả khô màu vàng xám. Hạt màu đen, tròn có 3 cạnh, lớn cỡ
hạt đậu Hà Lan (Võ Văn Chi, 1999).

13


1.1.3. Giá trị dinh dưỡng của cây Chùm ngây
Hạt Chùm ngây chứa hàm lượng dầu tương đối lớn, được sử dụng trong
nấu ăn, chế biến các món salad. Thành phần axit béo trong dung dịch và
enzyme chiết xuất từ dầu hạt Chùm ngây tương ứng là 67,9% và 70,0%
(Abdulkarim và cs, 2005). Do tỷ lệ các axit béo không no cao nên dầu hạt
Chùm ngây được sử dụng để thay thế một số loại dầu có giá trị cho sức khoẻ con
người như dầu oliu (Tsaknis và cs, 2002). Toàn bộ hạt Chùm ngây được sử dụng
để ăn xanh, rang thành bột, hấp trong trà và món cà ri (Fahey, 2005).
Lá Chùm ngây là nguồn dinh dưỡng bổ sung các hợp chất hữu cơ tự
nhiên tốt cho sức khoẻ con người, được sử dụng để điều trị bệnh theo nhiều
cách khác nhau, được hai tổ chức thế giới WHO và FAO khuyến cáo sử dụng
cho các bà mẹ thiếu sữa và trẻ em suy dinh dưỡng, và là giải pháp lương thực
cho thế giới thứ ba (DanMalam và cs, 2001; McBurney và cs, 2004; Fahey,
2005). Lá Chùm ngây chứa nhiều chất dinh dưỡng, đặc biệt là các vitamin
thiết yếu như vitamin A, C và E. So sánh hàm lượng một số dinh dưỡng
chính trong lá Chùm ngây với một số loại thực phẩm phổ biến cho thấy hàm
lượng vitamin C nhiều hơn quả cam 7 lần; vitamin A nhiều hơn cà rốt 4 lần;
canxi nhiều hơn sữa 4 lần; chất sắt nhiều hơn cải bó xôi 3 lần; chất đạm

(protein) nhiều hơn 2 lần so với yaourt; kali nhiều 3 lần so với quả chuối
(Donovan, 2007). Ngoài ra, trong lá Chùm ngây còn chứa hàm lượng cao
carotenoid hoạt tính sinh học, tocopherols và vitamin C có giá trị trong việc
duy trì cân bằng chế độ ăn uống và ngăn ngừa các gốc tự do – là nguyên nhân
gây lên nhiều bệnh hiểm nghèo (Smolin và Grosvenor, 2007). Lá giàu
provitamins, bao gồm cả axit ascorbic, carotennoids (Lako và cs, 2007) và
tocopherols (Gomez- Conrado và cs, 2004; Sanchez-Machado và cs, 2006).
Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các loại rau quả giàu
carotenoid có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư, bệnh tim mạch, sự thoái
hoá điểm vàng và sự hình thành đục thuỷ tinh thể (Lakshminarayan và cs,
14


2005; Bowman và cs, 1995; Krichevsky và cs, 1999). Ngoài các provitamins,
lá Chùm ngây cũng được coi là nguồn giàu khoáng chất (Gupta và cs, 1989),
polyphenol (Bennett và cs, 2003), flavonoid (Lako và cs, 2007; Siddhuraju và cs,
2003), alkaloid và protein (Sarwatt và cs, 2002; Soliva và cs, 2005). Những chất
dinh dưỡng thiết yếu có thể giúp làm giảm sự thiếu hụt dinh dưỡng và chống lại
nhiều căn bệnh mãn tính.
1.2. Đặc điểm sinh học của trứng gia cầm
- Chất lượng trứng gia cầm:
Nhiều tác giả cho rằng chất lượng trứng gồm có 2 phần:
+ Chất lượng bên ngoài gồm: Khối lượng, hình dạng, màu sắc, độ dày và
độ bền vỏ trứng.
+ Chất lượng bên trong gồm các thành phần: Lòng đỏ, lòng trắng, giá trị
dinh dưỡng, màu sắc và mùi vị, các chỉ số hình thái của lòng đỏ và lòng trắng.
- Hình thái của trứng
Trứng gia cầm thường có hình oval hoặc hình elip: một đầu lớn và một
đầu nhỏ. Hình dạng trứng thường mang đặc điểm của từng cá thể. Chỉ số hình
thái của trứng thường có ý nghĩa lớn trong vận chuyển, đóng gói. Trứng càng dài

