Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Phân tích về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (83.21 KB, 12 trang )

MỞ BÀI
Thiệt hại là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Việc xác định cơ sở
thiệt hại có ý nghĩa quan trọng trong việc ấn định mức bồi thường cho người gây thiệt
hại đối với người bị thiệt hại. Có thể là thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, thiệt hại do sức
khỏe, tính mạng bị xâm phạm, hay danh dự, nhân phẩm, uy tín.
Trong đề tài “Phân tích về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm. Cho ví dụ minh
họa. Nêu quan điểm cá nhân về điểm mới của quy định này so với Bộ Luật dân sự năm
2005 và việc áp dụng quy định này trên thực tế” dưới đây, xác định thiệt hại chỉ dừng ở
việc xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, qua đó làm rõ thêm vấn đề xác định
thiệt hại nói chung. Bởi, xác định thiệt hại là một việc rất khó khăn và phức tạp, do
những quy định pháp luật về bồi thường thiệt hại mang tính định tính chứ không định
lượng cụ thể.
NỘI DUNG
I.

Phân tích về thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Mối quan hệ giữa “hành vi trái pháp luật” và việc “xâm phạm tính mạng, sức

khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân,
xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân” (dưới đây gọi là “quyền và lợi ích
hợp pháp bị xâm phạm”) với “thiệt hại”. Mối quan hệ này thể hiện rằng, nội dung của
thiệt hại được quyết định bằng chất và lượng của hai yếu tố nêu trước đó. Đồng thời,
thiệt hại được xác định để bồi thường phải cân bằng với “quyền và lợi ích bị xâm phạm”
và phải đủ để khôi phục được quyền và lợi ích đó. Theo đó, thiệt hại cũng là một giá trị
trừu tượng và nó bằng với “quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm” nhưng việc bồi
thường trên thực tế thì không thể thực hiện đối với một giá trị trừu tượng nên người ta
phải hữu hình hóa thiệt hại bằng những thiệt hại cụ thể quy ra bằng tiền để bồi thường
(thiệt hại này gọi là thiệt hại cụ thể). Dù vậy, bản chất của thiệt hại cũng không bị biến
dạng và nó vẫn phải được cân đong bằng quyền và lợi ích bị xâm phạm. Do đó, việc bồi
thường phải bảo đảm nguyên tắc bồi thường đầy đủ và thực tế sao cho khôi phục được
nguyên trạng quyền và lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm.




Khi tính mạng bị xâm phạm, thiệt hại cũng được xác định bao gồm thiệt hại về
vật chất và những tổn thất về tinh thần
1.

Thiệt hại về vật chất
Thiệt hại về vật chất bao gồm những tổn thất có thể tính toán cụ thể bằng các đơn

vị đo lường. Người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường những thiệt hại về vật chất phải đưa
ra bằng chứng chứng minh cho yêu cầu của mình. Tuy nhiên, không phải mọi chi phí mà
người bị thiệt hại chứng minh đều có thể được bồi thường toàn bộ , mà những chi phí
này phải đảm bảo tính hợp lý. Ví dụ, để mai tang cho người chết thì chỉ cần sử dụng loại
áo quan với giá trung bình khoảng 10 triệu, nhưng thân nhân của người chết lại đặt
chiếc quan tài với mức giá 30 triệu thì mặc dù có hóa đơn mua bán cũng khó có thể
được bồi thường toàn bộ 30 triệu.
Cụ thể theo quy định tại Điều 590 và 591 BLDS năm 2015 thì chi phí bồi thường
thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:
1.1.

Chi phí về vật chất trong thời gian cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc trước
khi người thiệt hại chết.

Hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng của người khác, có thể làm cho người bị
thiệt hại chết tức khắc ngay tại chỗ, có trường hợp người bị hại chết trên đường chở đi
cấp cứu, có trường hợp điều trị một thời gian người bị thiệt hại chết. Cho nên, tùy theo
sự việc xảy ra cụ thể có chi phí cần thiết cho việc cứu chữa, điều trị, bồi dưỡng, chăm
sóc người thiệt hại có hay không, nếu có thì cụ thể: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa,
bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;
Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của

người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập
trung bình của lao động cùng loại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của
người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả
năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi
phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; Thiệt hại khác do luật quy định.


Có thể thấy rằng phương pháp xác định thiệt hại đối với chi phí cho việc cứu
chữa, bồi dưỡng chăm sóc cho người bị thiệt hại trước khi chết như xác định chi phí cứu
chữa điều trị, bồi dưỡng, chăm sóc, thu nhập bị mất, bị giảm... trong thời gian điều trị
đối với trường hợp sức khỏe bị xâm phạm.
1.2.