càng dễ vỡ.
Chỉ số hình thái ở mỗi loài gia cầm là khác nhau và được quy định bởi
nhiều kiểu gen. Khoảng biến thiên trị số hình thái của trứng gà là 1,34 - 1,36; của
trứng vịt 1,57 - 1,64; còn những trứng có hình dạng quá dài hoặc quá tròn đều
cho chất lượng thấp.
Theo Brandsch và Bilchel (1978) thì tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng
của quả trứng là một chỉ số ổn định 1/0,75. Hình dạng quả trứng tương đối ổn
định, sự biến động theo mùa cũng không có ảnh hưởng lớn. Nói chung hình dạng
quả trứng luôn có tính di truyền bền vững và có những biến dị không rõ rệt.
- Chất lượng vỏ trứng

15


Vỏ trứng là lớp vỏ bọc ngoài cùng bảo vệ về mặt cơ học, lý học, hóa học
cho các thành phần khác bên trong trứng. Màu sắc của vỏ trứng phụ thuộc vào
giống, lá tai của từng loại gia cầm khác nhau. Bên ngoài nó được bao phủ bởi
một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát giữa thành âm
đạo và trứng, tạo sự thuận lợi cho việc đẻ trứng, hạn chế sự bốc hơi nước của
trứng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn.
Vỏ trứng có hai lớp màng đàn hồi tách nhau tạo thành buồng khí có ý
nghĩa trong quá trình trao đổi khí với môi trường bên ngoài. Vỏ trứng được cấu
tạo gồm 94% canxi carbonat, 1% canxi phosphat, 1% magie phosphat, 4% hợp
chất hữu cơ. Một phần hợp chất hữu cơ này là đường polisacharide. Hàm lượng
canxi trong vỏ trứng khoảng 2g. Trên bề mặt vỏ trứng có nhiều lỗ khí, số lượng
lỗ khí phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998), trên bề
mặt vỏ trứng gà có khoảng 10.000 lỗ khí, tính trên 1 cm 2 có khoảng 150 lỗ,
đường kính các lỗ khí dao động 4 - 10µm. Mật độ lỗ khí không đều, nhiều nhất ở
đầu to giảm dần ở 2 bên và ít nhất ở đầu nhỏ.
Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng. Nó có ý

nghĩa trong vận chuyển và ấp trứng. Độ dày vỏ tương quan dương đối với độ bền
vỏ trứng và có ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở. Thường những trứng có vỏ quá dày
hoặc quá mỏng đều có tỷ lệ ấp nở kém. Vỏ trứng quá dày hạn chế sự bốc hơi
nước, cản trở quá trình phát triển của phôi, gia cầm con khó đạp vỡ vỏ khi nở.
Nếu vỏ trứng quá mỏng làm bay hơi nước nhanh, khối lượng trứng gia cầm giảm
nhanh, dễ chết phôi, sát vỏ, nở yếu và tỷ lệ chết cao. Độ dày lý tưởng của vỏ
trứng dao động từ 0,26 - 0,34 mm.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs (1998) thì chất lượng vỏ trứng không những
chịu ảnh hưởng của các yếu tố như canxi (70% canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực
tiếp từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình thành cần có photphat, vitamin D3, vitamin
K, các nguyên tố vi lượng... Khi nhiệt độ tăng từ 20 - 300C thì độ dày vỏ trứng giảm
6 - 10% khi đó gia cầm đẻ ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng.
- Chất lượng lòng trắng
16


Là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ và chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 56%) so
với khối lượng trứng, nó là sản phẩm của ống dẫn trứng. Lòng trắng chủ yếu là
albumin giúp cho việc cung cấp khoáng và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông,
da trong quá trình phát triển cơ thể ở giai đoạn phôi. Chất lượng lòng trắng được
xác định qua chỉ số lòng trắng và đơn vị Haugh. Hệ số di truyền của tính trạng
này khá cao.
Theo Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân (1998) cho biết: Khối lượng
trứng tương quan rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86), khối lượng lòng đỏ
(r = 0,72) và khối lượng vỏ (r = 0,48).
Orlov (1974) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994) cho rằng: chỉ số lòng
trắng ở mùa Đông cao hơn mùa Xuân và mùa Hè. Trứng gà mái tơ và gà mái già
có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà mái đang độ tuổi sinh sản. Trứng bảo quản lâu,
chỉ số lòng trắng cũng bị thấp đi. Chất lượng lòng trắng còn kém đi khi cho gà ăn
thiếu protein và vitamin nhóm B.

- Chất lượng lòng đỏ
Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng hình cầu, đường kính vào
khoảng 35 - 40 mm, chiếm khoảng 32% khối lượng trứng, được bao bọc bởi
màng lòng đỏ có tính đàn hồi, chất lượng của màng đàn hồi này phụ thuộc vào
thời gian bảo quản, ở giữa các hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy dưỡng chất từ
nguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển. Chất lượng lòng đỏ phụ thuộc
vào nhiều yếu tố: Di truyền cá thể, lứa tuổi, giống, loài, điều kiện nuôi dưỡng....
Màu sắc của lòng đỏ phụ thuộc vào caroten trong thức ăn và sắc tố trong cơ thể
gia cầm.
Chỉ số lòng đỏ thể hiện chất lượng của lòng đỏ và được tính bằng tỷ số
giữa chiều cao và đường kính của lòng đỏ. Theo Card và Nesheim thì chỉ số lòng
đỏ trứng tươi là 0,4 - 0,42; trứng có chỉ số lòng đỏ cao sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao.
Theo Ngô Giản Luyện (1994): chỉ số lòng đỏ ít bị biến đổi hơn lòng trắng. Chỉ
số lòng đỏ giảm từ 0,25 - 0,29 nếu bị tăng nhiệt độ và bảo quản lâu.
- Chỉ số Haugh (Hu)
17


Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông qua khối lượng trứng
và chiều cao lòng trắng đặc. Chỉ số Haugh càng cao, chất lượng trứng càng tốt,
từ 80 - 100% là trứng rất tốt, 65 - 79% là trứng tốt, 55 - 65% là trứng trung bình
và nhỏ hơn 54% là xấu. Chỉ số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động:
Thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi trường, sự thay
lông, giống, dòng.
* Thành phần hóa học của trứng
Trứng gia cầm nói chung là một loại thực phẩm rất giàu dinh dưỡng, đặc
biệt là lòng đỏ, nó cung cấp khoảng 50% protein và tất cả các chất béo của trứng.
Thành phần dinh dưỡng của các loại trứng gia cầm khác nhau thì khác nhau.
Protein trong trứng thường là những protein dễ tiêu hóa. Hàm lượng axit amin
trong trứng thường rất cân đối. Hàm lượng mỡ trong trứng ở dạng nhũ hóa dễ