Chi phí về vật chất sau khi người bị thiệt hại chết
Chi phí về vật chất sau khi người bị thiệt hại chết bao gồm:

-

Chi phí hợp lý cho việc mai táng;
Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;
Thiệt hại khác do luật quy định.
Các khoản chi phí phải hợp lý cho việc mai táng: Là những khoản chi theo thông

lệ chung mà thông thường theo phong tục tập quán tại địa phương khi mai táng phải chi
như quan tài, vật dụng dùng cho việc khâm liệm mà ở nơi đó khi mai táng người ta
thường sử dụng (không phải là loại đắt tiền). Đây là vấn đề rất khó, rất phức tạp, khi giải
quyết Tòa án cần căn cứ nhu cầu thực tế cần thiết ở địa phương để xác định tính hợp lý.
Trong đó, vấn đề tiền cấp dưỡng là mối quan tâm hàng đầu đối với việc bồi
thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm vì đây không phải là việc bồi thường trực
tiếp cho người bị hại mà là thay người bị hại gánh chịu nghĩa vụ cấp dưỡng của người bị

hại khi còn sống. Khoản tiền cấp dưỡng này nhằm đảm bảo cho những người được cấp
dưỡng có một cuộc sống như lúc nạn nhân còn sống cho đến khi họ trưởng thành hoặc
có thu nhập tự nuôi sống bản thân đến khi họ chết… Mức bồi thường khoản tiền này có
thể thay đổi theo yêu cầu của người gây thiệt hại hoặc người được hưởng khoản tiền cấp
dưỡng khi điều kiện thực tế thay đổi, không phải mọi trường hợp xâm phạm đến tính
mạng thì người gây thiệt hại đều phải bồi thường khoản tiền cấp dưỡng. Trong một số
trường hợp sau khi nạn nhân chết một thời gian thì trách nhiệm này mới phát sinh. Theo
quy định tại Điều 593 BLDS năm 2015, đối với tiền cấp dưỡng cho những người mà
người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ
thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây:


-

Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn
sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi,
trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia

-

lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;
Người thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng

-

cho đến khi chết.
Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm
người này sinh ra và còn sống.
Ví dụ: Trước khi nạn nhân chết thì vợ của nạn nhân đang mang thai được sáu


tháng, ba tháng sau đứa trẻ mới ra đời. Như vậy, khi con nạn nhân ra đời thì người gây
thiệt hại mới có trách nhiệm cấp dưỡng cho đứa trẻ.
2.

Thiệt hại về tinh thần
Thiệt hại về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm sẽ được bồi thường cho thân

nhân của người chết. Đây cũng là loại thiệt hại khó có thể xác định cụ thể bằng các đơn
vị đo lường. Thân nhân của người bị thiệt hại khi yêu cầu bồi thường loại thiệt hại này
cũng không bắt buộc phải chứng minh sự tồn tại về tinh thần mà mình phải gánh chịu
khi người thân bị xâm phạm tính mạng. Mức bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết phụ
thuộc vào sự thỏa thuận giữa các bên. Nếu các bên không thỏa thuận được thì Tòa án
quyết định mức cụ thể nhưng không quá 100 lần mức lương cơ sở do nhà nước quy định
(Theo quy định tại Khoản 2 Điều 591 BLDS năm 2015). Nghiên cứu thực tế các vụ việc
cho thấy, mức bù đắp tổn thất về tinh thần khi tính mạng bị xâm phạm thường được xác
định là mức tối đa.
Khác với trường hợp sức khỏe bị thiệt hại, trong trường hợp thiệt hại do tính
mạng bị xâm phạm người phải gánh chịu những mất mát về tình cảm, tổn thất về tinh
thần không phải là người bị thiệt hại mà là những người “thân thích, gần gũi của nạn
nhân”. Vì vậy, khi giải quyết về tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm thì cần xác
định đối tượng bị tổn thất tinh thần như sau:


-

Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là
những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao
gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị

-


thiệt hại.
Trường hợp không có những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, thì người được
nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực
tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại.
Mức bồi thường chung đối với khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết

do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù
đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải
căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa
không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi
thường.
Tất cả những thay đổi này đều hợp lý như đã phân tích ở phần trên. Đặc biệt quy
định về mức bù đắp tổn thất tinh thần được áp dụng cho mỗi người có tính mạng bị xâm
phạm là rõ ràng và rất cần thiết. Trong trường hợp này, người được bù đắp tổn thất về
tinh thần không phải là người bị xâm phạm tính mạng mà là người thân thích của họ. Có
thể có nhiều người bị xâm phạm tính mạng nhưng chỉ có một người thân thích. Trên
thực tế, nhiều trường hợp đã xảy ra mâu thuẫn giữa những người có thẩm quyền với
nhau trong việc xác định mức bù đắp tổn thất về tinh thần chỉ tính một lần với tất cả
những người bị xâm phạm tính mạng hay tính riêng với từng người. Sự bổ sung quy
định này đã giải quyết được những mâu thuẫn phát sinh trong quá trình giải quyết tranh
chấp về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.
II.
1.