tiêu hóa. Trong trứng chứa hàm lượng axit béo không no cao, hàm lượng khoáng
cao đặc biệt là hàm lượng sắt và photpho. Thành phần khoáng trong trứng có thể
thay đổi theo khẩu phần ăn của gia cầm đẻ.
Theo Gilbert (1971), trong một lòng đỏ trứng khối lượng 19g có chứa:
10,5mg Na; 17,9mg K; 25,7mg Ca; 2,6mg Mg; 1,5mg Fe; 29,8mg S; 24,7mg Cl;
94,8mg P.
Hàm lượng vitamin trong trứng rất cao: 200 - 800UI vitamin A; 20UI
vitamin D; 49mg vitamin B1; 84mg vitamin B2; 30mg axit nicotic; 58mg
vitamin B6; 580mg axit pantothenic; 10mg biotin; 4,5mg axit folic; 0,3mg
vitamin B12; 150mg vitamin E và 25mg vitamin K1.
+ Thành phần hóa học của lòng đỏ
Lòng đỏ trứng của tất cả các loại gia cầm (trừ thủy cầm) có chứa 49% là
nước, 16% là protein, 33% là mỡ. Hai phần ba mỡ trong lòng đỏ là triglyxerit,
30% là photpholipit và 5% là cholesterol. Lòng đỏ trứng thủy cầm chứa nhiều mỡ
(36%) và 18% protein. Hàm lượng nước trong lòng đỏ có thể thay đổi (46 - 50%)
tùy thuộc vào thời gian và điều kiện bảo quản. Hàm lượng mỡ trong lòng đỏ cũng
có thể biến đổi thông qua khẩu phần ăn, chỉ riêng hàm lượng axit béo không no
18


như palmitic và stearic là không thay đổi. Hàm lượng các axit béo này duy trì ở
mức 30 - 38% trong tổng số chất béo. Nếu khẩu phần ăn chứa nhiều axit béo
không no mạch đa thì hàm lượng các axit béo này trong trứng cũng tăng lên.
Thông thường tỷ lệ axit béo không no và no là 2 : 1.
+ Thành phần hóa học của lòng trắng
Lòng trắng là nơi dự trữ nước của trứng khoảng 88%. Phần còn lại là
protein như globulin, ovomuxin và albumin. Ovomuxin chiếm 75% tổng số
protein trong lòng trắng trứng, globulin chiếm khoảng 20%. Theo kết quả của các
nhà khoa học Nga, methionin có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp lòng
trắng, còn quá trình tổng hợp ovoxumin thì lysine lại chiếm vị trí quan trọng.

Thành phần hóa học của lòng trắng ở tất cả các loại trứng gia cầm đều giống nhau.
Lòng trắng đặc có hàm lượng ovomuxin cao gấp 4 lần lòng trắng loãng đây chính
là nguyên nhân tạo nên cấu trúc keo của lòng trắng. Chất lượng lòng trắng thay
đổi theo thời gian bảo quản. Giá trị pH của lòng trắng trứng gà tươi là 7,6 sau 14
ngày bảo quản chúng có thể tăng lên pH = 9,2 .

1.3. Giới thiệu về giống gà dùng trong thí nghiệm
Gà Lương Phượng hay còn gọi là gà lông vàng xuất xứ từ Trung Quốc,
đây là giống gà thịt cao sản và có năng suất cao.
Đặc điểm của gà Lương Phượng.
Gà Lương Phượng có mào, tích, tai đều màu đỏ. Gà có thân hình chắc,
hình dáng bên ngoài giống với gà Ri.
Gà có màu lông đa dạng vàng đốm đen ở vai, lưng và lông đuôi. Lông
cổ có màu vàng ánh kim, búp lông đuôi có màu xanh đen.
Gà trống có mào cờ đứng, ngực rộng dài, lưng phẳng, chân cao trung
bình, lông đuôi vểnh lên. Dòng trống chủ yếu có màu vàng nâu nhạt đốm đen.
Chân màu vàng, mào đơn đỏ tươi.
Gà mái đầu thanh tú, thể hình chắc, rắn, chân thẳng, nhỏ. Dòng mái có
màu đốm đen, cánh sẻ là chủ yếu.

19


Khả năng sinh sản của gà Lương Phượng rất tốt. Tuổi vào đẻ là 24 tuần,
khối lượng cơ thể gà mái đạt 2.100g, gà trống đạt 2.700g. Tuổi đẻ đầu tiên
140 – 150 ngày, sản lượng trứng 150 – 170. Sản lượng trứng/66 tuần đẻ đạt
khoảng 171 quả, tỷ lệ phôi đạt 92%. Gà Lương Phượng có sức kháng bệnh
tốt, thích hợp với mọi điều kiện chăn nuôi.
Với phẩm chất ưu việt như trên, gà Lương Phượng hiện nay đang là
giống chủ đạo được ưa chuộng và phát triển rộng rãi khắp mọi vùng ở nước

ta.
1.4. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.4.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu sự thay thế của protein bằng khô dầu dừa Nguyễn Thị Kim
Đông Cần ThơTạp chí khoa học trường đại học Cần Thơ,( số 106, 2016)
tiến hành nhằm đánh giá ảnh hưởng của sự thay thế protein ở khô dầu dừa cho
protein của khẩu phần thức ăn hỗn hợp trên khối lượng, chất lượng thân thịt
và hiệu quả kinh tế của gà Sao nuôi thịt. Thí nghiệm được bố trí theo thể thức
hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức và 3 lần lặp lại trên 150 gà Sao 28
ngày tuổi. 5 nghiệm thức là 5 mức độ protein khô dầu dừa tương ứng 0, 7,5,
15, 22.5 và 30% thay thế lượng protein của khẩu phần thức ăn hỗn hợp. Mỗi
đơn vị thí nghiệm có 10 gà và thí nghiệm được tiến hành trong 10 tuần. Kết
quả lượng DM, OM và CP tiêu thụ không có sự biến động (P >0,05) giữa các
nghiệm thức, trong khi lượng EE và ME tiêu thụ cao hơn có ý nghĩa thống kê
(P<0,05) ở nghiệm thức KDD22.5 và KDD30. Tăng trọng của gà thí nghiệm
cao nhất và FCR thấp nhất có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở các nghiệm thức
KDD15, KDD22.5 and KDD30. Trọng lượng thân thịt, thịt ức và thịt đùi cao
nhất có ý nghĩa thống kê (P<0,05) ở nghiệm thức KDD22.5. Thí nghiệm được
kết luận rằng protein khô dầu dừa có thể thay thế protein của khẩu phần thức
ăn hỗn hợp. Ở mức thay thế 22,5% protein, gà Sao thí nghiệm đạt tăng trọng,
khối lượng và năng suất thịt cao nhất và lợi nhuận tốt hơn.
20


(Hồ Trung Thông và cs, tạp chí số 2, tập 71; năm 2012): Nghiên cứu
được triển khai nhằm xác định giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ
(MEN) trong một số phụ phẩm (khô dầu lạc, khô dầu dừa, bột đầu tôm và
tấm gạo) khi được sử dụng làm thức ăn nuôi gà. Tổng số 150 con gà Lương
Phượng 35 ngày tuổi được sử dụng trong thí nghiệm. Khẩu phần cơ sở được
thiết kế đảm bảo đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho gà ở giai đoạn thí nghiệm.

Tổng số 04 khẩu phần thí nghiệm được thiết lập bằng cách thay thế 20%
hoặc 40% khẩu phần cơ sở bằng thức ăn thí nghiệm. Giá trị MEN trong các
loại thức ăn thí nghiệm được tính theo phương pháp sai khác. Kết quả cho thấy
giá trị năng lượng trao đổi có hiệu chỉnh nitơ trong khô dầu dừa, khô dầu lạc,
bột đầu tôm và tấm gạo lần lượt là 1444,87kcal/kg; 2542,51kcal/kg; 1737,68
kcal/kg và 3539,66kcal/kg tính theo nguyên trạng. Giá trị MEN của khô dầu
dừa từ nghiên cứu này thấp hơn nhiều so với giá trị MEN của khô dầu dừa
trong cơ sở dữ liệu thức ăn. Tuy vậy, giá trị MEN của tấm gạo từ nghiên cứu
này cao hơn giá trị MEN của tấm gạo từ một số cơ sở dữ liệu hiện nay.
Ở Việt Nam, Nghiên cứu về cây Moringa oleifera đã được thực hiện
trên một số khía cạnh sau: Nghiên cứu về đa dạng di truyền (Mai Hải Châu và
cs, 2014); Nghiên cứu về nhân giống (Trần Văn Tiến, 2013, Mai Hải Châu,
2015); Nghiên cứu về năng suất chất xanh (Lưu Hữu Mãnh và cs, 2003 và
Dương Đức Tiến, 2012); Nghiên cứu về kỹ thuật thu hoạch (2016). Tuy nhiên,
Những nghiên cứu nêu trên thực hiện với mục đích phục vụ sản xuất rau xanh
cho người và dược liệu không phải là sản xuất thức ăn gia súc.
Theo Tạ An Bình (1973) đã sử dụng BLKG nuôi gà con và cho biết, ở
tỷ lệ 4% trong khẩu phần, keo giậu đã có tác dụng tốt tới sinh trưởng của gà.
Dương Thanh Liêm (1981) thử nghiệm nuôi gà broiler với các khẩu phần
chứa tỷ lệ BLKG khác nhau; kết quả cho thấy, khẩu phần chứa 4% BLKG có
tác dụng tốt tới sinh trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà. Khi tỷ lệ
BLKG nâng lên tới mức 6% khẩu phần, tăng trọng của gà bắt đầu có xu
hướng giảm. Ở tỷ lệ 10% BLKG trong khẩu phần, gà nuôi đến 9 tuần tuổi bắt