Ví dụ cụ thể về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Ví dụ 01
Ngày 19 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc

thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2017/TLPT-DS ngày 06 tháng 6 năm 2017 về “Tranh

chấp bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm”.


Vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 26/3/2015, Lê Tuấn A (con ông C, bà L) bị bệnh câm
điếc bẩm sinh đã dùng dao thái lan đâm vào ngực và đùi Bùi Thanh T (con ông N, bà N)
gây thương tích nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa C nhưng đã tử vong.
Trong quá trình điều tra Lê Tuấn A có biểu hiện tâm thần. Tại bản kết luận giám định
pháp y tâm thần số: 183/PYTT-PVPN ngày 21/5/2015 của Viện giám định pháp y tâm
thần Trung ương phân viện phía nam đã kết luận Lê Tuấn A chậm phát triển tâm thần,
không có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Long
An đã ra quyết định đình chỉ vụ án. Ngày 14/02/2017, Tòa án nhân dân huyện Cần
Đước có Quyết định số: 02/2017/QĐ-VDS tuyên bố Lê Tuấn A mất năng lực hành vi
dân sự.
Cha mẹ Bùi Thanh T là Bùi Văn N, Trần Thị Ng khởi kiện yêu cầu cha mẹ Lê
Tuấn A là Bùi Văn C, Lê Thị L phải bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Tòa án ra bản án trong đó quyết định buộc ông Bùi Văn C, bà Lê Thị L phải liên
đới bồi thường cho ông Bùi Văn N, bà Trần Thị N số tiền là: 112.700.000đ (Một trăm
mười hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Bao gồm:
-

Chi phí thuê xe cấp cứu 1.000.000đ

-

Chi phí mai táng 36.700.000đ

-

Bồi thường bù đắp tổn thất tinh thần 60.000.000đ


-

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Văn C, bà Lê Thị L hỗ trợ chi phí xây mộ
15.000.000đ.
Buộc ông Bùi Văn C, bà Lê Thị L phải liên đới cấp dưỡng cho cháu Bùi Trần

Kim N (con của Bùi Thành T) mỗi tháng số tiền 650.000đ (Sáu trăm năm mươi ngàn
đồng), thời gian thi hành kể từ ngày 15/12/2015 đến khi cháu Kim N đủ 18 tuổi.
2. Ví dụ 02


Vào ngày 09 tháng 01 năm 2017, chồng chị Võ Thị M là anh Nguyễn Văn C điều
khiển xe môtô biển kiểm soát 94F1 – 1738, trên đoạn đường đi công tác từ B về Bạc
Liêu, có xảy ra va chạm với xe môtô biển kiểm soát 61U1 – 5740 do anh Đỗ Kim N
điều khiển, hậu quả làm anh C từ vong.
Nay chị M yêu cầu anh N phải bồi thường các khoản tiền sau đây: Hòm, đồ liệm:
39.500.000 đồng, vật tư làm má (mộ): 15.050.000 đồng; công thợ làm ma: 7.450.000
đồng; tiền thuê xe nhận xác về và đưa tang: 3.000.000 đồng; đồ nấu, nước suối phục vụ
đám, rạp, kèn tây, nhạc lễ, đạo tỳ, dẫn vong, các phó, mở cửa mi, tuần 07 ngày:
72.750.000 đồng; tiền mất thu nhập của anh C: 288.000.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất
tinh thần cho vợ, con và cha mẹ anh C: 60 tháng lương x 1.300.000 đồng/tháng x 03 =
234.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng nuôi con anh C là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày
25 tháng 8 năm 2011: 151 tháng 10 ngày x 1.300.000 đồng = 169.993.000 đồng.
Tại phiên tòa, chị M rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các khoản tiền công
thợ làm má: 2.450.000 đồng; tiền thuê xe nhận xác về và đưa tang: 3.000.000 đồng; đồ
nấu, nước suối phục vụ đám, rạp, kèn tây, nhạc lễ, đạo tỳ, dẫn vong, các phó, mở cửa
mả, tuần 07 ngày: 72.750.000 đồng; tiền mất thu nhập của anh C: 288.000.000 đồng.
Chị M yêu cầu anh N phải bồi thường các khoản tiền gồm: Hòm, đồ liệm: 39.500.000
đồng, vật tư làm má: 15.050.000 đồng; tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho vợ, con và cha
mẹ anh C: 60 tháng lương x 1.300.000 đồng/tháng x 03 = 234.000.000 đồng và tiền cấp