21


đầu có biểu hiện rụng lông và sưng tuyến giáp trạng, nhưng nếu thêm 0,5 ppm
muối KI hay casein vào khẩu phần ăn sẽ hạn chế hiện tượng rụng lông và
sưng tuyến giáp của gà do hạn chế độc tính của mimosin có trong keo giậu.

Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) đã nghiên cứu chế biến bột
lá sắn để nuôi gà thịt, gà đẻ trứng, lợn thịt cho kết quả tốt. Tác giả đã kết luận
có thể phối hợp 4 - 6% trong khẩu phần ăn gà thịt, 10 - 15% trong khẩu phần
của lợn.
Tác giả Từ Quang Hiển và Phan Đình Thắm (1995) đã nghiên cứu sử
dụng bột lá keo giậu bổ sung premmix vitamin trong thức ăn nuôi gà thịt công
nghiệp và cho kết luận có thể dùng 3 - 5% bột lá keo giậu bổ sung premix
vitamin trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà thịt. Với tỷ lệ bổ sung như trên, bột lá
keo giậu đã có ảnh hưởng tốt tới tăng trọng lượng của lô thí nghiệm so với đối
chứng đồng thời làm tăng hiệu suất sử dụng thức ăn, tiêu thụ thức ăn/kg tăng
trọng giảm 85 g so với đối chứng, chi phí thức ăn giảm 8 - 10%.
Theo Đào Lệ Hằng (2007) cho rằng sắn là loại cây thức ăn gia súc có giá
trị. Không tính sản lượng củ - sản phẩm khai thác chính của nghề trồng sắn mà
phụ phẩm ngọn, lá cũng là nguồn dinh dưỡng cho gia súc, gia cầm. Lá sắn có
hàm lượng protein và các axit amin cao hơn các bộ phận khác, hàm lượng lipit
ở lá cao gấp 6 lần so với củ sắn. Lá sắn có chất dinh dưỡng tương đối cao cụ
thể hàm lượng protein trung bình là 6,59 - 7,00% (Nguyễn Khắc Khôi, 1982)
cho nên một số nơi đã dùng BLS bổ sung vào thức ăn cho gia súc, gia cầm.
Theo Trần Thị Hoan (2012) BLS giàu protein, các axit amin tương đối
cân đối nhưng năng lượng lại thấp, tỷ lệ xơ cao, ngoài ra còn chứa độc tố
HCN với hàm lượng khá cao. Vì vậy, phải chế biến để khử độc tố trong lá sắn,
bổ sung các thức ăn giàu năng lượng khi đưa BLS vào khẩu phần gia súc, gia
cầm. Tỷ lệ BLS thích hợp trong khẩu phần của gà là dưới 10%.

22


1.4.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Ở nước ngoài, nghiên cứu trên các khía cạnh sau đây đã được thực
hiện: Về di truyền (Abubaka và cs, 2011); về nhân giống, gieo ươm (Adebayo

và cs, 2011, Antwi và cs, 2011, Bennett và cs, 2003); về kỹ thuật trồng và thu
hoạch (Amaglo và cs, 2006, Fadiyimu và cs, 2011) về ảnh hưởng của phân
bón đến năng suất và thành phần hóa học (Dash và cs, 2009; Imoro và cs,
2012; Isaiah và cs, 2013). Các nghiên cứu trên đều nhằm mục dích phục vụ
sản xuất rau xanh cho người, làm dược liệu hoặc cây lâm nghiệp (trồng
rừng).
Kỹ thuật trồng và thu hoạch cây thức ăn cho người và cho vật nuôi có
sự khác nhau. Ví dụ: Nếu trồng làm rau xanh cho người thì cần thu hoạch lúc
rau còn non dẫn tới khoảng cách thu hoạch (tuổi của rau) phải ngắn, còn cho
vật nuôi thì khoảng cách giữa các lứa phải dài hơn (thu hoạch ở thời điểm cây
thức ăn đạt được tối đa về dinh dưỡng và năng suất). Với mục đích khác nhau
như trên dẫn đến khoảng cách trồng (mật độ trồng) cũng phải khác nhau. Cụ
thể: Mật độ trồng rau ăn cho người (khoảng cách thu hoạch ngắn) thì phải
trồng dày hơn so với mật độ trồng thu hoạch lá cho vật nuôi.
Cũng tương tự như vậy, tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong lá ở thời điểm còn
non (rau ăn cho người) khác với thời điểm thu lá làm thức ăn cho vật nuôi.
Mặc dù đã có một số nghiên cứu về cây Moringa oleifera nhưng các
nghiên cứu này chỉ nhằm mục đích phục vụ sản xuất rau ăn cho người và
dược liệu, do đó, cần phải có các nghiên cứu tương tự với mục đích phục vụ
sản xuất thức ăn (chất xanh, bột lá) cho vật nuôi.
Montilla và cs (1976) cho biết khả năng tăng khối lượng tăng cao và
khả năng chuyển hóa thức ăn giảm mạnh khi thay thế bột bông hay bột ngô
bằng bột lá sắn (BLS) từ 0, 10, 20 và 30% trong khẩu phần gà broiler.

23


Theo Wyllie và Chammanga (1979) khi sử dụng 5% bột lá và cuống lá
sắn, 10% bột ngọn lá sắn thay thế bột hạt bông cho gà Broiler từ 0 - 8 tuần
tuổi thì khả năng tăng khối lượng của gà là tốt nhất.

Ravindran và cs (1986) cho rằng BLS là thức ăn thay thế cho bột dừa
trong khẩu phần của gà thịt. Tác giả cho biết có thể sử dụng với tỷ lệ 15%
BLS vẫn cho kết quả tốt. Tuy nhiên, nếu sử dụng với tỷ lệ cao hơn thì làm
giảm năng suất chăn nuôi.
Theo Eruvbetine và cs (2003) thì BLS có hàm lượng chất xơ cao nên
mức độ tối đa sử dụng trong khẩu phần ăn cho động vật dạ dày đơn là từ 10 20%. Tuy nhiên, mức độ tối đa này phụ thuộc vào thành phần hóa học của
nguyên liệu sử dụng trong khẩu phần. Bổ sung dầu đậu nành 3% hoặc
methionin thì hiệu suất gà được cải thiện khi khẩu phần chứa 20% BLS.
Tác giả Iheukwumere và cs (2007) khi nghiên cứu ảnh hưởng của các
mức bột lá sắn 0, 5, 10 và 15% trong khẩu phần gà thịt cho biết tổng lượng
huyết thanh, albumin và hemoglobin ở mức 0 và 5% BLS lớn hơn có ý nghĩa
thống kê so với sử dụng ở mức 10 và 15% BLS. Tuy nhiên, tỷ lệ cholesterol,
creatinin và ure thì không có sự sai khác nhau. Tỷ lệ thịt xẻ ở lô đối chứng
lớn hơn và có ý nghĩa thống kê so với lô thí nghiệm và tác giả khuyến cáo chỉ
sử dụng tối đa 5% bột lá sắn cho gà thịt broiler.
Iheukwumere và cs (2008) nghiên cứu đánh giá năng suất, khả năng sử
dụng thức ăn và biến đổi của một số tổ chức của cơ thể gà thịt Anak ở 5 tuần
tuổi khi sử dụng khẩu phần có bột lá sắn ở các tỷ lệ 0, 5, 10 và 15% cho kết quả
như sau: Lượng thức ăn thu nhận, tăng khối lượng, chuyển hóa thức ăn và tăng
khối lượng của lô đối chứng và 5% bột lá sắn là khác nhau có ý nghĩa so với lô
sử dụng 10% và 15% BLS. Khối lượng tim, gan, lách ở mức 0% và 5% BLS
cao hơn có ý nghĩa thống kê (P< 0,05) so với mức 10% và 15%. Tác giả cũng
khuyến cáo chỉ nên dùng tối đa là 5% BLS cho gà broiler ở giai đoạn kết thúc.
Onibi và cs (2008) khi nghiên cứu thay thế bột đậu tương bằng BLS với