dưỡng nuôi con anh C là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 25 tháng 8 năm 2011: 151
tháng 10 ngày x 1.300.000 đồng = 169.993.000 đồng, tổng cộng 458.543.000 đồng.
Tòa án ra bản án quyết định Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ
Thị M đối với Đỗ Kim N về việc yêu cầu anh Đỗ Kim N phải bồi thường thiệt hại về
tính mạng cho anh Nguyễn Văn C.
Buộc anh Đỗ Kim N có trách nhiệm bồi thường cho gia đình anh Nguyễn Văn C
(do chị Võ Thị M đại diện nhận) số tiền 111.462.500 đồng (một trăm mười một triệu
bốn trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm đồng).


Buộc anh Đỗ Kim N có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày
25 tháng 8 năm 2011, mỗi tháng 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), kể từ ngày 09
tháng 01 năm 2017 cho đến khi cháu Nguyễn Đăng K18 (mười tám) tuổi.
Chấp nhận yêu cầu rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị M và đình chỉ
giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị M đối với anh Đỗ Kim N về việc
yêu cầu anh Đỗ Kim N phải bồi thường cho gia đình chị Võ Thị M các khoản tiền công
thợ làm mả; chi phí nấu ăn, nước uống phục vụ đám tang, kèn tây, nhạc lễ, đạo tỳ, dẫn
vong, mở cửa mả, cúng tuần 07 ngày, tiền thuê xe nhận xác về và đưa tang và tiền mất
thu nhập của anh Nguyễn Văn C với tổng số tiền 366.200.000 đồng (ba trăm sáu mươi
sáu triệu hai trăm nghìn đồng).
III.

Quan điểm cá nhân về điểm mới của BLDS năm 2015 so với BLDS năm
2005 về bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm và việc áp dụng
quy định này trên thực tế
BLDS năm 2015 có nhiều thay đổi trong quy định về xác định thiệt hại nói chung,

xác định thiệt hại khi tính mạng bị xâm phạm, cụ thể:
Thứ nhất, trong BLDS năm 2005, chỉ những chi phí cho việc “cứu chữa, bồi
dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại” trước khi chết mới được bồi thường. Tuy nhiên,

BLDS năm 2015 lại quy định “thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều
590 của Bộ luật này”, tức là theo quy định này, nếu người bị xâm phạm tính mạng chưa
chết ngay thì mức bồi thường sẽ bao gồm cả bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm
phạm. Sự thay đổi này là hợp lý, bởi vì trong thời gian điều trị người bị thiệt hại mất thu
nhập, hoặc phải có người chăm sóc, hoặc bị ảnh hưởng về tinh thần… Do đó, những
khoản thiệt hại này là để bồi thường cho chính người bị xâm phạm sức khỏe, còn những
khoản bồi thường sau là bồi thường cho người thân thích của người chết.
Thứ hai, BLDS năm 2015 cũng bổ sung và thay đổi mức bồi thường khi tính
mạng bị xâm phạm cũng tương tự như khi sức khỏe bị xâm phạm như:
-

Bổ sung quy định “thiệt hại khác do pháp luật quy định”;


-

Sửa quy định “người xâm phạm tính mạng của người khác” thành “người chịu

-

trách nhiệm bồi thường”
Mức bù đắp tổn thất tinh thần nếu không thỏa thuận thì được xác định tối đa
không quá 100 lần mức lương cơ sở và áp dụng cho mỗi người có tính mạng bị
xâm phạm.
Có thể thấy, điểm khác nhau lớn nhất của quy định về bồi thường thiệt hại do tính

mạng bị xâm phạm tại BLDS 2015 so với BLDS 2005 là mức bồi thường thiệt hại về
tinh thần. Theo đó, BLDS 2005 quy định Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần
do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi
tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định, trong khi hiện này BLDS 2015 quy định

mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức
lương cơ sở do Nhà nước quy định. Như vậy, nhà làm luật đã nâng cao mức bồi thường
thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm về tinh thần cao hơn so với quy định cũ, tuy nhiên,
không vì như vậy mà cho rằng nhà làm luật đã nâng cao giá trị con người trong trường
hợp này vì như đã nói trên thì tính mạng con người là vô giá không thể xác định cụ thể
bằng giá trị vật chất thông thường, chính vì thế mà mức mà nhà làm luật đưa ra chỉ là để
khắc phục một phần nỗi đau mất mát người thân đối với những người thân thích của
người bị hại. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thì khoảng giá trị này là quá nhỏ so về
mặt tài sản mà khi còn sống người bị hại có thể kiếm ra được. Ví dụ: Người bị hại có
mức lương trung bình cao gấp 100 lần so với mức lương cơ sở. Thì như vậy về mức bồi
thường về tinh thần theo quy định của pháp luật ở đây không có nghĩa lý gì để xác định
mức bồi thường thiệt hại trong thực tế. Có thể thấy đây là cách thay đổi nội dung điều
luật theo hướng cơ học không có tính cụ thể, chỉ áp dụng chung chung. Mặc dù về dân
sự theo nguyên tắc là dựa phần lớn vào thỏa thuận của đôi bên, nhưng trong trường hợp
hai bên không thỏa thuận được thì áp dụng theo luật chính vì thế quy định về mức bồi
thường thế này là chưa thỏa đáng và không phù hợp với thực tế xã hội.
Về thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm thì trong
BLDS 2015 không có thay đổi gì nhiều so với BLDS 2005 về nội dung. Tuy nhiên,
BLDS 2015 có cụ thể hơn về thời điểm bắt đầu thời hạn hưởng bồi thương thiệt hại do


tính mạng bị xâm phạm là từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết, ngoài ra,
đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người
này sinh ra và còn sống. Còn các nội dung khác quy định về các trường hợp về thời hạn
hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm vẫn được giữ nguyên, chính vì
thế vẫn còn tồn tại một bất cập lớn chưa được giải quyết đó là: trong trường hợp người
được hưởng cấp dưỡng là người chưa thành niên và mất năng lực hành vi dân sự dẫn
đến không có khả năng lao động thì sẽ được áp dụng như thế nào? Về trường hợp này
thì trong cả BLDS 2015 và BLDS 2005 cũng không quy định rõ.
Một điều đương nhiên phải thừa nhận là thiệt hại khi “tính mạng” bị xâm phạm

phải ở mức cao hơn so với thiệt hại khi “sức khỏe” bị xâm phạm. Tuy nhiên, xem xét
một số bản án của Việt Nam thì giá trị của tính mạng khi bị xâm phạm lại được bồi
thường một cách không đầy đủ, thậm chí thấp hơn giá trị của thân thể và sức khỏe. Có ý
kiến cho rằng: “Theo Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015 nói trên khi nạn nhân bị thương tật,
người gây thiệt hại cũng phải bồi thường các chi phí cứu chữa, chăm sóc, thu nhập thực
tế bị mất của nạn nhân trong thời gian điều trị và trường hợp nạn nhân chết cũng phải
bồi thường tương tự. Tuy nhiên, thực tế cho thấy khi nạn nhân bị thương tật thì thời gian
nạn nhân được hưởng bồi thường kéo dài hơn so với khi nạn nhân bị chết rất nhiều,
thậm chí là suốt đời nếu như nạn nhân đó bị mất hoàn toàn khả năng lao động. Trong
khi đó, trường hợp nạn nhân bị chết mặc dù có thêm khoản tiền mai táng phí nhưng so
với khi nạn nhân bị thương thì thời gian hưởng bồi thường, mức bồi thường thấp hơn rất
nhiều lần. Thứ hai: Từ kẽ hở nêu trên, nên xảy ra hiện tượng với các lái xe ô tô hiện
nay… các tài xế sau khi đã đâm vào nạn nhân làm cho nạn nhân bị thương nhưng đã cho
xe cán qua người nạn nhân để nạn nhân chết luôn”


KẾT LUẬN
Việc xác định thiệt hại do sức khoẻ tính mang bị xâm hại có ý nghĩa thực tiễn
trong xét xử. Nhưng việc bồi thường do các hành vi trái pháp luật gây nên không chỉ là
bồi thường một khoản tiền cụ thể mà cần căn cứ vào đời sống thực tại để việc thực thi
pháp luật mới đạt được đúng ý nghĩa. Nhờ đó, pháp luật sẽ đạt được hiệu quả cần thiết
vốn có, thiết lập một nhà nước kỷ cương, đảm bảo trật tự xã hội.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ luật dân sự 2015
2. Bộ luật dân sự 2005
3. Giáo trình Luật Dân sự 2015, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB. Công an nhân

dân, 2016, Hà Nội

4. />5. />


×