24


các tỷ lệ thay thế là 0, 30 và 60% cho gà broiler, đã thấy tăng khối lượng của
gà đến kết thúc thí nghiệm, tiêu tốn thức ăn/ kg tăng khối lượng là sai khác có

ý nghĩa thống kê với lô ĐC (chỉ dùng bột đỗ tương). Gà sử dụng thức ăn thay
thế 30% bột đỗ tương bằng BLS cho khối lượng kết thúc thí nghiệm, tăng
khối lượng trung bình cao hơn còn tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với sử dụng ở
mức thay thế 60% và cũng cao hơn so với gà được nuôi bằng thức ăn có sử
dụng BLKG với các tỷ lệ trên.
Theo Hussain và cs (1991) thì không có sự khác nhau có ý nghĩa về
tăng trọng, hiệu suất sử dụng thức ăn giữa các nhóm gà thịt được nuôi dưỡng
với các khẩu phần chứa 0, 5, 10 và 15% BLKG bằng cách sử dụng BLKG
thay thế một phần khô dầu lạc trong khẩu phần ăn của gà. Tuy nhiên, khi khẩu
phần ăn chứa tới 20% BLKG đã làm giảm một cách có ý nghĩa tốc độ sinh
trưởng và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà.
Theo Gulraiz và cs (1991) cho biết không có sự khác nhau có ý nghĩa
về tăng trọng giữa các nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa
12% BLKG và khẩu phần không chứa BLKG (trong điều kiện các khẩu phần
ăn đảm bảo đồng đều về protein và năng lượng trao đổi).
Fraga và cs (1992) nhận thấy khi thay thế 5% khẩu phần cơ sở dựa trên
ngô và ngô dầu đậu tương bằng BLKG phơi khô dưới ánh nắng mặt trời để
nuôi 540 gà thịt Cornish x Plymouth trong thời gian từ 0 - 6 tuần tuổi. Kết quả
cho thấy, nhóm gà thịt được nuôi dưỡng với khẩu phần chứa BLKG có mức
tăng trọng lúc 6 tuần tuổi và hiệu suất sử dụng thức ăn cao hơn nhóm gà đối
chứng được nuôi dưỡng với khẩu phần cơ sở không có BLKG.
Ở Ấn Độ, Murthy và cs (1994) đã nhận thấy, không có sự khác nhau có
ý nghĩa nào về tăng khối lượng và chuyển hóa thức ăn giữa nhóm gà được
nuôi dưỡng với khẩu phần ăn chứa 20% bột lá Sababul được xử lý bằng cách
ngâm nước trong 12 giờ và nhóm gà được nuôi dưỡng với khẩu phần đối
chứng không có bột lá Sababul, trong giai đoạn từ 0 - 8 tuần tuổi.
25



×